- Thành lập: 9/3/2007 với vốn Điều lệ ban đầu là 66 tỷ đồng - Vốn điều lệ hiện nay: 99 tỷ đồng Là một doanh nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất bao bìmàng mỏ
Trang 1Đề tài:
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM
BAO BÌ TỰ PHÂN HỦY CỦA CÔNG TY AN PHÁT
Nhóm 5-Rủi Ro Group:
1 Nguyễn Sử Phương Anh
2 Nguyễn Hoàng Lệ Nga
3 Lương Thị Bích Ngọc
4 Cao Phan Quí
5 Nguyễn Cao Thế
6 Phan Tuấn
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP VÀ SẢN PHẨM 1
1.1 Giới thiệu về doanh nghiệp 1
1.2 Giới thiệu về sản phẩm 1
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG 2
2.1 Vài nét về đất nước Nhật Bản 2
2.2 Thị trường Nhật Bản 2
2.2.1 Tổng quan về thị trường 2
2.2.2 Thị trường sản phẩm túi tự hủy 3
2.3 Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản 4
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH SWOT 5
CHƯƠNG 4: KẾ HOẠCH THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG 8
4.1 Chiến lược sản phẩm 8
4.1.1 Yếu tố tiêu chuẩn của sản phẩm: 8
4.1.2 Các yêu cầu pháp lý khi nhập khẩu sản phẩm bao bì vào Nhật Bản và yếu tố thích nghi của sản phẩm: 9
4.1.2.1 Yêu cầu về môi trường 9
4.1.2.2 Yêu cầu về tiếp xúc thực phẩm: 9
4.1.2.3 Yêu cầu về dán nhãn và nhãn mác: 9
4.2 Chiến lược giá 10
4.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng việc định giá của bì nhựa tự phân hủy An Phát 11
4.2.1.1 Yếu tố tác động từ thị trường Nhật Bản 11
4.2.1.2 Phân tích đưa ra chiến lược giá 11
4.2.2 Đưa ra chiến lược giá 12
4.3 Chiến lược phân phối: 14
4.3.1 Nội dung chiến lược 14
4.3.2 Một số loại đối tác thương mại: 15
Trang 34.4 Chiến lược xúc tiến 16
4.4.1 Thông tin sản phẩm 17
4.4.4 Phương tiện truyền thông 17
4.4.2.1 Internet: 17
4.4.2.2 Báo chí: 17
4.4.2.3 Thông tin công cộng: 18
4.4.2.4 PR: 18
4.4.2.5 TV: 18
4.4.2.6 Triển lãm: 18
4.4.3 Tổ chức hoạt động liên lạc: 19
4.4.4 Phản hồi 19
CHƯƠNG 5: TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ƯỚC TÍNH CHI PHÍ 20
LINK THAM KHẢO: 22
Trang 4CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP VÀ SẢN PHẨM
1.1 Giới thiệu về doanh nghiệp
- Doanh nghiệp: Công ty cổ phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát.
- Thành lập: 9/3/2007 với vốn Điều lệ ban đầu là 66 tỷ đồng
- Vốn điều lệ hiện nay: 99 tỷ đồng
Là một doanh nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất bao bìmàng mỏng, Công ty hiện đã có được một vị trí vững chắc trong hoạt động kinh doanh, thiết lập được mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp với nhiều Công ty và tập đoàn nổi tiếng ở Châu Âu, Mỹ, Các tiểu vương quốc Ả - rập, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore, Đài Loan, Phillipin,… Sản phẩm được các doanh nghiệp trong nước và quốc tế đánh giá cao Vào tháng 3/2007, tổ chức Quacert đã chính thức trao chứng chỉISO 9001:2008, công nhận sản phẩm An Phát là sản phẩm chất lượng, uy tín trên thị trường
1.2 Giới thiệu về sản phẩm
Tồn tại hàng trăm năm trong môi trường tự nhiên, túi nilông có khả năng gây tắc nghẽn dòng chảy, ngăn chặn quá trình thẩm thấu của nước trong tự nhiên, cản trở phát triển của cây cỏ Nhưng ngày nay túi nylon đã có 1 diện mạo mới Công ty An Phát đã sản xuất thành công túi nylon tự hủy bảo vệ môi trường Sản phẩm túi nylon tự hủy của
An Phát với 2 màu trắng và nâu, vẫn có tất cả các đặc tính của túi nilon thông thường nhưng có ưu điểm so với các dòng sản phẩm khác là thời gian tự hủy được rút ngắn lại thành 3 tháng đến 2 năm (tùy thuộc vào từng chủng loại và cách pha chế)
An Phát đã từng bước đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về bao bì nhựa của khách hàng Từ các sản phẩm như túi nylon túi tự hủy bảo vệ môi
trường, túi siêu thị cao cấp in màu, túi siêu thị dạng cuộn, túi đựng rác, các loại hạt nhựa nguyên sinh, hạt nhựa tái chế, hạt nhựa màu và máy thổi màng nhựa HDPE, LDPE, máy cắt và đóng gói bao bì nhựa HDPE, LDPE… Với sự tin tưởng đặt hàng của nhiều nhà
Trang 5phân phối lớn trên thế giới, hiện mỗi năm An Phát xuất khẩu khoảng 80 % tổng sản lượng của mình sang các thị trường EU, Mỹ, Nhật.
Trang 6CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
2.1 Vài nét về đất nước Nhật Bản
- Nhật Bản nghèo về tài nguyên khoáng sản, thiếu nguyên liệu cho công nghiệp.
- Dân số Nhật Bản hiện nay lên tới gần 128 triệu người (2010) Dân cư Nhật Bản
phân bố không đồng đều trong cả nước
2.2 Thị trường Nhật Bản
2.2.1 Tổng quan về thị trường
- Môi trường chính trị: Tình trạng tham nhũng vẫn tồn tại ở Nhật Bản, tuy nhiên
chính phủ đã đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế tình trạng này Chính phủ Nhật Bản
tỏ ra bất lực trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế (như nợ công, đồng Yên lên giá,…), thiên tai, đặc biệt là thảm họa hạt nhân và các vấn đề xã hội sau những trận động đất, sóng thần vừa rồi (tháng 3/2011)
- Môi trường kinh tế:
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển Quy mô nền kinh
tế theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc GDP của Nhật Bản năm 2010 là 5.458 tỷ USD, GDP bình quân đầu người năm 2010 là 42.820 USD/ người Tốc độ tăng GDP năm 2010 là 4% cao nhất trong 20 năm qua Tỉ lệ lạm phát tháng 4/2011 là 0,3% Nợ công khoảng 10.55 tỉ USD, chiếm 225.80% GDP (2010) Thị trường này có sức mua tương đối lớn, khả năng chi trả cao, mức chi cho tiêu dùng thường chiếm khoảng 60 – 70% GDP, có nhu cầu lớn về sản phẩm chất lượng cao hơn sovới các thị trường khác, hơn cả Hoa Kỳ
Cơ sở hạ tầng: Giao thông của Nhật Bản khá phát triển với hệ thống đường
sá hiện đại, các sân bay, cảng biển lớn, thuận lợi cho việc giao thương với nước ngoài Bên cạnh đó, dịch vụ bưu chính viễn thông tiên tiến giúp cho việc liên lạc, trao đổi thông tin trở nên dễ dàng hơn
Trang 7 Tình hình chính trị bất ổn trong những năm gần đây có thể gây ra những rủi
ro kinh tế, ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế đối ngoại của Nhật Bản
- Điều kiện pháp lý: Nhật Bản coi trọng quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu tài sản Quy
định về môi trường, an toàn và trách nhiệm đối với sản phẩm cao
- Điều kiện văn hóa: người Nhật rất coi trọng tính kỉ luật và nghiêm túc trong công
việc, đề cao các mối quan hệ, rất thận trọng trong việc xem xét các cơ hội kinh doanh Công ty cần chú trọng những điều này để điều chỉnh cho phù hợp khi giao dịch với các doanh nghiệp Nhật Bản
2.2.2 Thị trường sản phẩm túi tự hủy
- Mức độ phù hợp của sản phẩm: Chất lượng túi tự hủy của công ty An Phát đã
phù hợp với yêu cầu của thị trường Nhật Bản Tuy nhiên, cần nghiên cứu hình dáng và kích thước sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của thị trường Công ty cũng cần đầu tư cho quảng bá sản phẩm với mức chi phí vừa phải để thị trường biết đến và chấp nhận sản phẩm
- Quy mô thị trường:
Hệ thống bán lẻ ở Nhật Bản phát triển khá mạnh Những cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ, nằm ở các vùng đông dân cư và kinh doanh nhiều loại mặt hàng như thực phẩm, may mặc và các loại hàng hóa tiêu dùng khác, là kênh phân phối chính trên thị trường Nhật Bản với đặc điểm tiện lợi và dịch vụ tốt Bên cạnh đó, các hệ thống siêu thị ởNhật Bản cũng đang được mở rộng và phát triển Các siêu thị cũng có những chính sách thu hút khách hàng như dịch vụ tư vấn, hỗ trợ khách hàng, khuyến mãi, hậu mãi, giao hàng tận nơi,…Với hệ thống phân phối hàng hóa phát triển nhanh chóng và đa dạng như vậy, các nhà bán lẻ Nhật Bản sẽ có nhu cầu lớn về túi đựng hàng Vì thế, đó là 1 thị trường tiềm năng cho nhà sản xuất và xuất khẩu bao bì ở Việt Nam
Nhu cầu thị trường về sản phẩm túi tự hủy ngày càng cao nhưng nguồn cung chưa đáp ứng đủ Đó chính là cơ hội cho An Phát đưa sản phẩm mới vào thị trường
- Mức độ cạnh tranh:
Trang 8 Khả năng thương lượng của khách hàng: An Phát đã có uy tín trên thị trường quốc tế Chính vì thế, việc thương lượng, kí kết hợp đồng với các doanh nghiệp Nhật Bản khá khả quan Khả năng giữ chân khách hàng cao Tuy nhiên, với nhiều đối thủcạnh tranh như hiện nay công ty cần có chiến lược phù hợp để khách hàng không bỏ đi với các đối thủ.
Khả năng thương lượng của các nhà cung cấp: vì nguồn cung nguyên liệu còn hạn chế nên khiến cho giá cả cao, vì vậy cần phải thương lượng với các nhà cung cấpkhác nhau để tìm ra mức giá phù hợp và đảm bảo có đủ nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất
Các đối thủ tiềm năng: Hiện nay trong và ngoài nước có rất nhiều công ty sản xuất nhựa nói chung và bao bì nhựa nói riêng Trong số đó có nhiều công ty có tiềm năng lớn trong việc sản xuất sản phẩm túi tự hủy Riêng ở Việt Nam hiện nay có khoảng
460 doanh nghiệp chuyên sản xuất nhựa bao bì
Các sản phẩm và dịch vụ thay thế: hiện nay đã xuất hiện các sản phẩm túi thân thiện với môi trường khác như túi vải không dệt, túi giấy,… đáp ứng được yêu cầu môi trường khắt khe của Nhật Bản
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại: An Phát có khá nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước Cụ thể, ở Việt Nam, có nhiều doanh nghiệp lớn sản xuất sản phẩm túi tự hủy như Công ty cổ phần Văn hóa Tân Bình (Alta), Công ty TNHH in ấn bao bì Long Vũ… cũng đang nhắm tới thị trường Nhật Bản đầy tiềm năng Ở nước ngoài, các doanh nghiệp Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… cũng có khả năng lớn trong việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm túi tự hủy ra các nước, trong đó có Nhật Bản
2.3 Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
Nhật Bản là bạn hàng số 1 của Việt Nam Kim ngạch 2 chiều năm 2003 đạt 5,9 tỷ USD Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ 1999 Nhật Bản chiếm 26%tổng kim ngạch xuất khẩu và 28.5% kim ngạch nhập khẩu nhựa của Việt Nam Các sản phẩm xuất vào Nhật Bản của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm bao bì dùng trong vận
chuyển đóng gói (30% tổng kim ngạch sang Nhật), sản phẩm nhựa công nghiệp như các linh kiện…(chiếm 20%), đồ dùng văn phòng (13%)
Trang 9CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH SWOT
Lực lượng lao động đông đảo, có tri
thức, cần cù, có tiềm năng và khả năng
nâng cao các kỹ năng Công ty có gần
100 cán bộ có trình độ chuyên môn cao,
và khoảng gần 1000 công nhân lành
nghề;
Cơ sở vật chất ngày càng được cải
thiện: công ty đang không ngừng cải
tiến công nghệ sản xuất; dây chuyền kỹ
thuật được nhập khẩu từ Đài Loan,
Singapore và Nhật Bản Hiện An Phát
có 3 nhà máy sản xuất bao bì và một
nhà máy sản xuất phụ gia CaCO3;
Vốn đầu tư không lớn, thu hồi vốn
nhanh;
Có năng lực trong in ấn các sản phẩm
phục vụ thị trường ngách có chất lượng;
Có năng lực sản xuất túi tự hủy mà các
đối thủ cạnh tranh nước láng giềng
không có;
Có khả năng thực hiện tốt và nhanh các
đơn hàng vừa và nhỏ so với các nhà sản
xuất khác;
Có chứng nhận ISO 9001:2000 vào
tháng 3/2007;
Công ty cũng đã tạo dựng được mối
quan hệ với các khách hàng Nhật Bản
và mối quan hệ này ngày càng được
củng cố;
Túi tự hủy An Phát có tất cả các đặc
tính của túi nilon thông thường nhưng
thời gian tự hủy được rút ngắn lại thành
3 tháng đến 2 năm Hạt tự hủy còn được
Năng suất lao động thấp nếu so sánh với các nước phát triển và các nước trong khu vực ASEAN;
Công nghệ chưa hoàn thiện, còn lạc hậu
Không có khả năng đáp ứng các đơn đặthàng theo thời vụ;
Sự phát triển của các sản phẩm có khả năng phân huỷ sinh học để đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ môi trường chưa tương xứng với các sản phẩm khác;
Tái chế và xử lý rác nhựa còn chưa tốt;
Tỷ lệ hao phí nguyên liệu trong quá trình sản xuất vẫn còn cao;
Việc hợp lý hóa các điều kiện hậu cần
hỗ trợ xuất khẩu còn kém, đặc biệt là chưa lường hết được các chi phí vận chuyển phát sinh trong giao dịch;
Sự thiếu hợp lý trong chuỗi hậu cần xuất khẩu, bao gồm các chi phí “ngầm” phát sinh trong quá trình giao dịch
Chưa có sự quảng bá về công ty trên các trang web thương mại toàn cầu khácnhau Nhiều công ty Ấn Độ và Trung Quốc đã rất năng động khi biết cách kết
Trang 10gọi là chất chóng rã (phụ gia sinh học
Biocom), có nguồn gốc từ tinh bột,
không ảnh hưởng tới sức khỏe người
tiêu dùng Quá trình phân rã cuối cùng
thành bột dưới dạng phân hữu cơ, hòa
vào trong đất và hoàn toàn không làm ô
nhiễm môi trường;
Giá cả hợp lí, có thể cạnh tranh với các
đối thủ trong và ngoài nước;
nối các trang web của họ với các website này
Cơ hội (Opportunities) Thách thức ( Threats)
Thị hiếu ở Nhật Bản đối với loại túi
mua hàng thân thiện với môi trường
tăng lên so với loại túi thông thường;
Nguyên liệu phụ trợ cho ngành nhựa
khá dồi dào như dầu mỏ, cao su;
Sự quan tâm về môi trường đối với rác
thải từ túi nhựa ở các nước phát triển
tăng lên Ví dụ: Gần đây chính phủ
Nam Phi đã cấm sử dụng túi 15 micron
và yêu cầu sử dụng loại túi sử dụng
nhiều lần dày 30 micron;
Nhật Bản đưa ra những yêu cầu về môi
trường hoặc cấm sử dụng loại túi mua
hàng dùng một lần;
Sản phẩm nhựa không còn nằm ở mức
giá rẻ, mà khách hàng cần chất lượng
cao và giá cả hợp lí;
Vận chuyển theo đường biển sang Nhật
Bản thuận lợi;
Các dịp lễ hội nhu cầu mua sắm tăng
cao dẫn đến nhu cầu bao bì tăng cao (ví
dụ lễ hội năm mới,…);
Sự dao động về giá cả của nguyên liệu nhựa trên thế giới và rủi ro trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu rất cao;
Nguồn cung nguyên liệu nhựa trong nước còn hạn chế, khiến cho hầu hết các công ty chưa đạt được khối lượng tới hạn để có thể có điều kiện thương lượng tốt nhất về giá;
Chưa có một ngành nguyên liệu nhựa tổng hợp trong nước;
Các rào cản thuế quan, phi thuế quan vàđạo luật chống bán phá giá, các qui định
về bảo vệ môi trường ngày càng khắc khe của các nước phát triển, trong đó cóNhật Bản cũng đang ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp;
Các đối thủ cạnh tranh như các doanh nghiệp nước ngoài đang xâm nhập và
mở rộng sản xuất ở thị trường Việt Namnhờ giá lao động rẻ;
Chi phí vận chuyển tăng cao do giá xăng dầu tăng;
Việc vận chuyển và xuất hàng có thể gặp khó khăn do Nhật thường xuyên có thiên tai: bão, động đất;
Tại một số thị trường nhập khẩu bao bì Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản… các
Trang 11doanh nghiệp đang thu hẹp sản xuất cácsản phẩm nhựa cho ngành công nghiệp
xe hơi và chuyển hướng sản xuất các sản phẩm bao bì phục vụ tiêu dùng và thực phẩm;
Ở Việt Nam từ khâu tìm kiếm, mua nguyên liệu cho đến sản xuất, phân phốithì doanh nghiệp tự làm không có sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành như ở Trung Quốc (sẵn sàng đầu
tư cho một doanh nghiệp với đầy đủ tiềm lực tài chính để đại diện cho hàng ngàn doanh nghiệp đi đàm phán mua nguyên liệu giá rất rẻ, sau đó về phân
bố lại cho doanh nghiệp);
Trang 12CHƯƠNG 4: KẾ HOẠCH THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG
2.1 Chiến lược sản phẩm
4.1.1 Yếu tố tiêu chuẩn của sản phẩm:
- Nguyên liệu: nguyên liệu để sản xuất bao bì tự phân hủy phải làm từ chất có khả
năng phân hủy sinh học Công ty sẽ thường xuyên kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm đảm bảo không có hại cho môi trường hay sức khỏe người tiêu dùng (bảng số liệu: phụ lục)
- Mẫu mã: không chỉ sản xuất túi tự phân hủy dạng mỏng, công ty sẽ cho tiến hành
nhập khẩu thêm dây chuyền máy móc sản xuất túi ở nhiều kích thước, dộ dày và màu sắc khác nhau
- Công dụng: công ty sẽ nâng cấp công dụng của sản phẩm lên để không bị phân
hủy dù ở nhiệt độ cao, không có chất gây hại cho con người, luôn kiểm tra sản phẩm để không xảy ra rủi ro
- Sản lượng: điểm yếu của những công ty sản xuất Việt Nam nói chung và công ty
An Phát nói riêng đó là quy mô nhỏ, chưa đáp ứng được lượng cầu hàng lớn Để khắc phục điểm yếu này, công ty dự kiến sẽ đầu tư thêm máy móc và nhà xưởng, đồng thời đưa ra phương án nhằm tăng năng suất và hiệu quả lao động
- Bao bì đóng gói sản phẩm: người Nhật bản luôn đặt ra các tiêu chuẩn cao về hình
thức sản phẩm kèm theo những quy định ngặt nghèo về chất lượng về kích cỡ, cách đóng gói, hình thức bao bì Nghiên cứu kĩ những quy định về đóng gói là việc quan trọng công ty cần phải làm, qua đó chỉnh sửa và cải tiến bao bì sản phẩm
để thích nghi với môi trường khó tính như Nhật Bản Hơn nữa, sản phẩm của công
ty là túi tự phân hủy, như vậy bao bì đóng gói sản phẩm cũng phải được làm từ chất liệu có khả năng phân hủy sinh học
- Uy tín tên hiệu: yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới uy tín của một doanh
nghiệp là chất lượng sản phẩm Nếu công ty An Phát muốn thành công trên thị trường Nhật thì sản phẩm của công ty phải thật sự chất lượng và phải luôn giữ
Trang 13vững, thậm chí tăng cao chất lượng đó Khâu kiểm tra, theo dõi là vô cùng quan
trọng.
- Bảo hành: công ty phải có bảo hành cam kết sản phẩm túi tự phân hủy thật sự có
khả năng phân hủy sinh học, không gây hại cho môi trường và người tiêu dùng
4.1.2 Các yêu cầu pháp lý khi nhập khẩu sản phẩm bao bì vào Nhật Bản và yếu tố thích nghi của sản phẩm:
4.1.2.1 Yêu cầu về môi trường
- Nhật Bản ban hành luật về khuyến khích việc phân loại và tái sử dụng hộp đựng hàng và bao bì Theo luật này, các công ty kinh doanh cụ thể phải có nhiệm vụ tái sinh rác thải theo khối lượng họ sản xuất hay buôn bán, hoặc có thể chọn hình thứctrả “phí tái sinh” cho tổ chức tái sinh bao bì Nhật Bản
- Như vậy, công ty An Phát phải thường xuyên kiểm tra chất lượng của sản phẩm túi tự phân hủy để đảm bảo rằng túi có khả năng phân hủy sinh học và không gây
ô nhiễm môi trường Bao bì đóng gói sản phẩm cũng phải làm từ chất có khả năng phân hủy sinh học Có như thế thì công ty mới có thể dễ dàng tiếp cận thị trường Nhật Bản và tiết kiệm được khoản phí tái sinh
4.1.2.2 Yêu cầu về tiếp xúc thực phẩm:
- Luật vệ sinh an toàn thực phẩm Nhật nghiêm cấm việc buôn bán, sản xuất để bán,
sử dụng để bán các nguyên liệu làm bao bì đóng gói, các dụng cụ chứa hoặc mang các chất có hại hoặc chất độc có khả năng ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
- Đây là một điều khoản quan trọng mà An Phát cần phải chú ý và tuân theo An Phát phải nghiên cứu kĩ bộ luật này và chỉnh sửa sản phẩm phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn của bộ luật Công ty cần đạt được giấy chứng nhận chất lượng của quốc
tế hoặc Nhật Bản để có thể đưa sản phẩm túi tự phân hủy vào Nhật Bản
4.1.2.3 Yêu cầu về dán nhãn và nhãn mác: