178 đồng hồ nước lắp đặt đến tận nhà dân thì có đến 36 000 đồng hồ không sử dụng nước liên tục trong 6 tháng, chiếm tỷ lệ 51% [17] 179 Tiểu kết chương 3 Trong giai đoạn 10 năm 2007 2020, đầu tư xây dự[.]
Trang 1đồng hồ nước lắp đặt đến tận nhà dân thì có đến 36.000 đồng hồ không sử dụng nước liên tục trong 6 tháng, chiếm tỷ lệ 51% [17]
Trang 2Tiểu kết chương 3
Trong giai đoạn 10 năm 2007-2020, đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn Nhà nước ở Việt Nam đã ngày càng gia tăng về quy mô và
tỷ trọng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ Mặc dù đã có những cải thiện đáng kể, song hiệu quả của đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn Nhà nước còn khá thấp và nhiều bất cập như tình trạng thất thoát, lãng phí vốn nhà nước; tình trạng
nợ đọng xây dựng cơ bản ngày càng gia tăng Đây là một trong những hệ quả trực tiếp dẫn đến vấn đề nợ công của các địa phương ngày càng nghiêm trọng và đe dọa đến an toàn ngân sách quốc gia
Thích ứng với tình hình đó, công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng
hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn Nhà nước đã ngày càng được điều chỉnh
và đổi mới: từ việc hoàn thiện khung pháp lý cho đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; phân công phân cấp trong quản lý ngân sách…; đến quy trình, nguyên tắc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư, phê duyệt dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước ở địa phương…; đổi mới trong công tác kiểm tra, giám sát đầu tư xây dựng
hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn Nhà nước Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn bộc lộ một số bất cập, đó cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiệu quả đầu
tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn Nhà nước ở nước ta còn thấp Chương 3 của luận án đã phân tích, chứng minh các vấn đề này bằng các số liệu cụ thể từ đó đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu trong từng khâu của quá trình quản lý theo chức năng
Đồng thời, luận án cũng đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế trên Đây là cơ sở xác đáng cho các đề xuất giải pháp ở chương sau Các giải pháp sẽ tập trung vào giải quyết những hạn chế, xuất phát từ việc khắc phục các nguyên nhân đã nêu ra trong chương này nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 3CHƯƠNG 4:
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CẤP THOÁT NƯỚC
ĐÔ THỊ BẰNG VỐN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
4.1 Bối cảnh ở Việt Nam và trên thế giới – những tác động đến đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị ở Việt Nam
4.1.1 Xu hướng đô thị hóa
Hiện nay, khoảng một nửa dân số của hành tinh là các thị dân và cứ sau mỗi ngày lại có thêm 180.000 người nhập cư vào các thành phố Các đô thị ngày một phình to bởi những cuộc ‘đại di dân’ Đô thị hoá đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục
Theo báo cáo mới đây của Chương trình dân số của Liên Hợp Quốc thì năm 1800 mới chỉ có khoảng 2% dân số thế giới sinh sống tại các đô thị, tới năm
1950, tỷ lệ này đạt mức khoảng 30% Hiện nay, khoảng một nửa dân số của hành tinh là các thị dân và cứ sau mỗi ngày lại có thêm 180.000 người nhập cư vào các thành phố Đến năm 2050, số cư dân thành thị sẽ chiếm 2/3 trên tổng dân số toàn cầu và 80% GDP của toàn bộ nền kinh tế thế giới Cũng theo bản báo cáo này thì hiện 20% dân số thế giới đang sinh sống và làm việc tại 600 thành phố lớn nhất hành tinh với 60% GDP toàn cầu
Hình 4.1: Xu hướng đô thị hóa trên thế giới
Nguồn: Triển vọng đô thị hóa trên thế giới, WB 2020