1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ lịch sử việt nam cộng đồng người stiêng ở miền đông nam bộ thời việt nam cộng hòa (1967 1975

115 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cộng Đồng Người Stiêng Ở Miền Đông Nam Bộ Thời Việt Nam Cộng Hòa (1967-1975)
Tác giả Nguyễn Thanh Huy
Người hướng dẫn TS. Lê Quang Hậu
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 5,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài (9)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn (14)
    • 3.1. Mục đích (14)
    • 3.2. Nhiệm vụ (14)
  • 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (14)
    • 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu (14)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (15)
  • 5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu (15)
    • 5.1. Nguồn tài liệu (15)
    • 5.2. Phương pháp nghiên cứu (16)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn (16)
  • 7. Bố cục (17)
    • 1.1. Vài nét về lịch sử cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (18)
      • 1.1.1. Lịch sử tộc người (18)
      • 1.1.2. Tên các nhóm địa phương (21)
      • 1.1.3. Dân cư, tổ chức xã hội, tôn giáo và văn hóa (22)
      • 1.1.4. Điều kiện kinh tế và đời sống (24)
    • 1.2. Cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ thời chống Pháp (1946- 1954) và Việt Nam Cộng hòa (1955-1963) (26)
      • 1.2.1. Thời chống Pháp (1946-1954) (26)
      • 1.2.2. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1963) (30)
    • 2.1. Hoàn cảnh lịch sử miền Nam Việt Nam sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ đến trước năm 1967 (36)
    • 2.2. Chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975) (40)
    • 3.1. Sự chuyển biến về kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975) (64)
    • 3.2. Sự chuyển biến về chính trị của cộng đồng người Stiêng ở miền Đông (70)
    • 3.3. Đặc điểm về chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975) (75)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (83)
  • PHỤ LỤC (93)

Nội dung

Đặc điểm về chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ 1967-1975 ..... Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực thi chính sách dân tộc hóa đố

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về người Stiêng miền Đông Nam Bộ vẫn còn hạn chế, với các dân tộc thiểu số ở miền Nam được gọi là “Mọi” hoặc người “Thượng” dưới thời phong kiến Tài liệu duy nhất đề cập đến các dân tộc thiểu số Nam Bộ là trong Sách “Đại Nam nhất thống chí”, nơi vua Minh Mạng ban các họ như Điểu, Mạn, Ngưu cho thổ dân ở huyện Phước Long, Phước Bình, tỉnh Biên Hòa Những ghi chép này chỉ cung cấp cái nhìn khái quát về một số nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và phía Bắc Đông Nam Bộ, bao gồm cả dân tộc Stiêng Nghiên cứu về người Stiêng có thể chia thành hai giai đoạn: dưới thời Pháp và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, từ sau năm 1975 đến nay, với mục đích phục vụ cho việc cai trị và khai thác tài nguyên tại Đông Nam Bộ.

Dưới sự ảnh hưởng của chính quyền thực dân Pháp, các nhà truyền giáo và thám hiểm đã có mặt tại khu vực rừng núi Stiêng, nơi khởi nguồn của sông Bé và sông Đồng Nai Tác giả Taber đã đề cập đến địa danh Xương Tinh Thành và ghi chú về tầm quan trọng của nó trong bối cảnh lịch sử.

Vào năm 1887, H Azemar đã đề cập đến người Stiêng Brolam trong tác phẩm "Dictionnaire Stieng", được coi là công trình đầu tiên của người Pháp về người Stiêng Tác phẩm này cung cấp tư liệu quý giá về ngôn ngữ và xã hội của người Stiêng, đồng thời ghi lại nhiều thông tin về cảnh quan và phong tục của họ cùng vùng Stiêng vào cuối thế kỷ XIX.

Công trình Coutumier Stieng của Gerber, được công bố năm 1951, là một tài liệu quý giá về người Stiêng Với vai trò là đại diện chính quyền tại Bù Đốp, ông đã có cơ hội tìm hiểu sâu sắc về vùng đất và các phong tục, luật lệ của tộc người này.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều tác giả người Pháp như De Barthelemy, Raulin và Bourotte đã viết về người Stiêng và vùng đất của họ Những bài viết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và văn hóa của người Stiêng.

Các tác giả người Mỹ đã kế thừa các công trình nghiên cứu của người Pháp để khảo sát người Stiêng, nhằm xác định những đặc điểm đặc trưng của tộc người này Mục tiêu của họ là cung cấp tư vấn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong việc thực hiện chính sách đối với người Stiêng.

So với người Pháp, nghiên cứu của người Mỹ về người Stiêng chưa có nhiều điểm mới, chủ yếu do mục đích chính trị Các công trình này chỉ tập trung vào việc miêu tả cảnh quan và khái quát về vùng Stiêng cùng với người Stiêng Một trong những tác phẩm tiêu biểu là "Minority groups in the Republic of Viet Nam," được chính quyền Mỹ đặt hàng.

Trước năm 1975, nghiên cứu về người Stiêng bằng tiếng Việt còn hạn chế cả về số lượng lẫn nội dung, chủ yếu chỉ tập trung vào phong tục, tập quán và xã hội Chưa có công trình nào hoàn chỉnh bằng tiếng Việt đề cập đến các vấn đề kinh tế - xã hội của người Stiêng.

Từ sau năm 1975, nghiên cứu về người Stiêng đã có nhiều tiến bộ đáng kể, với sự xuất hiện của nhiều công trình và bài viết quan trọng Một số tác phẩm tiêu biểu có thể được nhắc đến trong lĩnh vực này.

Năm 1985, Ban dân tộc và Ban tôn giáo tỉnh Sông Bé phối hợp với Viện khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã cho ra mắt ấn phẩm “Vấn đề dân tộc ở Sông Bé”.

Nhà xuất bản tổng hợp Sông Bé đã công bố một công trình quan trọng, trình bày các vấn đề về kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc ít người, đặc biệt là người Stiêng, đang sinh sống tại tỉnh này.

Giáo sư Mạc Đường đã trình bày bài viết “Lịch sử phát triển xã hội và đời sống các dân tộc” trong cuốn “Địa chí tỉnh Sông Bé”, được xuất bản bởi nhà xuất bản tổng hợp Sông Bé vào năm 2023.

1991 Đã đề cập đến các đặc điểm kinh tế - xã hội của người Stiêng cũng như các dân tộc miền núi khác trên địa bàn tỉnh Sông Bé

Tạp chí Xƣa & Nay số 69B xuất bản 11-1999, Phó giáo sƣ, tiến sĩ Phan

Bài viết “Bình Phước 100 năm trước” và “Quá trình diên cách tỉnh Bình Phước” của Nguyễn Đình Tư đã tóm tắt về địa bàn sinh sống, thể trạng, tính cách và khả năng của người Stiêng.

Phạm Công Tâm đã hoàn thành luận án tiến sĩ triết học với chủ đề “Đổi mới và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước” tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2001 Luận án này đã cung cấp cái nhìn tổng quan về các dân tộc thiểu số và đánh giá tình hình thực hiện chính sách dân tộc tại hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước Đặc biệt, tỉnh Bình Phước được phân tích sâu sắc về vấn đề dân tộc Stiêng, từ thời kỳ kháng chiến chống xâm lược cho đến quá trình xây dựng cuộc sống hiện đại.

Vào năm 2004, Bộ tư lệnh Quân khu 7 và Tỉnh ủy Lâm Đồng đã tổ chức hội thảo khoa học và xuất bản kỷ yếu mang tên “Vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng (1945-1975)” Ấn phẩm này, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau, bao gồm đặc điểm của dân tộc thiểu số vùng Đông Nam Bộ, hoạt động kháng chiến chống xâm lược, và vai trò của đồng bào dân tộc trong cuộc chiến giải phóng đất nước, trong đó có sự đề cập đến người Stiêng.

Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích

Nghiên cứu chính sách kinh tế, chính trị và giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với người Stiêng từ năm 1967 đến 1975, cùng với tác động của các chính sách này đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ.

Nhiệm vụ

Thu thập và xử lý tài liệu lưu trữ liên quan đến các biện pháp mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ban hành và áp dụng cho người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1967-1975.

Bài viết này nhằm phục dựng bức tranh tổng thể và có hệ thống về các chính sách kinh tế, chính trị và giáo dục mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã áp dụng đối với người Stiêng trong giai đoạn 1967-1975.

Chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có những tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của người Stiêng miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1967-1975 Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế hàng ngày mà còn tác động đến cấu trúc xã hội và sự tham gia chính trị của cộng đồng Stiêng Sự can thiệp của chính quyền đã dẫn đến những biến động lớn trong cách thức sinh sống và tương tác của người dân, tạo ra những thách thức và cơ hội mới trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài “Cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ thời Việt Nam Cộng hòa (1967-1975)” có phạm vi nghiên cứu rộng lớn Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, chúng tôi sẽ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể để đảm bảo tính khoa học và sâu sắc của nghiên cứu.

Nghiên cứu này tập trung vào các chính sách kinh tế, chính trị và giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) đối với người Stiêng Bài viết phân tích tác động và đặc điểm của các chính sách này, cũng như cách chúng được ban hành và thực thi tại miền Đông Nam Bộ.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) đối với cộng đồng người Stiêng tại miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là ở Bình Long và Phước Long, là trọng tâm của bài viết Hai tỉnh này không chỉ là nơi cư trú chính của người Stiêng mà còn có dân số đông Bài viết sẽ phân tích các chính sách được thi hành trong giai đoạn này, nhằm hiểu rõ hơn về tác động của chúng đối với cộng đồng người Stiêng.

Thời gian từ ngày 1 tháng 11 năm 1967, khi nền Đệ nhị Cộng hòa được thành lập dựa trên Hiến pháp tháng 4 năm 1967 và cuộc bầu cử tháng 9 năm 1967, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu

Tài liệu thành văn quan trọng cho luận văn được lấy từ các phông lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II (TP HCM).

Phông Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954-1975)

Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất cộng hòa (1954-1963)

Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị cộng hòa (1967-1975)

Phông Bộ phát triển Sắc tộc (1957-1975)

Các phông hồ sơ lưu trữ bao gồm văn bản Luật, Nghị định, Sắc lệnh, báo cáo, Tờ trình, Phúc trình và Bưu điệp liên quan đến người Stiêng, cũng như việc thực hiện chính sách đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ.

Một nguồn tài liệu quan trọng cho nghiên cứu luận văn được thu thập từ thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh và thư viện Đại học.

Thủ Dầu Một bao gồm nhiều tài liệu như sách, báo, và tạp chí liên quan đến người Stiêng, tập trung vào địa bàn cư trú, hoạt động kinh tế, và quan hệ văn hóa - xã hội Ngoài ra, còn có các tư liệu từ Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam về các dân tộc thiểu số ở Miền Đông Nam Bộ, giúp tác giả luận văn tổng hợp những quan điểm và cách nhìn nhận đa chiều về người Stiêng tại Việt Nam trong giai đoạn 1967-1975.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp biện chứng của sử học Mác xít, từ đó định hướng cho việc tiếp cận đề tài nghiên cứu nhằm hoàn thành luận văn một cách hiệu quả.

Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài bao gồm phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, luận văn còn áp dụng các phương pháp liên ngành như phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực địa để giải quyết các vấn đề trong phạm vi nghiên cứu.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu hệ thống các chính sách kinh tế, chính trị và giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với dân tộc Stiêng ở Đông Nam Bộ giai đoạn 1967-1975 nhằm đánh giá tác động của các chính sách này đến đời sống người Stiêng Luận văn mong muốn làm sáng tỏ một khía cạnh của lịch sử miền Đông Nam Bộ liên quan đến vai trò của cộng đồng Stiêng trong thời kỳ này Các chính sách của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chủ yếu phục vụ cho mục tiêu chống cộng, nhưng không thể làm thay đổi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của người Stiêng Đồng bào dân tộc Stiêng cũng đã có những đóng góp quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, dẫn đến chiến thắng lịch sử ngày 30-4-1975.

Nghiên cứu quá khứ của cộng đồng người Stiêng miền Đông Nam Bộ là cần thiết để xây dựng các chính sách phát triển bền vững cho họ trong giai đoạn hiện nay Việc tìm hiểu lịch sử sẽ giúp tạo ra những giải pháp thiết thực, góp phần vào sự phát triển của cộng đồng này.

Bố cục

Vài nét về lịch sử cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ

Miền Đông Nam Bộ, với điều kiện tự nhiên thuận lợi, đã trở thành điểm tụ cư lâu đời của các tộc người như Mạ, Stiêng, Chơ Ro Thực dân Pháp đã tiến hành nhiều nghiên cứu khảo cổ để phục vụ cho việc cai trị và khai thác tài nguyên Việc phát hiện hệ thống di tích đất đắp hình tròn tại Bình Phước từ những năm 30 của thế kỷ XX, được nhà nghiên cứu Louis Malleret nhận định là những pháo đài Mọi, đã khẳng định sự hiện diện của cộng đồng cư dân cổ đại Nhiều công trình nghiên cứu về tộc người Stiêng của các tác giả người Pháp như Taber, Bathelemy, Azémar, Raulin và Maitre đã chỉ ra rằng miền Đông Nam Bộ là nơi cư trú chính của các cộng đồng từ thời kỳ Đá mới đến thời kỳ Đồ đồng, thuộc ngữ hệ Môn - Khmer, tương ứng với tiếng nói của dân tộc Stiêng hiện nay.

Theo Giáo sư Mạc Đường trong tác phẩm “Địa chí tỉnh Sông Bé”, trước thế kỉ XVII, vùng Đông Nam Bộ chưa có sự hiện diện của cư dân người Việt và lối canh tác ruộng nước chưa phát triển, trong khi người Stiêng đã cư trú tại lưu vực sông Sài Gòn và sông Bé Phan An trong công trình “Hệ thống xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam (từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1975)” cho rằng người Stiêng là nhóm di cư từ phía Bắc xuống Nam bán đảo Đông Dương, có thể đã định cư ở miền Nam Tây Nguyên từ những thế kỉ trước công nguyên.

Một số truyền thuyết ở phía Bắc Bình Phước nhắc đến vị thủy tổ của người Stiêng là “Diêng”, được mô tả trong tác phẩm “Địa chí tỉnh Sông Bé” là người rất giỏi trong việc làm rẫy, săn bắt, rèn vũ khí và làm bẫy thú rừng Ở vùng Bù Đốp, huyền thoại về vị tổ của người Stiêng, Sôtiêng, còn được kể chi tiết hơn, cho thấy sự quan trọng của nhân vật này trong văn hóa và lịch sử của cộng đồng.

Truyền thuyết về người Stiêng tại thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước, phản ánh những xung đột nội bộ liên quan đến lương thực và nước uống, với các thác nước trên dòng sông Đak Glung là trung tâm của những cuộc tranh chấp này Những xung đột này diễn ra trong giai đoạn phát triển cao của tộc người Stiêng, khi việc tranh chấp đất đai giàu tài nguyên trở thành vấn đề sống còn cho các nhóm địa phương Điều này cho thấy người Stiêng có thể là một nhóm cư dân cổ đại đã định cư lâu dài tại miền Đông Nam Bộ.

Trong quá trình định cư tại miền Đông Nam Bộ, xã hội người Stiêng đã trải qua sự phân hóa về giàu nghèo Họ có cơ hội tiếp xúc sớm với các cư dân láng giềng, đặc biệt là người Chăm và người Khơme, điều này đã góp phần định hình rõ nét địa bàn cư trú của người Stiêng trong khu vực.

Mơ nông là một dân tộc sống chủ yếu tại huyện Hớn Quản, huyện Bù Gia Mập và thị xã Phước Long thuộc tỉnh Bình Phước, giáp ranh với người Kinh và người Khơme ở phía Tây, cùng với người Mạ và Cơho ở phía Đông Ngoài ra, một bộ phận người Stiêng cũng sinh sống tại các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và Bình Dương.

Vào thế kỉ II-III, người Stiêng mở rộng vùng cư trú chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ Từ thế kỉ VI-VII, họ trở thành vùng đệm giữa vương quốc Chân Lạp và Chiêm Thành Đến thế kỉ X, tộc người Stiêng trở nên hùng mạnh và có ảnh hưởng lớn tại miền Đông Nam Bộ, được biết đến với danh xưng “Vương quốc Stiêng”.

Từ thế kỉ XII, vùng Stiêng đã chịu sự cai trị của người Chăm trong nhiều thế kỷ Tuy nhiên, do hạn chế về tiềm lực quốc gia, người Chăm không thể trực tiếp quản lý, dẫn đến việc người Stiêng vẫn duy trì lãnh thổ và các cơ cấu xã hội truyền thống của mình Trong suốt thế kỉ XVII-XVIII, người Stiêng ở miền này tiếp tục phát triển văn hóa và xã hội độc lập.

Đông Nam Bộ là khu vực có sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, đặc biệt là người Kinh, người Khơme và người Stiêng Sự di cư của người Kinh và người Khơme đã tạo ra những làng mạc mới, sống xen kẽ với cộng đồng người Stiêng tại Đồng Xoài, Hớn Quản Mối quan hệ giữa các cư dân này diễn ra một cách hòa thuận và thân thiện.

Năm 1802, nhà Nguyễn được thành lập trên lãnh thổ rộng lớn với nhiều dân tộc thiểu số Dưới triều đại vua Minh Mạng, bộ máy hành chính được thiết lập ở miền rừng núi Đồng Nai - Gia Định, dẫn đến việc thành lập tỉnh Biên Hòa và chiêu dụ các dân tộc ít người Vùng đất phía Tây Bắc huyện Phước Bình bao gồm 4 thủ: Tân Định, Tân Lợi, Tân Bình và Tân Thuận, nơi có 81 sách đồng bào các dân tộc, trong đó có người Stiêng Tuy nhiên, việc cai trị của nhà Nguyễn đối với người Stiêng vẫn chưa được chặt chẽ.

Từ giữa thế kỷ XIX, các nhà thám hiểm và truyền giáo phương Tây đã đến vùng Stiêng để khảo sát và thực hiện các hoạt động truyền giáo Sau đó, thực dân Pháp xâm lược và áp dụng nhiều chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên, gây ra những tác động lớn đến người Stiêng Chính sách cướp đoạt đất đai của họ để lập đồn điền đã làm thu hẹp nhanh chóng vùng cư trú và lãnh thổ của người Stiêng, dẫn đến làn sóng căm hận và kháng cự mạnh mẽ trong cộng đồng này.

Ngay sau khi Pháp thất bại, Mỹ nhanh chóng can thiệp vào Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của chính thể Việt Nam Cộng hòa Chính quyền này đã thực hiện các biện pháp nhằm lôi kéo và cưỡng ép đồng bào dân tộc thiểu số vào các khu dinh điền và ấp chiến lược, nhằm tách họ ra khỏi phong trào cách mạng Người Stiêng chủ yếu sinh sống ở các tỉnh Bình Long, Phước Long và phía Bắc Tây Ninh, đồng thời cũng định cư rải rác ở Lâm Đồng và Long Khánh theo kinh tế mới Để ngăn cản sự hỗ trợ của đồng bào dân tộc đối với cách mạng, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã liên tục dội bom và rải chất độc hóa học điôxin xuống vùng Đông Nam Bộ, gây ra hậu quả nặng nề cho đời sống của người Stiêng Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng người Stiêng vẫn kiên cường.

15 đóng góp to lớn về sức người và sức của cho chính quyền cách mạng đã góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước.

Sau năm 1975, đồng bào Stiêng cùng với nhân dân cả nước đã bước vào thời kỳ độc lập, tự do, chung tay xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa trên lãnh thổ Việt Nam.

1.1.2 Tên các nhóm địa phương

Người Stiêng có nhiều tên gọi khác nhau như: “Xa Điêng, Bu Lơ, Bu Đip,

Dân tộc Stiêng có nhiều tên gọi khác nhau như Bù Lơ, Bù Đek, nhóm Tà Mun, Xa Điêng và Mọi, theo nhận định của tác giả Phan Hữu Dật Từ “Mọi” là danh xưng được ghi nhận sớm nhất trong các văn bản dưới triều Nguyễn, và các tài liệu về việc truyền giáo của các cha cố cũng thường sử dụng danh xưng này để chỉ các dân tộc thiểu số.

Cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ thời chống Pháp (1946- 1954) và Việt Nam Cộng hòa (1955-1963)

Do nhu cầu về nguyên liệu và thị trường, chính quyền Pháp thi hành

Vào tháng 8 năm 1858, Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, trong khi triều đình nhà Nguyễn chủ trương hòa bình và ký kết nhiều hiệp ước công nhận sự đô hộ của Pháp Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, nơi cư trú chủ yếu của người Stiêng, sở hữu nguồn tài nguyên phong phú và có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế và quân sự Từ năm 1851, các giáo sĩ Pháp đã thiết lập hội truyền giáo trong vùng người Stiêng và các dân tộc thiểu số ở Brơlâm, cách Bù Đốp khoảng 15km Năm 1861, giáo sĩ Azémar đã có mặt tại vùng người Stiêng trong 5 năm với mục đích xây dựng cơ sở tôn giáo và tổ chức bộ máy thống trị của thực dân Pháp đã thành lập hạt thanh tra Bình An vào ngày 14 tháng 3 năm 1866, với lỵ sở tại Thủ Dầu Một, nhưng vẫn chưa kiểm soát được hai tổng rừng núi Lộc Ninh và Bình Man, nơi cư trú của người Stiêng.

Thống đốc Vilers đã chỉ đạo trung úy Amédée Gautier tiến hành các cuộc thám sát tại khu vực rừng núi đông bắc Sài Gòn, bao gồm cả vùng cư trú của người Stiêng ở Sông Bé và các dân tộc thiểu số ở miền Nam Tây Nguyên Đồng thời, thực dân Pháp cũng đã hợp tác với thương gia người Hoa nhằm lôi kéo và dụ dỗ để bình định vùng dân tộc Stiêng tại miền Đông Nam Bộ.

Năm 1893, thực dân Pháp đã mở rộng quyền kiểm soát tại tổng Lộc Ninh, nơi có cộng đồng người thiểu số, bao gồm 8 làng: Mỹ Lộc, Lộc Ninh, Lộc Hưng, Thái Bình, Gia Lộc, và Mỹ Thạnh.

Vào năm 1906, chính quyền thực dân Pháp đã thành lập huyện Cần Lễ dựa trên địa bàn tổng Lộc Ninh và Phước Lễ, nơi có đông đảo người Stiêng sinh sống Đến năm 1915, họ tiếp tục lập Đại lý Bù Đốp trong khu vực Stiêng và đưa người Kinh đến sinh sống xen kẽ Đến năm 1916, Pháp đã kiểm soát 6 tổng với 42 làng dân tộc thiểu số, trong đó Hớn Quản có 8 làng với 445 dân đinh Năm 1920, quân đội Pháp tiến vào Phước Long và thành lập đại lý hành chính mới mang tên Sông Bé trong vùng người Stiêng.

Thời gian sau, thực dân Pháp tái lập và sáp nhập nhiều tổng trong vùng cư trú của người Stiêng để phục vụ cho việc cai trị và khai thác tài nguyên Họ tiến hành khảo sát phong tục tập quán của người Stiêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bóc lột Lợi dụng trình độ nhận thức hạn chế của người Stiêng, thực dân đã gieo rắc tâm lý thành kiến và kỳ thị giữa các dân tộc, gây chia rẽ và làm mất tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Các buôn, sóc Stiêng được duy trì, với mỗi sóc đặt dưới quyền một Bu Mei, người này chịu trách nhiệm trước chính quyền và có phụ tá.

Ba Mei Krahi” [47, tr.126] Rêu rao, dụ dỗ đồng bào Stiêng thông qua cái gọi là

Người Thượng đã thiết lập 6 tổng tự trị cho cộng đồng Stiêng, trong đó một số người Stiêng được sử dụng làm tay sai để quản lý đồng bào của họ.

1907, chúng thực hiện bầu cử ở các tổng người thiểu số trên địa bàn Thủ Dầu Một Kết quả “Tổng Minh Ngãi: Điểu Lóp; tổng Thanh An: Điểu Túc; tổng

Quảng Lợi, Điểu Hanh; tổng Cửu An, Điểu Dom; tổng Lộc Ninh, Điểu Sao Đặc biệt, tên tổng Đinh (người Stiêng) đã quản lý một vùng rừng núi rộng lớn từ Thuận Lợi đến Bù Nho và mở rộng sang các buôn sóc vùng phụ cận đồn điền Phú Riềng.

Thực dân Pháp đã tiến hành thống kê dân số để phục vụ cho quá trình thống trị tại tỉnh Thủ Dầu Một Cụ thể, vào năm 1921, tỉnh này có 21.015 người thiểu số; năm 1925 giảm xuống còn 11.015 người; năm 1928 tăng lên 29.926 người; và đến năm 1939, có 20.648 người dân tộc khác Theo thống kê năm 1926, cộng đồng Stiêng tại tỉnh Thủ Dầu Một ghi nhận có 11.968 người.

Năm 1945, thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ đã sử dụng nhiều phương thức để chiêu dụ người Stiêng, trong đó có việc mua chuộc một số tay sai từ các cộng đồng Stiêng, Khmer và Chơ Ro để thành lập các đơn vị lính Thượng Họ đã trao cho người Stiêng những đặc quyền và lợi ích nhất định, khuyến khích họ thực hiện lệnh bắt lính hoặc thực hiện các hành động bạo lực đối với cán bộ Việt Minh để nhận thưởng bằng gạo và muối.

Khi thực dân Pháp hoàn thiện bộ máy cai trị, họ bắt đầu khai thác tiềm năng của vùng đất đỏ phì nhiêu ở miền Đông Nam Bộ bằng cách cướp đoạt đất đai của người Stiêng để lập các đồn điền cao su và cà phê Nhiều công ty cao su của tư bản Pháp như công ty Síp và công ty cao su đất đỏ ra đời, buộc người Stiêng và các dân tộc thiểu số khác phải rời bỏ quê hương để đến những vùng đất mới, khô cằn và nguy hiểm hơn Từ năm 1906 đến 1914, thực dân Pháp đã tước đoạt 50.000 héc ta đất đai của các dân tộc ít người ở Sông Bé để lập các đồn điền cao su Đối với các làng Stiêng có nguồn lợi từ rừng, thực dân Pháp đã áp dụng các biện pháp dụ dỗ để khai thác tài nguyên.

23 làng ở trung du sẽ nhận được ưu đãi gọi là "làng lâm phần" Hầu hết các tổng, làng của người Stiêng như Thanh An, Cửu An đều thuộc loại hình này Các làng được miễn mọi loại thuế, nhưng phải cung cấp 3 nhân viên chính thức làm lính tập với mức lương 3$50 mỗi người mỗi tháng Người dân trong làng có trách nhiệm đóng góp công sức cho các công việc chung, tham gia làm ruộng và chia đều sản phẩm thu hoạch cho những người tham gia.

Thực dân Pháp áp dụng chính sách ngu dân đối với người Stiêng và các dân tộc thiểu số, khuyến khích phong tục lạc hậu và mê tín dị đoan Họ phát triển các tệ nạn xã hội như cờ bạc và rượu chè để giữ người Stiêng trong tình trạng nghèo đói, dễ cai trị hơn Mặc dù có mở một số cơ sở giáo dục cho người Stiêng, nhưng chủ yếu chỉ ở cấp học thấp và sử dụng chương trình giáo dục để tuyên truyền, gây chia rẽ mối quan hệ với người Kinh Tuy nhiên, tinh thần đoàn kết giữa Kinh và Thượng vẫn tồn tại mạnh mẽ.

Khi thực dân Pháp tiến hành thiết lập bộ máy thống trị ở miền Đông Nam

Người Stiêng và các dân tộc thiểu số ở Sông Bé đã tích cực tham gia vào các cuộc khởi nghĩa của Trương Định và N’Trang Lơng, thể hiện sự kháng cự mạnh mẽ trước thực dân Họ không chỉ đóng góp sức người, sức của mà còn cung cấp những tướng lĩnh xuất sắc như R’Đinh và R’Ông, góp phần vào thắng lợi lớn ở Bumêra ngày 8 tháng 8 năm 1914 Nhiều phong trào đấu tranh của người Stiêng đã diễn ra, điển hình là cuộc nổi dậy ở Bà Rá - Phú Riềng, nơi họ đã tiêu diệt tên cảnh sát đồn trưởng Morère Vào ngày 2 tháng 1 năm 1934, hơn 300 đồng bào Stiêng và Mnông đã tấn công đồn Bù Kor và chặn đánh viện binh địch từ Bù Na, giành chiến thắng Đồng bào Stiêng cũng đã tổ chức rào làng, ngăn đường và xây dựng lực lượng vũ trang sẵn sàng chống lại thực dân Pháp.

Năm 1946, người Stiêng đã tích cực tham gia kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát triển phong trào du kích và góp phần vào các chiến thắng tại La Ngà (1948) và Bù Đốp (1949) Từ năm 1949, nhiều đảng viên đảng cộng sản người Stiêng đã tham gia xây dựng căn cứ kháng chiến Trong trận bão lụt năm Thìn (1952), đồng bào dân tộc Chơ Ro và Stiêng đã hỗ trợ cán bộ và nhân dân Kinh bằng cách vào rừng tìm kiếm thực phẩm và dẫn dắt Tiểu đoàn 300 về Bà Rịa để tải muối Một số người Stiêng như ông Đinh Phồng, ông Kriềng, ông Ngộ, ông Tiếng và ông Tanh đã trở thành những cán bộ tuyên truyền kháng chiến chống Pháp tích cực.

Dưới thời Pháp, người Stiêng kiên trung với cách mạng mặc dù bị dụ dỗ và mua chuộc Cộng đồng này đã đóng góp đáng kể về sức người và sức của trong cuộc kháng chiến chống Pháp Các phong trào đấu tranh mạnh mẽ của người Stiêng đã góp phần quan trọng vào sự thành công của cách mạng tháng Tám năm 1945.

1.2.2 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1963)

Hoàn cảnh lịch sử miền Nam Việt Nam sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ đến trước năm 1967

Trước nguy cơ thất bại của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 1-11-1963,

Mỹ đã tổ chức đảo chính nhằm bảo vệ chế độ, dẫn đến sự ra đời của Hội đồng Quân nhân cách mạng với Dương Văn Minh giữ chức chủ tịch Từ thời điểm này, cuộc tranh giành quyền lực giữa các tướng lĩnh diễn ra gay gắt, khiến cho các chính phủ quân sự và dân sự liên tục được thành lập và giải tán Chỉ trong hơn một năm rưỡi, từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 6 năm 1965, tình hình chính trị trở nên bất ổn.

14 lần đảo chính và phản đảo chính” [34, tr.21] đƣợc tiến hành trong nội bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Chính quyền quân quản (1964-1967) đã chú trọng đến các dân tộc thiểu số, tổ chức Đại hội Sắc tộc Thượng vào ngày 17-10-1964 nhằm ổn định tình hình vùng dân tộc Nhiều văn kiện quan trọng như Thông điệp (17-10-1964) và Thông cáo (2-8-1965) đã được ban hành, công bố chính sách hỗ trợ các dân tộc thiểu số để họ “theo kịp đà tiến bộ của dân tộc” và đoàn kết chống lại sự xâm lăng Chính sách Thượng vụ của chính quyền quân quản được xác định là “Chính sách Dân tộc Hòa đồng - Đồng tiến trong tinh thần quốc gia thống nhất” và được thực thi với phương châm “Vì đồng bào Thượng, bởi đồng bào Thượng” trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Chính quyền quân quản (1964-1967) chú trọng thực hiện chính sách Thượng vụ nhằm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cho cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ Các biện pháp trong chính sách này được công bố rộng rãi, thể hiện sự quan tâm đến sự phát triển của người Stiêng Theo thống kê dân số Thượng tại các Quận tính đến tháng 10-1964, chính sách này đã góp phần cải thiện điều kiện sống của cộng đồng.

Bộ Phát triển sắc tộc ghi nhận dân số chính thức của tỉnh Bình Long: “14.367

Trên địa bàn 3 quận An Lộc, Lộc Ninh và Chơn Thành, có tổng cộng 31 người với dân số kiểm soát được là 16.870 Tỉnh Phước Long có 21.528 người sinh sống tại 4 quận: Phước Bình, Đôn Luân, Đức Phong và Bố Đức, với tổng dân số kiểm soát là 22.937 Người Stiêng ở Bình Long và Phước Long là đối tượng chính để chính quyền quân quản thực thi các chính sách về kinh tế, chính trị và giáo dục trong giai đoạn 1964-1967.

Chính quyền quân quản đang tiếp tục công nhận quyền sở hữu đất đai cho đồng bào Stiêng theo chương trình kiến điền Họ đã nghiên cứu và ban hành quyết định nhằm hủy bỏ các văn kiện lỗi thời của chế độ cũ, thay thế bằng những văn kiện quy định rõ ràng về việc kiến điền Năm 1964, một chiến dịch đã được phát động để tác động đến công tác kiến điền trên địa bàn.

Mười tỉnh có đông đồng bào Thượng sinh sống, trong đó hai tỉnh Bình Long và Phước Long là nơi cư trú chính của người Stiêng, được chú trọng thực hiện.

Chính quyền quân quản đã triển khai "chương trình kinh tế nhằm phát triển miền Thượng", hỗ trợ đồng bào Stiêng trong nông nghiệp bằng cách cung cấp phân bón, hạt giống, nông cụ và gia súc Đồng thời, các tuyến đường giao thông trong vùng Stiêng ở Đông Nam Bộ cũng được sửa chữa, nâng cấp và mở rộng để thuận tiện cho việc giao thương và đi lại.

Chính quyền quân quản đã thành lập các ấp tân sinh nhằm giúp đồng bào Stiêng ổn định cư trú và phát triển kinh tế bền vững Theo báo cáo của Nha công tác xã hội miền Thượng tại Tỉnh Bình Long, tính đến ngày 20-2-1964, đã hoàn thành 16 địa điểm ấp tân sinh với tổng dân số đạt 17.006 người.

Ngày 18-1-1964, Tôn Thất Đính, Tổng trưởng Nội vụ gửi “Công văn Thƣợng khẩn Mật số 0275/BNV/NC/9/M” đến Tƣ lệnh vùng III chiến thuật đề cập “Bộ Nội vụ tán thành việc thành lập một cơ quan riêng biệt để phụ trách vấn đề Thƣợng” [119, tr.2] Bộ nhấn mạnh “tỉnh nào có dân số Thƣợng quan trọng (từ 5.000 trở lên) phải thiết lập một bộ phận tương tự, phòng hoặc Ban tùy trường

32 hợp, để chuyên trách các vấn đề Thƣợng” [119, tr.3] Theo đó, “tỉnh Bình Long dân số 14.600 sắc dân Thượng; tỉnh Phước Long dân số 20.325 sắc dân Thượng”

[119, tr.2] đủ điều kiện thành lập cơ quan chuyên trách cho người Stiêng

Vào tháng 5 năm 1964, chính quyền quân quản đã thành lập các Ty Thượng vụ tại khu vực cư trú của người Stiêng nhằm tuyên truyền và thực thi các chính sách của chính quyền Sau đó, Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương, Nguyễn Cao Kỳ, đã ban hành “Nghị định số 386-NĐ/TV” để thành lập “Phủ Đặc ủy Thượng vụ” với mục đích quản lý các dân tộc thiểu số.

Nghị định số 386-NĐ/TV quy định các cơ quan địa phương bao gồm ba Khu Thượng vụ tại các vùng chiến thuật I, II và III Miền Đông Nam Bộ là nơi cư trú chính của người Stiêng, với Khu Thượng vụ III có trụ sở tại Biên Hòa Tỉnh Bình Long thành lập Ty Thượng vụ Bình Long với trụ sở tại An Lộc, trong khi tỉnh Phước Long lập Ty Thượng vụ Phước Long tại Phước Bình Các quận đông dân cư người Stiêng trong tỉnh cũng đã thành lập các Chi Thượng vụ.

Ngày 18-1-1964, Bộ Nội vụ ban hành “Công văn số 0275/BNV/NC/9/M” nhấn mạnh phải dùng người Thượng trong các cơ quan Áp dụng công văn này, trong cơ quan hành chính tại Bình Long và Phước Long đều có sự hiện diện người Stiêng Bên cạnh đó, chính quyền quân quản liên tục ban hành các văn bản nhƣ “Thông tƣ số 474/GD/KH/I” ngày 28-10-1964 của Bộ Văn hóa Giáo dục và

Thông tư số 2148-B/BNV/NV/16, ban hành ngày 23-3-1965 bởi Bộ Nội Vụ, nhằm tăng cường hỗ trợ cho công chức và giáo viên người Stiêng, với mục tiêu “bổ nhiệm vào các chức vụ tương ứng với khả năng và thiện chí của họ.”

Từ năm 1964, Chính quyền quân quản đã thiết lập ấp tân sinh - ấp đời mới tại vùng Stiêng Theo báo cáo của tỉnh Bình Long vào ngày 25-2-1964, dân số tại đây đạt 15.005 người, tăng 755 người Đến tháng 4-1964, dân số tiếp tục tăng lên 15.370 người, với 3.981 người mới Báo cáo về dân số và đời sống mới tại tỉnh Phước Long tính đến tháng 12 cũng ghi nhận sự phát triển này.

1964 ghi nhận: “dân số: 21.147 tăng 171 người” [54] Chính quyền quân quản

(1964-1967) vẫn tiếp tục thực hiện và đạt kết quả khả quan trong công tác kiểm soát, chia tách người Stiêng với lực lượng cách mạng

Chính quyền quân quản đã ban hành nhiều văn kiện quy định nghĩa vụ quân sự cho các dân tộc thiểu số, bao gồm cả người Stiêng Các văn bản quan trọng như Tư văn số 978/QP/BB/1 ngày 25-2-1960, số 3414/QP/QS/3/QS/1 ngày 4-4-1964 của Bộ Quốc Phòng, và SVVT số 2167/TTM/TCQH/ĐHHL/2 ngày 3-5-1966 của Bộ Tổng tham mưu đã được phát hành để thực hiện điều này.

Chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975)

Giai đoạn 1964-1967, chính quyền Việt Nam Cộng hòa rơi vào khủng hoảng liên miên với nhiều cuộc đảo chính Để ổn định tình hình, vào ngày 1-4-1967, Mỹ đã hỗ trợ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên nắm quyền, thiết lập Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam Để giảm bớt phong trào đấu tranh của các dân tộc thiểu số, chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu đã dành 6 ghế trong chính phủ cho đại diện của họ.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã học hỏi từ những kinh nghiệm của các chính quyền trước, nhận thức rõ vai trò quan trọng của đồng bào các dân tộc thiểu số trong việc bảo vệ an ninh quốc gia Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ban hành ngày 1-4-1967 đã đề cập đến chính sách dân tộc, và vào ngày 19-4-1967, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã công bố Tuyên cáo chính sách Đại đoàn kết dân tộc Đường lối và chính sách này bao gồm bốn vấn đề chính, với ba nguyên lý chỉ đạo quan trọng.

“dân tộc, dân hòa và dân tiến” Ngày 29-8-1967, Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành Sắc luật 033/67 ghi nhận quy chế riêng biệt cho đồng bào thiểu số Sắc

35 luật 033/67 đã hoạch định rõ chính sách của chính quyền đối với người Stiêng nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung

Trong giai đoạn 1967-1975, người Stiêng chủ yếu sinh sống tại Bình Long và Phước Long, nhưng cũng định cư rải rác ở Bình Dương, Long Khánh và Lâm Đồng do ảnh hưởng của chiến tranh và chính sách kinh tế của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Đến tháng 5-1967, thống kê của Bộ Phát triển sắc tộc cho thấy tỉnh Bình Long có tổng dân số 20.273, trong đó có 8.858 người Stiêng và Tamun, còn tỉnh Phước Long có 21.430 dân, với 14.227 người Stiêng và Tamun Khoảng 22.000 người Stiêng đã trở thành đối tượng chịu tác động của các chính sách kinh tế, chính trị và giáo dục từ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã chú trọng cải thiện đời sống kinh tế cho người Stiêng, đặc biệt là trong việc giải quyết vấn đề đất đai và thực hiện công tác kiến điền Đối với người Stiêng, giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, sản xuất nông nghiệp là nền tảng của kinh tế, do đó, đất đai có ý nghĩa sống còn Đất không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là phần đất tổ tiên để lại, mang giá trị văn hóa và truyền thống sâu sắc.

Việc sở hữu ruộng đất đã được công nhận từ nhiều thế kỷ qua, cho thấy người Stiêng từ xưa đã có ý thức rõ ràng về quyền sở hữu đất đai, bao gồm cả đất ở và đất canh tác.

Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, đất đai của các dân tộc thiểu số, bao gồm cả người Stiêng, bị coi là “công sản quốc gia” và chính quyền Ngô Đình Diệm đã phủ nhận quyền sở hữu đất đai của họ, chỉ cho phép quyền sử dụng Tuy nhiên, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã nhận ra sai lầm này và ban hành “Sắc luật 033/67” nhằm khắc phục những hạn chế và sai lầm trước đó, tạo ra quy chế riêng biệt cho đồng bào thiểu số.

Chú trọng vào việc giải quyết quyền sở hữu và tranh chấp đất đai giữa các dân tộc thiểu số miền Nam và người Kinh, cũng như giữa các dân tộc thiểu số miền Bắc.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã công nhận quyền sở hữu đất đai cho người Stiêng và các dân tộc thiểu số khác ở miền Nam thông qua Sắc luật 033/67, khẳng định quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thƣợng được tôn trọng và thực thi Ngày 29-8-1967, Sắc luật 034/67 được ban hành nhằm xác định quyền sở hữu đất đai của đồng bào, giúp họ định cư và phát triển kinh tế Hai văn kiện này đã hợp pháp hóa quyền sở hữu, sử dụng và chuyển nhượng đất đai của người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ và các dân tộc thiểu số khác.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục cải cách điền địa từ thời Ngô Đình Diệm, nhận thấy sự khác biệt giữa đồng bằng và miền núi Không thể áp dụng “Luật Người cày có ruộng” cho vùng dân tộc thiểu số, do đó, Điều 5 của Sắc luật 033/67 nhấn mạnh việc nghiên cứu và ban hành một sắc luật kiến điền riêng cho đồng bào Thượng Chương trình cải cách điền địa này, thường gọi là “Chương trình Kiến điền Thượng”, được định nghĩa là “đất đai hiện có”, nhằm xác nhận và cấp quyền sở hữu cho đồng bào Thượng thay vì truất hữu ruộng đất như trong chương trình cải cách điền địa theo luật người cày có ruộng.

Chương trình kiến điền nhằm thiết lập khu vực sinh sống cho đồng bào Thượng và quản lý đất đai của họ, được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giới thiệu với mục tiêu cải thiện sinh hoạt và mở mang vùng cao nguyên Để đạt được điều này, cần chú trọng đến các biện pháp phát triển tư hữu cho đồng bào dân tộc thiểu số Chính quyền Thiệu cho rằng việc này sẽ khuyến khích đồng bào Thượng áp dụng phương pháp canh tác hiện đại, từ đó tăng năng suất và cải thiện đời sống gia đình họ Bộ Thông tin cũng đã ban hành các tài liệu để người Stiêng hiểu rõ về chương trình kiến điền.

Thông tư số 60/BTT/NCTĐP/12 gửi đến Trưởng Ty Thông tin Bình Long, Phước Long và các khu vực có đông đồng bào Stiêng sinh sống, yêu cầu phối hợp khéo léo trong việc sắp xếp nhân sự và phương tiện để hỗ trợ công tác kiến điền.

Để thực hiện Sắc luật 034/67, Bộ Cải cách điền địa và canh nông đã ban hành Sắc lệnh số 076-SL/CCĐĐ/CN ngày 15-7-1969, quy định thể thức kiến điền cho đồng bào dân tộc thiểu số Văn kiện này nêu rõ rằng tất cả đất đai của đồng bào Thượng đang canh tác đều phải được đo đạc, cấp chứng khoán và quản thủ điền địa sau khi hoàn tất đo đạc Công tác kiến điền ở mỗi buôn người Stiêng được tỉnh trưởng công bố qua quyết định đăng vào công báo Việt Nam Cộng hòa Một Ban kiến điền buôn và một Ủy hội hành chính tỉnh đã được thành lập để thực hiện công tác này Theo thống kê, khoảng 200.000 mẫu đất trên toàn quốc cần được kiến điền và xác nhận quyền sở hữu, với chương trình kiến điền sẽ được thực hiện trên 3.000 buôn ấp của đồng bào dân tộc thiểu số, bao gồm người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ.

Ngày 16-9-1969, Bộ Cải cách điền địa và phát triển Nông-Ngƣ-Mục ban hành “Công văn số 1396/CCĐĐ/NNM/VP/2” giải thích cho người Stiêng hiểu rõ về chương trình kiến điền Ngày 28-11-1969, tiếp tục ban hành “Nghị định số 788-CCĐĐNNM/H ấn định diện tích đất tối đa luân canh đƣợc cấp quyền sở hữu cho đồng bào Thượng” [105, tr.1] Theo Nghị định trên, đất đai người Stiêng luân canh đƣợc cấp quyền sở hữu tối đa là 10 mẫu tây

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã thiết lập các khu vực sinh sống chính cho người Stiêng nhằm tăng cường kiểm soát Vào ngày 9-11-1970, chính quyền đã ban hành “Sắc lệnh số 138/SL/Th.T/PC.2” để xác định khu vực sinh sống cho đồng bào Thượng, đồng thời đề ra các biện pháp thực hiện Sắc luật 033/67 và Sắc luật 034/67 nhằm giải quyết vấn đề đất đai và ổn định khu vực sinh sống Khu vực sinh sống chính cho người Stiêng bao gồm đất hiện canh, đất luân canh và khu vực liên quan.

Việc thiết lập khu vực sinh sống chính được thực hiện thông qua quyết định của tỉnh trưởng, liên quan đến giá cả và đất công sản tư dụng Diện tích của khu vực này cũng được quy định rõ ràng.

Sự chuyển biến về kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975)

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, khi mới thành lập, cam kết xây dựng một quốc gia hùng mạnh ở miền Nam Việt Nam nhằm chống lại sự xâm lấn từ lực lượng cách mạng Để thực hiện mục tiêu này, chính quyền đã đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết vấn đề dân tộc thiểu số, phục vụ cho sự phát triển của chế độ Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1967-1975.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đồng bào dân tộc thiểu số trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ngày 1-4-1967, đặc biệt qua các điều 2, 24, 87 và 98 Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ khẳng định rằng "Giang sơn này là giang sơn chung của toàn dân ta Kinh cũng như Thượng", thể hiện quan điểm rằng tất cả các dân tộc đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau Chính quyền đã pháp lý hóa vấn đề dân tộc thiểu số, công nhận Kinh và Thượng đều là công dân Việt Nam với đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm Tuy nhiên, do sự chậm phát triển, các dân tộc thiểu số được hưởng quyền nâng đỡ đặc biệt Để nâng cao nhận thức về quyền lợi của mình, chính quyền đã công bố chính sách đại đoàn kết dân tộc cho toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam.

Miền Đông Nam Bộ, cùng với Tây Nguyên, đóng vai trò chiến lược quan trọng về kinh tế và quốc phòng Khu vực này là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó nổi bật là cộng đồng người Stiêng Kể từ khi thành lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu để xây dựng chính sách dân tộc đặc biệt nhằm thu hút cộng đồng người Stiêng.

59 miền Đông Nam Bộ phục vụ cho công cuộc xây dựng quốc gia, chống lại lực lƣợng cách mạng miền Nam

Chính quyền Ngô Đình Diệm (1955-1963) đã thực hiện chính sách “dân tộc hóa” đối với cộng đồng người Stiêng, nhưng chính sách này gặp nhiều sai lầm, gây ra sự giao động mạnh trong xã hội người Stiêng Hệ quả là phong trào đấu tranh chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm diễn ra quyết liệt Sau cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, chính quyền quân quản đã lên nắm quyền và tiếp tục thi hành chính sách.

“dân tộc hòa đồng - đồng tiến” đối với người Stiêng trong giai đoạn 1964-1967

Rút ra bài học từ những thất bại và hạn chế của các chính sách dân tộc trước đây, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triển khai chính sách Thượng vụ từ năm 1967 đến 1975 với tính chiến lược cao Chính sách “đại đoàn kết dân tộc” được ban hành nhằm xoa dịu sự bất mãn của các dân tộc thiểu số, trong đó có người Stiêng, đối với chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) nhận thấy sự bất mãn của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ, chủ yếu do vấn đề kinh tế Để giải quyết, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Sắc luật 033/67, ghi nhận quy chế riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với người Stiêng Sắc luật này ưu tiên các biện pháp hỗ trợ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa và giáo dục nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người Stiêng Chính quyền cũng thực hiện nhiều biện pháp phát triển kinh tế trong cộng đồng người Stiêng và khắc phục những sai lầm về sở hữu đất đai dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) đã bãi bỏ các văn kiện như “Nghị định 513-a/DT/CCĐĐ” và “Văn thư số 981/BTC/DC” liên quan đến quyền sở hữu đất đai của người Stiêng, được ban hành dưới thời Ngô Đình Diệm Những văn kiện này đã phủ nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Stiêng, coi đất đai của họ như tài sản công quốc gia.

Quyền sở hữu đất đai của người Stiêng được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khẳng định trong Sắc luật 033/67 ở điều 5 Điều 5 Sắc luật 033/67 ghi:

Quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng được tôn trọng, với một sắc luật về kiến điền dành riêng cho họ, phù hợp với thực trạng và tập quán Ngày 29-8-1967, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành Sắc luật 034/67, xác nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng trên đất đã định canh và cấp quyền sở hữu trên đất hiện đang luân canh Chính quyền đã ghi nhận và pháp lý hóa quyền tư hữu về đất đai cho người Stiêng và các dân tộc thiểu số Ngoài ra, các văn kiện như Sắc lệnh số 076-SL/CCĐĐ/CN ngày 15-7-1969, Nghị định số 788/CCĐĐ/NNM/H ngày 22-11-1969, và Sắc lệnh số 138-SL/ThT./PC2 ngày 9-11-1970 cũng được ban hành để hướng dẫn thi hành quyền tư hữu ruộng đất cho đồng bào dân tộc Stiêng.

Người Stiêng và các dân tộc thiểu số đã có ý thức rõ rệt về quyền sở hữu đất đai từ lâu, và việc chính quyền Ngô Đình Diệm tước đoạt quyền lợi này đã dẫn đến làn sóng đấu tranh mạnh mẽ Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã nhận ra sai lầm và nhanh chóng thay thế các văn kiện mới, nhằm hợp thức hóa quyền sở hữu đất đai mà đồng bào Stiêng vốn có và được công nhận từ trước Điều này đã khuyến khích người Stiêng phát triển kinh tế và tham gia phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa, đồng thời chống lại lực lượng cách mạng.

Thứ hai, chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) công bố và thi hành chương trình kiến điền đối với đất đai người Stiêng Kiến điền được định

Cải cách ruộng đất của người dân tộc thiểu số, bao gồm cả người Stiêng, là một phần quan trọng trong chương trình kiến điền Chương trình này tập trung vào việc thiết lập khu vực sinh sống, kiến điền và quản lý điền địa.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành nhiều văn kiện như “Sắc lệnh số 076-SL/CCĐĐ/CN” và “Thông tư số 12399-CCĐĐ/HCTC3” nhằm hướng dẫn công tác kiến điền đối với người Stiêng Chương trình này được quảng bá với mục tiêu cải thiện đời sống và phát triển vùng Stiêng, nhưng thực chất lại nhằm thống kê đất đai, kiểm soát người Stiêng trong một khu vực cụ thể và phát triển tư hữu đất đai, đồng thời tạo ra một bộ phận người Stiêng trung thành với chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Chương trình kiến điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã giúp người Stiêng nhận thức mới về quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất đai, bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng và nghĩa vụ đóng thuế Theo “Sắc lệnh số 138-SL/ThT./PC2 ngày 9-11-1970”, mỗi công dân người Stiêng có quyền sở hữu và sử dụng đất luân canh cũng như đất định canh Họ cũng có nghĩa vụ đóng thuế đất đai theo “Văn thư số 5560/BNV/TCĐP/TV”, điều này đã nâng cao nhận thức và giúp người Stiêng thoát khỏi đời sống lạc hậu Đặc biệt, đất đai của người Stiêng bị trưng dụng cho mục đích quốc gia sẽ được đền bù thỏa đáng, tạo ra sự thiện cảm giữa người Stiêng và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã khai thác tài nguyên phong phú của vùng đất người Stiêng ở miền Thượng nhằm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cộng đồng người Stiêng tại miền Đông Nam Bộ, đồng thời đóng góp nguồn lực cho việc xây dựng chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nhận thấy tiềm năng kinh tế lớn ở Đông Nam Bộ và trong cộng đồng người Stiêng Tuy nhiên, tập quán cư trú không ổn định và kỹ thuật canh tác lạc hậu đã làm chậm phát triển kinh tế của cộng đồng này Điều này dẫn đến sự lãng phí nguồn tài nguyên và nhân lực, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc gia.

Nhằm cải thiện tình hình kinh tế của người Stiêng, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã nhanh chóng triển khai các biện pháp hỗ trợ Họ tổ chức các lớp tuyên truyền về chương trình phát triển kinh tế, giúp người Stiêng nhận thức rõ tầm quan trọng của nền kinh tế trong đời sống xã hội Qua các hoạt động giáo dục, chính quyền hướng dẫn người Stiêng cải tiến kỹ thuật canh tác và chăn nuôi Đồng thời, chính quyền cũng thường xuyên cung cấp trợ cấp cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, đảm bảo cung cấp các công - nông và nhu yếu phẩm cần thiết.

Sự chuyển biến về chính trị của cộng đồng người Stiêng ở miền Đông

Chính quyền thực dân Pháp duy trì các buôn, sóc Stiêng do già làng quản lý để thu thuế và thực hiện biện pháp ngu dân, khiến đa số người Stiêng mù chữ và có trình độ nhận thức thấp Lợi dụng điều này, thực dân Pháp sử dụng nhiều thủ đoạn như cấp gạo, muối và phong chức để chiêu dụ người Stiêng khai thác tài nguyên và chống cách mạng Tuy nhiên, một bộ phận người Stiêng đã giác ngộ cách mạng, tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam và tích cực đấu tranh, góp phần xây dựng căn cứ địa kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ, hỗ trợ cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 Khi thực dân Pháp quay lại, người Stiêng tiếp tục chiến đấu, góp phần vào thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, thành lập chế độ Việt Nam Cộng hòa Chính quyền Ngô Đình Diệm (1955-1963) thực hiện chính sách dân tộc hóa nhằm kiểm soát người Stiêng và tạo hàng rào bảo vệ trước khu cách mạng miền Đông Nam Bộ Họ tiến hành tuyên truyền, mua chuộc, lập khu dinh điền và ấp chiến lược để lôi kéo người Stiêng chống lại cách mạng, đồng thời áp dụng cưỡng bức và đồng hóa giáo dục Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chính quyền quân quản (1964-1967) tiếp tục các biện pháp lôi kéo và dụ dỗ người Stiêng, đạt được một số thành công nhất định.

Năm 1967, chính sách giáo dục bắt buộc được thi hành, cùng với việc ban hành nhiều văn kiện pháp lý, đã nâng cao ý thức của người Stiêng về quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với quốc gia.

65 gia Người Stiêng bắt đầu thi hành nghĩa vụ quân sự, tiếp cận với lối sống văn minh

Giai đoạn 1967-1975, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thực hiện chính sách “Đại đoàn kết dân tộc” nhằm xây dựng đất nước và đối phó với lực lượng cách mạng Họ rút kinh nghiệm từ các thời kỳ trước để áp dụng chính sách hỗ trợ đặc biệt cho người Stiêng, đồng thời tăng cường tuyên truyền và mua chuộc cộng đồng này ở miền Đông Nam Bộ Chính quyền xác định chính sách “giành dân lấn đất” để kiểm soát vùng Stiêng, tách họ khỏi ảnh hưởng cách mạng và ngăn chặn sự ủng hộ của đồng bào đối với phong trào cách mạng, biến vùng Stiêng thành lá chắn bảo vệ cho cơ quan đầu não ở Sài Gòn.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm thay đổi nhận thức của cộng đồng người Stiêng về chế độ Về mặt kinh tế, họ đã tiến hành pháp lý hóa vấn đề đất đai, đồng thời cung cấp hỗ trợ và hướng dẫn kỹ thuật cũng như công cụ sản xuất - chăn nuôi Về chính trị, chính quyền đã pháp lý hóa quyền lợi và gắn chặt nghĩa vụ của người dân đối với đất nước.

Giáo dục tăng cường giáo dục bắt buộc và các lớp bình dân giáo dục đã góp phần tuyên truyền về thành tựu của chế độ Việt Nam Cộng hòa Sự tác động của kinh tế, chính trị và giáo dục đã dẫn đến sự thay đổi trong một bộ phận cộng đồng người Stiêng, tạo ra thiện cảm với chính quyền Việt Nam Cộng hòa dưới thời tổng thống Thiệu (1967-1975) Việc nâng cao trình độ dân trí và thanh toán nạn mù chữ trong cộng đồng người Stiêng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phân hóa xã hội của họ.

Một bộ phận người Stiêng đã tích lũy của cải và trở nên giàu có, tham gia vào chính quyền để củng cố quyền lực và địa vị xã hội Họ trở thành tay sai trung thành của chế độ, chống phá cách mạng và có nợ máu với đồng bào Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng họ như lực lượng tiên phong, xây dựng lá chắn thép bảo vệ cửa ngõ phía Đông Bắc thủ đô Sài Gòn.

Sau Mậu Thân 1968, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng cường chiến dịch dồn dân và lập ấp chiến lược, trong đó lực lượng biệt kích người Stiêng được sử dụng để giữ vững khu vực Một số người Stiêng cũng tham gia vào bộ máy hành chính sắc tộc, với hai Ty trưởng là người Xtiêng được Mỹ - Ngụy đào tạo tại Trường Quốc gia Hành chính Sài Gòn Hoạt động giáo dục tôn giáo đã thu hút người Stiêng, với nhiều trường học của các tôn giáo Tin Lành và Thiên Chúa giáo được thành lập tại Phước Long, thu hút khoảng 200 con em đồng bào Xtiêng.

Một bộ phận người Stiêng đã tiếp thu tinh hoa giáo dục của chế độ và giác ngộ cách mạng, giữ vững tinh thần kiên trung, anh dũng Họ quyết tâm tham gia kháng chiến để bảo vệ quê hương và giải phóng đất nước, đóng góp to lớn vào chiến thắng lịch sử ngày 30-4-1975.

Cuối năm 1967, Trung ương Đảng quyết định thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên toàn miền Nam, và người Stiêng tích cực chuẩn bị cho chiến dịch này bằng cách tham gia tích trữ lương thực, vận chuyển vũ khí và dẫn đường cho bộ đội Tại Lộc Ninh, họ khua trống, gõ mõ để hù dọa địch, đồng thời mang theo cờ Mặt trận và biểu ngữ tham gia biểu tình Nhiều thanh niên Stiêng gia nhập hàng ngũ vũ trang, như đồng chí Điểu Xom và Điểu Suôn Tại Bình Long, họ yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa bồi thường thiệt hại do bom đạn và hủy bỏ tình trạng thiết quân lực Người Stiêng cũng thực hiện các biện pháp chống bắt lính, xây dựng các buôn sóc chiến đấu, và cùng với đồng bào người Kinh biểu tình tại Phước Long với khẩu hiệu “Mỹ cút về nước, lật đổ chính quyền Thiệu - Kỳ.”

Trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, người Stiêng tại Lộc Ninh, Bình Long, và Phước Long đã tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh, hỗ trợ và phối hợp với lực lượng cách mạng để giải phóng một vùng nông thôn rộng lớn Họ đã góp phần làm tan rã bộ máy kìm kẹp, khiến địa bàn kiểm soát của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngày càng thu hẹp.

Từ năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã triển khai 37% quân lực tại miền Đông Nam Bộ nhằm bảo vệ Sài Gòn Họ thực hiện chiến dịch “bình định cấp tốc” với nhiều cuộc càn quét, sử dụng máy bay ném bom để phá hủy khu vực sinh sống và đưa người Stiêng vào ấp chiến lược Người Stiêng tại Lộc Ninh, đặc biệt ở các sóc Bù Nê, Bù Nghiêng và Bù Du, đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ các hoạt động này.

Bù Nôm và Lộc An ở Lộc Ninh, mặc dù mất hết nhà cửa và tài sản, vẫn kiên quyết không rời bỏ ấp chiến lược mà tiếp tục hỗ trợ cách mạng bằng việc dẫn đường và vận chuyển lương thực, thuốc men Người Stiêng đã khéo léo đánh lạc hướng quân Việt Nam Cộng hòa và xóa dấu vết khi quân ta đi trinh sát Tại Bình Long, họ liên tục đấu tranh đòi hủy lệnh cấm vào rừng, được phép phát rẫy và chữa bệnh Họ cũng lợi dụng thời gian chăn trâu, bắt cá để liên lạc với cách mạng Đảng viên người Stiêng đã phối hợp với cán bộ để duy trì và phát triển lực lượng đảng viên trong các ấp chiến lược Họ tham gia phong trào không đi bầu cử hội đồng xã, hội đồng tỉnh và hỗ trợ các đội vũ trang trong vùng vây của địch Tại Bù Gia Mập, với sự đồng tình của già làng và trưởng ấp, người Stiêng đã đứng lên phá bỏ các ấp chiến lược để trở về làng sinh sống.

Người Stiêng đã tận dụng lợi thế của vùng rừng núi để bảo vệ làng và chiến đấu, ghi dấu ấn với nhiều chiến công, trong đó có việc hai nữ du kích người Xtiêng đã tiêu diệt 10 lính Mỹ.

68 đảng viên Điểu Thị Hơn cùng Điểu Xon chỉ huy du kích người dân tộc đánh thắng trận càn quét quy mô của giặc” [19, tr.606]

Trong giai đoạn 1967-1973, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhiều người Stiêng đã giác ngộ cách mạng và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, như Điểu Cươi, Điểu Suông, Điểu Biên, Điểu Cư, và Điểu Do Những Đảng viên này đã tích cực tuyên truyền và giáo dục tinh thần cách mạng cho cộng đồng người Stiêng Nhiều cá nhân nổi bật trong cuộc đấu tranh chống chế độ Việt Nam Cộng hòa, như Điểu Úp, Điểu Brao ở xã Dak Ơ, và Điểu Sách, Bí thư xã.

Đặc điểm về chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975)

Trải qua các giai đoạn từ thời chính quyền Ngô Đình Diệm (1955-1963), chính quyền quân quản (1964-1967) đến chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (1967-

Vào những năm 1975, vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ, được nhận thức rõ ràng Khu vực này không chỉ có vị trí chiến lược về kinh tế và quân sự mà còn mang ý nghĩa chính trị quan trọng, nằm gần đường Trường Sơn và là căn cứ địa của lực lượng cách mạng Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) đã tiến hành nghiên cứu và hoạch định chính sách cho người Stiêng, thực hiện các biện pháp kiểm soát nhằm chống lại lực lượng cách mạng và giành quyền kiểm soát đất đai.

Năm 1967, khi Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền, tình hình chính trị của Việt Nam Cộng hòa dần ổn định, nhưng tình hình quân sự ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên vẫn phức tạp Để đối phó với ảnh hưởng của cách mạng đối với các dân tộc thiểu số, chính quyền Thiệu đã thực hiện chính sách “Đại đoàn kết dân tộc”, đặc biệt chú trọng đến cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1967-1975 Chính sách này phản ánh nỗ lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với người Stiêng.

Bộ Phát triển sắc tộc và các cơ quan sắc tộc địa phương đã triển khai 70 văn kiện thông qua sắc luật, kèm theo các thông tư, nghị định và công văn, nhằm thực hiện các chính sách trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị - hành chính, quân sự và giáo dục.

Chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ không chỉ phản ánh chính sách chung đối với các dân tộc thiểu số mà còn có những đặc điểm riêng biệt.

Thứ nhất, chính sách đã phần nào khắc phục những sai lầm, hạn chế dưới thời Ngô Đình Diệm (1955-1963)

Dưới thời Ngô Đình Diệm, chính quyền thực hiện chính sách dân tộc hóa đối với người Stiêng, phủ nhận quyền sở hữu đất đai và đồng hóa văn hóa, giáo dục, gây cản trở sự phát triển của họ Người Stiêng bị buộc phải tự nhận mình là người Việt gốc Thượng, trong khi chính quyền ráo riết cướp đất và dồn họ vào các khu dinh điền để xây dựng phòng tuyến chống cách mạng Chính sách này không chỉ khủng bố, đàn áp mà còn làm mất lòng tin của người Stiêng, dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ Sau đó, chính quyền quân quản (1964-1967) đã áp dụng chính sách “hòa đồng - đồng tiến” nhằm cải thiện mối quan hệ với người Stiêng.

Năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền và thiết lập nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa, tập trung vào việc giải quyết vấn đề dân tộc sau những sai lầm của Ngô Đình Diệm Ông đã nghiên cứu và ban hành chính sách “đại đoàn kết dân tộc”, rút kinh nghiệm từ những thất bại trước đó để áp dụng một chiến lược mới đối với cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ, nhằm khuyến khích và động viên họ.

Trong giai đoạn đầu của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu đã tích cực tuyên truyền về đường lối và chính sách đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo dựng niềm tin cho người dân đối với chính quyền Mục tiêu của ông là phục vụ cho chế độ và chống lại các hoạt động phá hoại mạng lưới an ninh quốc gia trong thời kỳ 1967-1975.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã công nhận người Stiêng và người Kinh đều là công dân Việt Nam trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ngày 1-4-1967, tôn trọng phong tục tập quán của họ Mặc dù người Stiêng có quyền lợi như người Kinh, nhưng do sự chậm phát triển, cần có biện pháp hỗ trợ đặc biệt để họ cảm nhận vai trò trong cộng đồng Để nâng cao nhận thức về quyền lợi, Sắc luật 033/67 ngày 29-8-1967 đã được ban hành, quy định chế độ riêng cho đồng bào thiểu số Như vậy, chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) đã chuyển từ chính sách đàn áp sang việc thu hút người Stiêng, qua việc pháp lý hóa quyền lợi và nghĩa vụ của họ, tạo ra cái nhìn tích cực hơn về chế độ.

Chính sách của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đối với cộng đồng người Stiêng được thực thi một cách mềm dẻo và linh hoạt, nhằm ngăn chặn sự phản kháng và lôi kéo họ phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa Những biện pháp phát triển kinh tế và cải thiện đời sống được áp dụng như một thủ đoạn lừa mị, nhằm kiểm soát và nắm giữ người Stiêng trong bối cảnh chiến tranh giành dân lấn đất.

Nền kinh tế của người Stiêng vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu, theo các cuộc khảo sát và nghiên cứu Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ban hành nhiều văn kiện như sắc luật, thông tư và nghị định để thực hiện chính sách kinh tế cho cộng đồng người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ Chương trình kiến điền được triển khai gấp rút nhằm giải quyết những bất mãn và đố kỵ giữa người Stiêng và người Kinh Đồng thời, việc công nhận quyền sở hữu đất đai cũng được tiến hành để bảo vệ quyền lợi của người Stiêng.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thể hiện thiện chí và ý tốt đối với người Stiêng thông qua việc hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi, cung cấp vốn vay và trợ cấp công cụ nhằm phát triển kinh tế cho cộng đồng Để thực hiện hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế và tạo niềm tin cho người Stiêng, chính quyền đã kiện toàn bộ máy hành chính sắc tộc từ trung ương đến địa phương Họ cũng tuyên truyền quyền làm chủ của người Stiêng trên vùng đất cư trú, xây dựng khái niệm về quyền tự do và dân chủ Tại trung ương, Bộ Phát triển sắc tộc được thành lập cùng với các ty, chi Phát triển sắc tộc ở địa phương, nhằm ban hành chính sách hỗ trợ cho cộng đồng.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và cải thiện đời sống cho người Stiêng, phối hợp với các cơ quan của Mỹ Tuy nhiên, những hoạt động này thực chất nhằm mua chuộc và kiểm soát tình hình của người Stiêng, đồng thời tăng cường giáo dục bắt buộc để tuyên truyền và kích động tinh thần chống phá cách mạng Chính sách này khéo léo sử dụng các biện pháp kinh tế và giáo dục để lừa mị lòng tin của cộng đồng người Stiêng, qua đó củng cố sự khống chế và kiểm soát đối với họ.

Thứ ba, trọng tâm của chính sách hướng đến thực hiện mục tiêu chính trị, quân sự

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dân tộc trong bối cảnh chiến trường biến đổi và ảnh hưởng cách mạng lan rộng Do đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã hoạch định và ban hành chính sách nhằm chiêu mộ đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Stiêng, tham gia vào quá trình bảo vệ và xây dựng lãnh thổ miền Nam Mục tiêu chính của chính sách này chủ yếu tập trung vào chính trị và quân sự, nhưng cũng được bao bọc bằng các chương trình phát triển kinh tế, cải thiện giáo dục và nâng cao đời sống cho người Stiêng.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc nhằm nâng cao quyền lợi của người Stiêng Họ đã hoàn thiện cơ quan hành chính và khuyến khích sự tham gia của người Stiêng, đồng thời nhấn mạnh quyền bình đẳng và quyền làm chủ của họ Sắc luật 033/67 được ban hành để hỗ trợ đặc biệt cho các dân tộc thiểu số, bao gồm người Stiêng, với 10 điều luật áp dụng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và giáo dục Nhiều chương trình phát triển kinh tế như kiến điền, cải tiến kỹ thuật canh tác, và hướng dẫn nghề thủ công đã được triển khai Bên cạnh đó, chính quyền cũng thực hiện giáo dục bắt buộc cho người Stiêng thông qua chương trình xóa mù chữ và dạy thổ ngữ Những biện pháp này không chỉ nâng cao đời sống của người Stiêng mà còn tạo ra ấn tượng tích cực về sự quan tâm của chính quyền đối với cộng đồng này ở miền Đông Nam Bộ.

Việc phát triển kinh tế tại Việt Nam Cộng hòa thực chất nhằm thâm nhập sâu vào xã hội người Stiêng, tạo ra sự phân hóa Chính quyền đã sử dụng giáo dục như một công cụ tuyên truyền chính sách, kích thích tinh thần thù hằn cách mạng trong cộng đồng người Stiêng Đồng thời, họ cũng đào tạo và sử dụng một bộ phận người Stiêng để phục vụ chế độ và tham gia vào các hoạt động chiến trường Mục tiêu chính của các chính sách này tập trung vào lĩnh vực chính trị và quân sự.

Ngày đăng: 13/04/2023, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Ngọc Diệp (1969), Luận văn Vấn đề cải tiến đời sống đồng bào Thƣợng, Học viện Quốc gia hành chánh, 65tr Khác
14. Huỳnh Ngọc Đáng (2005), Luận án Chính sách của các Vương triều Việt Nam đối với người Hoa, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh, 206tr Khác
15. Bế Viết Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, NXB Chính trị Quốc gia - Văn hóa dân tộc Khác
16. Hồ Sơn Đài (1996), Chiến khu ở Miền Đông Nam Bộ (1954-1975), NXB Thành phố Hồ Chí Minh Khác
17. Nguyễn Thành Đức (2004), Múa dân gian các dân tộc Mạ, Stiêng, Chơro, NXB Dân tộc Khác
18. Mạc Đường (1985), Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, NXB tổng hợp Sông Bé Khác
19. Bộ Tƣ lệnh Quân khu 7 - Tỉnh Ủy Lâm Đồng (2004), Kỷ yếu Vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng (1945-1975), NXB Chính trị Quốc gia Khác
21. Huyện ủy Phước Long (1985), Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Phước Long (1954-1975) Khác
22. Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2012), Những vấn đề chính yếu trong lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, NXB Chính trị Quốc gia Khác
23. Phạm Hữu Hiếu - Đinh Nho Dương (2010), Cấu trúc và những quan niệm về nhà ở của người Stiêng ở tỉnh Bình Phước, Tạp chí Di sản văn hóa số 1 (30), tr.106-109 Khác
24. Nguyễn Thị Như Hiền (2012), Luận văn Giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước từ năm 1945 đến nay, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 213tr Khác
25. Bùi Thị Huệ (2009), Luận án Những biến đổi kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc (1862-1945), Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 267tr Khác
26. Diệp Đình Hoa (1984), Dân tộc Xtiêng, trong Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB Khoa học xã hội Khác
27. ThS. Đỗ Văn Học & ThS. Nguyễn Văn Hỏa, Văn bản quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975), trong Kỷ yếu hội thảo Lưu trữ Việt Nam Cộng hòa từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học, tr.99-117 Khác
28. Lịch sử truyền thống Tiểu đoàn 368 tỉnh Bình Long (1994) Khác
29. Ngô Văn Lệ - Nguyễn Văn Tiệp - Nguyễn Văn Diệu (1997), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Giáo dục Khác
30. Ngô Thị Phương Lan (2017), Sinh kế của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở Bình Phước trong bối cảnh phát triển hiện nay, trong Sinh kế tộc người trong bối cảnh Việt Nam đương đại, NXB Đại học quốc gia Hồ Chí Minh, tr112-134 Khác
31. Ngô Văn Lý (2004), Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Nam Tây Nguyên, NXB Văn hóa dân tộc Khác
32. Ngô Văn Lý (1994), Luận án Xã hội tộc người Stiêng qua tập quán pháp, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
33. Trịnh Mai Linh (2014), Luận án Chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với người Hoa ở Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975, Đại học Sư phạm, Thành phố Hồ Chí Minh, 274tr Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w