A PHẦN MỞ ĐẦU Høng thó häc m«n Ng÷ V¨n cña häc sinh líp 9 trêng THCS NamLéc LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài “Hứng thú học tập môn ngữ văn của học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc” Ngoài sự.
Trang 1Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình tới cô Th.sĩ Nguyễn Thị KimChung giảng viên môn tâm lí học lứa tuổi - tâm lí học sư phạm và tập thể lớp k34văn - công tác đội, trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An đã tận tình hướng dẫn giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Vinh ngày 06 tháng 11 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hiền
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là một trong những bộ môn có vi trí và vai trò rất quan trọng trongnhà trường Văn học không chỉ cung cấp về mặt tri thức xã hội, rèn luyện chongười học kĩ năng nói, đọc, viết mà nó còn là những bài học về mặt đạo đức nhâncách sau mỗi tác phẩm văn học Văn học còn luyện cho người học những kĩ năngcủa cuộc sống như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngôn từ …thái độ của conngười trước cuộc sống, học văn là học cách cảm nhận cái đẹp, cái chân thiện mĩ từvăn học và từ cuộc sống
Cũng chính vì tầm quan trọng của văn học mà từ xa xưa đến nay văn vốn là
bộ môn chiếm vị trí quan trọng trong giáo dục, thi cử và cả trong xã hội Ngàytrước thời các ông nho, ông đồ văn được xem trọng được nâng niu, cung kính
“nhất văn nhì võ” Văn được coi là một phần chủ chốt để đánh giá tài năng, phẩmchất của một con người Cách đây nửa thập kỉ, văn chương được người ta nâng niuxem là trọng vọng “gối văn kê chữ”là sự yêu thích, khôn mẫu tri thức tân thời, làchuẩn mực của cả một thế hệ người Việt Nhưng chỉ sau đó nửa thập kỉ vănchương lại trên đà đi xuống, tuy nó vẫn là bộ môn chủ chốt trong nhà trường, vẫnđược xem là một trong nhưng bộ môn quan trọng giáo dục nhân cách con người.Ngày nay, môn văn ngày càng bị xã hội xem nhẹ Học sinh càng ngày càng quaylưng với môn văn với ban C ( ban khoa học xã hội và nhân văn ) Người học chưanhận thức được tầm quan trọng và vai trò của môn văn Điều đó dẫn tới một thựctrạng đáng buồn mọi người ngày càng không mấy ai mặn mà với môn văn, xem nóchỉ là bộ môn bắt buộc mình phải học rồi học nó cho hết nghĩa vụ của một ngườihọc Môn văn ngày càng trở nên khô khan, cứng nhắc đối với học sinh, đa số các
em thấy chán nản, lười, ngại thậm chí là ghét bỏ với môn văn và các giờ học văntrên lớp, hiện tượng làm việc riêng, nói chuyện, lười đi học hay kể ngủ gật trong
Trang 3giờ học văn ngày càng đông về số lượng Điều đó là nguyên nhân khiến cho chấtlượng dạy và học môn văn trong nhà trường ngày càng đi xuống.
Hiện nay vấn đề dạy và học văn hiệu quả đang là vấn đề đầy trăn trở đối vớigiáo viên, học sinh và nhưng nhà quản lí giáo dục Môn văn cần phải được đưa vềđúng vị trí của nó
Vì những lí do trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Hứng
thú học môn ngữ văn của học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở nam lộc”
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Mức độ hứng thú học tập môn Ngữ Văn của học
sinh lớp 9
3.2 Khách thể nghiên cứu : 100 học sinh lớp 9 của trường trung học cơ sở
Nam Lộc
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ nghiên cứu hứng thú học tập môn Ngữ Văn của 100 học sinhlớp 9, trường Trung học cơ sở Nam Lộc
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hứng thú học tập môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sởNam Lộc còn thấp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn NgữVăn của học sinh trung học cơ sở Nếu có biện pháp hợp lí sẽ nâng cao được hứngthú học môn Ngữ văn cho học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sở Nam Lộc
Trang 46 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về hứng thú học tập của học sinh nói chung và hứngthú học tập bộ môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9 nói riêng
Tìm hiểu thực trạng hứng thú học môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9 trườngTrung học cơ sở Nam Lộc Phân tích một số nguyên nhân của thực trạng này.Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn NgữVăn cho các em học sinh lớp 9 Trường trung học cơ sở Nam Lộc
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Chúng tôi tiến hành sưu tầm, tham khảo, phân tích và nghiên cứu tài liệu cóliên quan tới đề tài nghiên cứu, các giáo trình, sách giáo khoa, các công trìnhnghiên cứu về vấn đề hứng thú và hứng thú học tập
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để thu thập thông tin về thực trạng yếu
tố ảnh hưởng, biểu hiện của hứng thú học môn Ngữ Văn và các giải pháp nhằnnâng cao hứng thú học môn Ngữ Văn của học sinh trường THCS Nam Lộc
Với tư cách là sinh viên năm hai tập làm nghiên cứu khoa học Chúng tôi đưa
ra bảng hỏi bao gồm những câu hỏi khác nhau có liên quan tới hứng thú học mônNgữ Văn của học sinh THCS Người được hỏi trả lời các câu hỏi băng cách tựmình trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và ý kiến của bản thân mình vào bảng
- Phương pháp thống kê toán học:
Đây là phương pháp chúng tôi sử dựng để thông kê, tính toán đưa ra số liêuchính xác về thực trạng hứng thú học tập, nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng tới hứngthú học tập môn Ngữ Văn của các em học sinh trường THCS N am Lộc
- Phương pháp quan sát:
Đây là phương pháp giúp chúng tôi thấy rõ hơn hiện trạng học môn Ngữ Văncủa các em lớp 9 trường THCS Nam Lộc
Trang 5- Phương pháp phỏng vấn sâu
8 Điểm mới của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống hoá lí luận về hứng thú, hứng thú học tập và hứngthú học môn Ngữ văn của học sinh THCS và chỉ ra được thực trạng mức độ hứngthú học môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9, trường trung học cơ sở Nam Lộc Đề tàicũng đề ra một số biện pháp mới để nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ Văn chohọc sinh lớp 9
9 Cấu trúc đề tài.
Đề tài gồm phần mở đầu, chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài, chương 2: Kết
quả nghiên cứu thực tiễn, chương 3: Một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập
môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc, kết luận và kiến nghị.
Ngoài ra đề tài còn có phần tài liệu tham khảo, phụ lục
Trang 6Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước
- Ovide Decroly (1871-1952) bác sĩ, nhà tâm lí người Bỉ khi nghiên cứu vềkhả năng tập đọc và tập làm tính đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứngthú về lao động tích cực
- I.K.Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng lứa tuổi” từ những
năm 1931 ông đã đua ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi
- 1956 V.G Lvanốp đã phân tích “Sự phát triển và giáo dục của học sinh lớp trên trong trường học”.
- 1957 V.N.Môsôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú ở trẻ em trong điều kiện phát triển bình thường và không bình thường”.
- 1971 G.I.Sukina phân tích “Hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục”.
Trang 7- 1975 moracova cũng nghiên cứu tác dụng của dạy học nêu vấn đề đến hứngthú của học sinh.
1.1.2 Ở Việt Nam
- 1977 tổ chức nghiên cứu của khoa Tâm lí học của trường đại học sư phạm
Hà Nội I đã nghiên cứu đề tài “Hứng thú học tập của học sinh cấp II đối với các môn học cụ thể” kết quả cho thấy húng thú học tập các môn học của học sinh cấp
II là không đều
- Cùng năm 1977 Phạm Ngọc Quỳnh với đề tài “hứng thú học tập của học sinh cấp II” đã nghiên cứu hứng thú đối với các môn học, đối với đời sống văn hóa
xã hội của học sinh ở một số trường của thành phố Ulianov
- 1980 Dương Diệu Hoa với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập của
bộ môn tâm lí học của sinh viên khoa tâm lí giáo dục năm học 1979-1980”
- 1994 Hoàng Hồng Liên có đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông” Tác giả kết luận dạy học trực quan là
một biện pháp tốt nhất để tác động tới hứng thú học tập của học sinh
- 2000 Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập môn toán của học sinh trường THCS thị xã Tân An” Kết quả cho thấy đa
số học sinh trong diện điều tra chưa có hứng thú học môn toán
1.2 Một số vấn đề lý luận về hứng thú
1.2.1 Khái niệm hứng thú
Có nhiều quan điểm khác nhau về húng thú:
* Ở phương tây
Nhà tâm lí học I.PH.Shecbac cho rằng: Hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn
có của con người, nó được biểu hiên thông qua thái độ tình cảm của con người vàomột đối tượng nào đó trong thế giới khách quan
Một số nhà tâm lí khác cho rằng: Hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năngcần được thỏa mãn Hứng thú là trường hợp riêng của thiên hướng, nó được biểuhiện trong xu thế của con người
Trang 8Annoi nhà tâm lí học người Mĩ cho rằng: Hứng thú là sự sáng tạo tinh thầnvới đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào.
Klalet lại kết luận: Hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năng khát vọng đòihỏi cần được thỏa nãm của cá nhân
Nhìn chung các nhà tâm lý học đề cập ở trên đều có quan điểm hoặc là duytâm hoặc là phiến diện siêu hình về hứng thú, tác hại của các quan điểm này là nóphủ nhận vai trò của giáo dục và tính tích cực của cá nhân trong sự hình thành củahứng thú
Quan niệm của Tâm lí học Macxit về hứng thú
Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng Coihứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của
sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quanthái độ đang tồn tại ở con người Khái niệm hứng thú được xét ở nhiều góc độ khácnhau
Nguyễn Quang Uẩn trong tâm lý học đại cương đã cho ra đời một khái niệmtương đối thống nhất: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượngnào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho
cá nhân trong quá trình hoạt động Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứngthú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân
- Xét về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối vớiđối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng
sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng
Trang 9Trong đề tài nghiên cứu “Hứng thú học môn Ngữ Văn của học lớp 9 trường THCS Nam Lộc” của tôi sử dụng khái niệm hứng thú của Trần Thị Minh Đức làm
công cụ: Khái niệm được định nghĩa như sau: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của
cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”.
- Thái độ bên trong và hành vi bên ngoài của hứng thú thường thống nhất vớinhau và được bộc lộ một cách khá rõ ràng, bằng trực giác chúng ta có thể cảmnhận được Trong khi đó, thái độ nói chung không phải khi nào cũng được biểuhiện ra bên ngoài, thậm chí giữa thái độ bên trong với hành vi bên ngoài có sự mâuthuẫn với nhau
* Thứ hai: Hứng thú bao giờ cũng có đối tượng Đó là những sự vât, hiệntượng tồn tại trong thế giới vật chất và tinh thần mà chúng ta đang sống Tuynhiên, không phải sự vật, hiện tượng nào cũng là đối tượng của hứng thú Một sựvật, hiện tượng chỉ có thể tạo nên hứng thú khi chúng thỏa mãn những điều kiện cơbản sau:
- Điều kiện thứ nhất, chủ thể nhận thức được giá trị, ý nghĩa của sự vật, hiện
tượng đối với cuộc sống cũng như hoạt động của chủ thể Giá trị, ý nghĩa của đốitượng được chủ thể cảm nhận một cách trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp giữa trực
Trang 10tiếp với gián tiếp Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự vật, hiện tượng nào có giá trị, ýnghĩa đối với chủ thể đều tạo nên hứng thú.
- Điều kiện thứ hai, Sự vật, hiện tượng phải mang lại sự khoái cảm và những
ấn tượng tốt đẹp, có sức thu hút, lôi cuốn hoạt động của chủ thể Đây chính là mặtxúc cảm – tình cảm của hứng thú được hình thành dựa trên cơ sở nhận thúc củachủ thể về giá trị, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng và trực tiếp là từ sức hấp dẫn vềhình thức cũng như nội dung của sự vật, hiện tượng với tư cách là đối tượng củahứng thú Sở dĩ như vậy là vì, quá trình hình thành và phát triển hứng thú thườnggắn liền với nhu cầu, khi nhu cầu được thỏa mãn có thể mang lại khoái cảm, thíchthú cho chủ thể về đối tượng, qua đó kích thích chủ thể tích cực hoạt động trongmối quan hệ với đối tượng
Như vậy, quá trình hình thành và phát triển hứng thú cần phải có hai điều kiện
cơ bản đó là nhận thức và xúc cảm – tình cảm tích cực của cá nhân đối với đốitượng Nếu chủ thể chỉ có thể nhận thức mà không có xúc cảm – tình cảm tích cựcthì chưa chắc đã tạo nên hứng thú Ngược lại, có đối tượng gây cho chủ thể sựkhoái cảm nhưng không có ý nghĩa nhiều với cuộc sống và hoạt động thì chỉ lànhững rung động tình huống thoáng qua, khó tạo nên hứng thú bền vững cho chủthể
* Thứ ba, Hứng thú có vai trò quan trọng trong cuộc sống và hoạt động củacon người Con người cảm thấy cuộc sống hạnh phúc hơn khi họ có những hứngthú Hứng thú không chỉ tạo ra sự đam mê, khát vọng trong cuộc sống, mà còn làđộng lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm đem lại hiệu quả cao hơn,vượt qua trở ngại thách thức dễ dàng hơn Nói về vai trò của hứng thú, tác giả
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “ Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng sức làm việc, đặc biệt là tăng tính tự giác, tính tích cực trong hoạt động, và vì vậy, hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động”.
1.2.3 Vai trò của hứng thú
* Đối với hoạt động của con người
Trang 11Hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người say mê hoạt động đem lạihiệu quả cao trong hoạt động của mình Khi có hứng thú với cái gì thì cá nhân sẽhoạt động tích cực để chiễm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhântrong cuộc sống Lúc đó cá xuất hiện nhu cầu mới cao hơn Công việc nào có hứngthú cao hơn thì người thực hiện nó một cách dễ dàng hơn và có hiệu quả cao hơn.Hứng thú sẽ giúp con người tìm thấy niềm tin trong công việc Công việc trở nênnhẹ nhàng ít tốn sức hơn có sự tập trung cao Ngược lại, khi không có hứng thúcon người cảm thấy bị gượng ép, công việc trở nên nặng nhọc, khó khăn làm chocon người mệt mỏi, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt.
* Đối với hoạt động nhận thức
Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức hiệu quả,hứng thú tạo ra dộng cơ quan trọng của hoạt động, hứng thú làm tích cực hóa cácquá trình tâm lí người
* Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú người ta chia hứng thú thành hứng thú bền vững và hứng thú không bền vững
Trang 12- Hứng thú bền vững thường là những hứng thú gắn liền với năng lực hoạt độnnào đó của chủ thể, dựa trên sự nhận thức sâu sắc nghĩa vụ, quyền lợi và sức hấpdẫn của hoạt động, kết hợp với thiên hướng của bản thân.
- Hứng thú không bền vững thường là hứng thú bắt nguồn tư sự nhận thức hờihợt về đối tượng với những cảm xúc mang tính chất nhất thời bởi sự hấp dẫn bềngoài của đối tượng
* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, có: Hứng thú học tập, hứng thú lao động, hứng thú vui chơi giải trí
- Hứng thú học tập, là hứng thú trong hoạt động học tập, trong tiếp thu trithức, nếu phân chia theo môn học, hứng thú này có thể có nhiều loại như: Hứngthú học tập các môn khoa học tự nhiên, hứng thú học tập các môn khoa học xãhội,
- Hứng thú lao động, là hứng thú làm việc Liên quan đến các ngành nghề cụthể như: hứng thú với nghề nghiệp quân sự; hứng thú với nghề dạy học, hứng thúvới nghề kinh doanh
- Hứng thú vui chơi – giải trí, là những hứng thú trong cuộc sống đời thườngnhư: hứng thú đi du lịch, hứng thú chơi game; hứng thú thể dục thể thao theo từngmôn cụ thể
1.2.4 Các biểu hiện của hứng thú
Mức độ I: Chủ thể mới dừng lại ở việc nhận thức về đối tượng Chưa có xúccảm tình cảm với đối tượng đó,chưa tiến hành, hoạt động để chiếm lĩnh đối tượngđó
Mức độ II: Đối tượng hứng thú thúc đẩy chủ thể hoạt động
Hứng thú biểu hiện ở nội dung của nó như: Hứng thú học tập,hứng thú họctoán, hứng thú học văn, đi dạo chơi
Hứng thú biểu hiện ở một số tía cạnh
+ Biểu hiển trong cách thức làm việc, tiếp cận của con người đối với các hoạtđộng có liên quan tới đối tượng của hứng thú đó
Trang 13+ Biểu hiện trong sự quan tâm chú ý thường xuyên của con người đối với đốitượng của hứng thú.
+ Biểu hiện trong sự thích thú, vui vẻ, các tình cảm dễ chịu khi bàn luậnthường xuyên về đối tượng của hứng thú, và các việc có liên quan tới đối tượng.+ Biểu hiện trong sự tập trung chú ý của con người đối với đối tượng củahứng thú
1.2.5.Con đường hình thành hứng thú
Sự hình thành hứng thú là một quá trình và thường diễn ra theo hai con đường
cơ bản sau đây:
Thứ nhất: con đường tự phát
Thứ hai, con đường tự giác Đây là con đường chủ yếu của sự hình thành và
phát triển hứng thú Cụ thể là, dựa trên cơ sở chủ thể nhận thức được vị trí, ý nghĩacủa sự hấp dẫn của đối tượng với bản thân, từ đó hình thành thái độ và hành vi tíchcực của chủ thể đối với đối tượng
Sự hình thành hứng thú ở mỗi lứa tuổi khác nhau có sự khác nhau, đối với trẻnhỏ sự hình thành hứng thú chủ yếu theo con đường tự phát Trong khi đó, ởnhững người trưởng thành sự hình thành hứng thú thường là kết hợp giữa conđường tự phát và tự giác, nhưng con đường tự giác là chủ yếu Điều này, đã gópphần tạo nên sự phong phú, đa dạng của hứng thú
1.3 Hứng thú học tập
1.3.1 Khái niệm hứng thú học tập
Dựa vào khái niệm hứng thú đã nêu trên chúng tôi đã đưa ra khái niệm hứngthú học tập như sau:Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của các nhân người họcđối với công việc học tập ,vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống , vừa có khả năng đemlại khoái cảm cho các nhân học sinh trong quá trình học tập
1.3.2 Vai trò của hứng thú học tập đối với hoạt động học tập của học sinh.
Hứng thú học tập kích thích hoạt động học của học sinh, làm cho người họcsay mê học tập đem lại hiệu quả cao trong học tập của bản thân người học Khi có
Trang 14hứng thú học tập mỗi cá nhân người học sẽ tích cực học tập để chiếm lĩnh tri thức,thỏa mãn mong muốn khao khát khám phá thế giới tri thức của nhân loại Lúc đó,luôn luôn xuất hiện những nhu cầu mới đòi hỏi tri thức mới cao hơn Khi học tập
có hứng thú cao thì người học thực hiện việc học một cách dễ dàng và có hiệu quảcao
Hứng thú học tập sẽ góp phần giúp người học tìm thấy được niềm vui trongviệc học Việc học trở nên nhẹ nhàng ít tốn sức hơn, có sự tập trung cao Ngược lạitrong hoạt động học tập người học không có hứng thú thì công việc học tập sẽ trởnên nặng nhọc, khó khăn, gây chán nản mất chí hướng cho người học, từ đó, dẫntới hậu quả kết quả học tập giảm xuống rõ rệt
1.3.3 Các biểu hiện của hứng thú học tập
Người học cảm thấy thích thú vui vẻ hứng khởi trong hoạt động học tập
Khi học tập trung chú ý nghe giảng hoàn thành tốt việc học, không nói chuyệnlàm việc riêng trong giờ học
Luôn luôn quan tâm đặt việc học lên hàng đầu của mọi công việc Kết quả họctập luôn luôn tốt, do khả năng lĩnh hội tri thức cao
Luôn luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập
1.3.4.Các điều kiện hình thành, phát triển hứng thú học tập
Hứng thú h ọc t ập là một hiện tượng tâm lý cá nhân, được biểu hiện tập trungtrong hoạt động học tập Vì vậy sự hình thành và phát triển của hứng thú học tậpđược dựa trên những điều kiện nhất định Cụ thể là:
- Có sự xuất hiện của đối tượng phù hợp với nhu cầu học tập của chủ thể Bởi
vì, hứng thú nói chung, hứng thú học tập nói riêng có quan hệ chặt chẽ với nhucầu, nói cách khác nhu cầu là nguồn gốc của hứng thú
- Đối tượng học tập luôn tiềm ẩn, chứa đựng những điều mới lại có thể thỏamãn trí tò mò, óc tưởng tượng và nhu cầu học tập của chủ thể
- Quá trình tổ chức hoạt động học tập phải tạo ra ở chủ thể thái độ tích cực vàniềm vui do hoạt động học tập đem lại
Trang 15- Chủ thể phải có những hiểu biết nhất định về đối tượng.
- Cơ sở vật chất và phương tiện đảm bảo cho hoạt động học tập Đây vừa làđiều kiện, vừa là yếu tố kích thích sự phát triển của hứng thú học tập
1.4 Hứng thú học tập môn Ngữ Văn của học sinh THCS
1.4.1 Khái niệm hứng thú học tập môn Ngữ Văn
Dựa trên khái niệm hứng thú và hứng thú học tập chúng tôi đưa ra khái niệmhứng thú học tập môn Ngữ Văn của học sinh THCS khái niệm được định nghĩanhư sau: Hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn là thái độ đặc biệt của các nhân họcsinh đối với bộ môn Ngữ Văn, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năngđem lại khoái cảm cho cá nhân học sinh trong quá trình học tập
1.4.2 Các thành tố cơ bản của hứng thú học tập môn văn của học sinh THCS
1.4.2.1 Thành tố nhận thức trong hứng thú học tập môn văn của học sinh THCS
Thành tố nhận thức được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Thứ nhất: Đó là nhận thức của học sinh THCS về vị trí, vai trò của môn văn
cơ sở đối với nhân cách của bản thân
- Thứ hai: đó là nhận thức của học sinh THCS về ý nghĩa thiết thực của môn
văn đối với thực tiễn cuộc sống
- Thứ ba: Nhận thức của học sinh THCS về tính hấp dẫn, lý thú của môn Văn.
Đây là khía cạnh có vai trò đáng kể kích thích say mê, hứng thú học tập của họcsinh đối với môn học
1.4.2.2.Thành tố xúc cảm – tình cảm trong hứng thú học tập môn văn của học sinh THCS
Hứng thú là thái độ đặc thù của chủ thể đối với đối tượng Do đó, trong nộidung của hứng thú nói chung, hứng thú học tập môn Văn của học sinh THCS nóiriêng sẽ có mặt của thành tố xúc cảm – tình cảm Mặc dù, hứng thú học tập mônVăn của học sinh THCS có cơ sở từ nhận thức của chủ thể về đối tượng, song nếu
Trang 16chỉ có nhận thức mà không có sự hấp dẫn về mặt xúc cảm – tình cảm thì khó có thểtạo nên hứng thú Do đó, xúc cảm – tình cảm là một thành tố quan trọng của hứngthú học tập môn Văn của học sinh THCS
1.4.2.3 Thành tố hành vi trong hứng thú học tập môn Văn của học sinh THCS
Hứng thú học tập môn Văn của học sinh THCS cuối cùng phải được bộc lộhành vi tích cực hăng say học tập Thành tố hành vi cho ta biết mức độ biểu hiệnbên ngoài của hứng thú học tập, minh chứng cho tính tích cực học tập môn Văncủa học sinh THCS Căn cứ vào những hành vi của hứng thú học tập chúng ta cóthể cảm nhận và đánh giá được mức độ hứng thú học tập môn Văn của học sinhTHCS
Trong thực tế, các hành vi hứng thú học tập môn Văn của học sinh THCSthường được biểu lộ một cách khá rõ ràng, bằng phương pháp quan sát chúng ta cóthể thấy được Sau đây là một số biểu hiện cơ bản của hành vi hứng thú học tậphứng thú học tập môn Văn của học sinh THCS:
- Chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ
- Hăng hái phát biểu ý kiến, tranh luận, nêu thắc mắc trong giờ học
- Cần cù, nhẫn nại, vượt khó trong học tập
- Thường xuyên liên hệ, vận dụng vào thực tiễn
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra
- Không làm việc riêng trong giờ học
1.4.3 Yếu tố ảnh hưởng tới hứng thú học tập môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9
Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Ngữ Văn củahọc sinh lớp 9 là một trong những cơ sở quan trọng cho việc đề xuất kiến nghị pháttriển hứng thú học tập môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9 nói chung của học sinh lớp
9, trường THCS Nam Lộc nói riêng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động dạy học của trường THCS
Trang 17Kết quả nghiên cứu cho thấy hứng thú học tập môn Ngữ Văn của học sinh lớp
9 chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Trong phạm vi của đề tài tậptrung làm rõ một số yếu tố cơ bản sau đây:
+ Yếu tố thuộc về người học: Có nhiều yếu tố thuộc về người học ảnh hưởngtới hứng thú học tập của học sinh THCS: động cơ học tập, nhận thức về môn học,khả năng học và phương pháp học, kết quả học tập của môn học, vốn sống, kinhnghiệm từng trải của bản thân
Động cơ học tập của học sinh đối với môn Ngữ Văn ở trường THCS là mộtyếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hứng thú học môn Ngữ Văn của học sinh Nếuhọc sinh có động cơ học tập đúng đắn thì đó chính là động lực thúc đẩy học sinhhọc tập, trên cơ sở nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững tiến tới làmchủ tri thức mà mình được học tập, làm chủ tương lai mình đang theo đuổi nhưngngược lại nếu động cơ học tập của học sinh không tốt thì sẽ gây ra hậu quả rất lớntrong quá trình học tập và tu dưỡng đạo đức của học sinh Cụ thể là kết quả họctập, tu dưỡng đạo đức đạt kết quả không cao, ảnh hưởng lớn đến việc nắn bắn vàhoàn thiện tri thức của học sinh ảnh hưởng đến tương lai của học sinh đó
Học sinh nhận thức được đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của môn Ngữ Vănđối với bản thân, đối với đời sống xã hội sẽ tác động trực tiếp, tích cực đến hứngthú của các em khi học môn này Ngược lại nếu các em cho rằng môn Văn khôngquan trọng thì chắc chắn các em không bao giờ có hứng thú khi học môn này
Để hiểu được môn Văn đòi hỏi học sinh ngoài nhu cầu, hứng thú học tập, vốnsống, vốn kinh nghiệm còn phải có phương pháp và khả năng học tập các mônVăn Nếu thiếu khả năng và phương pháp học tập phù hợp, học sinh sẽ thiếu sự tựtin trong quá trình lĩnh hội nội dung các môn học và ảnh hưởng trực tiếp đến hứngthú học tập của họ đối với các môn học này
Kết quả học tập môn Văn: Điểm số là một trong những yếu tố ảnh hưởng đếnhứng thú học môn Ngữ văn của học sinh THCS Trong quá trình học môn học nàynếu học sinh thường xuyên được giáo viên cho điểm cao và chính xác sẽ là yếu tố
Trang 18kích thích hứng thú học tập của các em Ngược lại nếu giáo viên thường cho điểmkhắt khe, thiếu chính xác sẽ làm giảm nhẹ hứng thú học tập của các em
Qua quá trinh điều tra thông tin trong đó có cả thông tin về số điểm, kết quảcủa việc học tập môn Ngữ Văn của các em học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộckết quả điề tra được thể hiện ở bảng 1.4.3.1
Bảng 1.4.3.1 kết quả học tập môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc
Qua bảng 1.4.3.1 cho ta thấy kết quả học tập môn Ngữ Văn của học sinh lớp
9 trường THCS Nam Lộc nhìn về mật bằng chung vẫn còn rất thấp cụ thể.tỉ lệ họcsinh xếp loại giỏi chỉ chiếm 20% trong tổng số học sinh toàn khối 9, (31.58%) là tỉ
lệ số học sinh đạt loại khá Chiếm tỉ lệ lớn nhất là học sinh xếp loại trung bìnhchiếm 34.47% Tỉ lệ học sinh xếp loại yếu, kém vẫn còn cao chiếm (13.69%).Trong đó tỉ lệ học sinh xếp loại yếu là 10.53%, vẫn còn có học sinh xếp học lựcmôn Ngữ Văn loại kém và chiếm tới 3.16%
+ Yếu tố thuộc về môn học: - Vị trí của môn Văn trong chương trình đào tạo,tính thiết thực cập nhật nội dung, tính vừa sức với khả năng nhận thức của học sinh
là những yếu tố tác động đến hứng thú học tập của học sinh
Thứ nhất: Vị trí của môn học trong chương trình đào tạo
Vị trí của môn học trong chương trình đào tạo thường được xác định một cáchkhá rõ ràng Việc xác định như vậy không chỉ liên quan đến sự đầu tư về thời gian,
cơ sở nhân lực, vật lực đảm bảo cho hoạt động dạy – học mà còn liên quan đếnhứng thú học tập của học sinh trong học tập môn học Sở dĩ như vậy là vì, hứng thúhọc tập môn Văn của học sinh THCS nói chung, học sinh lớp 9 nói riêng đượchình thành và phát triển dựa trên cơ sở người học nhận thức được vị trí, ý nghĩacủa môn học đối với bản thân và thực tiễn cuộc sống Do vậy việc xác định vai trò,
Trang 19học tập của học sinh viên, từ đó chi phối đến hứng thú học tập của họ đối với mônhọc.
Thư hai: Tính thiết thực, cập nhật nội dung
Môn Văn có vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách toàn diện chohọc sinh Để thực hiện những mục tiêu quan trọng này, đòi hỏi nội dung môn họcphải thường xuyên được cập nhật những thông tin xuất phát từ thực tiễn và đápứng những nhu cầu đòi hỏi từ thực tiễn cuộc sống của người học Tính thiết thực,cập nhật của nội dung môn học được xem là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đếnhứng thú học tập của học sinh trong quá trình học tập
+ Yếu tố người dạy: cách dạy và phương pháp dạy của người giáo viên có ảnhhưởng rất lớn tới việc hình thành hứng thú học Ngữ Văn của hoc sinh Ngữ Văn là
bộ môn giàu tính trừu tượng, yêu cầu cảm xúc cao của con người, thì người giáoviên dạy văn không đơn thuần chỉ là người truyền đạt khiến thức mà còn phải làngười nghệ sĩ truyền tình cảm yêu văn học tới học sinh của mình Giáo viên làmđược điều đó tức là đã góp phần tạo hứng thú học Ngữ Văn cho học sinh
+ Yếu tố cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học: Hệ thống giáo trình, tàiliệu tham khảo đầy đủ, phong phú, cơ sở vật chất đảm bảo, phương tiện, kỹ thuậtdạy học hiện đại sẽ ảnh hưởng tích cực, trực tiếp tới hứng thú học môn Văn củahọc sinh THCS Bởi vì, khi người học có hứng thú học tập họ sẽ có nhu cầu đi sâutìm hiểu về môn học, thích đọc thêm giáo trình, tài liệu có liên quan để hiểu sâuhơn về bài học, môn học Nếu nhu cầu về tài liệu tham khảo và giáo trình khôngđược đáp ứng sẽ làm giảm tính tính tích cực, sự nhiệt tình của học sinh đối vớimôn học
Phương tiện kỹ thật dạy học hiện đại như băng, đĩa hình, máy tính, máy quét,máy chiếu, các phần mềm dạy học…đã và đang được sử dụng khá phổ biến vàrộng rãi trong việc dạy học Điều này xuất phát từ ưu thế lớn của các phương tiệndạy dạy hiện đại, đó là: tăng cường tính trực quan, huy động nhiều giác quan củahọc sinh vào trong quá trình nhận thức, làm giảm nhẹ lao động sư phạm của cả
Trang 20người dạy và người học Đặc biệt là băng hình ảnh, âm thanh sống động mà cácphương tiện kỹ thuật dạy học đem lại sẽ làm tăng hưng phấn và sự tập trung chú ý,kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong hoạt động học tập của học sinh.
1.5 Đặc trưng của bộ môn Ngữ Văn
Ngữ Văn là một bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.Ngữ Văn
là thuật ngữ dùng để chỉ tổ hợp của ba phân môn đọc văn, tiếng việt và tập làmvăn.học Ngữ Văn rèn luyện cho người học các hĩ năng đọc, nói, viết, sủ đụng tiếngviệt
Là bộ môn thuộc lĩnh vực KH-XH và nhân văn Ngữ Văn không chỉ cung cấptri thức về mặt khoa học như các bộ môn khoa học - tự nhiên mà nó còn cung cấpcho con người tri thức toàn diện về xã hội
“Văn học là nhân học” văn học dạy cho con người thái độ úng xử với conngười với xã hội, cách cảm nhận, cách tạo dựng cái đẹp
Là bộ môn có tính hình tượng cao, không khô khan, trừu tượng như các bộmôn khoa học trong nhà trường Văn không yêu cầu độ chính xác cao như toán, lí,hóa…nhưng nó yêu cầu người học có cảm xúc, trí tưởng tượng phong phú Nóthực sự là bộ môn mang tính nghệ thuật cao trong nhà trường
1.6 Chương trình học môn Ngữ Văn lớp 9 ở nhà trường THCS
Là một trong những bộ môn chính và được đánh giá là một trong hai bộ môngiữ vị trí chủ chốt và cố định trong các kì thi chuyển cấp từ lớp 9 lên lớp 10 củahọc sinh THCS bên cạnh môn toán Vì vậy mà đây cũng là bộ môn theo phân phốichương trình của bộ GD – ĐT là nhiều tiết nhất bên cạnh bộ môn toán Trong 37tuần học của học sinh lớp 9, môn Ngữ Văn có tới 140 tiết Theo phân chia của bộ
GD – ĐT năm học 2012 – 2013 trong học kì I học sinh sẽ học 19 tuần và học kì II
sẽ là 18 tuần còn lại.Trong 19 tuần của học kì I thì có tói 90 tiết Ngữ Văn Bìnhquân mỗi tuần từ tuần 1 đến tuần 14 mỗi tuần học sinh sẽ học 5 tiết Ngữ Văn trên 1tuần.và bắt đầu từ tuần thứ 15 đến khi kết thúc học kì I tuần thứ 19 học sinh sẽđược học 4 tiết trên 1 tuần Như thế sang học kì II với 18 tuần học còn lại của năm
Trang 21học hoc sinh sẽ học tiếp 85 tiết còn lại trong quỹ 140 tiết của cả năm mà cụ thể là:
từ tuần thứ 20 dến tuần thứ 33 học sinh học 5 tiết trên 1 tuần Bắt đầu từ thứ 34 đếntuần thứ 36 sẽ là 4 tiết trên 1 tuần Riêng tuần cuối cùng tuần thứ 37 học sinh sẽphải học 3 tiết trên 1 tuần Thống kê cụ thể ở bảng sau:
Số tiết
90
Tuần 1-14: 5 tiết /1 tuần
Tuần 15 – 19: 4 tiết / 1 tuần
85Tuần20 – 33:5 tiết / 1 tuầnTuần34 – 36:4 tiết / 1 tuầnTuần 37: 3 tiết / tuần
140
Cụ thể trong mỗi tuần 5 tiết thì 2 tiết là đọc văn, 1 tiết dành cho tiếng việt, 1tiết dành cho tập làm văn, tiết cuối cùng dành đẻ luyện tập tiếng việt hoặc tập làmvăn, có khi dành để giáo viên dạy chương trình địa phương Còn nếu là tuần 4 tiếtchủ yếu nằm ở phần cuối học kì, cuối năm học nên phân chia các phân môn trongtuần co sự thay đổi 2 tiết dành cho đọc văn, 2 tiết còn lại của tuần dành cho ôn tậpkiêm tra tiêng việt và tập làm văn
Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực tiễn
2.1 Thực trạng hứng thú học môn Ngữ Văn của học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc.
2.1.1 Thực trạng yếu tố nhận thức trong hứng thú học môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc
Trang 22Đ ể tìm hiểu vấn đề này chúng tôi sử dụng câu hỏi… trong phiếu điều tra: “emviết câu hỏi vào”
Kết quả chúng tôi thu được trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Nhận thức của học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc đối với bộ môn Ngữ Văn.
1 Ngữ Văn có ý nghĩa thiết thực
2 Ảnh hưởng đến kết quả học tập 47 49.47% 21 42% 26 57.87%
3 Có ý nghĩa phát triển nhân cách
Bảng 2.1 cho thấy nhận thức của học sinh lớp 9 trường THCS Nam Lộc về ýnghĩa bộ môn Ngữ Văn còn ở mức thấp, chưa đến một nửa học sinh (47.02%) Vẫncòn trên một nửa học sinh nhận thức chưa nhận thức đúng về ý nghĩa và tầm quantrọng của bộ môn Ngữ Văn Đây là những con số đáng báo động về nhận thức sailệch của học sinh đối với một bộ môn được xem là hết sức quan trọng trong cuộcsống và sự hình thành nhân cách của các em
Trong mặt nhận thức đúng của học sinh về môn Ngữ Văn ảnh hưởng đến kết quảhọc tập chiếm số lượng và tỉ lệ cao nhất (49,47%) Trong đó tỉ lệ học sinh nam là
21 học sinh, chiếm 42%, còn số học sinh nữ là 26 học sinh chiếm 57,87% Quaphỏng vấn sâu chúng tôi biết được nguyên nhân học sinh nhận thức được nội dungnày có tỷ lệ cao nhất do các em thấy được ngay trong thời gian học điểm số củamôn văn là một thành phần của điểm tổng kết học lực
Học sinh nhận thức được môn Ngữ Văn có ý nghĩa thiết thực với cuộc sốngchiếm tỷ lệ (47.37%) Trong đó tỉ lệ học sinh nam là 31 học sinh, chiếm 62%, cònhọc sinh nữ là 14 học sinh, chiếm 31.11%