97 không liên tục trong phân bổ ngân sách và những cản trở khác đối với quản lý ngành nước theo cách hiệu quả Năm 1998, Chính phủ Thái Lan thành lập Ủy ban Nguồn lực nước Quốc gia (NWRC) Ủy ban này ch[.]
Trang 1không liên tục trong phân bổ ngân sách và những cản trở khác đối với quản lý ngành nước theo cách hiệu quả
Năm 1998, Chính phủ Thái Lan thành lập Ủy ban Nguồn lực nước Quốc gia (NWRC) Ủy ban này chịu trách nhiệm giám sát và kiểm tra các dự án, và tham mưu cho chính phủ về xây dựng chính sách và nguyên tắc trong ngành nước Có một số vụ thuộc các bộ và văn phòng tham gia vào xử lý nước thải
Vụ Công trình công nghiệp (DIW) thuộc Bộ Công nghiệp, chịu trách nhiệm về quản lý nước thải công nghiệp, bao gồm cả giám sát và thanh tra các nhà máy theo tiêu chuẩn chất lượng Vụ Kiểm soát ô nhiễm (PCD) thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã chịu trách nhiệm về chất lượng của nguồn nước tự nhiên
Nước thải của khu vực nông nghiệp nông thôn được quản lý bởi một số
vụ thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Các chính quyền địa phương, như các
đô thị, đều thuộc quyền quản lý của Bộ Nội vụ và chiu trách nhiệm về quản lý nước thải địa phương Các cơ quan này phụ trách việc xây dựng các hệ thống nước thải và các nhà máy xử lý nước thải của địa phương Cơ quan Quản lý nước thải (WMA), trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, cung cấp hỗ trợ
kỹ thuật cho các đô thị để xây dựng các nhà máy xử lý nước thải và tư vấn về các chính sách quốc gia có liên quan đến xử lý nước thải Chính quyền thủ đô Bangkok (BMA) cũng có trách nhiệm quản lý một phần hệ thống xử lý nước thải của thành phố
2.3.1.3 Kinh nghiệm về quản lý giá nước sạch và dịch vụ thoát nước, xử
lý nước thải
Giá dịch vụ trong ngành nước là một yếu tố quan trọng trong thu hút đầu
tư, xây dựng vào hệ thống cấp thoát nước Nhìn chung, ở hầu hết các quốc gia đều tuân thủ nguyên tắc bảo đảm khôi phục chi phí cần thiết đối với các dịch
vụ cấp thoát nước Ở các nước phát triển, lợi nhuận của các công ty cấp thoát nước được chính quyền chấp thuận ở mức độ vừa phải Việc xác định các khoản chi phí cấu thành giá nước thường dựa trên khung quy định của Nhà nước và các khoản này được công khai, minh bạch (có một số quốc gia buộc phải đưa các thông tin chi tiết lên website) và phải bảo đảm được khả năng chi trả của người sử dụng và mức lợi nhuận của công ty cấp nước ở mức vừa phải Đối với
Trang 2các công ty cấp nước thuộc chính quyền địa phương, nhà nước có thể cung cấp nguồn vốn đầu tư xây dựng mở rộng hoặc cải tạo, nâng cấp công trình bằng cách cân đối khả năng tự chi trả của chính quyền địa phương
Kinh nghiệm về quản lý giá nước của Hàn Quốc [44]: Năm 1962, ở Hàn
Quốc, hệ thống nước máy chỉ khoảng 18% và đã tăng lên 98% vào năm 2012
Có tới 164 các nhà máy nước của Chính phủ ở địa phương cung cấp nước máy cho dân, trong khi số còn lại được đảm bảo từ công trình nước và giếng khoan
tư nhân; 18 trong số các chính quyền địa phương đã chuyển hoạt động cấp nước sang cho doanh nghiệp nhà nước K-water Bên cạnh đó, công tác thoát nước và
xử lý nước thải đã tăng mạnh, giảm mức độ ô nhiễm Năm 1987, có khoảng 30% dân số được kết nối với nhà máy xử lý nước thải, thì đến năm 2012, tỷ lệ kết nối đã tăng lên 91% Việc xử lý nước thải được đảm nhiệm bởi 2 công ty của nhà nước là K-water hoặc KECO cùng một số công ty tư nhân và các đơn
vị cấp xã, huyện Chính phủ Hàn Quốc đang phải đối mặt với những thách thức trong quản trị nước bền vững Trong đó, lớn nhất là cơ chế định giá nước không đầy đủ, chỉ bù đắp 80% chi phí sản xuất khiến cho khó duy trì hệ thống nước…
Để khắc phục thách thức này, Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành 3 biện pháp: (1) Đảm bảo nguyên tắc chia sẻ lợi ích – chi phí giữa những người liên quan, hưởng lợi từ việc sử dụng nước (2) Định giá nước vận dụng nguyên tắc định giá đầy đủ chi phí, có tính đến những ngoại ứng môi trường gây ra bởi việc thâm dụng nước (3) Ưu tiên đầu tư vào những lĩnh vực: (a) hỗ trợ các hộ gia đình có thu nhập thấp; (b) cải thiện hạ tầng nước; và (c) quản lý cầu và sử dụng nước hiệu quả
Mô hình quản lý giá nước của Hoa Kỳ [47]: Đối với Hoa Kỳ, giải pháp
nhằm giải quyết vấn đề phí sử dụng nước quá thấp ko bù đắp được chi phí đầu
tư trong ngành nước là mô hình điều chỉnh giá nước Theo đó, giá dịch vụ ngành nước sẽ giảm theo khối lượng nước tiêu thụ và tăng chi phí cố định đối với mỗi khách hàng Tuy vậy, mô hình định giá này cũng gặp không ít khó khăn bởi vì phải dự đoán được khối lượng nước tiêu thụ để tính toán chi phí cố định cho
mỗi đơn vị nước
Trang 32.3.1.4 Kinh nghiệm về huy động vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng cấp thoát nước
Nhu cầu về vốn đầu tư cho hạ tầng nước trên toàn cầu được dự đoán cao hơn rất nhiều so với lượng vốn đầu tư hiện nay Ví dụ, giá trị hiện tại của lượng vốn bổ sung cần đến năm 2030 để đạt được Mục tiêu phát triển bền vững trong
đó có tiêu chí về tiếp cận đầy đủ và công bằng về nước sạch trên toàn cầu cũng như khả năng chi trả về nước sạch cho tất cả mọi người là xấp xỉ 1,7 ngàn USD (Hutton và Varughese, 2016) – gấp 3 lần so với mức đầu tư hiện nay Hơn nữa,
dự báo này cho thấy chỉ một phần trong chương trình nghị sự về nước: dự đoán
về nhu cầu tài chính toàn cầu đối với hạ tầng nước là khoảng 6,7 ngàn tỉ năm
2030 đến 22,6 ngàn tỉ năm 2050 [47]
Hình 2.6: Nhu cầu vốn đầu tư cho ngành nước trên phạm vi toàn cầu
Nguồn: Financing water – Investing in sustainable growth (Policy Perspectives), OECD Enviroment Policy Paper No.11, 2018
* Chính sách đầu tư và tài trợ cho hệ thống cấp thoát nước ở Trung Quốc [46]
Hạ tầng kỹ thuật ngành nước luôn là mối quan tâm chiến lược của chính phủ Trung Quốc, được xác định rất rõ trong chiến lược tổng thể phát triển kinh