1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN NỀN KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1985 1986

22 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Vai Trò Lãnh Đạo Của Đảng Trong Công Cuộc Đổi Mới Toàn Diện Nền Kinh Tế - Xã Hội Giai Đoạn 1985 - 1986
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Lý Luận Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 151,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 1. Đặt vấn đề 1 2. Mục đích nghiên cứu 1 3. Đối tượng nghiên cứu 2 4. Cấu trúc dự kiến của đề tài 2 NỘI DUNG 3 I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 19851986 3 1. Bối cảnh thế giới: 3 2. Bối cảnh các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa: 3 2.1. Liên Xô: 3 2.2. Trung Quốc: 5 2.2.1. Trung Quốc thời kỳ Đại nhảy vọtvà Cách mạng văn hoá (19581977) 5 2.2.2. Cải cách mở cửa ở Trung Quốc 5 3. Tình hình Việt Nam: 7 4. Kết luận 8 II. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 19851986 9 1. Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (81979) Tiền đề cho các bước đột phá tiếp theo 9 2. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V (61985) Bước đột phá thứ hai 10 3. Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (81986) Bước đột phá thứ ba 11 4. Thành tựu về kinh tế xã hội của Việt Nam sau các bước đột phá 13 III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 19851986 VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 15 Bài học thứ nhất về xây dựng Đảng 15 Bài học thứ hai về dân 16 Bài học thứ ba về lãnh đạo 16 Bài học thứ tư về thể chế và giải quyết các mối quan hệ 16 Bài học thứ năm về quốc phòng, an ninh 16 KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19 LỜI NÓI ĐẦU 1.Đặt vấn đề Bởi đổi mới là công cuộc có tính tổng thể, được chuẩn bị bài bản, theo cách thức, với từng đường đi nước bước cụ thể, được cân nhắc chắc chắn, triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, cho nên 37 năm qua, công cuộc đổi mới đã thật sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người Việt Nam, và được bạn bè quốc tế hết sức quan tâm. Qua 37 năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bộ mặt đất nước, đời sống của nhân dân thật sự thay đổi; dân chủ XHCN được phát huy và mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Công tác xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao… Những thành tựu trên là kết quả của quá trình đổi mới đầy nỗ lực và sáng tạo của toàn thể nhân dân Việt Nam, mà khởi nguồn là chủ trương của Đảng về thực hiện các bước đột phá trong đổi mới kinh tế xã hội giai đoạn 19851986. Nhận thức được tầm quan trọng và tác động to lớn của những chủ trương đó, nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới toàn diện kinh tế xã hội giai đoạn 19851986”. 2.Mục đích nghiên cứu Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và dưới cuộc tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, công cuộc đổi mới cần được thực hiện cấp thiết, mang tính toàn cầu và phù với những yêu cầu khách quan của thời đại. Văn kiện Đại hội XIII trong bối cảnh mới đã chỉ rõ: Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc Đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đề tài “Vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới toàn diện kinh tế xã hội giai đoạn 19851986” đã nêu ra những nội dung về chủ trương Đảng ta trong thời kỳ đổi mới năm 19851986. Qua đó nhóm tác giả đã tóm tắt nội dung và đánh giá tác động của những chủ trương của Đảng trong việc giúp nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng những năm 80 của thế kỉ XX. Từ đó đề cao vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu vận dụng trong công cuộc đổi mới và phát triển bền vững hiện nay cho nước ta. 3.Đối tượng nghiên cứu Đối tượng: Chủ trương đổi mới kinh tế xã hội Phạm vi thời gian: 19851986 Phạm vi không gian: Việt Nam 4.Cấu trúc dự kiến của đề tài Phần I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 19851986 Phần II: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 19851986 Phần III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 19851986 VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC X Y DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY NỘI DUNG I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 19851986 1. Bối cảnh thế giới: Từ những năm 1980, các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ, đem đến nhiều tác động đáng kể đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc. Xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế, cùng sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia đã thay đổi bộ mặt toàn cầu từ sau năm 1980. Mở đầu với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, bắt đầu khoảng từ 1970, với sự ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin (CNTT), sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn hiện đại hóa với công nghiệp siêu dẫn, giai đoạn vi điện tử, giai đoạn tin học hóa. Bên cạnh đó, các nước thuộc khối Xã hội Chủ nghĩa lại đang rơi vào khủng hoảng sâu sắc. Đặc biệt là Liên Xô, tuy có sự tăng trưởng về kinh tế cao hơn trước, chính trị lại diễn biến ngày càng phức tạp và bất ổn. Trên phạm vi toàn thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới bấy giờ là hòa bình và hợp tác cùng nhau phát triển. Các quốc gia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế lần lượt thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và đặc điểm của thế giới Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đặc biệt là khu vực Châu Á và Đông Nam Á bắt buộc phải đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. 2. Bối cảnh các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa: 2.1. Liên Xô: Trong nửa đầu của thế kỷ XX, nền kinh tế của Liên Xô ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục, đưa Liên Xô lên vị thế cường quốc thứ hai trên thế giới và là mối lo ngại với Mỹ. Viện sĩ V.O.T.Sharapova sinh năm 1924, Cựu chiến binh Chiến tranh Vệ quốc, từng làm việc trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô, người được giải thưởng của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, trong một loạt bài giảng năm 2008 về Liên Xô đã viết: Từ năm 1924 đến năm 1955 là thời kỳ thu nhập quốc dân của Liên Xô đạt kỷ lục thế giới với mức tăng trưởng tới 15%, kể cả những năm Chiến tranh thế giới thứ hai. Tiềm lực công nghiệp của Liên Xô vào năm 1922 mới đạt 3% so với Mỹ, nhưng tới năm 1955, con số này là 60%. Liên Xô trở thành cường quốc thứ hai trên thế giới sở hữu vũ khí hạt nhân, công nghệ tên lửa và công nghệ vũ trụ, phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào năm 1957. Vượt qua hai cuộc chiến, mức sống của người dân Xô viết đạt mức khá cao so với thế giới, nợ quốc gia hầu như bằng không. Tuy nhiên, càng về sau, mô hình kế hoạch hóa càng để lại những “di sản âm tính”. Đó là sự thiếu vắng cạnh tranh lành mạnh; không có động cơ của cả người lao động và xí nghiệp về tay nghề và năng suất lao động, từ đó hàng hóa sản xuất ra có chất lượng không cao, đồng thời tỷ suất tiêu thụ nguyên liệu của nền sản xuất quan liêu mệnh lệnh quá cao. Khâu kế hoạch hóa nền kinh tế chu kỳ trước 5 năm quá tốn kém và không đáng tin cậy trong bối cảnh tranh đua kinh tế quyết liệt với phương Tây, không có khả năng xử lý nhanh với các thiên tai, thảm họa tự nhiên và phát sinh trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh. Mô hình kinh tế kế hoạch, bao cấp nặng nề “đẻ ra” nạn tham nhũng, ăn cắp của công. Thời Nikita Khrushchev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (19531964), ông  gạch khỏi Hiến pháp Liên Xô Điều 131: “Mỗi công dân Xô viết có nghĩa vụ gìn giữ và củng cố tài sản XHCN, như nền móng thiêng liêng bất khả xâm phạm của chế độ, cũng chính là nguồn cho cuộc sống văn hóa vô cùng phong phú của toàn thể những người lao động”. Theo học giả Sharapova, Khrushchev vô hình trung tạo những tiền đề cần thiết để cho các tổ chức mafia xuất hiện, “bật đèn xanh” cho việc cướp phá tài sản quốc gia và sự trù úm những ai đấu tranh chống tiêu cực. Trong hai nhiệm kỳ của Tổng bí thư Leonid Brezhnev (19641982), Liên Xô đã trải qua một thời kỳ trì trệ kéo dài. Nguyên nhân là do sự gia tăng dân số yêu cầu lượng hàng tiêu dùng lớn hơn, nhưng kế hoạch cứng nhắc của nhà nước không khuyến khích được các doanh nghiệp gia tăng năng suất và chất lượng hàng hoá. Mức lương của công nhân rất cao, trong khi giá cả giữ ở mức thấp và khả năng sản xuất thấp dẫn đến hiện tượng thiếu hụt nguồn cung xảy ra thường xuyên. Cùng lúc đó, khoản chi tiêu khổng lồ trong cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ làm giảm khả năng đầu tư vào hiện đại hoá công nghiệp và cải thiện tiêu chuẩn sống.  Tình hình trên dẫn đến những kêu gọi về cải cách nền kinh tế quan liêu, nhiều yếu điểm nhằm cải thiện đời sống nhân dân Liên Xô. 2.2. Trung Quốc: 2.2.1. Trung Quốc thời kỳ Đại nhảy vọtvà Cách mạng văn hoá (19581977) Vào năm 1958, sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Nhân dân Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã kêu gọi phát triển một cuộc Chủ nghĩa xã hội triệt để nhằm đưa Trung Quốc bước lên một tầm cao mới, xây dựng một xã hội Cộng sản theo mô hình tự cung tự cấp. Để thực hiện, Mao khởi xướng kế hoạch có tên gọi là “cuộc Đại nhảy vọt”, thiết lập các “Xã Nhân dân đặc biệt” (thường gọi là Công xã nhân dân) ở nông thôn Trung Quốc – thông qua việc sử dụng lao động tập thể và vận động quần chúng. Rất nhiều “Công xã nhân dân đặc biệt” được huy động chỉ để sản xuất một mặt hàng duy nhất là thép. Cộng với việc tiếp tục xuất khẩu lương thực mặc cho sự thiếu thốn cục bộ trong nước và sự che giấu của các nhà lãnh đạo khi đã phóng đại các số liệu thống kê về sản lượng thép, nhân dân Trung Quốc đã trải qua nạn đói cướp đi sinh mạng của khoảng 2030 triệu người.  Sau thất bại của Đại nhảy vọt, Mao Trạch Đông mong muốn giành lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng cách phát động Cách mạng văn hoá từ ngày 16051966 nhằm loại bỏ các phần tử tư sản tự do, để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng, cộng sản. Cách mạng văn hóa mở đầu với việc nổ tận gốc Tứ Cựu nghĩa là Tư duy cũ, Văn hóa cũ, Tập quán cũ, Thói quen cũ. Thể hiện qua việc đập phá các công trình nghệ thuật lâu đời, phá hủy bảo tàng, đặt tên mới cho các ngành nghề bằng tên Cách mạng, treo ảnh và khẩu hiệu ca ngợi Mao Trạch Đông khắp nơi. Nhân tố thứ hai Mao muốn trừ khử là giáo dục, bởi ông ta cho rằng người có học có khả năng tư duy, điều đó là không được phép. Thế nên giới tri thức là những người hứng chịu nặng nề nhất. Giáo viên bị đánh đến chết bằng thắt lưng,bị tra tấn khi bị ép đeo mũ hề, bị ép cúi đầu và nhận lỗi, bị bỏ tù mà thực chất nhà tù đó là chuồng bò. Những đội Hồng Vệ Binh được thành lập và trao quyền bởi Mao Trạch Đông đã gây ra những cuộc bạo lực tràn lan khắp Trung Quốc với các hình thức đấu tố, tra tấn, ngược đãi, làm nhục và sát hại. Kéo dài đến năm 1977, đây được đánh giá là thời kỳ đen tối nhất của văn hoá Trung Quốc, thay vì biến Trung Quốc thành ngọn hải đăng của chủ nghĩa cộng sản thì đây là sự mở đường cho cuộc cải cách kinh tế sau đó của Đặng Tiểu Bình. 2.2.2. Cải cách mở cửa ở Trung Quốc Tháng 12 1978, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ III, khoá XI, đã vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế xã hội ở Trung Quốc. Hội nghị đã quyết định từ bỏ việc “lấy đấu tranh giai cấp làm then chốt”, chuyển trọng tâm sang xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa với “Bốn hiện đại hoá” làm cơ sở (Hiện đại hoá công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và khoa học kỹ thuật). Qua các Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII (9 1982), XIII (10 1987), XIV (10 1992), XV (1997), đường lối này không ngừng được bổ sung và hoàn chỉnh, trở thành đường lối chung của công cuộc cải cách kinh tế xã hội ở Trung Quốc hiện nay. Đường lối đó là: “Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, đường lối cơ bản của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc là lãnh đạo và đoàn kết các dân tộc cả nước, lấy xây dựng kinh tế làm trọng tâm, kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản, kiên trì cải cách mở cửa, tự lực cánh sinh, gian khổ lập nghiệp, phấn đấu xây dựng nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh”. Trong quá trình thực hiện đường lối này cần chú ý 3 nội dung: Thứ nhất: Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc tức là: “không thể làm theo sách, cũng không thể làm theo nước ngoài, phải xuất phát từ tình hình đất nước, kết hợp với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác với thực tiễn Trung Quốc, mở ra con đường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc trong thực tiễn”;  Thứ hai: đường lối cơ bản của  cải cách là “một khâu trọng tâm, hai điểm cơ bản”, tức là lấy  xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, cải cách và mở cửa  là hai biện pháp chính. Để thực hiện điều đó phải kiên trì 4 nguyên tắc cơ bản: Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, kiên trì chuyên chính dân chủ nhân dân, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông;  Thứ ba: Xác định “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội” có thể kéo dài hàng trăm năm. Nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình kiên định quan điểm phải mở cửa để hội nhập với thế giới bên ngoài, mở rộng trao đổi với các nước khác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi… Trung Quốc quyết định mở cửa thêm 184 thành phố, huyện trong nội địa cho người nước ngoài vào kinh doanh; nới lỏng việc kiểm soát khu vực kinh tế tư nhân trong nước, gần đây là cải cách khu vực kinh tế nhà nước (cổ phần hoá các xí nghiệp nhỏ, làm ăn thua lỗ...). Trong đó, tiêu biểu cho sự thành công của đường lối này là Thâm Quyến đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc là sự thử nghiệm của mô hình kinh tế thị trường. Từ một làng chài với 30.000 dân, Thâm Quyến đã trở thành một trung tâm kinh tế có 12 triệu người, kéo theo sự ra đời sau đó của các đặc khu kinh tế khác: Chu Hải, Sán Đầu và Hạ Môn, tạo ra động lực phát triển cho toàn bộ đất nước Trung Quốc. Với đường lối trên, sau 10 năm cải cách (từ 1978 1988) mức tăng bình quân hàng năm của tổng sản phẩm quốc dân là 9,6%, xuất nhập khẩu tăng gấp 4 lần, thu nhập bình quân hàng năm của nông dân tăng 11,8%, của cư dân thành thị tăng 6,5%. Năm 1988, tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 1.401,5 tỷ nhân dân tệ, thu nhập quốc dân là 1.177 tỷ nhân dân tệ (tăng 20 lần so với năm 1949). Sản lượng công nghiệp từ 1978 đến 1990 tăng trung bình hàng năm là 12,6%. 3. Tình hình Việt Nam: Cuối thập niên 70 của thế kỷ trước cho đến những năm 19851986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo kiểu kế hoạch hóa tập trung và cùng với cơ chế quan liêu bao cấp đã bắt đầu bộc lộ bất cập, tác động tiêu cực đến sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống xã hội. Sản xuất công nghiệp thiếu nguyên liệu, các hợp tác xã nông nghiệp trì trệ, sản lượng lương thực thấp, kéo theo giá trị ngày công lao động cũng rất thấp. Đồng tiền mất giá theo từng năm, vì thế mọi giao dịch như bán nhà, xe máy hay các vật dụng có giá trị đều tính bằng cây, bằng chỉ (vàng). Theo Niên giám Thống kê năm 1988, lạm phát cuối năm 1986 ở mức 587,2% so với 1985. Tại Hà Nội, tiêu chuẩn lương thực cung cấp cho cán bộ và nhân dân vẫn như vậy song ngành lương thực chạy bở hơi tai vẫn không lo đủ nên các  cửa hàng chỉ bán một số lượng nhất định cho một lần mua. Có gia đình tiêu chuẩn chỉ 60 cân gạo nhưng phải mua tới 6 lần và dĩ nhiên một lần mua gạo là một lần vất vả. Lương của cán bộ và công nhân viên chức chỉ đủ sống từ 1 tuần đến 10 ngày. Do chưa thể tăng lương, nhà nước buộc phải áp dụng chế độ phụ cấp nên các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy phải bươn chải làm kế hoạch “ba chạy vạy” mua thực phẩm, lương thực thông qua mối quan hệ để lo đời sống cho cán bộ, công nhân. Năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã muôn vàn khó khăn lại thêm hậu quả của cuộc khủng hoảng do cuộc tổng điều chỉnh giá lương tiền năm 1985 nên càng khó khăn hơn. Tiền phát hành ra không đủ phục vụ lưu thông, các xí nghiệp, nhà máy không có vốn lưu động, không có tiền trả lương cho công nhân. 4. Kết luận Sau một loạt những thành tựu to lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến đến đời sống chính trị thế giới, bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, hệ thống các nước XHCN Đông Âu và Trung Quốc rơi vào thời kỳ khủng hoảng. Tương tự, Việt Nam cũng đối mặt với tình trạng khủng hoảng, ảnh hưởng nghiệm trọng đến mọi mặt của đời sống nhân dân. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, nhưng có thể khái quát lại lý do lớn là duy trì quá lâu khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội cũ, phủ định cực đoan những thành tựu của chủ nghĩa tư bản dẫn đến chậm trễ trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Trong Chính sách kinh tế mới (NEP) được thông qua tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga, V.I.Lênin đã chỉ rõ trong điều kiện mới, việc sử dụng những hình thức kinh tế quá độ là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này. Theo V.I.Lênin, thông qua việc sử dụng CNTB nhà nước, giai cấp vô sản có thể học tập, kế thừa và phát huy có chọn lọc tất cả những tài sản vật chất kỹ thuật và tinh hoa chất xám trong kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh của các nhà tư bản cũng như tri thức khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản. Nhà nước vô sản có thể sử dụng CNTB nhà nước như là một hệ thống các chính sách, công cụ, biện pháp nhằm điều tiết hoạt động của các xí nghiệp tư bản còn tồn tại trong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mục đích vừa sử dụng, vừa cải tạo bằng phương pháp hòa bình đối với các thành phần kinh tế TBCN và sản xuất nhỏ. Với ý nghĩa đó, CNTB nhà nước còn có thể coi là một trong những phương thức, phương tiện, con đường có hiệu quả trong việc thúc đẩy xã hội hóa và làm tăng nhanh lực lượng sản xuất của CNXH. Đảng Cộng sản Trung Quốc là một trong những ví dụ tiêu biểu của thực hiện thành công cải cách và ngày càng đạt được những thành tựu to lớn. Đây là bối cảnh thúc đẩy Đảng ta tiến đến đưa ra những bước đột phá nhằm đổi mới đất nước một cách toàn diện lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm. II. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 19851986 1. Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (81979) Tiền đề cho các bước đột phá tiếp theo Với chủ trương khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, phá bỏ những rào cản để cho “sản xuất bung ra”. Theo đó, Hội đồng Chính phủ ra quyết định (101979) về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục hóa được miễn thuế, trả thù lao và được sử dụng toàn bộ sản phẩm; quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát để người sản xuất có quyền tự do đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường. Nội dung Hội nghị đã: Phủ định một số yếu tố của thể chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Phê phán những lệch lạc, tả khuynh trong việc thực hiện cải tạo công thương nghiệp và cải tạo nông nghiệp Thừa nhận phải kết hợp kế hoạch với những quy luật của thị trường Chủ trương sử dụng kinh tế tư nhân và cả tư bản tư nhân trong việc phát triển kinh tế, có sự kiểm soát của nhà nước, tức là trở lại với quan điểm kinh tế nhiều thành phần Sửa đổi hệ thống giá cả và cơ chế quản lý giá đã trở thành không thích hợp và gây trở ngại cho sản xuất. Như vậy, Hội nghị đã đột phá vào khâu quan trọng nhất của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp: Chế độ công hữu và kế hoạch hóa trực tiếp.  Có thể nhìn nhận những tư duy  đột phá về kinh tế được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá IV, trong Chỉ thị 100CTTW của Ban Bí thư và trong các Quyết định của Chính phủ thời kỳ này như sau: “Đó là những tư duy kinh tế ban đầu, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng là bước mở đầu có ý nghĩa quan trọng. Tư duy kinh tế nổi bật trong những tìm tòi đó là “cởi trói”, giải phóng lực lượng sản xuất , “làm cho sản xuất bung ra”, trên cơ sở khắc phục những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, tạo ra động lực cho sản xuất :hú ý kết hợp ba lợi ích, quan tâm hơn lợi ích thiết thân của người lao động. Những tư duy kinh tế ban đầu đó đã đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới sau này.” Tuy nhiên, do những khó khăn bởi chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam gây ra, do thiếu đồng bộ của tư tưởng đổi mới và chưa có đủ thời gian để những chủ trương đổi mới phát huy tác dụng, những tìm tòi đổi mới ban đầu đó đã phải trải qua các thử thách rất phức tạp. Tư duy cũ về kinh tế hiện vật còn ăn sâu, bám rễ trong nhiều người. Bên cạnh những tư duy cũ trên đây, trước đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, cũng đã xuất hiện khuynh hướng muốn đổi mới mạnh mẽ hơn, tiếp tục đẩy tới tư duy thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất hàng hoá trong chủ nghĩa xã hội.  Nhìn một cách khái quát, những đổi mới tư duy kinh tế trên đây là những nhận thức về sự cần thiết phải giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, sự cần thiết phải tạo ra động lực thiết thực cho người lao động đó là quan tâm đến lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất thiết thân của người lao động,... Những tư duy đổi mới về kinh tế đó tuy mới mang tính chất từng mặt, từng bộ phận, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng lại là những bước chuẩn bị quan trọng, tạo tiền đề cho bước phát triển nhảy vọt ở Đại hội VI.  Bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 81979) với chủ trương và quyết tâm làm cho kinh tế bung ra. Đó là “bước đột phá đầu tiên”, rồi đến chủ trương dứt khoát xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá. 2. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V (61985) Bước đột phá thứ hai Sau Đại hội V, Trung ương Đảng có nhiều Hội nghị cụ thể hoá, thực hiện Nghị quyết Đại hội. Nổi bật là Hội nghị Trung ương 6 (71984) chủ trương tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông với hai loại công việc cần làm ngay: Một là, phải đẩy mạnh thu mua nắm nguồn hàng, quản lý chặt chẽ thị trường tự do; Hai là, thực hiện điều chỉnh giá cả, tiền lương, tài chính cho phù hợp với thực tế. Hội nghị Trung ương 7 (121984) xác định kế hoạch năm 1985 phải tiếp tục coi mặt trận sản xuất nông nghiệp là một trận hàng đầu, trước hết là sản xuất lương thực, thực phẩm. Nổi bật nhất là Hội nghị Trung ương 8 khoá V (61985) được coi là bước đột phá thứ hai trong quá trình tìm tòi, đổi mới kinh tế của Đảng.  Tại Hội nghị này, Trung ương chủ trương xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu hành chính bao cấp, lấy giá lương tiền là khâu đột phá để chuyển sang cơ chế hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nội dung xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp trong giá và lương là tính đủ chi phí hợp lý trong giả thành sản phẩm; giả cả bảo đảm bù đắp chỉ phí thực tế hợp lý, người sản xuất có lợi nhuận thoả đáng và Nhà nước từng bước có tích luỹ; xoá bỏ tình trạng Nhà nước mua thấp, bán thấp và bù lỗ; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống, khắc phục tình trạng thủ nổi trong việc định giá và quản lý giá. Thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ bao cấp bằng hiện vật theo giả thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Giá, lương, tiền coi là khâu đột phá để chuyển đổi cơ chế. Thực hiện trả lương bằng tiền có hàng hoá bảo đảm, xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, thoát ly giá trị hàng hoá. Xoá bỏ các khoản chỉ của ngân sách trung ương, địa phương mang tính chất bao cấp tràn lan. Nhanh chóng chuyển hẳn công tác ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-TIỂU LUẬNLỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN NỀN KINH TẾ - XÃ

HỘI GIAI ĐOẠN 1985 - 1986

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-TIỂU LUẬNLỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN NỀN KINH TẾ - XÃ

HỘI GIAI ĐOẠN 1985 - 1986

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Cấu trúc dự kiến của đề tài 2

NỘI DUNG 3

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1985-1986 3

1 Bối cảnh thế giới: 3

2 Bối cảnh các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa: 3

2.1 Liên Xô: 3

2.2 Trung Quốc: 5

2.2.1 Trung Quốc thời kỳ "Đại nhảy vọt"và "Cách mạng văn hoá" (1958-1977) 5

2.2.2 Cải cách mở cửa ở Trung Quốc 5

3 Tình hình Việt Nam: 7

4 Kết luận 8

II CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1985-1986 9

1 Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8/1979) - Tiền đề cho các bước đột phá tiếp theo 9

2 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V (6-1985) - Bước đột phá thứ hai 10

3 Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-1986) - Bước đột phá thứ ba 11

4 Thành tựu về kinh tế - xã hội của Việt Nam sau các bước đột phá 13

III BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 1985-1986 VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 15

Bài học thứ nhất về xây dựng Đảng 15

Bài học thứ hai về dân 16

Bài học thứ ba về lãnh đạo 16

Bài học thứ tư về thể chế và giải quyết các mối quan hệ 16

Bài học thứ năm về quốc phòng, an ninh 16

KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Bởi đổi mới là công cuộc có tính tổng thể, được chuẩn bị bài bản, theocách thức, với từng đường đi nước bước cụ thể, được cân nhắc chắc chắn, triểnkhai một cách sâu rộng và đồng bộ, cho nên 37 năm qua, công cuộc đổi mới đãthật sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi ngườiViệt Nam, và được bạn bè quốc tế hết sức quan tâm Qua 37 năm đổi mới, đấtnước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trởthành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bộ mặt đất nước, đời sống của nhân dânthật sự thay đổi; dân chủ XHCN được phát huy và mở rộng; đại đoàn kết toàndân tộc được củng cố, tăng cường Công tác xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh; sức mạnh về mọi mặtcủa đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ vàchế độ XHCN được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vàochiều sâu; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao…Những thành tựu trên là kết quả của quá trình đổi mới đầy nỗ lực và sáng tạo củatoàn thể nhân dân Việt Nam, mà khởi nguồn là chủ trương của Đảng về thựchiện các bước đột phá trong đổi mới kinh tế - xã hội giai đoạn 1985-1986 Nhậnthức được tầm quan trọng và tác động to lớn của những chủ trương đó, nhóm tácgiả lựa chọn đề tài: “Vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới toàndiện kinh tế - xã hội giai đoạn 1985-1986”

2 Mục đích nghiên cứu

Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và dưới cuộc tácđộng mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, công cuộcđổi mới cần được thực hiện cấp thiết, mang tính toàn cầu và phù với những yêucầu khách quan của thời đại Văn kiện Đại hội XIII trong bối cảnh mới đã chỉ rõ:

Trang 5

"Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộcông cuộc Đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kếtchặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội

là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nềntảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên" Đề tài

“Vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới toàn diện kinh tế - xã hộigiai đoạn 1985-1986” đã nêu ra những nội dung về chủ trương Đảng ta trongthời kỳ đổi mới năm 1985-1986 Qua đó nhóm tác giả đã tóm tắt nội dung vàđánh giá tác động của những chủ trương của Đảng trong việc giúp nước ta thoátkhỏi cuộc khủng hoảng những năm 80 của thế kỉ XX Từ đó đề cao vai trò lãnhđạo sáng suốt của Đảng và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu vận dụngtrong công cuộc đổi mới và phát triển bền vững hiện nay cho nước ta

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng: Chủ trương đổi mới kinh tế - xã hội

Phạm vi thời gian: 1985-1986

Phạm vi không gian: Việt Nam

4 Cấu trúc dự kiến của đề tài

Phần I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÁC BƯỚCĐỘT PHÁ KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1985-1986

Phần II: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BƯỚC ĐỘTPHÁ VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1985-1986

Phần III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI1985-1986 VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC X Y DỰNG ĐẤT NƯỚCHIỆN NAY

Trang 6

Mở đầu với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, bắt đầu khoảng từ

1970, với sự ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin (CNTT), sử dụng điện tử

và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Cuộc cách mạng này thườngđược gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tácbởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập niên

1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990)

Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc Cách mạng khoa học vàcông nghệ chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn hiện đại hóa với công nghiệpsiêu dẫn, giai đoạn vi điện tử, giai đoạn tin học hóa

Bên cạnh đó, các nước thuộc khối Xã hội Chủ nghĩa lại đang rơi vàokhủng hoảng sâu sắc Đặc biệt là Liên Xô, tuy có sự tăng trưởng về kinh tế caohơn trước, chính trị lại diễn biến ngày càng phức tạp và bất ổn

Trên phạm vi toàn thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột,tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới bấy giờ là hòa bình và hợptác cùng nhau phát triển Các quốc gia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tếlần lượt thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hànhđộng cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và đặc điểm của thế giới

Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nướcđang phát triển đặc biệt là khu vực Châu Á và Đông Nam Á bắt buộc phải đổimới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệquốc tế

2 Bối cảnh các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa:

2.1 Liên Xô:

Trong nửa đầu của thế kỷ XX, nền kinh tế của Liên Xô ghi nhận mức tăngtrưởng kỷ lục, đưa Liên Xô lên vị thế cường quốc thứ hai trên thế giới và là mối

Trang 7

lo ngại với Mỹ Viện sĩ V.O.T.Sharapova sinh năm 1924, Cựu chiến binh Chiếntranh Vệ quốc, từng làm việc trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô, ngườiđược giải thưởng của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, trong một loạt bài giảng năm

2008 về Liên Xô đã viết: "Từ năm 1924 đến năm 1955 là thời kỳ thu nhập quốcdân của Liên Xô đạt kỷ lục thế giới với mức tăng trưởng tới 15%, kể cả nhữngnăm Chiến tranh thế giới thứ hai Tiềm lực công nghiệp của Liên Xô vào năm

1922 mới đạt 3% so với Mỹ, nhưng tới năm 1955, con số này là 60% Liên Xôtrở thành cường quốc thứ hai trên thế giới sở hữu vũ khí hạt nhân, công nghệ tênlửa và công nghệ vũ trụ, phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào năm 1957 Vượtqua hai cuộc chiến, mức sống của người dân Xô viết đạt mức khá cao so với thếgiới, nợ quốc gia hầu như bằng không."

Tuy nhiên, càng về sau, mô hình kế hoạch hóa càng để lại những “di sản

âm tính” Đó là sự thiếu vắng cạnh tranh lành mạnh; không có động cơ của cảngười lao động và xí nghiệp về tay nghề và năng suất lao động, từ đó hàng hóasản xuất ra có chất lượng không cao, đồng thời tỷ suất tiêu thụ nguyên liệu củanền sản xuất quan liêu - mệnh lệnh quá cao Khâu kế hoạch hóa nền kinh tế chu

kỳ trước 5 năm quá tốn kém và không đáng tin cậy trong bối cảnh tranh đua kinh

tế quyết liệt với phương Tây, không có khả năng xử lý nhanh với các thiên tai,thảm họa tự nhiên và phát sinh trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh

Mô hình kinh tế kế hoạch, bao cấp nặng nề “đẻ ra” nạn tham nhũng, ăn cắp củacông Thời Nikita Khrushchev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1953-1964), ông  gạch khỏi Hiến pháp Liên Xô Điều 131: “Mỗi công dân Xô viết cónghĩa vụ gìn giữ và củng cố tài sản XHCN, như nền móng thiêng liêng bất khảxâm phạm của chế độ, cũng chính là nguồn cho cuộc sống văn hóa vô cùngphong phú của toàn thể những người lao động” Theo học giả Sharapova,Khrushchev vô hình trung tạo những tiền đề cần thiết để cho các tổ chức mafiaxuất hiện, “bật đèn xanh” cho việc cướp phá tài sản quốc gia và sự trù úm những

ai đấu tranh chống tiêu cực

Trong hai nhiệm kỳ của Tổng bí thư Leonid Brezhnev (1964-1982), Liên

Xô đã trải qua một thời kỳ trì trệ kéo dài Nguyên nhân là do sự gia tăng dân sốyêu cầu lượng hàng tiêu dùng lớn hơn, nhưng kế hoạch cứng nhắc của nhà nướckhông khuyến khích được các doanh nghiệp gia tăng năng suất và chất lượnghàng hoá Mức lương của công nhân rất cao, trong khi giá cả giữ ở mức thấp vàkhả năng sản xuất thấp dẫn đến hiện tượng thiếu hụt nguồn cung xảy ra thườngxuyên Cùng lúc đó, khoản chi tiêu khổng lồ trong cuộc chạy đua vũ trang với

Trang 8

Mỹ làm giảm khả năng đầu tư vào hiện đại hoá công nghiệp và cải thiện tiêuchuẩn sống. 

Tình hình trên dẫn đến những kêu gọi về cải cách nền kinh tế quan liêu,nhiều yếu điểm nhằm cải thiện đời sống nhân dân Liên Xô

2.2 Trung Quốc:

2.2.1 Trung Quốc thời kỳ "Đại nhảy vọt"và " Cách mạng văn hoá " (1958-1977)

Vào năm 1958, sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Nhândân Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã kêu gọi phát triển một cuộc "Chủ nghĩa xãhội triệt để" nhằm đưa Trung Quốc bước lên một tầm cao mới, xây dựng một xãhội Cộng sản theo mô hình tự cung tự cấp Để thực hiện, Mao khởi xướng kếhoạch có tên gọi là “cuộc Đại nhảy vọt”, thiết lập các “Xã Nhân dân đặc biệt”(thường gọi là Công xã nhân dân) ở nông thôn Trung Quốc – thông qua việc sửdụng lao động tập thể và vận động quần chúng Rất nhiều “Công xã nhân dânđặc biệt” được huy động chỉ để sản xuất một mặt hàng duy nhất là thép Cộngvới việc tiếp tục xuất khẩu lương thực mặc cho sự thiếu thốn cục bộ trong nước

và sự che giấu của các nhà lãnh đạo khi đã phóng đại các số liệu thống kê về sảnlượng thép, nhân dân Trung Quốc đã trải qua nạn đói cướp đi sinh mạng củakhoảng 20-30 triệu người. 

Sau thất bại của "Đại nhảy vọt", Mao Trạch Đông mong muốn giành lạiquyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng cách phát động "Cách mạngvăn hoá" từ ngày 16/05/1966 nhằm loại bỏ các phần tử "tư sản tự do", để tiếp tục

sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng, cộng sản Cách mạng văn hóa mởđầu với việc nổ tận gốc "Tứ Cựu" nghĩa là Tư duy cũ, Văn hóa cũ, Tập quán cũ,Thói quen cũ Thể hiện qua việc đập phá các công trình nghệ thuật lâu đời, pháhủy bảo tàng, đặt tên mới cho các ngành nghề bằng tên Cách mạng, treo ảnh vàkhẩu hiệu ca ngợi Mao Trạch Đông khắp nơi Nhân tố thứ hai Mao muốn trừ khử

là giáo dục, bởi ông ta cho rằng người có học có khả năng tư duy, điều đó làkhông được phép Thế nên giới tri thức là những người hứng chịu nặng nề nhất.Giáo viên bị đánh đến chết bằng thắt lưng,bị tra tấn khi bị ép đeo mũ hề, bị épcúi đầu và nhận lỗi, bị bỏ tù mà thực chất nhà tù đó là "chuồng bò" Những độiHồng Vệ Binh được thành lập và trao quyền bởi Mao Trạch Đông đã gây ranhững cuộc bạo lực tràn lan khắp Trung Quốc với các hình thức đấu tố, tra tấn,ngược đãi, làm nhục và sát hại Kéo dài đến năm 1977, đây được đánh giá là thời

kỳ đen tối nhất của văn hoá Trung Quốc, thay vì biến Trung Quốc thành "ngọnhải đăng của chủ nghĩa cộng sản" thì đây là sự mở đường cho cuộc cải cách kinh

tế sau đó của Đặng Tiểu Bình

Trang 9

2.2.2 Cải cách mở cửa ở Trung Quốc

Tháng 12 - 1978, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lầnthứ III, khoá XI, đã vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh

tế - xã hội ở Trung Quốc Hội nghị đã quyết định từ bỏ việc “lấy đấu tranh giaicấp làm then chốt”, chuyển trọng tâm sang xây dựng hiện đại hoá xã hội chủnghĩa với “Bốn hiện đại hoá” làm cơ sở (Hiện đại hoá công nghiệp, nông nghiệp,quốc phòng và khoa học kỹ thuật) Qua các Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốclần thứ XII (9 -1982), XIII (10 - 1987), XIV (10 - 1992), XV (1997), đường lốinày không ngừng được bổ sung và hoàn chỉnh, trở thành đường lối chung củacông cuộc cải cách kinh tế - xã hội ở Trung Quốc hiện nay Đường lối đó là:

“Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, đường lối cơ bản của Đảng về xâydựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc là lãnh đạo và đoàn kết cácdân tộc cả nước, lấy xây dựng kinh tế làm trọng tâm, kiên trì bốn nguyên tắc cơbản, kiên trì cải cách mở cửa, tự lực cánh sinh, gian khổ lập nghiệp, phấn đấuxây dựng nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, vănminh” Trong quá trình thực hiện đường lối này cần chú ý 3 nội dung:

Thứ nhất: Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc tức là:

“không thể làm theo sách, cũng không thể làm theo nước ngoài, phải xuất phát từtình hình đất nước, kết hợp với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác với thựctiễn Trung Quốc, mở ra con đường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốctrong thực tiễn”; 

Thứ hai: đường lối cơ bản của  cải cách là “một khâu trọng tâm, hai điểm

cơ bản”, tức là lấy  xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, cải cách và mởcửa  là hai biện pháp chính Để thực hiện điều đó phải kiên trì 4 nguyên tắc cơbản: Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, kiên trì chuyên chính dân chủ nhândân, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác

- Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông; 

Thứ ba: Xác định “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội” có thể kéo dài

hàng trăm năm

Nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình kiên định quan điểm phải mở cửa để hộinhập với thế giới bên ngoài, mở rộng trao đổi với các nước khác trên cơ sở bìnhđẳng và cùng có lợi… Trung Quốc quyết định mở cửa thêm 184 thành phố,huyện trong nội địa cho người nước ngoài vào kinh doanh; nới lỏng việc kiểmsoát khu vực kinh tế tư nhân trong nước, gần đây là cải cách khu vực kinh tế nhànước (cổ phần hoá các xí nghiệp nhỏ, làm ăn thua lỗ ) Trong đó, tiêu biểu cho

sự thành công của đường lối này là Thâm Quyến - đặc khu kinh tế đầu tiên của

Trang 10

Trung Quốc - là sự thử nghiệm của mô hình kinh tế thị trường Từ một làng chàivới 30.000 dân, Thâm Quyến đã trở thành một trung tâm kinh tế có 12 triệungười, kéo theo sự ra đời sau đó của các đặc khu kinh tế khác: Chu Hải, Sán Đầu

và Hạ Môn, tạo ra động lực phát triển cho toàn bộ đất nước Trung Quốc

Với đường lối trên, sau 10 năm cải cách (từ 1978 - 1988) mức tăng bìnhquân hàng năm của tổng sản phẩm quốc dân là 9,6%, xuất nhập khẩu tăng gấp 4lần, thu nhập bình quân hàng năm của nông dân tăng 11,8%, của cư dân thành thịtăng 6,5% Năm 1988, tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 1.401,5 tỷ nhân dân

tệ, thu nhập quốc dân là 1.177 tỷ nhân dân tệ (tăng 20 lần so với năm 1949) Sảnlượng công nghiệp từ 1978 đến 1990 tăng trung bình hàng năm là 12,6%

3 Tình hình Việt Nam:

Cuối thập niên 70 của thế kỷ trước cho đến những năm 1985-1986, nềnkinh tế Việt Nam vận hành theo kiểu kế hoạch hóa tập trung và cùng với cơ chếquan liêu bao cấp đã bắt đầu bộc lộ bất cập, tác động tiêu cực đến sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp và đời sống xã hội

Sản xuất công nghiệp thiếu nguyên liệu, các hợp tác xã nông nghiệp trì trệ,sản lượng lương thực thấp, kéo theo giá trị ngày công lao động cũng rất thấp.Đồng tiền mất giá theo từng năm, vì thế mọi giao dịch như bán nhà, xe máy haycác vật dụng có giá trị đều tính bằng cây, bằng chỉ (vàng) Theo Niên giámThống kê năm 1988, lạm phát cuối năm 1986 ở mức 587,2% so với 1985 Tại HàNội, tiêu chuẩn lương thực cung cấp cho cán bộ và nhân dân vẫn như vậy songngành lương thực chạy bở hơi tai vẫn không lo đủ nên các  cửa hàng chỉ bán một

số lượng nhất định cho một lần mua Có gia đình tiêu chuẩn chỉ 60 cân gạonhưng phải mua tới 6 lần và dĩ nhiên một lần mua gạo là một lần vất vả Lươngcủa cán bộ và công nhân viên chức chỉ đủ sống từ 1 tuần đến 10 ngày

Do chưa thể tăng lương, nhà nước buộc phải áp dụng chế độ phụ cấp nêncác cơ quan, xí nghiệp, nhà máy phải bươn chải làm kế hoạch “ba chạy vạy”mua thực phẩm, lương thực thông qua mối quan hệ để lo đời sống cho cán bộ,công nhân Năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã muôn vàn khó khăn lại thêm hậuquả của cuộc khủng hoảng do cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985nên càng khó khăn hơn Tiền phát hành ra không đủ phục vụ lưu thông, các xínghiệp, nhà máy không có vốn lưu động, không có tiền trả lương cho công nhân

Trang 11

4 Kết luận

Sau một loạt những thành tựu to lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến đến đờisống chính trị thế giới, bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, hệ thốngcác nước XHCN Đông Âu và Trung Quốc rơi vào thời kỳ khủng hoảng Tương

tự, Việt Nam cũng đối mặt với tình trạng khủng hoảng, ảnh hưởng nghiệm trọngđến mọi mặt của đời sống nhân dân Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khủnghoảng, nhưng có thể khái quát lại lý do lớn là duy trì quá lâu khuyết tật của môhình chủ nghĩa xã hội cũ, phủ định cực đoan những thành tựu của chủ nghĩa tưbản dẫn đến chậm trễ trong cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Trong Chínhsách kinh tế mới (NEP) được thông qua tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga,

V.I.Lênin đã chỉ rõ trong điều kiện mới, việc sử dụng những hình thức kinh tếquá độ là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này Theo V.I.Lênin, thôngqua việc sử dụng CNTB nhà nước, giai cấp vô sản có thể học tập, kế thừa vàphát huy có chọn lọc tất cả những tài sản vật chất- kỹ thuật và tinh hoa chất xámtrong kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh của các nhà tư bản cũng như tri thứckhoa học - kỹ thuật và trình độ quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản Nhànước vô sản có thể sử dụng CNTB nhà nước như là một hệ thống các chính sách,công cụ, biện pháp nhằm điều tiết hoạt động của các xí nghiệp tư bản còn tồn tạitrong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mục đích vừa sử dụng, vừa cải tạo bằngphương pháp hòa bình đối với các thành phần kinh tế TBCN và sản xuất nhỏ.Với ý nghĩa đó, CNTB nhà nước còn có thể coi là một trong những phương thức,phương tiện, con đường có hiệu quả trong việc thúc đẩy xã hội hóa và làm tăngnhanh lực lượng sản xuất của CNXH Đảng Cộng sản Trung Quốc là một trongnhững ví dụ tiêu biểu của thực hiện thành công cải cách và ngày càng đạt đượcnhững thành tựu to lớn Đây là bối cảnh thúc đẩy Đảng ta tiến đến đưa ra nhữngbước đột phá nhằm đổi mới đất nước một cách toàn diện lấy đổi mới kinh tế làmtrung tâm

Ngày đăng: 13/04/2023, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w