Bắt tay không hề đơn giản Bắt tay không hề đơn giản Bắt tay là một phần của giao tiếp Nắm tay chặt hay lỏng, cách thức bắt tay, thời gian bắt tay ngắn hay dài sẽ cho biết thái độ và cách cư xử khác nh[.]
Trang 1Bắt tay không hề đơn giản
Bắt tay là một phần của giao tiếp Nắm tay chặt hay lỏng, cách thức bắt tay, thời gian bắt tay ngắn hay dài sẽ cho biết thái độ và cách cư xử khác nhau với từng đối tượng Đồng thời thông qua cách thức bắt tay của một ai đó, chúng ta cũng có thể nắm bắt được tính cách riêng của họ, và ấn tượng để lại cũng khác hẳn nhau
Quan sát cách bắt tay của đối tác, chúng ta sẽ nắm bắt được một phần tính cách của họ, từ đó nắm được thế chủ động trong giao tiếp
Helen Keller là một tác gia nữ người Mỹ rất nổi tiếng, bà là người vừa điếc vừa mù, khi nói về những cái bắt tay bà đã nhận xét rằng: “Có những bàn tay tôi từng tiếp xúc có cảm giác như khoảngcách giữa hai người cách xa hàng dặm, nhưng cũng có những cái bắt tay tràn đầy ánh sáng, cái bắt tay của họ lưu lại cho bạn một cảm giác cực kỳ ấm áp…
1 Các yêu cầu đặt ra khi bắt tay
Bình thường, trong lần tiếp xúc đầu tiên, bạn bè lâu ngày gặp mặt,chào tạm biệt hoặc đưa tiễn một người nào đó, mọi người vốn đã quen với việc sử dụng cách bắt tay để thể hiện thiện chí của mình với đối phương
Nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như chúc mừng một ai đó, cảm ơn họ hoặc hỏi thăm; hoặc giả dụ như trong quá trình trao đổi hai bên phát hiện ra có những quan điểm chung giống nhau khiến họ đều cảm thấy hài lòng; lại có khi những mâu thuẫn ban đầu bỗng nhiên được giải toả, thậm chí ngay cả khi muốn hoà giải mâu thuẫn một cách triệt để thì theo thói quen người ta cũng coi việc bắt tay như một lễ tiết không thể thiếu
Khi bắt tay, bạn nên đứng cách đối phương khoảng cách khoảng một bước chân, phần thân trước hơi nghiêng về phía trước, hai chân đứng thẳng, đưa tay bên phải ra, bốn ngón tay chập lại với nhau, khoảng giữa ngón cái và ngón trỏ giao nhau, ngón tay cái
mở rộng, hướng về người cần bắt tay
Nếu khi bắt tay lòng bàn tay hướng xuống phía dưới đè tay đối phương, điều này thể hiện rằng đây là người có xu hướng chi phốingười khác rất lớn, bằng hành động bắt tay đó anh ta muốn nói
Trang 2cho người khác rằng, khi đó vị trí của anh ta cao hơn hẳn một bậc.
Vì vậy trong quá trình giao tiếp bạn nên hạn chế ít nhất cách bắt tay ngạo mạn và thiếu tế nhị này, vì nó sẽ mang lại cảm giác phản cảm cho người đối diện
Ngược lại, lòng bàn tay hướng vào bên trong bắt tay đối phương lại thể hiện được sự khiêm nhường và trọng lễ tiết của người bắt tay Còn nếu khi bắt tay hai bàn tay bắt vuông góc với nhau lại thể hiện ra người bắt tay theo kiểu này là một người rất tự nhiên và trọng sự bình đẳng trong giao tiếp Cách bắt tay vuông góc với tay đối phương cũng là một cách tương đối phổ biến và ổn thoả nhất trong tất cả các kiểu bắt tay kể trên
Đeo găng tay trong khi bắt tay là một hành vi không lịch sự Nếu lànam trước khi bắt tay bạn nên tháo găng tay ra, hạ mũ xuống Nếu
là nữ thì có thể không cần bỏ găng và mũ Đươngnhiên khi bạn đang đứng ngoài trời mà thời tiết rất lạnh thì cũng không cần thiết phải bỏ găng tay và mũ ra khi bắt tay Ví dụ hai bên đều đeo găng tay, đội mũ, thì lúc đó bình thường sẽ nói: “xin lỗi trước khi bắt tay.Khi bắt tay hai bên đều phải chú tâm đến thao tác, mỉm cười, chào, thăm hỏi đối phương, lúc bắt tay không nên chú ý nhìn chỗ khác hoặc biểu hiện trạng thái hờ hững, đang bận tâm đến một vấn đề nào đó
Nếu quan hệ giữa bạn và người bắt tay là quan hệ thân mật và gần gũi thì có thể nắm tay chặt trong thời gian dài, còn theo lệ thường chỉ nên bắt tay một lúc rồi bỏ ra Không nên bắt quá chặt, nhưng bắt tay hờ hững theo kiểu “chuồn chuồn đạp nước cũng là một kiểu bắt tay thiếu lịch sự Khi bắt tay tốt nhất bạn nên khống chế thời gian bắt tay trong vòng ba đến năm giây là tốt nhất Nếu bạn muốn thể hiện cho đối tác thấy thành ý và nhiệt tình của mình thì có thể kéo dài thời gian bắt tay ra một chút nhưng khi bắt tay nên lắc tay lên xuống vài lần
Khi bắt tay hai tay vừa chạm vào đã rời ra, thời gian bắt tay rất ngắn, gần như chỉ lướt qua tay, lại gần như có ý phòng bị đối với đối phương Ngược lại thời gian bắt tay quá lâu, đặc biệt là kéo hẳn tay của đối phương về phía mình hoặc lần đầu gặp mặt mà đãbắt tay quá lâu không chịu bỏ ra…các kiểu bắt tay đó đều khiến cho người khác nghĩ rằng bạn có vẻ giả tạo, cưỡng ép, thậm chí bịnghi ngờ rằng bạn đang có ý định “muốn chiếm cảm tình của họ.Giữa bậc tiền bối và vãn bối (người nhiều tuổi hơn và người ít tuổi hơn) thì người tuổi tác và vị thế cao hơn đưa tay ra bắt trước thì
Trang 3người ít tuổi hơn và địa vị thấp hơn mới có thể đưa tay ra bắt sau Tương tự, cấp trên và cấp dưới, cấp trên đưa tay ra trước thì cấp dưới mới được đưa tay ra; giữa nam và nữ thì chỉ khi người nữ giơ tay ra trước thì người nam mới có thể đưa tay ra để bắt tay; nhưng nếu trong trường hợp người nam lại là người lớn tuổi hơn (thuộc bậc trưởng lão) thì trong trường hợp đó đương nhiên sẽ theo quy tắc đã nói ở phía trên.
Nếu cần phải bắt tay với nhiều người cùng một lúc, khi bắt tay phải tính đến thứ tự trước sau, từ bề trên đến bề dưới, từ trưởng lão đến thiếu niên, từ bậc trưởng bối đến bậc vãn bối, từ thầy giáo đến học sinh, nữ rồi mới đến nam, từ người đã kết hôn rồi mới đến người chưa kết hôn, từ cấp trên đến cấp dưới
Khi giao tiếp nếu số lượng người tương đối lớn, có thể chỉ bắt tay một số người ngay cạnh mình, gật đầu với những người xung quanh thay cái bắt tay chào hỏi, hoặc hơi cúi thấp người đã thể hiện đủ phép lịch sự Nhằm tránh những trường hợp khó xử xảy
ra, trước khi bạn có ý chủ động giơ tay ra bắt tay người khác, bạn phải nghĩ đến việc hành động đó của bạn có được họ chào đón hay không, nếu bạn cảm thấy đối phương không có ý muốn bắt tay với bạn, gật đầu hoặc hơi nghiêng người chào là cách xử sự hợp lý nhất
Trong môi trường làm việc, khi bắt tay thì thứ tự bắt tay chủ yếu dựa vào chức vụ, thân phận của đối phương Còn trong xã hội, khivui chơi giải trí thì chủ yếu dựa vào tuổi tác, giới tính và việc họ đãhay chưa kết hôn để quyết định
Khi đón tiếp đối tác đến thăm hỏi, thì hơi đặc biệt một chút: sau khikhách đã đến nơi, nên để chủ nhà chủ động giơ tay ra trước bắt tay chào đón khách Khi khách chào từ biệt ra về thì lại là khách chủ động giơ tay ra trước bắt tay chào chủ nhà Trước là thể hiện
ý “chào đón, sau lại thể hiện ý “tạm biệt Nếu các thứ tự này bị đảongược lại thì rất dễ khiến cho người khác hiểu lầm
Nhưng một điểm cần nhấn mạnh ở đây là, bắt tay trong trường hợp đã được nói đến ở phía trên không cần thiết cứ phải nhất nhấttuân theo Nếu bạn là người có vị trí tôn nghiêm hoặc là bậc
trưởng bối, cấp trên khi nhìn thấy cấp dưới hoặc người vị trí nhỏ hơn, người ít tuổi hơn tranh việc giơ tay ra trước thì cách giải quyết trọn vẹn nhất là ngay lập tức giơ tay ra bắt Tránh việc giữ thể diện hơn hẳn họ mà không cần quan tâm, khiến cho họ rơi vàotrường hợp khó xử
Trang 4Khi bắt tay bạn nên hỏi thăm mấy câu, có thể nắm chặt tay đối phương, đồng thời đưa ánh mắt nhìn chú ý vào đối phương, vội vàng đi lại bắt tay sẽ giúp cho đối phương có ấn tượng sâu sắc hơn về bạn.
2 Các trường hợp nên bắt tay
- Gặp người quen lâu không gặp
- Trong các trường hợp có tính chất trang trọng và chào hỏi người bạn quen biết;
- Trong giao tiếp xã hội khi bạn đứng ra đóng vai trò là chủ nhà hoặc người tiếp đón khách, hoặc là người đi tiễn khách
- Sau khi thăm hỏi người khác xong, bạn chào từ biệt họ ra về
- Khi bạn được giới thiệu với một người mới mà bạn không quen
- Trong giao tiếp xã hội, ngẫu nhiên gặp lại bạn thân lâu năm không gặp hoặc gặp cấp trên
- Khi người khác ủng hộ bạn, cỗ vũ bạn hoặc giúp đỡ bạn ở một phương diện nào đó
- Thể hiện lòng cảm tạ của bạn đối với một người nào đó, chúc mừng hoặc cung chúc người khác
- Khi bạn thể hiện sự thông cảm, ủng hộ, khẳng định đối với ngườikhác
- Khi tặng quà hoặc nhận quà
Theo lệ thường các trường hợp kể trên đều thích hợp để bắt tay người khác
3 Tám điều tối kị cần tránh trong khi bắt tay
Khi chúng ta bắt tay một ai đó nên tuân theo một số quy phạm chung, tránh trường hợp phạm phải những trường hợp thất lễ sẽ liệt kê dưới đây:
- Không nên giơ tay trái ra bắt, đặc biệt khi bạn đang giao tiếp với người Ả rập, người Ấn Độ điều này bạn càng cần phải chú ý Vì theo quan điểm của họ tay trái là bàn tay không được sạch sẽ
Trang 5- Khi giao tiếp với người theo đạo thiên chúa giáo cần phải tránh trường hợp ví dụ như hai người này bắt tay và bắt tay chéo với haingười khác, việc đó sẽ tạo ra sự chồng chéo lên nhau, hình thành chữ thập, trong con mắt của họ chữ thập đại diện cho những điều xui xẻo.
- Khi bắt tay không nên đeo găng tay, đội mũ hoặc đeo kính đen, chỉ có phụ nữ khi giao tiếp ngoài xã hội được phép đeo găng tay khi bắt tay
- Không nên một tay cầm đồ hoặc đút túi còn tay kia giơ ra bắt
- Khi bắt tay trên mặt không nên giữ thái độ vô cảm, không nói mộtlời nào hoặc lý luận dài dòng, gật đầu lia lịa hoặc nhún vai, kiểu cách một cách quá đáng
- Khi bắt tay không nên chỉ bắt hờ hững đầu ngón tay của đối phương, kiểu như muốn giữ khoảng cách nhất định với họ Cách làm tốt nhất là cần nắm cả bàn tay đối phương Cho dù trong trường hợp lệch tay thì cũng nên làm như vậy
- Không nên kéo tay đối phương về phía mình hoặc đẩy tay về phía họ, hoặc gạt lên trên suống dưới, sang trái hoặc sang phải lệch hướng
- Không nên từ chối cái bắt tay của đối phương, cho dù có bệnh vềtay, tay ướt, bẩn thì cũng nên giải thích với đối phương một cách lịch sự: “Xin lỗi, tay tôi không tiện để bắt tay anh (chị) lúc này để tránh đối phương hiểu lầm
Đọc sách là một phương tiện bồi dưỡng trí nhớ
Trang 6của mình Đọc sách một cách tự lực và có nghiền ngẫm kỹ chẳng những cho phép ta tiếp thu được tư tưởng của tác giả mà còn giúp ta đối chiếu
tư tưởng đó với tư tưởng của các tác giả khác về vấn đề đó, và ta sẽ đi tớimột phán đoán riêng của mình về những điều đọc được
Phán đoán của người đọc có thể đúng hay sai Phán đoán là đúng nếu người đọc vận dụng những luận cứ chắc chắn cho phán đoán của mình, người đọc am hiểu vấn đề hơn tác giả, phán đoán có thể sai nếu người đọc không tán thành ý kiến tác giả, không chịu nhượng bộ tác giả một ly nào trong khi tranh luận chỉ vì không muốn suy nghĩ, hoặc vì suy nghĩ
“đồng bóng”, vì suy nghĩ “tùy tiện” hay vì không chịu vận dụng đến suy luận, đến lý trí mà chỉ thuần dựa vào cảm giác, vào ý thích chứ không đếm xỉa đến các luận cứ mà tác giả đưa ra để chứng minh cho luận đề nêu lên
Phán đoán cũng có thể sai trong trường hợp người đọc vi phạm các luật lôgic và phép biện chứng trong quá trình tư duy
Như đã nói ở trên, trong khi đọc sách, độc giả cần đọc, hiểu, đào sâu, phân tích kỹ, ghi chép, nhớ, lĩnh, hội
Tất cả các việc đó, không việc nào có thể tiến hành được nến không có
sự tham gia của trí nhớ vả tư duy, cho nên trong quá trình đọc sách đương nhiên sẽ rèn luyện, phát triển hoàn thiện được trí nhớ và tư duy Đọc sách là một sự liên hệ qua lại giữa người đọc và tác giả, tựa hồ như người đọc và tác giả trao đổi, đàm đạo với nhau Không phải vô cớ mà người ta thường nói: “Đọc những cuốn sách hay khác nào đàm đạo với những bậc hiền nhân quân tử”
Đôi khi đọc sách biến thành một cuộc tranh luận thầm lặng với tác giả, khi đó người đọc sẽ biểu lộ kỹ năng tranh luận của mình, tức là biết tư duy đúng cách theo logic Trong việc này, để đạt kết quả tốt, người đọc nên nghiên cứu các tài liệu dạy cách chứng minh quan điểm của mình nếu các quan điểm đó là đúng, là chân thực, và bác bỏ những luận cứ sai,vạch trần những lầm lẫn trong tư duy của bản thân mình và người khác(2)Nhờ “trao đổi”, “đàm đạo” với những cuốn sách nội dung quý báu, người đọc sẽ ngày càng trở nên thành thạo, giàu kinh nghiệm hơn trong việc phân tích những con đường phức tạp, ngoắt ngoéo của tư tưởng con người trong mối liên hệ qua lại giữa ý nghĩ, tình cảm, rung động của con người
Trang 7Chỉ riêng đọc sách chưa đủ để rèn luyện trí nhớ và tư duy: còn cần làm sao cho đọc sách chiếm một vị trí xứng đáng trong số các biện pháp quan trọng khác nhằm giáo dục vả trau dồi văn hóa cho con người, trong
đó có cả việc bồi dưỡng tinh độc lập tư duy
V.I Lênin dạy: “ chúng ta phải thay lối học cũ, lối học gạo, lối học khắc khổ thời xưa bằng kỹ năng biết nắm lấy toàn bộ vốn tri thức của loài người, và nắm theo cách thế nào để chủ nghĩa cộng sản của chúng takhông phải như cái chúng ta đã học thuộc lòng, mà như cái do tự chúng
ta nghĩ ra: như những kết luận không thể trách được trên quan điểm học vấn hiện đại”
Độc lập ngẫm nghĩ về đối tượng nhận thức là một trong những dấu hiệu cần thiết và cực kỳ quan trọng của tự đọc sách
Không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lênin trong một buổi nói chuyện với SV Trường Đại học tổng hợp Xvéclôpxcơ ở Maxcơva đã nó: “Điều chủ yếu nhất là phải làm sao cho sau khi đọc sách, sau khi thảo luận và nghe các bài giảng về Nhà nước, các bạn luyện được kỹ năng nhìn nhận vấn đề đómột cách độc lập Chỉ khi ấy các bạn mới có thể tự coi mình là đã đủ vững vàng về lập trường và có đủ khả nấng giữ vững lập trường ấy trướcbất cứ ai và trong bất kỳ lúc nào”(3)
Tính độc lập suy nghĩ như thế được khơi dậy không đồng đều và vào cùng một lứa tuổi ở tất cả mọi người Trong mọi trường hợp, việc đọc sách có thể và cần phải xúc tiến quá trình đó
Có tác dụng đặc biệt tốt đẹp đối với bồi dưỡng tư duy là đọc những cuốnsách trong đó tư duy được trình bày dưới dạng trực tiếp nhất, tức là đượchình thức những suy tưởng trừu tượng của tác giả
F Enghen chỉ rõ, để phát triển năng lực tư duy lý thuyết: “ từ trước tới nay chưa có một cách nào khác ngoài việc nghiên cứu toàn bộ nền triết học trước đây”
Người đọc cũng nên tìm hiểu một số biện pháp đơn giản giúp bồi dưỡng trí nhớ và tư duy trong quá trình đọc sách, trước khi áp dụng những hình thức phức tạp hơn của tư duy độc lập để nghiên cứu các tài liệu có tính chất triết học thật sự
Một là, trong khi đọc phải hiểu rõ ràng trong bất cứ bài văn nào cũng đều thể hiện hai mặt của nó Cái mà người ta nói đến, tức là đối tượng tư duy, và cái mà người ta nói về đối tượng tư duy ấy Phải luyện tập kỹ
Trang 8xảo phân biệt hai yếu tố đó của chính văn mà không cần dừng lại, tựa hồ như ngay trong “mạch đọc”, làm sao cho sự hiểu đó diễn ra tự nhiên.Bao giờ cũng cần phải tự mình nhận ra trong mỗi câu, mỗi đoạn, mỗi tiết, mỗi chương đang nói về cái gì và nói gì rồi sau đó hình dung rõ ràng và hiểu trong toàn bộ bài báo, toàn bộ cuốn sách nói về cái gì và nói
gì, rồi sau đó hình dung rõ ràng và hiểu trong toàn bộ bài báo, toàn bộ cuốn sách nói về cái gì và nói gì…
Chẳng hạn như trong đoạn:
“… Những người lao động trí óc cỡ lớn cũng là những bậc thầy lỗi lạc trong công tác, những người tổ chức tuyệt diệu lao động cá nhân Đó là những nghệ sĩ điêu luyện trong nghệ thuật hợp lý hóa, lựa chọn kỹ thuật
và cách thức làm việc cá nhân Chính các vị đó đã từng nhiều lần nhấn mạnh rằng nguyên nhân chủ yếu của thành công của mình chỉ một phần
là ở năng lực làm việc thể lực hay ở thiên bẩm tự nhiên, còn phần chính
là ở phương pháp làm việc được áp dụng thường xuyên và thực hiện kiêntrì”(4)
Có xét đến vấn đề nguyên nhân thành công trong sáng tác của những người lao động trí óc cỡ lớn
Người ta đã nói những gì để giải đáp câu hỏi ấy?
Người ta khẳng định rằng nguyên nhân chủ yếu của thành công, đó là ở phương pháp làm việc được áp dụng thường xuyên và thực hiện kiên trì Cách thứ hai để bồi dưỡng kỹ xảo lôgic trong đọc sách là người đọc chẳng những phải chăm lo tiếp thu cái ý mà còn phải đi sâu vào ý nghĩa của cái “ý” đó, tùy thuộc vào xu hướng của cái “ý” đó, vào việc tác giả, rồi sau đó độc giả xác định từ then chốt (trọng điểm logic) như thế nào Chẳng hạn, trong câu: “Tinh thần ham đọc sách được trau dồi ngay từ tuổi nhỏ”(5) thì trọng điểm logic rơi vào từ “tuổi nhỏ”
Trong chính văn, từ này không được làm nổi bật bằng cách gạch dưới hay bằng một cách khác (bằng kiểu chữ riêng ), nhưng người đọc tự mình phải hiểu cái “ý” câu mình đang đọc, và trong đầu mình phải nhấn mạnh từ ấy khi tiếp thu ý của cả câu này
Dưới đây, chúng tôi dẫn ra cả một đoạn văn chứ không phải một câu trích trong cuốn sách của nhà văn V.Lidin
Trang 9“Với các sách trên giá của tôi, tôi có một liên hệ thân thiết tâm tình Tôi biết rõ số phận và lai lịch của hầu hết các sách ấy Mỗi khi cầm một cuốntrong tay, tôi cứ tưởng như sách cũng hiểu tôi, và chúng tôi chẳng có gì phải giải thích cho nhau nữa”(6)
Ở đây, trong chính văn, tác giả không nêu bật ý chính bằng một cách nhấn mạnh nào hết (chẳng hạn bằng kiểu chữ riêng) Song người đọc phải tự mình suy nghĩ, nghiền ngẫm, quán triệt đoạn văn để thấy rõ ý chính, ý chính đó là điều quan sát chân thực và tinh tế của tác giả rằng đối với các cuốn sách trong tủ sách riêng của ông, ông có một “liên hệ thân thiết tâm tình” Tính chất của liên hệ ấy được tác giả thuyết minh trong câu thứ hai của đoạn văn
Đọc xong phần kết luận của cuốn sách, người đọc cần phát biểu ngắn gọn cho bản thân mình rõ ý chính của phần đó, mà chính vì để khẳng định cái ý ấy tác giả đã viết phần này
Trong việc đó, người đọc cần hiểu rõ qua chương này mình đã thu hoạchđược điều gì mới, và đọc cuốn sách này mình đã nảy ra những ý nghĩ và tình cảm gì mới
Nghiền ngẫm, quán triệt ý chính trong quá trình đọc sách có liên quan không tách rời với bồi dưõng trí nhớ và tư duy, bởi vì người đọc phải nhớ lại những điều đọc được và hiểu thấu ý nghĩa của chúng Còn ghép những điều mới mẻ vừa đọc được vào vốn tri thức sẵn có trong trí nhớ
và ý thức của mình sẽ có tác dụng mở mang tầm mắt và hình thành thế giới quan khoa học của độc giả Chúng ta đều biết, “nhà văn, cũng như mọi nhà nghệ thuật khác, biết nhìn ra trong cuộc sống xung quanh và vạch cho ta thấy những điều ta thường không nhận xét được buộc ta phảingẫm nghĩ về những điều xưa nay ta vẫn tưởng là hết sức giản đơn hoặc không đáng quan tâm”(7)
Một việc có tác dụng tốt, giúp rèn luyện các kỹ xảo lôgic trong đọc sách,đồng thời củng cố và bồi dưỡng trí nhớ người đọc là nêu bật những ý chính tìm ra được, bằng cách gạch dưới các từ hay các câu trong chính văn nếu sách là của mình hoặc bằng cách ghi chép dưới hình thức một dàn ý lôgic nêu rõ cuốn sách nói về vấn đề gì, và theo trình tự nào
Dĩ nhiên, không phải tự nhiên độc giả có thể phân tích lôgic bài văn và ghi lại ý chính, mà đó là kết quả của việc đọc sách tự lực ta có nghiền ngẫm
Không có lao động tự lực thì không thể tìm ra được chân lý trong một
Trang 10vấn để nghiêm túc nào hết, cho nên người nào ngại lao động thì người ấy
tự tước đoạt khả năng tìm ra chân lý
Trong khi rèn luyện, bồi dưỡng trí nhớ và tư duy người đọc cần lưu ý thường xuyên đem mối liên hệ khăng khít giữa hai cái đó
Có thể vì ý nghĩ như đầu mũi tên, còn trí nhớ là đuôi mũi tên: hai cái đó trợ giúp lẫn nhau trong lúc tên bay đến đích
Nhà y học kiêm nhà giáo dục học Nga lỗi lạc N.I.Pigô-rôp đặt câu hỏi:
“Học thuộc một các thông minh nghĩa là thế nào? Phải chăng đó không thể là công việc của trí nhớ đơn thuần, mà là một sự lĩnh hội các tri thức bằng lý trí Mọi người đều biết một mình lý trí, mà thiếu trí nhớ, thì không làm được trò trống gì Không tài nào xây dựng được một suy luận
ba đoạn (suy lý, suy diễn – A.P) và thậm chí một biểu thức rút gọn của suy luận ba đoạn nếu thiếu trí nhớ Ai quên mất tiền đề thứ nhất hoặc tiên đề thứ hai thì không thể đi đến kết luận được”(8)
Sau khi đã quán triệt ý chính, ta nên - và đôi khi cần phải – gắn cho nó một số thành ngữ thật đích đáng, một số câu phát biểu cô đúc, một số so sánh ví von thú vị
Học thuộc nhẩm trong óc một số đoạn chọn lọc cũng có tác dụng củng
cố trí nhớ và làm giàu vốn hiểu biết Nhờ được các châm ngôn, tục ngữ, các đoạn chọn lọc trong các tác phẩm cổ điển và tác phẩm thơ văn khác, chẳng những làm giàu ngôn ngữ viết và nói, mà còn giúp trau dồi hoạt động trí óc, chứ chưa nói đến giáo dục thẩm mỹ cho độc giả
Ghi chép, đến lượt nó lại giúp người đọc nhìn và nghe, vì nó có tác dụng trau dồi cái gọi là “văn hóa cảm giác” (tức là văn hóa của hoạt động của các giác quan), văn hóa cảm giác có liên quan không tách rời với bồi dưỡng trí nhớ và tư duy(9)
Nhà tư tưởng lỗi lạc phương Đông Luxuphơ Hat Hatgip quả quyết:
“Trí nhớ dù bền lâu thật là đại phúc.
Song giấy trắng mực đen vẫn đáng tin hơn!(10)L.N.Tônxtôi là người có một trí nhớ khổng lồ, suốt cuộc đời sáng tác dài, vẫn ghi lại những ý nghĩ và quan sát của mình, những bài tổng kết đọc sách…
Ông khuyên “lúc nào cũng nên mang theo một cây bút chì và một quyển
Trang 11sổ để ghi lại tất cả những tài liệu, những quan sát, những ý nghĩ và
những quy tắc bổ ích, lý thú thu lượm được trong lúc đọc sách, trong lúc trò chuyện hay ngẫm nghĩ và tối đến sẽ chép lại những cái đó vào một quyển sách riêng, theo từng mục(11)
Ghi chép giúp ích ta nhiều nhất về mặt trau dồi trí nhớ và tư duy trong trường hợp các ghi chép có hình thức phức tạp, chẳng hạn khi ta không chỉ ghi lại những điều đọc được vào một quyển vở riêng hay một phiếu riêng, mà còn viết lời chú vắn tắt, còn ghi lại những nhận định (phán đoán) của mình về cuốn sách kèm với những lập luận làm cơ sở cho nhận định đó và không chỉ nhận xét về từng cuốn sách mà nhận xét về từng đề tài, từng vấn đề
Một cách tốt để bồi dưỡng tư duy, đồng thời cũng giúp dễ nhớ những điều đọc được là tự mình tập hợp các khái niệm và thuật ngữ, các sự kiện
và định nghĩa vụ đọc được trong sách, sắp xếp, phân loại chúng vào những bảng, những sơ đồ…
Đôi khi, phân tích cấu tạo của cuốn sách về mặt số lượng, chẳng hạn kiểm điểm xem trong cuốn sách tác giả nêu lên bao nhiêu luận đề cơ bảnhoặc bao nhiêu tên người, ngày tháng, biên cố, thuật ngữ, kết luận (12)cũng là một cách bổ ích đối với người đọc
Mọi kiểu sắp xếp các tài liệu đọc được, mọi kiểu phân đó, rút ra những kết luận riêng từ các điều đọc được đều giúp ghi nhớ dễ dàng hơn và rèn luyện kỹ xảo lĩnh hội vững chắc
Một biện pháp tốt giúp nhớ lâu là xem lướt tổng quát phần vừa đọc, nhất
là trước khi tạm nghỉ đọc
Trong quá trình nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, người đọc có dịp tốt
để bồi dưỡng tính độc lập tư duy và rèn luyện trí nhớ
N.G Tsecnưsepxki khuyên: “Hãy gắng đọc những cuốn sách chủ chốt, những tác phẩm độc đáo, nguồn của những tư tưởng vĩ đại và những hứng thú cao quý”(13)
Ông nhận xét rằng ngôn ngữ trong các tác phẩm kinh điển rất ngắn gọn, các tác giả kinh điển biết cách gói gém một nội dung phong phú trong một số ít từ, biết cách truyền cho người đọc “tính chất” của các thành tựucủa loài người
Nhà bác học Nga vĩ đại cho rằng: “Trong mỗi bộ môn, chỉ có rất ít
Trang 12những tác phẩm thuộc loại chủ chốt như vậy tất cả các tác phẩm khác chỉ
là lặp lại, pha loãng và làm sứt mẻ những diều chứa đựng một cách đầy
đủ và sáng tỏ hơn nhiều trong các tác phẩm ít ỏi nói trên”(14)
Song N.G Tsecnrsepxki không nhắc đến ý nghĩa của những cuốn sách giúp người đọc hiểu thấu hơn, lĩnh hội sâu hơn và sử dụng có lợi hơn cáctác phẩm kinh điển
Mặt này của vấn đề đã được viện sĩ V.I.Vecnatxki làm sáng tỏ Ông chỉ rõ: “Các tác phẩm kinh điển chứa đựng kho tàng văn hóa phong phú của loài người và giữ mãi giá trị của chúng gần hệt như các tác phẩm văn học cổ điển… Muốn người đọc hiểu được các tác phẩm đó, phải có
những bài bình luận Các khái niệm và các từ trong khoa học có lịch sử của chúng, có cuộc đời của chúng và nếu ta không lưu ý đến những biến đổi của chúng theo thời gian thì độc giả hậu sinh sẽ không hiểu nổi và các khái niệm, các từ càng cổ xưa bao nhiêu thì càng khó hiểu bấy nhiêu.Thuộc loại sách kinh điển này là tác phẩm của hàng ngàn nhân vật, từ Arixtôt hay Côpecnic hay Galilê cho đến những người cùng thời với chúng ta như Đ.I Menđêleep hay I.P Pavlôp
Tìm hiểu các tác phẩm đó trong nguyên bản hay qua một bản dịch tốt là một còng cụ rất mạnh của nền giáo dục cao đẳng, của nền văn hóa nhân dân Không được để các tác phẩm đó bị mai một, bị quên lãng, mà phải đem ra đọc đi đọc lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, trước hết là thế hệ trẻ được trau dồi học vấn trong những năm học ở trường Đại học(l5)
Việc đọc sách phải có tác dụng biến đổi và hoàn thiện tư duy người đọc,
ý thức người đọc, thế giới nội tâm người đọc và do đó phải ảnh hưởng đến hành vi người đọc, đến trình độ văn hóa người đọc trong lao động vàtrong sinh hoạt, đến hoạt động xã hội của người đọc, phải có tác dụng hình thành con người mới, con người xây dựng xã hội tiên tiến
KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ GDSK
Module by: Nguyễn Trang
Summary: GDSK là nội dung quan trọng trong CSSKBĐ
KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ GDSK
Nghị quyết Trung ương 4 ( khóa VII ) nêu rõ : Sức khỏe là vốn quýnhất của mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới cũng như tất cả các thành viên khác là : Sức khỏe cho mọi
Trang 13người( Health for People) Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi tất
cả mọi thành viên trong cộng đồng cùng tham gia tích cực vào việcthực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh và cải thiện môi
trường sức khỏe tốt cho cộng đồng.Với định nghĩa sức khỏe của
Tổ chức Y tế thế giới : Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện
về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật Từ định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm : xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, môi trường và sinh học Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và
kỹ thuật học thích hợp để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trình được sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe
1 Các khái niệm cơ bản
1.1.Thông tin:
Chủ yếu là cung cấp thông tin một chiều từ nguồn phát đến người nhận tin, thường khó thu thập được thông tin phản hồi từ người nghe, người nhận đến nguồn phát tin
1 2.Tuyên truyền:
Là lập đi lập lại một loại thông tin 1 chiều nhưng nhiều lần, vào nhiều thời điểm khác nhau, nhiều dạng khác nhau mang tính hấp dẫn khiến cho đối tượng lúc đầu chưa tin nhưng rồi lâu dần cũng phải tin Một trong những dạng đó là quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng
1.3 Nâng cao sức khoẻ (Health Promotion) :
Trước thập niên 80 người ta chỉ dùng thuật ngữ GDSK ( Health Education) Sau đó không lâu Hội Giáo Dục Sức Khỏe Công Cộng đ cải tiến nhiều hoạt động trong lĩnh vực này và gần đây các nhàGDSK đã đưa ra khái niệm rộng hơn là nâng cao sức khoẻ : Nâng cao sức khoẻ (Health Promotion) là một quá trình làm cho mọi người nâng cao sự kiểm soát các vấn đề sức khoẻ và cải thiện sức khoẻ của chính bản thân họ
Khi nói đến nâng cao sức khỏe, người ta không thể không đề cập tới y tế công cộng Bởi vì nâng cao sức khỏe và y tế công cộng san sẻ mục tiêu chung của việc cải thiện sức khỏe Lĩnh vực y tế công cộng rộng hơn nâng cao sức khỏe trong các kỹ thuật, chính sách, bảo vệ, kiểm tra, giám sát môi trường cũng như các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe khác Nâng cao sức khỏe chịu trách nhiệm làm thay đổi những quá trình thuộc hành vi sức khỏe xã hội, cải thiện hành vi sức khỏe cá nhân, thực hiện các biện pháp sức khỏecông cộng
Mọi người đều công nhận rằng những vấn đề sức khỏe có nhiều nguyên nhân đa dạng và chúng tương tác lẫn nhau Những
Trang 14nguyên nhân này có thể là những hành vi sức khỏe cá nhân,
những điều kiện môi trường, những chính sách y tế không phù hợp , giảm các chương trình y tế hoặc các dịch vụ y tế Một ví dụ
cụ thể về những nguyên nhân chết do ung thư phổi bao gồm: Hút thuốc : thuộc hành vi sức khỏe cá nhân, ô nhiễm không khí thuộc yếu tố môi trường, thiếu các chương trình y tế công cộng do đó các chương trimnhf kiểm tra hút thuốc không được thực hiện, thị trường thuốc lá tự do vì thiếu chính sách công cộng, sàng lọc và chuyển đi điều trị không đầy đủ do thiếu các dịch vụ y tế Việc giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có sự quan tâm đến những nguyên nhânnày Can thiệp chỉ là một biện pháp tác động đến một nguyên nhân, nếu muốn các chương trình y tế công cộng thành công cần phải tác động đến nhiều nguyên nhân
1.4 Định nghĩa giáo dục sức khỏe ( Health Education)
Giáo dục sức khỏe cũng giống như giáo dục chung đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức , thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người
Như vậy : GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ
đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân , gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe
Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:
Kiến thức của con người về sức khỏe
Thái độ của con người về sức khỏe
Thực hành của con người về sức khỏe
Cũng từ định nghĩa trên cho thấy giáo dục sức khỏe là một quá trình nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong Vì vậy, để thực hiện công tác giáo dục sức khỏe chúng ta phải có sự đầu tư thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đemlại hiệu quả cao
Giáo dục sức khỏe chính là quá trình dạy học có mối quan hệ qua lại 2 chiều
GDSK không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe ở đây vai trò của giáo dục sức khỏe là tạo những hoàn cảnh thuận lợi cho mọi người tự giáo dục mình Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quátrình đó diễn ra thông qua sự nổ lực của người học ( đối tượng được giáo dục sức khỏe) với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận
Trang 15lợi của người dạy Từ sơ đồ trên cho thấy mối quan hệ giữa ngườilàm giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe Người làm công tác giáo dục sức khỏe không chỉ dạy cho học viêncủa mình mà còn học từ học viên của mình Thu nhận thông tin phản hồi là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáodục sức khỏe cần phải hết sức coi trọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác , đầy đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe con người như là: nguồn lực hiện có, sự lnh đạo của cộng đồng, hổ trợ x hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Vì thế GDSK sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của
họ và chọn các hành động tăng cường sức khỏe thích hợp
1.5 Mục tiêu giáo dục sức khỏe:
Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe là giúp cho mọi người:
- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ
- Hiểu rõ những điều gì họ có thể làm được để giải quyết những vấn đề sức khỏe, bảo vệ và tăng cường sức khỏe bằng những khảnăng của chính họ cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài
- Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuộcsống khỏe mạnh
Ví dụ: Tây Nguyên là vùng có tỉ lệ suy dinh dưỡng cao nhất nước Một trong những mục tiêu của chương trình phòng chống SDD của tỉnh Daklak là truyền thông giáo dục sức khỏe Qua TT-
GDSK, cộng đồng sẽ được cung cấp các kiến thức cần thiết về phòng chống SDD Điều đó có thể giúp họ nâng cao thái độ kỹ năng thực hành cơ bản: về bữa ăn hợp lý, tận dụng nguồn thức ăngiàu dinh dưỡng
Giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện một trong những quyền của con người là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
2.Vị trí và tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe
2.1 Vị trí và mối liên quan của giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe ban đầu
Mục tiêu của Tổ chức y tế thế giới cũng như của tất cả các thành viên là: Sức khỏe cho mọi người Mục tiêu này có thể đạt được chỉ khi tất cả các thành viên trong cộng đồng cũng như cán
bộ y tế cùng cố gắng nổ lực thực hiện trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Trong những năm gần đây, vai trò của GDSK nagỳ càngcó vị trí quan trọng công tác chăm cóc sức khỏe
Chăm sóc sức khỏe ban đầu được coi như một phương tiện hữu hiệu để đạt được mục tiêu này Chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp
Trang 16ứng những nhu cầu sức khỏe thiết yếu của đại đa số nhân dân vớigiá thành thấp nhất có thể được Thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu là trách nhiệm của các cán bộ y tế, của các cơ sở y tế và cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và cộng đồng Trong nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, truyền thông và giáo dục sức khỏe có vị trí hết sức quan trọng
Trong thực tế, các cá nhân và gia đình chịu trách nhiệm về những quyết định ảnh hưởng đến sức khỏe của họ Ví dụ: Một bà mẹ quyết định sẽ mua những loại thực phẩm nào cho gia đình và chế biến như thế nào Các gia đình quyết định khi nào thì đưa người nhà đi khám chữa bệnh và đến cơ sở y tế nào là thích hợp
Vì vậy, để giúp cho người dân có những quyết định đúng đắn có lợi cho sức khỏe của họ, người dân cần phải được cung cấp
những kiến thức cần thiết, huấn luyện những kỹ năng và thực hành những điều có lợi cho sức khỏe Bởi vậy :
- GDSK đ được tuyên ngôn Alma Ata (1978) coi như giải pháp hàng đầu để thực hiện chiến lưọc sức khỏe toàn cầu
- Sau hội nghị Alma Ata, ngành Y tế Việt nam cũng đ đưa GDSK lên chức năng số một của tuyến Y tế cơ sở trong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu
- Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu , Giáo dục sức khỏe giữ vị trí quan trọng bậc nhất, bởi vì nó tạo điều kiện để chuẩn bị , thực hiện và củng cố kết quả các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác
2 2 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe:
- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành
vi sức khỏe
- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người
- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm tỷ lệ mắc bệnh , tỷ lệ tàn phế và tỷ vong nhất là ở các nước đang phát triển
- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế
So với các giải pháp dịch vụ tế khác Giáo dục sức khỏe là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả , nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất , nhất là ở tuyến Y tế
Trang 17Bài 1: Cộng đồng với chăm sóc môi trờng cơ bản
1 Khái niệm về môi trờng:
- Môi trờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con ngời,
có ảnh hởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngời và thiên nhiên (Điều 1, luật bảo vệ môi trờng Việt Nam năm 1993)
- Kết luận về môi trờng sống: Môi trờng sống của con ngời
là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con ngời và có ảnh hởng tới sự sống và sự phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng và toàn bộ loài ng-
* Chăm sóc môi trờng cơ bản:
- Chăm sóc môi trờng cơ bản là một quá trình mà trong đócộng đồng với những kinh nghiệm của mình có thể tự tổ chức, đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc, bảo vệ môi trờng
đồng thời với các hoạt động khác của họ nhằm làm thỏa mãnnhu cầu về kinh tế xã hội của địa phơng với sự hỗ trợ có mức độ từ bên ngoài
- Nh vậy chăm sóc môi trờng cơ bản là một quá trình phối hợp của 3 yếu tố sau:
+ Mọi ngời có thể duy trì, tạo ra hoặc đạt đợc sự tiếp cận
đối với các loại hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho cuộc sống, sức khỏe và sự giàu có của họ
Trang 18+ Bảo vệ môi trờng địa phơng: loại trừ hiểm họa do cháy, làm sạch và bảo vệ nguồn nớc, phòng chống lụt bão, cải
thiện việc sử dụng đất để bảo vệ lớp đất bề mặt…
+ Nâng cao tính chủ động giải quyết vấn đề của chính ngời dân tại địa phơng trong việc bảo vệ và kiểm soát tốt hơn các nguồn lực tự nhiên và các yếu tố ảnh hởng tới cuộc sống của họ
3 Lợi ích của việc chăm sóc môi trờng cơ bản:
- Môi trờng là nơi cung cấp nhiều nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con ngời
- Môi trờng là không gian sống của con ngời, là một lớp bảo
vệ chắc chắn ngăn ngừa cho con ngời khỏi mọi đe dọa về bệnh tật,về chất lợng cuộc sống
- Môi trờng là nơi chứa đựng các chất thải bỏ do con ngời tạo ra trongcuộc sống và hoạt động sản xuất của mình nh phân, giác, nớc thải, các loại giác Vì vậy nó là nguồn gây nên mọi bệnh tật, phá hoại cuốc sống hạnh phúc, quá trình phát triển của xã hội nếu nh môi trờng đó bị hủy hoại, bị các chất thải bỏ của con ngời tàn phá
Vì vậy có thể coi môi trờng là con dao hai lỡi và việc sử dụng nó nh thế nào là do chính con ngời quyết định.
4 Những vấn đề nổi cộm cộm về môi trờng cơ bản tại địa phơng:
- Thiếu nớc sạch và điều kiện vệ sinh, xử lý nớc thải trong sinh hoạt
- Ô nhiễm không khí trong nhà do đun bếp không đợc thông khí tốt, nhà cửa ẩm thấp, ở cạnh với chuồng gia súc
- Bệnh tật do côn trùng trung gian truyền bệnh nh: sốt rét, sốt xuất huyết
- Phong tục tập quán, thói quen lạc hậu, ý thức vệ sinh cá nhân kém
- Hóa chất và các chất gây ô nhiễm môi trờng đất và nớc (sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu)
Trang 19- Ô nhiễm không khí ngoài trời do nạn phá rừng, các khu công nghiệp, khu đô thị phát triển.
5 Vai trò của cộng đồng với chăm sóc môi trờng cơ bản:
Chăm sóc môi trờng cơ bản là một biện pháp tiếp cận bền vựng dựa vào cộng đồng, áp dụng những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, với sự tham gia chủ động của chính cộng
đồng theo phơng châm phát triển tình làng nghĩa xóm, giáo dục thúc đẩy bà con tự hành động, tự đổi mới theo cách nghĩ, cách làm của riêng mình vào các hoạt động th-ờng xuyên để giữ gìn vệ sinh nhà cửa, vệ sinh làng xóm…Những hành động tích cực không tốn kém, mang đậm đàbản sắc địa phơng sẽ đợc không ai khác hơn là ngời dân trong thôn xóm họ đang sinh sống cùng ghi nhận, cùng ngỡng
mộ và cùng nhau nhân rộng ra cho nhiều ngời khác ứng dụng nhằm giải quyết những vấn đề khác nhau liên quan
đến cuộc sống và môi trờng của họ
tr- - Mục tiêu của các hoạt động chăm sóc môi trờng cơ bản ở
địa phơng cần u tiên đáp ứng nhu cầu cơ bản nhất của trẻ
em về nớc sạch, ăn uống hợp lý, phòng chống bệnh tật,
phòng chống tai nạn thơng tích Môi trờng gia đình, trờng học sạch sẽ, tạo nên môi trờng sống trong lành và an toàn mà
ở đó mỗi trẻ em lớn lên trở thành những chủ nhân tơng lai của đất nớc
- Trẻ em có trách nhiệm tham gia các hoạt động bảo vệ, giữgìn, chăm sóc môi trờng cơ bản ở gia đình, nhà trờng và thôn bản góp phần cùng ngời lớn từng bớc cải thiện, nâng cao chất lợng cuộc sống.
Bài 2: một số bệnh liên quan đến nớc và vệ sinh môi
trờng
I Các bệnh đờng tiêu hóa:
Trang 20- Bệnh đờng tiêu hóa thờng gặp nh tả, lỵ, thơng hàn, ỉachảy, viêm gan A, bại liệt…thờng do ăn uống phải những thực phẩm hay nớc uống bị nhiễm khuẩn có từ trong phân ngời.
- Bệnh truyền từ ngời này sang ngời khác có thể gây thành dịch đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của cộng
đồng, đặc biệt là trẻ em
1: Đờng lây truyền
Sơ đồ dới đây có thể cho thấy những con đờng thông thờng mà vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng có thể vào cơ thể con ngời để gây bệnh
Sơ đồ đờng lây truyền
2 Biện pháp phòng bệnh: Rửa tay
Nhà tiêu hợp vệ sinh Bảo vệ nguồn nớc
- Phải rửa tay bằng nớc sạch và xà phòng trớc khi ăn, sau khi
đi đại tiểu tiện, sau khi giúp trẻ đi vệ sinh hoặc khi tiếp xúc với ngời bệnh
- Rửa tay bằng nớc sạch và xà phòng, lau vú trớc khi cho con bú
- Thực phẩm, rau quả phải đợc rửa sạch trớc khi chế biến
- Rửa tay trớc và sau khi chế biến thức ăn, không ăn thức ăn sống, ôi thiu
- Thức ăn đã nấu chín phải đợc đậy bằng lồng bàn để tránh ruồi nhặng
Trang 21- Phải ăn chín, uống sôi.
- Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
- Sử dụng và bảo quản tốt nguồn nớc sạch
- Không để môi trờng bị ô nhiễm
- Thực hiện 3 diệt: Ruồi, muỗi, chuột vì chúng là những con vật trung gian truyền bệnh
II Bệnh giun sán:
1 Đờng lây truyền:
- Giun đũa, giun tóc, giun kim thờng lây truyền do trứng giun của ngời bệnh theo phân ra ngoài rồi lại vào miệng ng-
ời khỏe
- Bệnh giun móc thờng lây truyền do trứng giun của ngời bệnh theo ra ngoài vào đất, nở thành ấu trùng rồi chui qua chân ngời đi chân đất vào cơ thể ngời khỏe gây bệnh
- Bệnh sán các loại thờng do ấu trùng từ phân ngời bệnh rồi vào nớc, sống ký sinh trong ốc, ốc bị cá ăn Khi ngời ăn cá không nấu chín sẽ mắc bệnh
2 Biện pháp phòng bệnh:
Có thể bổ sung thêm một số biện pháp khác nh:
- Không đi chân đất, không để trẻ mặc quần thủng đít
- Không ăn thịt các loại gia súc bị bệnh hoặc đã chết
- Khi giết mổ gia súc phải đợc thú y kiểm tra tránh bệnh gạo (ấu trùng sán)
- Tẩy giun sán theo hớng dẫn của thầy thuốc
- Dùng tăm bông lau quanh hậu môn khi trẻ bị ngứa
- Thờng xuyên rửa tay bằng nớc sạch và xà phòng
III Các bệnh do muỗi truyền:
Trang 221 Đờng truyền bệnh:
- Các loại muỗi gây bệnh thờng đẻ trứng vào nớc, trứng nở thành bọ gậy, lớn lên thành cung quăng rồi lột xác thành muỗi
- Bệnh sốt rét, sốt xuất huyết là các bệnh truyền nhiễm cóthể thành dịch
- Khi muỗi đốt ngời bệnh, sẽ hút máu có mang mầm bệnh (KST sốt rét, vi rút gây bệnh sốt xuất huyết) rồi truyền chongời khỏe khi nó đốt họ
- Bệnh có thể lây lan do tiếp xúc trực tiếp xúc trực tiếp với
dử mắt, nớc mắt, nớc mũi của ngời bệnh
- Bệnh còn có thể lây dùng chung khăn mặt, dùng chung gối và dùng chung chậu rửa mặt mà không rửa sạch chậu sau mỗi lần ngời sử dụng và cũng có thể do ruồi đậu vào dửmắt, nớc mắt, nớc mũi của của ngời bệnh rồi mang vi khuẩnsang mắt ngời lành
2 Các biện pháp phòng tránh:
Trang 23- Tránh tiếp xúc với ngời bệnh ( dử mắt, nớc mắt, nớc mũi của của ngời bệnh)
- Dùng nớc sạch, khăn riêng và chậu sạch hoặc giặt khăn mặt trực tiếp dới vòi nớc
- Thờng xuyên giặt khăn mặt bằng phòng, phơi khăn ra chỗ thoáng, dới nắng
- Rửa tay bằng xà phòng trớc khi rửa mặt
- Dùng gối riêng khi ngủ
2. Các biện pháp phòng bệnh:
- Phải có đủ nớc sạch để sử dụng hàng ngày
- Phải thực hiện vệ sinh cá nhân tốt, tắm rửa, giặt giũ bằng xà phòng
- Không mặc chung quần áo với ngời bị bệnh
- Đối với phụ nữ, để phòng bệnh phụ khoa, cần làm vệ sinh
bộ phận sinh dục ngoài hàng ngày bằng nớc sạch, hạn chế ngâm mình dới nớc ruộng, ao hồ
Trang 24I Tại sao phải thu gom và sử lý phân
1 Sự nguy hiểm của phân ngời:
- Phân ngời không đợc thu gom và sử lý tốt sẽ làm ô nhiễm nguồn đất và nớc, làm lây lan bệnh tật cho nhiều ngời nh bệnh tả, lỵ, thơng hàn, tiêu chảy, viêm gan A, bại liệt,giun sán… đặc biệt hay gặp ở trẻ em
- Phân ngời là nơi sinh sốngcủa ruồi, nhặng, muỗi, gián, chuột là vật trung gian mang mầm bệnh truyền từ ngời này sang ngời khác
- Phân ngời sản sinh ra mùi hôi thối, khó chịu
2 Lợi ích của việc thu gom và sử lý phân ngời:
- Thu gom và sử lý phân ngời tốt sẽ tiêu diệt đợc các mầm bệnh
- Dùng làm phân bón sẽ lằm tăng năng suất cây trồng vì phân sau khi đợc ủ có nhiều đạm và muối khoáng hơn phân tơi
- Thanh toán đợc các tập quán lạc hậu nh dùng phân tơi để bón ruộng, tới rau, nuôi cá, phóng uế bừa bãi
II Xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh
1 Yêu cầu của một nhà tiêu hợp vệ sinh và thân
thiện với trẻ em:
* Một nhà tiêu hợp vệ sinh phải:
- Không làm ô nhiễm môi trờng, đặc biệt không làm ô nhiễm nguồn nớc sinh hoạt
- Không tạo chỗ cho ruồi, muỗi và các côn trùng khác sinh nở
- Không có mùi hôi thối khó chịu
* ở các trờng mầm non, trờng tiểu học cần xây dựng nhà
vệ sinh “thân thiện với trẻ em” Nhà vệ sinh thân thiện với trẻ em phải:
Trang 25AN TOàN
- Lối đi quang đãng, an toàn
- Bậc lên xuống vừa tầm với trẻ em và có tay vịn
- Hệ thống thoát nớc tốt cả bên trong và bên ngoài khu vệ sinh
- Nên có tay vịn cho trẻ khi ngồi tạo cảm giác an toàn
- Lỗ đi tiêu nhỏ để trẻ không bị sợ tụt chân xuống
- Có mái tre ma, nắng
- Hệ thống đèn điện phải đợc lắp đặt an toàn để tránh
Trang 26SạCH Sẽ Và BảO QUảN TốT
- Có sọt đậy nắp để vứt giấy vệ sinh sau khi đi vệ sinh
- Có đủ nớc để dọn và rửa đều đặn
- Có thùng nớc hoặc vòi nớc gần hố tiêu
- Có đội bảo quản, bao gồm cả ngời lớn và trẻ em
Tóm lại, để thân thiện với trẻ em, nhà vệ sinh phải
- Phù hợp với từng vùng, miền khác nhau
- An toàn, thoải mái khi sử dụng
- Thông thờng thể tích của bể tự hoại cho một gia đình từ
5 đến 7 ngời khoảng 2m3, đợc chia làm 3 bể, trong đó 1
bể chứa và 2 bể lắng Phần nổi cao hơn mặt đất 0,4m vàhơi nghiêng về phía sau
- Bể chứa phải có 1 ống thông hơi đờng kính 26mm, đặt cao hơn mái nhà 40 cm và có cút chữ T trên đầu ống thông hơi Hai đầu bể chứa có 2 ga lấy phân nhng luôn trát kín
- Giữa bể chứa, bể lắng 1 và bể lắng 2 thông với nhau bằng cút chữ L đặt ngợc Cút giữa bể chứa và bể lắng 1
đặt thấp hơn cút giữa bể lắng 1 và bể lắng 2 khoảng 15 cm
- Bệ tiêu bệt hoặc xổm có ống xi phông để tạo nút nớc và nối liền với ống dẫn phân (cầu trợt) ống thông hơi và cầu tr-
ợt phải đảm bảo 5 tiêu chuẩn sau:
+ Nút nớc phải kín
Trang 27+ Khi dội nớc phải đẩy đợc hết phân
+ Đuôi của cầu trợt ngập dới mặt nớc khoảng 10 cm
* Bảo quản và sử dụng nhà tiêu tự hoại:
- Khi mới xây xong phải đổ đầy nớc vào bể mới đợc sử dụng
- Sử dụng giấy vệ sinh, nếu sử dụng các loại giấy khác phải
có sọt rác và phải đốt thờng xuyên
- Sau khi đi ngoài xong phải dội nớc đủ để phân trôi hết
- Không đổ nớc xà phòng, chất tẩy rửa vào bể chứa phân
- Khi bể đầy phân phải thuê xe hút phân
- Giá thành cao hơn so với các loại nhà tiêu khác
b: Nhà tiêu thấm dội nớc:
Trang 28- Đáy bể chứa không xây, các thành bể xây để nhiều lỗ thấm, nếu là 2 bể thì vách ngăn giữa 2 bể không để lỗ thấm mà để hở 1 rãnh bằng 1/2 viên gạch ngay sát dới tấm
đan Thành bể xây cao hơn mặt đất 20 cm để ngăn cho nớc ma tràn vào
- Bệ tiêu và nhà che ma nắng có thể đặt trực tiếp trên hốchứa phân hoặc trên nền đất
- Bệ tiêu có ống xi phông để tạo nút nớc và để dẫn phân vào bể.
* Bảo quản và sử dụng:
- Sau khi đi ngoài xong phải dội nớc đủ để phân trôi hết
và để tạo nút nớc chống mùi hôi thối
- Không để giấy chùi, que, vật cứng vào lỗ tiêu mà phải có sọt rác
- Nếu là 1 bể thì khi đầy phải cậy nắp lên đổ vôi cục vào bể chứa sau đó lấy mùn ra
- Nếu là 2 bể thì khi đầy bịt kín ống dẫn vào bể 1 và sử dụng bể 2, khi bể 2 đầy lấy mùn bể 1 ra và dùng tiếp
- Dễ gây ô nhiễm nguồn nớc ngầm nông
- Chỉ sử dụng đợc nơi có nhiều nớc và đất có khả năng thấm nớc tốt
c: Nhà tiêu 2 ngăn sinh thái:
Trang 29* Kỹ thuật xây dựng:
- Sàn nhà tiêu bằng bê tông dầy 5 cm sau đó lát gạch nh nền nhà và sàn cao hơn mặt đất từ 5 đến 10 cm đẻ cho nớc khỏi tràn vào
* Sử dụng và bảo quản:
- Chỉ sử dụng 1 ngăn, lỗ tiêu luôn đậy nắp còn 1 ngăn ủ, lỗtiêu luôn trát kín
- Nhà tiêu phải luôn khô sạch
- Cửa lấy phân 2 ngăn luôn trát kín
- Không tiểu tiện vào lỗ tiêu
- Khi phân dính vào lỗ tiêu phải rắc tro rồi quét sạch
- Giấy vệ sinh phải cho vào sọt và đốt hàng ngày
- Sau mỗi lần đi tiêu phải đổ vôi bột hoặc tro phủ kín
- Khi ngăn sử dụng đầy, đổ vôi bột hoặc tro phủ kín mặtphân, trát kín lỗ tiêu, ghi ngày tháng ủ, thời gian ủ tối thiểuphải 6 tháng mới sử dụng đợc
Trang 30- Quanh nhµ tiªu trång c©y xanh, hoa, c©y c¶nh.
Trang 31* Sử dụng và bảo quản:
- Đi tiêu xong phải đổ tro hoặc vôi bột và đậy nắp
lại
- Bỏ giấy vệ sinh vào hố chứa
- Quét dọn sạch sẽ hàng ngày
- Không đổ nớc vào hố chứa
- Khi đầy lấp kín và đào hố khác
- Mặt bệ có thể đổi sang chỗ mới (nếu làm bằng bê tông)
- Không sử dụng đợc nơi đất trật ngời đông, vùng ngập nớc
- Khi hố phân đầy phải chuyển đi chỗ khác hoặc lấy phân ra
- Có nguy cơ làm ô nhiễm nguồn nớc
e: Bể khí sinh học (Biôgas)
* Ưu điểm:
- Kết hợp đợc vấn đề vệ sinh môi trờng và lợi ích kinh tế
- Xỷ lý đợc các chất thải, tận dụng đợc khí Mêtan (CH4) để
đun nấu
* Nhợc điểm:
- Giá thành cao
Trang 32- Thờng xuyên phải có đủ phân giác nạp vào thì mới đủ gas đun nấu
- Kỹ thuật xây dựng phức tạp Khi xây dựng, lắp đặt bể khí sinh học cần có sự hớng dẫn của chuyên môn.
Bài 4: sử dụng và bảo quản nguồn nớc sạch
1 Sự cần thiết của nớc đối với con ngời:
- Nớc chiếm 70 – 75% trọng lợng cơ thể, nếu cơ thể thiếu nớc sẽ gây rối loạn quá trình chuyển hóa các chất đa đến tình trạng rối loạn thân nhiệt, rối loạn tâm thần, gây khát
- Nớc đa các chất dinh dỡng vào cơ thể, thải các chất cặn bã ra ngoài để duy trì sự sống
- Nhu cầu nớc uống cho 1 ngời trong 1 ngày từ 1,5 – 2,5 lít
- Nớc còn để tắm rửa, giặt giũ, vệ sinh nhà cửa, bảo quản các loại thực phẩm, cứu hỏa và các yêu cầu sản xuất
- Nớc bị nhiễm bẩn sẽ gây ra các bệnh nh tả, lỵ, thơng hàn, tiêu chảy, Viêm gan A, bại liệt, bệnh ngoài da, mắt, cácbệnh phụ khoa
2 Các nguồn nớc sạch:
a: Nh thế nào là nớc sạch:
Nớc sạch là nớc phải trong, không có mầu, không có mùi vị lạ gây khó chịu cho ngừơi sử dụng nớc, không chứa mầm bệnh và các chất độc hại