Tiểu luận: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và cán cân mậu dịch châu Á
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
- -
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC
VÀ CÁN CÂN MẬU DỊCH CHÂU Á
Thực hiện : Nhóm 9 Danh sách nhóm
1 Trần Thị Duyên
2 Phạm Văn Linh
3 Văn Tấn Ngọc
TPHCM, Tháng 6/2013
Trang 2M ỤC LỤC
TÓM T ẮT 1
1 GI ỚI THIỆU 1
1.1 Động cơ nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung chính của nghiên cứu 2
2 T ỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
4 N ỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
4.1 Phương trình xuất khẩu và nhập khẩu Trung Quốc 5
4.2 Tác động của chính sách tỷ giá của Trung Quốc lên cán cân mậu dịch các đối tác 10
5 K ẾT LUẬN 18
5.1 K ết luận chung 18
5.2 H ạn chế của bài nghiên cứu 19
5.3 Hướng nghiên cứu của tác giả 19
Trang 3GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
TÓM T ẮT:
Trước tình trạng thặng dư thương mại của Trung Quốc ngày càng gia tăng và gây
lo ngại cho nhiều nước trên thế giới thì chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc
rất được quan tâm Bằng thực nghiệm, bài nghiên cứu đã chứng minh cán cân mậu
dịch của Trung Quốc rất nhạy cảm trước sự biến động của tỷ giá hối đoái thực đa phương của Đồng Nhân dân tệ Tuy nhiên, vì thặng dư thương mại Trung Quốc quá lớn nên chỉ với chính sách tỷ giá hối đoái có thể sẽ không có khả năng để giải quyết sự mất cân bằng Việc giảm thặng dư thương mại bị hạn chế chủ yếu là do
nhập khẩu Trung Quốc đã không phản ứng như mong đợi đối với việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ Bên cạnh đó, bằng cách ước lượng phương trình nhập khẩu song phương giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn của nước này, nghiên cứu cho thấy phản ứng của nhập khẩu đối với việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ chủ yếu đúng đối với các nước Đông Nam Á nhưng không đúng cho các nước khác Việc này có thể là do sự hội nhập theo chiều dọc ở Châu Á vì một phần
lớn hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ Đông Nam Á là hướng đến tái xuất khẩu Đồng thời, tổng lượng xuất khẩu của một số nước Châu Á có phản ứng trái chiều với việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ, ám chỉ sự phụ thuộc của lượng xuất khẩu
của các quốc gia Châu Á vào Trung Quốc
1 GI ỚI THIỆU:
1.1 Động cơ nghiên cứu
Thị phần của Trung Quốc trong thương mại thế giới đã tăng rất nhanh trong những năm qua Trong thực tế, Trung Quốc đã là một trong những nhà xuất khẩu lớn nhất
thế giới, cùng với Đức và Mỹ Trong những năm trước, cán cân mậu dịch Trung
Quốc khá cân bằng Theo thống kê của hải quan Trung Quốc, năm 2004 thặng dư
mậu dịch Trung Quốc khoảng 32 tỷ USD (đạt 1,7%/GDP) Tuy nhiên, năm 2006
thặng dư mậu dịch Trung Quốc đã đạt mức 180 tỷ USD (đạt gần 7%/GDP) và đến năm 2007, thặng dư thương mại của Trung Quốc đã lên tới hơn 10%/GDP
Bi ểu đồ 1: Cán cân mậu dịch Trung Quốc và tỷ giá thực đa phương theo tháng
Ngu ồn: Cục thống kê Hải Quan Trung Quốc, Công ty dữ liệu CEIC, Công ty Tài Chính Qu ốc Tế
C ột bên trái: tỷ giá thực đa phương (2000=100)
C ột bên phải: cán cân thương mại (đơn vị tỷ đô)
1/31
Trang 4GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
Một mặt, đã có nhận định rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đang duy trì một tỷ giá hối đoái bị định giá thấp để thu lợi từ nhu cầu bên ngoài và đạt được tốc độ tăng trưởng cao cần thiết Mặt khác, đã có những nghi ngờ rằng tỷ giá hối đoái có thể là một công cụ hiệu quả trong việc làm giảm thặng dư thương
mại, vì Trung Quốc là một nền kinh tế đang chuyển đổi nơi mà giá cả vẫn có thể đóng một vai trò hạn chế trong quyết định cung và cầu
Trung Quốc đang đối mặt với một áp lực mạnh mẽ từ các nước công nghiệp để tăng giá Đồng Nhân dân tệ Trong thực tế, tỷ giá thực (REER) trải qua một sự nâng giá liên tục từ năm 1994 cho đến cuối năm 1997, nhưng từ năm 1997 thì có
xu hướng giảm cho đến khi chuyển sang một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn
đã được công bố vào tháng 7 năm 2005 Từ đó, Đồng Nhân dân tệ dần tăng giá
độ tỷ giá hối đoái nào phù hợp nhất với nền kinh tế Trung Quốc Trong khi, vấn
đề cấp bách nhất là liệu Trung Quốc có nên định giá cao đồng tiền của mình như
một công cụ để giảm thặng dư thương mại khổng lồ của nó không Bài viết này
sẽ trả lời cho câu hỏi trên thông qua việc phân tích những tác động của việc định giá cao của Đồng Nhân dân tệ đến cán cân mậu dịch của Trung Quốc và các đối tác thương mại của Trung Quốc
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào các vấn đề sau:
- Nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc
- Đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái thực, xuất khẩu, nhập khẩu của Trung
Quốc lên thương mại của Châu Á
1.3 Nội dung chính của nghiên cứu
Bài viết của nghiên cứu phân tích thực nghiệm sử dụng phân tích hồi quy và dữ
liệu là giai đoạn 1994-2005 để giải quyết câu hỏi “Trung Quốc có nên định giá cao đồng tiền của mình như một công cụ để giảm thặng dư thương mại khổng lồ
của nó không”
2/31
Trang 5GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
Bằng cách ước lượng phương trình nhập khẩu song phương, nghiên cứu thấy
rằng nhập khẩu từ các nước Châu Á khác có xu hướng giảm nhưng xuất khẩu thì không Vì thực tế, Trung Quốc nhập khẩu từ phần còn lại của Đông Nam Á chủ
yếu là hướng tới tái xuất khẩu Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra bằng chứng rằng các nước Châu Á dường như không thể bù đắp lại sự sụt giảm trong xuất khẩu của họ sang Trung Quốc bằng cách tăng cường xuất khẩu sang các nước khác vì tổng kim ngạch xuất khẩu của họ thường bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự đánh giá cao
của Đồng Nhân dân tệ Nói cách khác, xuất khẩu từ các nước Đông Nam Á chủ yếu là bổ sung hơn là thay thế cho hàng hóa của Trung Quốc
Theo kết quả của nghiên cứu, việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ sẽ làm giảm
thặng dư thương mại của Trung Quốc trong dài hạn nhưng nó bị hạn chế Việc tác động của việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ tương đối nhỏ (so với lượng
mất cân bằng) được giải thích bởi nhập khẩu của Trung Quốc phản ứng trái chiều
với việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ
2 T ỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình, tác giả đã tham khảo rất nhiều bài nghiên cứu trước đây về tác động của một sự đánh giá thực tế Đồng Nhân dân tệ trong thương mại của Trung Quốc Cụ thể ở từng bước phân tích, tác giả đã sử dụng từng bài nghiên cứu khác nhau và dựa trên những nhận định đó, so sánh, đánh giá và đưa ra kết quả của mình Các bài nghiên cứu đó là:
- Cerra và Dayal-Gulati (1999) ước lượng độ co giãn giá xuất khẩu và nhập khẩu
của Trung Quốc trong giai đoạn 1983-1997 bằng mô hình hiệu chỉnh sai số và tìm ra rằng nó có tác động đáng kể, tiêu cực đối với xuất khẩu (-0,3) và tích cực đối với nhập khẩu (0.7) Tuy nhiên, nghiên cứu này dựa trên 1 mẫu nhỏ và giai đoạn trước khi Trung Quốc gia nhập WTO nên không thể đại diện cho tổng thể
- Kamada và Takagawa (2005) giả định tác động của việc giảm 10% giá trị đồng Nhân dân tệ và kết luận rằng xuất khẩu của Trung Quốc sang các nước OECD và nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á mới nổi sẽ giảm nếu tỷ giả được duy trì không đổi
- Lau, Mo và Li (2004) ước lượng xuất nhập khẩu của Trung Quốc với các nước G-3 bằng việc sử dụng dữ liệu hàng quý Trong dài hạn, việc định giá cao tỷ giá tác động đáng kể trong việc giảm xuất khẩu Thay vào đó, cả nhập khẩu hàng thông thường và nhập khẩu để chế biến hầu như không bị ảnh hưởng bởi tỷ giá
thực (REER) Trong nhiều trường hợp, những kết quả này không dễ được giải thích vì họ không chỉ ra làm cách nào để làm giảm xuất nhập khẩu và mẫu quan sát không đủ lớn
- Gần đây nhất, Marquez và Schindler (2006) đã để ước lượng phương trình xuất nhập khẩu của Trung Quốc Họ dùng thị phần của Trung Quốc trong tổng mậu dịch của thế giới thay cho khối lượng xuất nhập khẩu để tránh việc lạm dụng sự
3/31
Trang 6GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
thay thế cho giá xuất nhập khẩu của Trung Quốc Theo kết quả của họ, việc định giá cao đồng Nhân dân tệ không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến thị phần xuất khẩu
mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến thị phần nhập khẩu của Trung Quốc, ít ra là đối với mậu dịch thông thường Tác động được ước tính trên thị phần xuất nhập khẩu
vì vậy không có kết luận nào được rút ra liên quan đến tài khoản thương mại Hơn nữa, họ không sử dụng phương pháp hồi quy vì vậy độ co giãn ngắn hạn không thể ước lượng được
Tóm lại những kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được việc định giá cao đồng Nhân dân tệ sẽ làm giảm xuất khẩu Kết quả này đã tạo nên 1 sự thay đổi mạnh mẽ trong phương pháp nghiên cứu, chu kỳ thời gian và dữ liệu Tuy nhiên, kết luận về độ co giãn tỷ giá nhập khẩu của Trung Quốc không rõ ràng Nhìn tổng thể, các nghiên cứu trước đây không đưa ra được kết luận cụ thể về sự tác động của việc định giá lại Đồng Nhân dân tệ đối với cán cân thương mại của Trung Quốc
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Bài nghiên cứu được nghiên cứu thực nghiệm bởi mô hình hồi quy, cụ thể:
Phương trình xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc có dạng:
Xt = α0+ α1.REER + α2 Yt* + α1.controlst + ε t
Mt = β0 + β1 REER + β2 Yt + β1.controlst + ε t
Trong đó:
X là lượng hàng xuất khẩu từ Trung Quốc;
M là lượng hàng nhập khẩu vào Trung Quốc;
REER là tỷ giá hối đoái thực đa phương của đồng Nhân Dân Tệ;
Yt* là lượng cầu nước ngoài;
Yt là lượng cầu trong nước của Trung Quốc
Các thông số được ước lượng gồm: α1 – Độ co giãn theo tỷ giá của xuất khẩu; α2 – Độ co giãn theo thu nhập của xuất khẩu; β1 – Độ co giãn theo tỷ giá của nhập khẩu; β2 – Độ co giãn theo thu nhập của nhập khẩu
Do ngành chế biến (nhập khẩu nguyên liệu, các sản phẩm thô từ các nước khác, chế biến và tái xuất khẩu) có vai trò quan trọng đối với kinh tế Trung
Quốc nên bài nghiên cứu đã ước lượng phương trình xuất khẩu, nhập khẩu cho ngành hàng chế biến và các ngành hàng thông thường khác một cách riêng rẽ
Khó khăn trong quá trình thu thập số liệu về giá cả xuất và nhập khẩu của Trung Quốc là không có chỉ số giá nào thể hiện được tính tổng thể nên bài nghiên cứu chọn CPI để thay thế cho giá xuất khẩu và giá nhập khẩu được tính
4/31
Trang 7GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
bằng bình quân theo trọng số của giá xuất khẩu của 25 quốc gia có quan hệ thương mại lớn nhất với Trung Quốc đã loại trừ nhập khẩu của Trung Quốc
Tỷ giá hối đoái thực đa phương được Ủy ban Thống kê Tài chính Quốc tế IMF
công bố và được xây dựng như sau:
Trong đó:
N là số lượng các loại tiền tệ đã bao gồm trong chỉ số,
Wi là khối lượng của tiền tệ thứ i,
reri,j là tỷ giá hối đoái song phương thực giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại
Thời gian dữ liệu: được chia làm hai giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2000 và
từ năm 2000 đến năm 2005 Do từ năm 1994 Trung Quốc chuyển sang nền kinh tế thị trường và từ năm 2000 thì gia nhập WTO
Dữ liệu: bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo tháng đã loại bỏ tính mùa vụ
4 N ỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
4.1 Phương trình xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc
Sau khi tiến hành kiểm định sự tự tương quan giữa các biến, sử dụng ADF để
kiểm định sự tồn tại của các nghiệm đơn vị và gần như tất cả các biến không
dừng tại các giá trị nhưng dừng khi lấy sai phân bậc nhất Sau đó, kiểm định sự
tồn tại của các Vector đồng liên kết bằng cách sử dụng phương pháp Johansen và
kết quả là có ít nhất một vector đồng liên kết cho mỗi nhóm biến Như nhận định của Phillip và Loratan (1991), việc này cho phép ước tính độ trễ của các yếu tố quyết định và sự khác biệt giữa chúng thông qua sai số bình phương tối thiểu phi tuyến tính Sai số càng nhỏ thì việc ước lượng các tham số ngắn hạn và dài hạn càng chính xác
Phương trình hồi quy được chạy cho mẫu của cả hai giai đoạn (1994-2005 và 2000-2005) và có sự tách biệt giữa hàng hóa chế biến và hàng hóa thông thường cho cả phương trình xuất khẩu và phương trình nhập khẩu Độ trễ ngắn hạn lớn nhất được đưa vào phương trình là 3 và đây là những độ trễ có ý nghĩa thống kê duy nhất
a Phương trình xuất khẩu:
Đúng như dự đoán ban đầu, độ co giãn trong dài hạn của tỷ giá hối đoái của xuất
khẩu Trung Quốc (cả hàng thông thường và hàng chế biến) đều âm và có ý nghĩa
thống kê cho cả hai giai đoạn
Kết quả hồi quy cho phương trình xuất khẩu như sau:
5/31
Trang 8GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tiêu chí
Bi ến phụ thuộc Giai đoạn 1994-2005 Giai đoạn 2000-2005
D_ xuất khẩu hàng thông thường
D_ xuất
khẩu hàng
chế biến
D_ xuất khẩu hàng thông thường
4.789(6.094)
Nhập khẩu của thế
giới t-1
0.256(0.243)
0.110(0.176)
1.006***
(0.326)
0.598* (0.360) REERt-1
-0.099 (0.399)
-0.107 (0.391)
-0.209(0.203) D- cầu nhập khẩu thế
giớit -1
-0.976***
(0.229)
-0.398* (0.203) D- cầu nhập khẩu thế
giớit -3
D-reert
-0.673 (0.730)
-0.214 (0.539)
-1.494**
(0.617)
-1.160**
(0.537) D-reert-1
0.928 (0.750)
Trang 9GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
Kết quả sau khi chuyển đổi:
B ảng 1: Độ co giãn trong dài hạn của Tỷ giá hối đoái và nhu cầu
Tiêu chí
Xu ất khẩu thông thường
Xu ất khẩu
đã qua chế
bi ến
Nh ập khẩu thông thường
-0.709**
(0.341)
-0.626*
(0.321) D- hiệu suất t-2
biến t-1
-0.099*
(0.055)
-0.056(0.085) Giai đọan mẫu 12/2005 5/1994- 12/2005 5/1994- 01/2000-12/2005 01/2000-12/2005
Các giá trị () là không thỏa mãn
* có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 10%, ** có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 5%,
** **có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 1%
7/31
Trang 10GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tác động đồng biến của cầu thế giới đối với xuất khẩu của Trung Quốc rất nhỏ
và không có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 1994-2005, nhưng lại có ý nghĩa trong giai đoạn từ khi Trung Quốc gia nhập WTO Kết quả này phù hợp với nhận định rằng Trung Quốc đã phải đối mặt với những rào cản to lớn nhằm thu lợi từ
sự tăng trưởng của các nước khác trước khi gia nhập WTO Hơn nữa, đối với mẫu gần nhất độ co giãn theo thu nhập của xuất khẩu Trung Quốc xấp xỉ 1, đúng như mong đợi
Đối với các biến kiểm soát, năng suất có tác động đáng kể lên xuất khẩu cùng lúc hoặc trễ hơn 1 tháng Năng suất có dấu hiệu nghịch biến, phù hợp với nhận định rằng một lượng lớn hàng xuất khẩu ở lại thị trường trong nước trong giai đoạn tăng trưởng cao Đối với VAT thì không có ý nghĩa thống kê trong bất cứ nhận định nào và vì vậy chúng tôi loại bỏ nó ra khỏi kết luận cuối cùng và việc này sẽ rút ngắn kỳ đánh giá lại do những hạn chế về dữ liệu Như đã đề cập ở trên số
liệu, vốn đầu tư FDI bắt đầu từ năm 1997, vì vậy nó được đưa vào như một biến giải thích chỉ trong giai đoạn 2000-2005 Khá ngạc nhiên khi vốn đầu tư FDI không ảnh hưởng ý nghĩa thống kê xuất khẩu của Trung Quốc Biến xu hướng có tác động tích cực và có ý nghĩa đối với tất cả các phương trình; trong khi đó biến Tháng 12 và Tết của Trung Quốc dường như có tác động làm giảm kim ngạch xuất khẩu khá nhiều Nếu loại bỏ biến xu hướng khỏi ước lượng, thì hệ số của cả
cầu Thế giới và vốn FDI sẽ có tác động rất tích cực và có ý nghĩa Tuy nhiên, kết luận của về độ co giãn tỷ giá hối đoái này vẫn còn dựa trên việc rất nhiều yếu tố
D_ nhập khẩu hàng thông thường
D_ nhập
khẩu hàng
chế biến
D_ nhập khẩu hàng thông thường
Nhập khẩu của thế giới t-1
Trang 11GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
-0.105***
(0.040)
1.150*** (0.346) D_cầu nội địat-2
-0.189***
(0.030) D_cầu nội địat-3
D_reert
0.207(0.237)
0.303(0.582)
-0.445***
(0.148)
-0.998*
(0.609) D_reert-1
0.030(0.238)
-0.002(0.245)
-0.566(0.571) D_reert-3
0.933***
(0.248)
0.452(0.883) D_fdit-2
0.153(0.241)
-2.725***
(0.779) 9/31
Trang 12GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
- Trong giai đoạn trước, lượng cầu dường như đóng vai trò rất khiêm tốn trong
việc giải thích hàm nhập khẩu Trong mẫu con ở giai đoạn sau, việc nhập khẩu để
chế biến đã thực sự có tác động tích cực lên nhu cầu đối với bên ngoài và được
đo lường bằng lượng xuất khẩu hàng chế biến Sản phẩm của các ngành công nghiệp trong nước đã gia làm gia tăng nhập khẩu hàng thông thường
- Như mong đợi, vốn FDI đã có tác động tích cực trong dài hạn lên cả nhập khẩu hàng thông thường và nhập khẩu hàng để chế biến Giảm thuế nhập khẩu sẽ thúc đẩy việc nhập khẩu để chế biến trong dài hạn Giống như xuất khẩu, biến giả Tết
và tháng 12 có ý nghĩa trong hầu hết các trường hợp
- Độ co giãn của tỷ giá hối đoái đối với nhập khẩu luôn âm và thường có ý nghĩa Ngoại trừ trường hợp hàng nhập khẩu để chế biến ở giai đoạn 2000-2005, hệ số
là âm nhưng chỉ có ý nghĩa ở mức 15% Ngoài tác động trực tiếp, tỷ giá hối đoái còn tác động gián tiếp lên hàm nhập khẩu để chế biến thông qua lượng cầu như
một yếu tố không thể tách rời, nói cách khác là xuất khẩu hàng chế biến Ngay cả khi tác động gián tiếp được đưa vào, phản ứng trái chiều của nhập khẩu để chế
biến trước một sự định giá cao thực vẫn thực sự cao hơn phản ứng của nhập khẩu thông thường
K ết luận: việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ có xu hướng làm giảm nhập khẩu
hơn là làm tăng Kết luận này về cơ bản là nhập khẩu, thậm chí là nhập khẩu hàng thông thường đang ngày càng nhạy cảm với sự sụt giảm của xuất khẩu do
việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ hơn là với sự gia tăng sức mua
4.2 Tác động của chính sách tỷ giá Trung Quốc lên cán cân mậu dịch các đối tác thương mại của nước này
Sự tác động trái chiều của sự định giá cao Đồng nhân dân tệ lên nhập khẩu là một
hiện tượng thú vị và đòi hỏi cần phải phân tích kĩ lưỡng Điều này sẽ cho thấy tác
D_fdit-3
-0.551***
(0.206) D_nhập khẩu hàng thông
biếnt-1
0.045(0.058)
-0.096(0.077) Giai đọan mẫu 12/2005 5/1994- 12/2005 5/1994- 01/2000-12/2005 01/2000-12/2005
Các giá trị () là không thỏa mãn
* có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 10%, ** có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 5%,
** **có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 1%
10/31
Trang 13GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
động tiêu cực của việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ đối với việc giảm thặng dư thương mại Trung Quốc Một giả thuyết tiền đề của nghiên cứu là điều này có liên quan đến các đặc điểm đặc biệt của thương mại của Trung Quốc được minh
họa bằng những khác biệt lớn trong cán cân mậu dịch song phương của Trung
Quốc và các quốc gia khác (Biểu đồ 2 và 3)
Bi ểu đồ 2: Cán cân mậu dịch song phương của Trung Quốc và một số nước năm 2005 (Tỷ USD)
Ngu ồn: IMF, dữ liệu của Đài Loan được cung cấp từ Cục Ngoại thương
Bi ểu đồ 3: Cán cân mậu dịch song phương của Trung Quốc và một số
nước năm 2005 (%/GDP của mỗi nước)
Ngu ồn: IMF, dữ liệu của Đài Loan được cung cấp từ Cục Ngoại thương
11/31
Trang 14GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
- Đa số lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á là các sản
phẩm thô để chế biến và tái xuất khẩu Do đó, sự hội nhập ở mức độ cao theo chiều dọc của ngành các ngành xuất khẩu Châu Á đã làm cho sản phẩm xuất
khẩu của các nước này mang tính tính phụ trợ hơn là thay thế cho các sản phẩm
của Trung Quốc Điều này dẫn đến sự định giá cao Đồng Nhân dân tệ không chỉ
dẫn đến sự sụt giảm của xuất khẩu của Trung Quốc mà còn làm sụt giảm cả nhập
khẩu
Ngoài các sản phẩm phục vụ cho công nghiệp chế biến của Trung Quốc, không
thể không kể đến các ngành hàng nhập khẩu thông thường khác nhưng cũng là đầu vào cho xuất khẩu của Trung Quốc Nhìn chung, chỉ có một lượng rất nhỏ các sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh với sản phẩm sản xuất trong nước của Trung
Quốc Điều này là do lượng hàng chất lượng thấp chiếm một phần rất nhỏ trong
tổng nhập khẩu của Trung Quốc Ngoài ra, phần lớn lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc là năng lượng, nguyên vật liệu và một vài sản phẩm nhập khẩu từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Để làm rõ vấn đề này, bài nghiên cứu dùng phương trình hồi quy để đánh giá sự tác động khác nhau của đồng Nhân dân tệ lệ lên các nước dựa trên mẫu 10 đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc Giả thuyết đặt ra là nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á sẽ có phản ứng tiêu cực trước sự định giá cao của đồng Nhân dân
tệ, do nước này chủ yếu là trung gian cho Trung Quốc để lắp ráp và tái xuất Ngược lại, các quốc gia khác dự kiến sẽ phản ứng một cách linh hoạt (không rõ ràng, khó dự đoán) tùy theo cơ cấu xuất khẩu của họ Phương trình hồi quy dự
kiến sẽ có dạng:
Xtj = α0j+ α1j.RERtj+ α2j Ytj* + α1j.controlstj + ε tj
Mtj= β0j+ β1j RERtj+ β2j Ytj + β1j.controlstj + ε tj
Trong đó:
Xtj và Mtj: nhập khẩu và xuất khẩu đến/từ nước j của Trung Quốc được
giải thích bởi tỷ giá thực song phương
Ytj* Và Yt: Lượng cầu bên ngoài và nội địa
Và các biến kiểm soát khác
Tuy nhiên, nghiên cứu không thể tách biệt nhập khẩu và xuất khẩu theo loại sản
phẩm, nên phải phân tích như không có dữ liệu Theo các nghiên cứu trước đây,
chỉ số CPI được sử dụng như một chỉ số thống kê để loại trừ lạm phát cho hàng
xuất khẩu của Trung Quốc và nhập khẩu của Trung Quốc được quy đổi bằng cách sử dụng các chỉ số giá xuất khẩu của từng đối tác thương mại0F
1 Tỷ giá thực
1 Khi xây dựng phương trình hồi quy, nghiên cứu không sử dụng các dữ liệu thương mại
của Trung Quốc mà là số liệu của các đối tác thương mại nhằm loại trừ các khoản giao
12/31
Trang 15
GVHD: TS NGUY ỄN KHẮC QUỐC BẢO
song phương giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại được đo lường thông qua CPI Nhu cầu đối hàng xuất khẩu của Trung Quốc phụ thuộc vào GDP thực
tế của từng đối tác mà họ xuất khẩu, trong khi đó nhu cầu trong nước của Trung
Quốc lại bị chi phối bởi sản xuất công nghiệp Đồng thời, nghiên cứu sẽ giới thiệu nguồn vốn FDI song phương trong các phương trình và việc sử dụng các nguồn lực trong các phương trình xuất khẩu của Trung Quốc Cuối cùng, một xu hướng đã được thể hiện khi các số liệu thống kê có ý nghĩa
- Vì một số nước không có số liệu cho cả giai đoạn 2000-2005 nên nghiên cứu ước lượng phương trình mậu dịch song phương cho cả giai đoạn 1994-2005 Bài phân tích này cho phép chúng ta so sánh kết quả giữa các quốc gia và kể cả phương trình tổng hợp của nhập khẩu và xuất khẩu Theo các bước tương tự như trước, nghiên cứu tiến hành kiểm tra nghiệm đơn vị cho tất cả các biến song phương
Hầu như tất cả đều dừng tại sai phân bậc 1 và có ít nhất một vector đồng liên kết cho mỗi phương trình nhập khẩu, xuất khẩu song phương
- Kết quả hồi quy (Phụ lục 01) cho thấy các phương trình xuất khẩu song phương
gần giống với các ước tính tổng hợp của nghiên cứu cũng như phương trình xuất
khẩu song phương của các quốc gia Một sự tăng giá song phương của đồng nhân dân tệ với các đối tác sẽ cho thấy một sự sụt giảm của xuất khẩu Trung Quốc,
mặc dù đối với Mỹ và Đài Loan thì lại ko có ý nghĩa thống kê Một ngoại lệ là
Hồng Kông với các hệ số tác động tích cực nhưng lại không có ý nghĩa thống kê Không khó hiểu khi mà việc xử ký các dữ liệu thương mại giữa Trung Quốc đại
lục và Hồng Kông gặp nhiều khó khăn Sau khi chuyển đổi dữ liệu (Bảng 3), nếu
ta phớt lờ hệ số không có ý nghĩa đối với xuất khẩu sang Mỹ, độ co giãn tỷ giá là cao nhất đối với xuất khẩu sang Singapore
- Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy hoạt động kinh tế của các đối tác thương
mại của Trung Quốc sẽ làm tăng xuất khẩu Trung Quốc như kỳ vọng ngoại trừ Đức, độ co giãn thu nhập song phương của các nước đề không được đánh giá có
ý nghĩa cao Các nước Châu Âu và Mỹ là những nước có độ co giãn khá rộng Điều này có thể do Trung Quốc vừa gia nhập WTO trong thời gian ngắn, đã tạo nên sự thay đổi trong cấu trúc thương mại thế giới ngoài ra, điều này đã chỉ ra
tầm quan trọng của nhân tố nhu cầu để giải thích cho sự mất cân bằng thương
mại đang gia tăng giữa Trung Quốc và Mỹ, giữa Trung Quốc và các nước EU
- Trong một số trường hợp, các biện pháp làm tăng năng suất, thay đổi biến xu hướng cũng có tác động tích cực và có ý nghĩa Tuy nhiên, đối với Hàn Quốc và Đài Loan xu hướng lại là tiêu cực Ví như FDI, một sự gia tăng FDI của Hàn
Quốc hay Đài Loan vào Trung Quốc sẽ làm gia tăng xuất khẩu của Trung Quốc sang các nước này, nhưng với Đức và Italia thì chiều tác động là ngược lại Điều này có thể là do sự phản ứng khác nhau giữa các Công ty đa quốc gia của Châu Á
thương được ghi nhận không chính xác giữa Trung Quốc và Hồng Kông Theo thống kê
của Trung Quốc cho thấy có một lượng lớn hàng xuất khẩu sang Hồng Kông nhưng
thực tế chỉ quá cảnh qua Hồng Kông để Hồng Kông xuất sang các nước khác
13/31