VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Võ Minh Hiếu NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG GIAI ĐOẠN HI[.]
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Võ Minh Hiếu
NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lương Khắc Hiếu
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thúy Vân
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Minh Hoàn
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Tài
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà vai trò của tư duy, trí tuệ đang không ngừng tăng lên trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành nguồn lực vô tận trong sự phát triển Mỗi quốc gia, dân tộc muốn có
sự phát triển đột phá đi lên, muốn bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các nước văn minh, tiến bộ không thể không bắt đầu bằng sự đổi mới, phát triển đột phá trong tư duy, tư duy lý luận
Tư duy lý luận (TDLL) – mà cơ sở nền tảng của nó là tư duy triết học, đối với nước ta hiện nay lại càng quan trọng, do phải đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn đổi mới đất nước một cách toàn diện, đồng bộ Chính
vì vậy mà trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề khai thác, phát huy tiềm năng trí tuệ, khả năng đổi mới sáng tạo và năng lực tư duy của con người Việt Nam, coi đó là nguồn lực, động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước Quan điểm đầu tiên trong các quan điểm phát triển đất nước ta từ nay đến năm 2030 được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định là: Đổi mới tư duy và hành động, chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế, nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả, cơ hội để phát triển kinh tế số, xã hội số TDLL được hình thành và phát triển trên cơ sở của năng lực TDLL Năng lực TDLL có vai trò rất quan trọng đối với các lĩnh vực hoạt động nói chung, đối với công tác giảng dạy lý luận chính trị nói riêng Chính năng lực TDLL là yếu tố có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, đến công tác chính trị, tư tưởng trong hệ thống nhà trường ở nước ta Vì vậy, nâng cao năng lực, trình độ TDLL cho đội ngũ cán bộ lý luận, trong đó có đội ngũ giảng viên các trường chính trị (TCT) cấp tỉnh vùng đồng bằng song Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay – những người trực tiếp góp phần vào quá trình đổi mới tư duy, nâng cao năng lực trí tuệ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là ở các địa phương, cơ sở - có tầm quan trọng đặc biệt Bởi vì, trong tình hình hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, ngoài cái gốc đạo đức ra, cần phải có một năng lực trí tuệ thực sự Năng lực trí tuệ ấy bao gồm cả các tri thức chuyên môn nghiệp vụ và những tri thức lý luận khoa học Thực tế cuộc sống chứng tỏ rằng, thiếu kiến thức chuyên môn cần
Trang 4thiết, người cán bộ sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ Thiếu tri thức lý luận, nhất là lý luận chính trị - cơ sở lý luận trực tiếp cho việc hoạch định đường lối, quan điểm, định hướng phát triển đất nước, chúng ta sẽ bị tụt hậu so với khu vực và thế giới, theo đó nước ta khó có thể giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới Mặt khác, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức cùng việc mở rộng hội nhập quốc tế của Việt Nam đang đòi hỏi những cán bộ biết chủ động tiếp cận
và làm chủ tri thức, luôn sáng tạo trong nhận thức cũng như trong hành động Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ từ cấp cơ sở phải được nâng cao năng lực tư duy mà trước hết là tư duy lý luận Điều này phụ thuộc một phần không nhỏ vào việc đào tạo của các trường chính trị tỉnh Hiện nay, yêu cầu năng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL không chỉ quan trọng mà còn cấp thiết hơn bao giờ hết do năng lực và trình độ trí tuệ, năng lực tư duy cũng như TDLL của đội ngũ cán bộ này nhiều mặt chưa ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng Chính thực trạng ấy đã, đang và có thể sẽ ảnh hưởng nhiều mặt đối với bản thân chủ thể, đối với người học tại các TCT tỉnh, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình đổi mới tư duy, đến công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước, đến quá trình phát triển nhanh và bền vững khu vực ĐBSCL – một vùng kinh tế trọng điểm, phát triển năng động ở phía Nam đất nước Do đó, cần phải đi sâu nghiên cứu, đánh giá đúng những mặt mạnh, mặt yếu về năng lực TDLL của đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL hiện nay, để từ đó xác định phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ cán bộ này
Xuất phát từ đó, việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL trong giai đoạn hiện nay” là
vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa cơ bản vừa cấp bách, không chỉ đối với yêu cầu xây dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị trong tình hình hiện nay, mà còn góp phần bảo đảm cho quá trình đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng sâu sắc
Trang 5phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm sáng rõ những vấn đề lý luận về năng lực TDLL của
giảng viên các TCT tỉnh
- Phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân của thực trạng yếu kém
về năng lực TDLL của đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL hiện nay
- Đề xuất, luận giải cơ sở khoa học về yêu cầu, phương hướng và giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về năng lực TDLL cho giảng viên các TCT khu vực ĐBSCL
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Theo quy định, đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh vùng ĐBSCL có giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm nhiệm, thỉnh giảng Luận án chỉ tập trung nghiên cứu việc nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên cơ hữu
- Thực trạng năng lực TDLL của giảng viên các TCT tỉnh vùng ĐBSCL được nghiên cứu từ năm 2015 đến 2021 (trên địa bàn 12 tỉnh của ĐBSCL) Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa vận dụng đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng (DVBC) và chủ nghĩa duy vật lịch sử (DVLS), nhất là những nguyên lý của lý luận nhận thức và logic học mác xít Luận án cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, sử dụng kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
Để tiến hành nghiên cứu, tác giả luận án đã sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích
và tổng hợp; phương pháp kết hợp lịch sử và logic; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thống kê, so sánh, Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án còn sử dụng một số phương pháp như: thảo luận
Trang 6nhóm, lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp thống kê, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ hơn khái niệm, cấu trúc năng lực TDLL, tiêu chí đánh giá năng lực TDLL của giảng viên các TCT, làm rõ những biểu hiện mang tính đặc thù trong năng lực TDLL của giảng viên các TCT tỉnh và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực TDLL của đội ngũ này
- Góp phần làm rõ thực trạng năng lực TDLL của đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL hiện nay
- Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của các yêu cầu, phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận về TDLL, cấu
trúc năng lực TDLL, các yếu tố tác động đến năng lực TDLL, năng lực TDLL dưới góc độ Triết học
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và nhất là các TCT tỉnh vùng ĐBSCL
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến các vấn đề lý luận về năng lực tư duy lý luận của giảng viên trường chính trị tỉnh
Tư duy, TDLL, năng lực TDLL là những vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu các nước và nước ta trong thời gian qua Nhiều cuốn sách, bài báo, tham luận tại các cuộc hội thảo, v.v đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau
Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đổi mới
tư duy ở nước ta hiện nay Các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết vấn
đề tình trạng lạc hậu của TDLL ở nước ta trước thời kỳ đổi mới, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạc hậu của TDLL và cách thức khắc phục tình trạng đó
Tổng quan các công trình nghiên cứu của nước ngoài về tư duy, TDLL
và năng lực tư duy, chúng ta có thể rút ra những kết quả nghiên cứu cơ bản sau đây
Thứ nhất, các tác giả nước ngoài khẳng định, tư duy có thể định hướng
hoặc là vào việc hiểu biết hoàn cảnh hiện thực, hoặc vào việc đạt tới kết quả thực tiễn
Dựa trên quan niệm về những phương diện nội dung cơ bản của tư duy, chúng ta có thể khái quát các quan điểm cơ bản về tư duy như sau
Nếu xét từ góc độ quan hệ giữa tư duy và kinh nghiệm để đánh giá nội
dung của tư duy, cần phải khu biệt giữa chủ nghĩa duy nghiệm và chủ nghĩa duy lý
Chủ nghĩa duy lý đem kinh nghiệm và tư duy đối lập với nhau Theo
quan điểm này, kinh nghiệm hoặc là không đem lại hiểu biết về hiện thực (Plato), hoặc là đem lại hiểu biết "mơ hồ", cần được làm sáng tỏ nhờ tư duy
Thứ hai, các tác giả đi sâu vào nghiên cứu tính chất lịch sử của tư duy
Họ cố gắng làm sáng tỏ các lĩnh vực đối tượng trong đó tư duy là không khả thể và các phương thức tư duy không tạo ra tri thức, mà đưa tư duy vào
Trang 8Thứ tư, chủ đề tiếp theo của triết học về tư duy là quan hệ giữa cái hữu
thức và cái vô thức trong tư duy (tư duy về tư duy) Các nhà triết học hiện đại cho rằng, mệnh đề “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” của R.Descartes chỉ có nghĩa là ý thức về đối tượng của tư duy và về bản thân sự kiện tư duy, chứ không có nghĩa là ý thức cấp một về các phương thức tư duy
Thứ năm là vấn đề tư duy chủ quan và tư duy khách quan, chủ nghĩa
tâm lý và chủ nghĩa phản tâm lý trong nghiên cứu tư duy
Như vậy, nhìn chung các công trình, bài viết ở các góc độ khác nhau và
ở những mức độ khác nhau đã bàn đến nhiều vấn đề có liên quan đến đề tài Cách tiếp cận của đề tài là nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc về năng lực TDLL và vấn đề nâng cao năng lực TDLL ở nước ta hiện nay
1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng tư duy lý luận và thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.1 Những công trình nghiên cứu về thực trạng tư duy lý luận
Các công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đã đề cập đến TDLL, năng lực TDLL của đội ngũ giảng viên lý luận Mác-Lênin ở các TCT tỉnh, cũng như trình độ tư duy, năng lực tư duy của họ, đánh giá những hạn chế, yếu kém về TDLL của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị Các công trình nghiên cứu về thực trạng tư duy lý luận đã đề cập đến những hạn chế về năng lực TDLL của đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận chính trị nói chung Như vậy, năng lực TDLL của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cấp tỉnh ở ĐBSCL vẫn là mảng đề tài cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ
Đặc thù và vai trò của năng lực TDLL của đội ngũ cán bộ, giảng viên
lý luận chính trị chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống Hơn nữa, đánh giá thực trạng năng lực TDLL của đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận chính trị, nhất là ở các TCT tỉnh ở ĐBSCL, cũng như xác định các yêu cầu nâng cao nó trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, còn là vấn đề mới; mặc dù từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), nhiều tác giả có nghiên cứu sâu về đổi mới
tư duy, phân tích những yếu tố kém trong năng lực, trình độ TDLL
Như vậy, mặc dù đã có một số kết quả trong việc nghiên cứu thực trạng
và những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến năng lực TDLL, nhưng việc nghiên cứu về phương hướng, quan điểm, giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực và trình độ TDLL cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở các TCT tỉnh nói chung, ở các TCT tỉnh vùng ĐBSCL nói riêng, thì còn ít được nghiên cứu có hệ thống, nhất là dưới góc độ triết học
Trang 91.2.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ở Việt Nam, có thể nói mới chỉ có một vài công trình đề cập một cách gián tiếp tới vấn đề năng lực TDLL lý luận cho giảng viên lý luận Mác-Lênin ở các TCT tỉnh nói chung, các công trình tiêu biểu như:
Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Đình Trãi về “Nâng cao năng lực TDLL cho giảng viên lý luận Mác-Lênin ở các TCT tỉnh” Công trình
đã đánh giá chung thực trạng TDLL ở các trường đại học ở nước ta
Cuốn sách của Nxb Chính trị quốc gia “Tổng kết thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”
Cuốn sách cũng đã trình bày vấn đề đào tạo lý luận chính trị, các vấn đề trong công tác đào tạo lý luận chính trị, đổi mới nội dung, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn LLCT cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng Các tác giả cũng đặc biệt nhấn mạnh cần đổi mới đào tạo lý luận chính trị nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho sinh viên
1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến yêu cầu, phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
Những công trình nghiên cứu liên quan đến yêu cầu, phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực TDLL đã phân tích làm rõ mặt tích cực và hạn chế của việc phát huy và nâng cao năng lực TDLL, chỉ ra nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém đó Các nhà khoa học đã có những đóng góp chỉ ra được những phương hướng, những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
tư duy của con người, đặc biệt là đội ngũ trí thức - nhân tài
Có thể thấy, những công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đã có những đóng góp quan trọng về mặt khoa học giúp cho tác giả luận án tiếp cận, nghiên cứu, tham khảo, phục vụ cho đề tài nghiên cứu
1.4 Những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, có thể nhận thấy, các công trình nêu trên và nhiều công trình khác đã góp phần làm sáng rõ thêm các vấn đề sau đây từ góc độ triết học:
Trang 10- Ngày càng làm sáng rõ hơn, sâu sắc hơn các khái niệm cơ bản từ góc
độ triết học như: nhận thức, tư duy, TDLL, TDKN, mối quan hệ giữa TDLL
và TDKN, tư duy biện chứng
- Nghiên cứu về vai trò của TDLL đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu vai trò của TDLL đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động học tập và giảng dạy, hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp hành chính như cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở
- Nghiên cứu thực trạng TDLL, thực trạng năng lực, trình độ TDLL, tư duy biện chứng của các nhóm đối tượng như học sinh, sinh viên, giảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Liên quan đến việc nghiên cứu thực trạng, nhiều công trình còn mở rộng vấn đề, đi sâu nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của các nhân tố khách quan, chủ quan đến năng lực, trình độ TDLL của các nhóm đối tượng trên Những nghiên cứu loại này góp phần làm rõ hơn nguyên nhân, nguồn gốc của những thành tựu, hạn chế trong năng lực, trình độ TDLL của các nhóm đối tượng
- Nghiên cứu về phương hướng, quan điểm, giải pháp phát triển TDLL, nâng cao năng lực, trình độ TDLLcủa một số nhóm đối tượng đã nêu trên Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng,
là những luận cứ khoa học xác đáng, là những gợi mở thiết thực để tác giả luận án lựa chọn đề tài và triển khai nội dung nghiên cứu của mình
Như vậy, đề tài nghiên cứu: “Nâng cao năng lực TDLL của giảng viên
các trường chính trị tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay” là vấn đề chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhất là nghiên cứu ở cấp
độ hệ thống, toàn diện, đủ độ sâu cần thiết Chính vì vậy, tác giả luận án đã chọn đề tài này và định hướng nghiên cứu những vần đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, luận án phân tích làm sáng rõ những vấn đề về lý luận về: tư
duy; TDLL; năng lực TDLL Năng lực TDLLsẽ được đi sâu phân tích ở các vấn đề như: cấu trúc, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy lý luận, vai trò năng lực TDLLđối với hoạt động giảng dạy và nâng cao chất lượng giảng dạy ở các TCT tỉnh
Thứ hai, luận án nghiên cứu và phân tích thực trạng năng lực TDLL của
đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh vùng ĐBSCL, chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong năng lực TDLL của giảng viên các TCT tỉnh vùng ĐBSCL
Trang 11Thứ ba, trên cơ sở các nghiên cứu về mặt lý luận và thực trạng năng lực
TDLL của giảng viên các TCT tỉnh vùng ĐBSCL hiện nay, luận án đề xuất, phân tích yêu cầu, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên của các TCT tỉnh vùng ĐBSCL trong thời kỳ mới
Tiểu kết chương 1
Tư duy là một đặc tính cơ bản của con người Tư duy và TDLL là cấp độ cao của quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của khách thể nhận thức TDLL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH CỦA
VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận
2.1.1 Tư duy lý luận
Ở nước ta trong những năm gần đây, thuật ngữ tư duy đã được nhiều người nhắc đến, tuy nhiên trên thực tế, khái niệm tư duy chưa được hiểu một cách thống nhất Để xác định được nội dung của phạm trù năng lực TDLL, trên cơ sở ấy mà nhận rõ vai trò của nó đối với công tác giảng dạy
lý luận Mác - Lênin, trước hết, cần làm rõ nội dung của khái niệm tư duy
Tư duy không phải là hệ ý thức mà là hình thức cao của sự phản ánh tích cực thực tại khách quan, đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nhất của
ý thức Về thực chất, nhận thức là một quá trình con người không ngừng đi sâu vào bản chất sự vật, nắm bắt cái phổ biến, tất yếu, những mối liên hệ có tính quy luật, sâu sắc và phức tạp ẩn dấu đằng sau các sự kiện, hiện tượng riêng biệt Quá trình nhận thức được thực hiện chủ yếu không phải bằng máy móc, phương tiện hiện đại mà chính bằng sức mạnh của trí tuệ con người – tức tư duy trừu tượng.Tư duy là nhận thức ở trình độ cao, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp tích cực và sáng tạo thế giới khách quan bởi bộ
óc con người Đó là quá trình con người sản sinh ra những tri thức mới từ những tri thức đã thu nhận được trước nhờ có sự tác động trực tiếp của hiện thực khách quan lên các cơ quan cảm giác của con người, từ đó con người từng bước hình thành nên hệ thống các khái niệm, phán đoán, suy luận lôgic
Trang 12Trong quan hệ nội tại giữa ý thức, nhận thức và tư duy, cần thấy rằng, ý thức là sự phản ánh hiện thực vào bộ óc con người, nó là phạm trù độc lập với vật chất Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu thu nhận được qua nhận thức cảm tính, nhận thức kinh nghiệm để rút ra cái chung, bản chất của sự vật Như thế nhận thức, tư duy đều là quá trình hoạt động để mang lại tri thức, ý thức về sự vật Tư duy cũng thuộc hoạt động nhận thức, nhưng diễn ra trong đầu óc con người và sự vật được phản ánh
Tóm lại, về lý luận cũng như trên thực tế, một mặt, không đồng nhất ý thức với nhận thức và tư duy Nhưng mặt khác, không nên tách rời một cách máy móc các khái niệm ấy ra khỏi mối liên hệ nội tại của chúng
2.1.2 Đặc trưng cơ bản của tư duy lý luận
Tư duy kinh nghiệm và TDLLlà những cấp độ khác nhau của tư duy con người Việc phân định giữa tư duy kinh nghiệm và TDLLcó ý nghĩa quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn Bởi vì, về thực chất, quá trình đổi mới
tư duy ở nước ta nói chung, việc năng cao năng lực TDLLcho giảng viên lý luận chính trị nói riêng, trước hết và chủ yếu là nhằm khắc phục kiểu tư duy kinh nghiệm và xây dựng kiểu TDLL– khoa học
* Tư duy kinh nghiệm và đặc trưng của nó
Tư duy kinh nghiệm là trình độ tư duy mới dừng lại ở việc mô tả những thuộc tính, đặc điểm, những mối liên hệ và quan hệ của các sự vật, hiện tượng nhiều hơn là đi sâu phân tích và khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng ấy Như đã nói ở trên, Tư duy kinh nghiệm là trình độ tư duy đặc trưng cho sự phát triển tinh thần, văn hóa của xã hội nông nghiệp cổ truyền
* TDLL khoa học và những đặc trưng cơ bản của nó
TDLL là quá trình con người phản ánh hiện thực khách quan một cách
gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao thành hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức của con người Trên đây những đặc trưng cơ bản của TDLL khoa học Những đặc trưng
đó không chỉ phân biệt TDLL khoa học với TDKN mà còn cho thấy ưu thế của TDLL khoa học so với TDKN Người có TDLL và được giáo dục tốt, lại có ý thức thường xuyên rèn luyện phương pháp tư duy khoa học thường
có tính độc lập và sáng tạo trong hoạt hoạt động trí tuệ - một phẩm chất
Trang 13không thiếu được của người nghiên cứu khoa học Trong Luận án này, TDLL được nghiên cứu là TDLL khoa học
2.1.3 Năng lực tư duy lý luận
*Khái niệm năng lực tư duy lý luận
Hiện nay ở nước ta có những quan niệm khác nhau về năng lực tư duy Theo ý kiến của một nhà nghiên cứu thì năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bản thân con người, bảo đảm cho hành động sáng tạo của mình [35, tr.48]
Cũng như bất kỳ một loại năng lực nào khác, năng lực tư duy cũng được hình thành và phát triển nhờ các yếu tố bẩm sinh và rèn luyện qua học tập, hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, để làm rõ năng lực tư duy là gì, chúng ta cần tìm hiểu một cách cụ thể hơn
Trước hết, có thể nhận xét rằng, TDLL cũng là một phần của tư duy nói chung, cho nên năng lực TDLL cũng liên quan mật thiết đến năng lực tư duy nói chung Vì vậy, trước hết chúng ta phải tìm hiểu về năng lực tư duy Năng lực TDLL là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức ở trình độ lý luận một cách nhanh nhạy, đúng đắn và sáng tạo đối với hiện thực, nhờ vậy có những đề xuất sắc bén, chính
xác góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người
* Các thành tố của năng lực tư duy lý luận
Năng lực TDLL có cấu trúc đa diện Có thể tiếp cận các yếu tố cấu thành năng lực TDLL từ hai góc độ, hai lát cắt: tiếp cận theo quá trình tư duy và tiếp cận theo chức năng của hoạt động TDLL
Như vậy, có thể khẳng định, về cốt lõi, năng lực TDLL là sự kết hợp thống nhất của năng lực phương pháp luận biện chứng duy vật với năng lực
tư duy lôgíc, một cách gọi khác đó là sự thống nhất giữa năng lực tư duy biện chứng và năng lực tư duy lôgíc
* Trình độ tư duy lý luận
Trình độ tư duy là thể hiện một năng lực tư duy nhất định Năng lực tư duy cũng được thể hiện ra một trình độ tư duy tương ứng với nó Trình độ
tư duy chủ yếu là mức độ đạt được về nội dung và phương pháp tư duy Nhưng khi nói đến trình độ TDLL, không chỉ nói đến năng lực tư duy, phương pháp tư duy mà còn đề cập đến nội dung kết quả tư duy - tức là nói đến những tri thức hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật mà tư duy thu nhận được