1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai 5 quyen binh dang giua cac dt tg

15 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 100,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Baøi 6 Baøi 5 QUYEÀN BÌNH ÑAÚNG GIÖÕA CAÙC DAÂN TOÄC, TOÂN GIAÙO ( 2 tieát ) I MUÏC TIEÂU BAØI HOÏC 1 Veà kieán thöùc Neâu ñöôïc caùc khaùi nieäm, noäi dung, yù nghóa quyeàn bình ñaúng giöõa caùc daân[.]

Trang 1

Bài 5 QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC,

TÔN GIÁO

( 2 tiết )

I MỤC TIÊU BÀI HỌC:

1.Về kiến thức:

-Nêu được các khái niệm, nội dung, ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo

-Hiểu được chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẵng giữa các dân

tộc, tôn giáo

2.Về kiõ năng:

-Phân biệt được những việc làm đúng và sai trong việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các

dân tộc, tôn giáo

-Biết xử sự phù hợp với quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo

3.Về thái độ:

- Uûng hộ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẳng giữa các dân

tộc, tôn giáo

-Xây dựng cho mình ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện

quyền bình đẳng, đoàn kết giữa

các dân tộc, tôn giáo; đấu tranh với những hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc hoặc lợi dụng tôn

giáo đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của nhân dân

II NỘI DUNG :

1 Trọng tâm:

- Thế nào là bình đẳng giữa các dân tộc?

- Nội dung và ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các dân tộc

- Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẳng giữa các dân tộc

- Thế nào là bình đẳng giữa các tôn giáo ?

- Nội dung và ý nghĩa của quyền bình đẳng giữa các tôn giáo

- Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo

2 Một số kiến thức cần lưu ý :

Về bình đẳng giữa các dân tộc:

Bình đẳng giữa các dân tộc là một nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 của nước ta

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Đảng ta khi mới thành lập, đã rất coi trọng vấn đề dân tộc, xem vấn đề dân tộc là một bộ phận có ý nghĩa sống còn trong toàn bộ chiến lược cách mạng Đảng Các văn kiện đầu tiên của Đảng đã nói đến quyền bình đẳng, tự quyết của các dân tộc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951) đã viết :

“Các dân tộc ở Việt Nam đều được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc” Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các

Trang 2

nguyên tắc đó được xác định: “Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình Trong cán bộ cũng như trong nhân dân, cần khắc phục

tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

( tháng 4 năm 2001) đã nêu lên nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc là “ bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” Bốn nội dung đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại nhau, hợp thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển Có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc ; có tương trợ, giúp nhau thì mới cùng nhau phát triển và củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc Có đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển mới thưc hiện được bình đẳng dân tộc

Bình đẳng giữa các dân tộc xuất phát từ quyền cơ bản của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn câu “ Tất cả mọi người

sinh ra đều có quyền bình đẳng” từ Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ để long trọng khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-9-1945 Các Hiến pháp

1959, 1980, 1992 đều công bố quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam và xác định đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Bình đẳng giữa các dân tộc cũng là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong giao lưu, hợp tác giữa các dân tộc Mọi hành vi miệt thị, chia rẽ các dân tộc đều bị nghiêm cấm

 Về bình đẳng giữa các tôn giáo:

Trong những năm xâm chiếm nước ta, thực dân pháp đã chủ trương ưu ái một số tôn giáo, liên kết với các tổ chức tôn giáo thống trị nhân dân ta, dùng chính sách chia để trị Nhằm chống lại âm mưu thâm độc của chủ nghĩa thực dân, Đảng ta, từ khi ra đời đã lưu ý vấn đề tôn giáo, tuyên bố thực hiện tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng

Ở nước ta, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo thể hiện thông qua quyền bình đẳng giữa các tổ chức tôn giáo trước pháp luật, quyền bình đẳng của công dân, bình đẳng giữa những người theo các tôn giáo khác nhau, bình đẳng giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật Người theo tôn giáo, người không theo tôn giáo và những người theo các tôn giáo khác nhau ở nước ta đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, không có sự phân biệt, đối xử

vì lí do tín ngưỡng, tôn giáo

Chỉ các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận mới được phép hoạt động tại Việt Nam Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật được Nhà nước bảo đảm Các hành vi kì thị, chia rẽ tôn giáo, lợi dụng tôn giáo đều bị xử lí theo pháp luật

Trang 3

Nhận thấy tầm quan trọng của khối đoàn kết tôn giáo, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” Tinh thần đó được ghi nhận trong Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: “Nhân dân ta có quyền tự do tín ngưỡng’

Chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo là đoàn kết, bình đẳng và tự do tín ngưỡng, bảo vệ các cơ sở thừa tự, trụ sở của các tôn giáo, đồng thời chống lại âm mưu của kẻ thù dân tộc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân

III PHƯƠNG PHÁP :

Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,

IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:

- Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to

- Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu

V TIẾN TRÌNH LÊN LỚP :

1 Ổn định tổ chức lớp :

2 Kiểm tra bài cũ:

3 Giảng bài mới:

Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã xác định vấn đề dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt Đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách như thế nào về dân tộc và tôn giáo?

Phần làm việc của Thầy và

Tiết 1:

Đơn vị kiến thức 1:

Bình đẳng giữa các dân tộc

 Mức độ kiến thức:

- HS nêu được khái niệm quyền

bình đẳng giữa các dân tộc

- HS hiểu được quyền bình đẳng

giữa các dân tộc

xuất phát từ quyền cơ bản của

con người và quyền bình đẳng

trước pháp luật của công dân

- HS hiểu được nội dung quyền bình

đẳng giữa các dân tộc được thể

hiện trong các lĩnh vực của đời

sống xã hội

- HS nêu được các chính sách của

Đảng và pháp luật của Nhà nước

về quyền bình đẳng giữa các dân

tộc?

 Cách thực hiện:

 Thế nào là bình đẳng giữa

1 Bình đẳng giữa các dân tộc

a) Thế nào là bình đẳng giữa các dân tộc?

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được hiểu là các dân tộc trong một quốc gia không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ

Trang 4

các dân tộc?

GV lần lượt nêu ra các câu hỏi để

HS suy nghĩ, phân tích và yêu cầu

HS tìm các ví dụ chứng tỏ ở Việt

Nam không có sự phân biệt đối

xử giữa các dân tộc đa số, dân

tộc thiểu số:

Trong câu: Đại gia đình dân tộc

Việt Nam thống nhất hiện có 54

dân tộc anh em, vì sao nói “Đại gia

đình dân tộc Việt Nam” và “54 dân

tộc anh em”?

Vì sao khi đô hộ nước ta, thực dân

Pháp lại sử dụng chính sách chia

để trị?

Ngày nay, trên các đường phố Hà

Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đều

có các phố mang tên các vị anh

hùng dân tộc thiểu số như Hoàng

Văn Thụ, Tôn Đản, Nơ Trang Long

Điều đó có ý nghĩa gì?

HS nêu các ý kiến của mình

GV nhận xét, bổ sung

GV giảng:

Việt Nam là một quốc gia thống

nhất có 54 dân tộc anh em cùng

sinh sống, kề vai sát cánh với nhau

trong suốt quá trình dựng nước và

giữ nước Các dân tộc thiểu số

nước ta cư trú xen kẽ trên địa bàn

rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc

biệt quan trọng về chính trị, kinh tế,

an ninh, quốc phòng và môi trường

sinh thái Mỗi dân tộc có sắc thái

văn hóa riêng, góp phần tạo nên

sự đa dạng, phong phú của nền

văn hóa Việt Nam thống nhất

Đồng bào các dân tộc nước ta có

truyền thống đoàn kết lâu đời

trong đấu tranh chống giặc ngoại

xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc

phục thiên tai và xây dựng đất

nước

Ngay từ khi mới ra đời và trong

suốt quá trình lãnh đạo cách

mạng, Đảng ta luôn xác định vấn

đề dân tộc, công tác dân tộc và

đoàn kết các dân tộc có vị trí

chiến lược quan trọng trong cách

mạng nước ta Nghị quyết Đại hội

văn hoá cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da… đều được Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện phát triển.

b) Nội dung quyền bình đẳng giữa các dân tộc

 Các dân tộc ở Việt Nam đều

được bình đẳng về chính trị

Trang 5

đại biểu toàn quốc lần thứ II của

Đảng (1951) đã khẳng dịnh : “Các

dân tộc ở Việt Nam đều được bình

đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ,

phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau

để kháng chiến và kiến quốc”

Quyền bình đẳng của các dân tộc

xuất phát từ quyền cơ bản của

con người Hiến pháp nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946

ghi rõ : “Tất cả quyền bính trong

nước là của toàn thể nhân dân

Việt Nam, không phân biệt nòi

giống, gái trai, giàu nghèo, giai

cấp, tôn giáo…”, “ Ngoài sự bình

đẳng về quyền lợi, những quốc

dân thiểu sổ được giúp đỡ về

mọi phương diện để chóng tiến kịp

trình độ chung” Các bản Hiến

pháp năm 1959, 1980, 1992 của

nước ta đều khẳng định quyền bình

đẳng của các dân tộc Mọi hành

vi chia rẽ dân tộc đều bị luật

pháp nghiêm cấm

 Nội dung và ý nghĩa quyền

bình đẳng giữa các dân tộc

GV đưa ra các câu hỏi để HS thảo

luận:

Ở nước ta có sự chênh lệch khá

lớn về trình độ phát triển kinh tế –

xã hội giữa các dân tộc Em hãy

nêu ví dụ chứng minh

Các chính sách của Nhà nước về

đầu tư phát triển kinh tế – xã hội

đối với vùng sâu, vùng xa, vùng

đồng bào dân tộc có ý nghĩa như

thế nào trong việc thực hiện

quyền bình đẳng giữa các dân

tộc?

Khi nói chuyện với đồng bào và

cán bộ tỉnh Cao Bằng ngày

21/02/1961, Chủ tịch Hồ Chí minh

nói: “Đồng bào tất cả các dân

tộc, không phân biệt lớn nhỏ,

phải yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau,

phải đoàn kết chặt chẽ như anh

em một nhà để cùng nhau xây

dựng Tổ quốc, xây dựng CNXH làm

Các dân tộc đều có quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội, tham gia vào bộ máy nhà nước, tham gia thảo luận, góp ý các vấn đề chung của đất nước Quyền này được thực hiện theo hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp

 Các dân tộc ở Việt Nam đều

bình đẳng về kinh tế

Trong chính sách phát triển kinh tế, không có sự phân biệt giữa các dân tộc đa số và thiểu số Nhà nước luôn quan tâm đầu tư phát triển kinh tế đối với tất cả các vùng, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

 Các dân tộc ở Việt Nam đều

bình đẳng về văn hoá, giáo dục

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình Những phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá tốt đẹp của từng dân tộc được giữ gìn, khôi phục, phát huy

Các dân tộc ở Việt Nam có quyền hưởng thụ một nền giáo dục của nước nhà

c) Ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các dân tộc

Thựïc hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là sức mạnh đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước

Trang 6

cho tất cả các dân tộc được hạnh

phúc, ấm no” Bình đẳng giữa các

dân tộc được thể hiện như thế

nào trong câu nói của Bác?

Mục đích của việc thực hiện quyền

bình đẳng giữa các dân tộc là gì?

Hãy tìm các ví dụ chứng tỏ sự bình

đẳng giữa các dân tộc trong các

lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá,

xã hội

GV tổng hợp các ý kiến, giảng

mở rộng:

+ Hiến pháp của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi

rõ "nhà nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước

thống nhất của các dân tộc cùng

sinh sống trên đất nước Việt Nam"

Các dân tộc thực hiện quyền làm

chủ của mình bằng hai hình thức:

dân chủ trực tiếp và dân chủ đại

diện Việc các dân tộc cử đại

biểu của mình tham gia hệ thống cơ

quan dân cử cho thấy: Đại biểu

Quốc hội khóa X là người dân

tộc thiểu số chiếm 17,3% ; số đại

biểu là người dân tộc trong Hội

đồng nhân dân các cấp như sau:

cấp tỉnh chiếm 18,2%, cấp huyện

chiếm 18,7%, cấp xã chiếm 22,7%

so với tổng số đại biểu dân cử

cấp đó Điều đó thể hiện sự bình

đẳng giữa các dân tộc trong việc

tham gia quản lý Nhà nước

Để khuyến khích tạo điều kiện

thực hiện bình đẳng giữa các dân

tộc trong lĩnh vực chính trị, Nhà

nước quy định tỷ lệ thích ứng

người dân tộc trong các cơ quan

dân cử Hiện nay, số lượng đại

biểu quốc hội là người dân tộc

thiểu số tăng lên Người dân tộc

thiểu số tham gia đại biểu Hội

đồng nhân dân các cấp ở miền

núi và vùng đồng bào dân tộc

thiểu số chiếm tỉ lệ khá cao

+ Quyền bình đẳng của các dân

tộc đã được Hiến pháp xác định

và được thể hiện trên mọi lĩnh vực

của đời sống xã hội bao gồm bình

đẳng về chính trị, bình đẳng về

d) Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẳng giữa các dân tộc

Ghi nhận trong Hiến pháp và các

văn bản pháp luật về quyền bình đẳng giữa các dân tộc

Thực hiện chiến lược phát triển

kinh tế- xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc

Nghiêm cấm mọi hành vi kì thị

và chia rẽ dân tộc.

Trang 7

kinh tế, bình đẳng về văn hoá,

giáo dục Tuy nhiên, trên thực tế,

việc thực hiện quyền bình đẳng

giữa các dân tộc còn một

khoảng cách bởi điều kiện và

trình độ phát triển kinh tế- xã hội

của các dân tộc không đồng

đều, đó là một thực tế khách

quan, vì vậy cần có sự tương trợ,

giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân

tộc Cụ thể là các dân tộc đa số

có trình độ phát triển cao hơn có

trách nhiệm giúp đỡ các dân tộc

thiểu số, chậm phát triển và

ngược lại Đại hội IX của Đảng

(4/2001) đã nêu lên nguyên tắc cơ

bản của Đảng về chính sách dân

tộc là: “bình đẳng, đoàn kết, tương

trợ, giúp nhau cùng phát triển…”

Có bình đẳng thì mới thực hiện

được đoàn kết dân tộc; có đoàn

kết giúp nhau cùng phát triển thì

mới thực hiện được bình đẳng dân

tộc

GV nêu ý nghĩa quyền bình đẳng

giữa các dân tộc

 Chính sách của Đảng và pháp

luật của Nhà nước về quyền

bình đẳng giữa các dân tộc

GV đặt ra các câu hỏi để HS thảo

luận theo từng nhóm Các nhóm

ghi ý kiến của mình vào giấy và

cử đại diện báo cáo

Các câu hỏi:

Em hãy cho biết vai trò của Nhà

nước trong việc đảm bảo quyền

bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn

hoá giữa các dân tộc

Vì sao trong Quy chế tuyển sinh đại

học, cao đẳng về chính sách ưu tiên

trong tuyển sinh cò quy định: Công

dân Việt Nam có cha hoặc mẹ là

người dân tộc thiểu số thuộc

nhóm ưu tiên 1?

Em hãy nêu một số chính sách

của Nhà nước nhằm khuyến khích

trẻ em các dân tộc đến trường?

GV nhận xét, điều chỉnh, bổ sung

các ý kiến của HS

GV giảng :

+ Tuyên bố quyền bình đẳng của

2 Bình đẳng giữa các tôn giáo

a) Khái niệm bình đẳng giữa các tôn giáo

Quyền bình đẳng giữa các tôn

giáo được thể hiện là các tôn giáo ở Việt Nam đều có quyền hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ của pháp luật; đều bình đẳng trước pháp luật; những nơi thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Trang 8

các dân tộc trong Hiến pháp là

sự ghi nhận về mặt pháp lý, đồng

thời cũng là sự khẳng định nhà

nước ta là nhà nước của tất cả

các dân tộc sinh sống trên đất

nước Việt Nam Toàn thể bộ máy

nhà nước và các cơ quan trong bộ

máy nhà nước đều được tổ chức

và hoạt động dựa trên nguyên tắc

bình đẳng giữa các dân tộc

+ Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội,

để quyền bình đẳng giữa các dân

tộc được thực hiện trên thực tế,

Đảng và Nhà nước đã ban hành

nhiều chủ trương, chính sách phát

triển kinh tế xã hội ở miền núi,

vùng đồng bảo dân tộc nhằm tạo

điều kiện để các dân tộc thiểu

số vươn lên, tiến kịp trình độ chung

của cả nước Nhiều chính sách,

chương trình, dự án đầu tư đã được

Nhà nước đã triển khai thực hiện

làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế

-xã hội và đời sống nhân dân ở

nhiều vùng đồng bào dân tộc

được cải thiện rõ rệt Công tác

xóa đói, giảm nghèo đạt được

những kết quả to lớn Mặt bằng

dân trí được từng bước nâng lên

Mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu

học và xóa mù chữ đã và đang

được thực hiện ; hệ thống trường

phổ thông dân tộc nội trú được

hình thành từ Trung ương đến tỉnh,

huyện, cụm xã Văn hóa phát

triển phong phú hơn ; đời sống văn

hóa của đồng bào được nâng cao

một bước ; văn hóa truyền thống

của các dân tộc được tôn trọng,

giữ gìn và phát huy Các loại bệnh

dịch cơ bản được ngăn chặn và

từng bước đẩy lùi ; việc khám,

chữa bệnh cho người nghèo vùng

sâu, vùng xa được quan tâm hơn

Tiết 2:

Đơn vị kiến thức 2:

Bình đẳng giữa các tôn giáo

 Mức độ kiến thức:

HS hiểu:

- Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo

- Phân biệt sự giống nhau và khác

b) Nội dung quyền bình đẳng giữa các tôn giáo

 Các tôn giáo được Nhà nước

công nhận đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật.

Công dân thuộc các tôn giáo khác nhau, người có tôn giáo hoặc không có tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân, không phân biệt đối xử vì lí do tôn giáo

Đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo có trách nhiệm sống tốt đời, đẹp đạo, giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, phát huy những giá trị văn hoá đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật

 Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

theo quy định của pháp luật được Nhà nước bảo đảm; các cơ sở

Trang 9

nhau giữa tín ngưỡng, tôn giáo;

giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê

tín dị đoan?

- Thế nào là bình đẳng giữa các

tôn giáo?

- Nội dung quyền bình đẳng giữa

các tôn giáo và ý nghĩa của việc

thực hiện quyền bình đẳng giữa

các tôn giáo?

- Trách nhiệm của bản thân trong

việc góp phần thực hiện quyền

bình đẳng này

 Cách thực hiện:

 Khái niệm bình đẳng giữa các

tôn giáo

GV sử dụng phương pháp đàm thoại

kết hợp diễn giải giúp HS tìm hiểu

khái niệm Các câu hỏi :

Theo em, người có đạo có phải là

người có tín ngưỡng không? Vì sao?

Thờ cúng tổ tiên là hiện tượng

tôn giáo hay tín ngưỡng?

Tôn giáo và tín ngưỡng giống

nhau và khác nhau như thế nào?

Tín ngưỡng, tôn giáo có khác với

mê tín dị đoan không? Tại sao phải

chống mê tín dị đoan?

HS trả lời

GV nhận xét, bổ sung và giảng

mở rộng:

Tôn giáo là hình thái ý thức xã

hội gồm những quan niệm dựa

trên cơ sở tin và sùng bái những

lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng

có những lực lượng siêu tự nhiên

quyết định số phận con người, con

người phải phục tùng và tôn thờ

Về mặt tổ chức, tôn giáo hình

thành, phát triển từ tín ngưỡng,

tức niềm tin vào một lực lượng

siêu nhiên nào đó Tín ngưỡng trở

thành tôn giáo đòi hỏi phải có

giáo lí, giáo lễ, giáo luật, giáo

đường, và tất nhiên phải có giáo

dân Việt Nam là nước đa tôn

giáo, các tôn giáo không phân

biệt lớn, nhỏ đều được tự do hoạt

động trong khuôn khổ pháp luật,

bình đẳng trước pháp luật Hiện

nay trong cả nước có tới 20 triệu

tín đồ của 6 tôn giáo lớn là đạo

tôn giáo hợp pháp được pháp luật bảo hộ.

Quyền hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên tinh thần tôn trọng pháp luật, phát huy giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo được Nhà nước đảm bảo Các cơ sở tôn giáo như: chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, trụ sở, các cơ sở đào tạo,

…được pháp luật bảo hộ; nghiêm cấm việc xâm phạm các tài sản đó

c) Ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các tôn giáo

Quyền bình đẳng giữa các tôn giáo là cơ sở, tiền đề quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy tình đoàn kết keo sơn gắn bó nhân dân Việt Nam, tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc ta trong công cuộc xây dựng đất nước

d) Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo

Nhà nước bảo đảm quyền hoạt

động tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.

Nhà nước thừa nhận và bảo

đảm cho công dân có hoặc không có tôn giáo đều được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân.

Đoàn kết đồng bào theo các tôn

giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm

quyền tự do tôn giáo, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật

Trang 10

Phật, Công giáo, Tin lành, Hoà Hảo, Cao Đài và Hồi giáo 20 triệu tín đồ tôn giáo là một tỉ lệ rất đáng kể trong hơn 80 triệu dân cả nước Khoảng 60.000 chức sắc tôn giáo với hơn 30.000 nơi thờ tự

“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Điều 70 của Hiến pháp 1992

 Nội dung và ý nghĩa của quyền bình đẳng giữa các tôn giáo

GV cho HS thảo luận các nội dung:

 Các tôn giáo được Nhà nước công nhận đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật

 Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật được Nhà nước bảo đảm; các cơ sở tôn giáo hợp pháp được pháp luật bảo hộ

HS đại diện phát biểu

GV nhận xét, bổ sung, giảng thêm:

“ Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Điều 70 của Hiến pháp 1992

Đây là nguyên tắc cơ bản trong chính sách tôn giáo của Nhà nước

ta Nguyên tắc này được thể hiện trên ba mặt đó là : bình đẳng về mặt tín ngưỡng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ (tôn giáo và công dân) và bình đẳng về pháp luật

Bình đẳng về tín ngưỡng được hiểu là mọi công dân đều có quyền tự

do lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào

Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ được hiểu là người theo tôn giáo , người không theo tôn giáo hoặc người theo các tôn giáo khác nhau đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 13/04/2023, 07:25

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w