LỜI MỞ ĐẦU BẢN THẢO LẦN 1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP LỜI MỞ ĐẦU 1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam thường tự hào về một đất nước “Rừng vàng, biển bạc” Với trên 3200km bờ biển[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài.
Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam thường tự hào về một đất nước “Rừng vàng,biển bạc” Với trên 3200km bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam và biển chiếm ¾ diện tích
cả nước, biển Việt Nam quả là một tài nguyên có tiềm năng mang lại giá trị lớn chonền kinh tế Song đến nay, đóng góp GDP từ mảng kinh tế màu xanh lam vẫn là con sốkhá khiêm tốn so với các ngành kinh tế khác Theo ước tính 10 năm trở lại đây, quy môkinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân chỉ đạt khoảng 47-48% GDP
cả nước, trong đó GDP của kinh tế thuần biển đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước.Mặc dù Việt Nam được gọi là “quốc gia biển” nhưng các ngành kinh tế biển vẫn chưathật sự phát triển mạnh mẽ như tiềm năng vốn có Sự không cân xứng xuất phát từ hốngăn giữa nhu cầu đầu tư và khả năng đáp ứng nguồn vốn cho các ngành kinh tế biển.Nhu cầu đầu tư của các ngành kinh tế biển hiện nay rất lớn, nhưng một mặt, chưa thuhút được các nguồn lực đầu tư mà chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ Ngân sách Nhà Nướccòn hạn hẹp, mặt khác, nguồn vốn được đầu tư trong tình trạng manh mún, nhỏ lẻ,thiếu tầm nhìn dài hạn Như vậy, vấn đề đặt ra là cần tìm biện pháp thu hút các nguồnlực đầu tư nhằm tạo cầu nối cho tiềm năng và vị thế xứng đáng của các ngành kinh tếbiển Việt Nam hiện nay
Ngày nay, thế giới đang với xu hướng ngày càng khẳng định tầm quan trọng to lớncủa biển và đại dương Vươn ra biển, khai thác đại dương đã trở thành khẩu hiệu hànhđộng mang tính chiến lược của toàn thế giới Việt Nam đang trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế, đã là thành viên của các liên kết kinh tế khu vực ASEAN, AFTA,APEC,WTO Giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với nước ngoài ngày càng sâu rộng, đặcbiệt với sự phát triển của ngoại thương, hệ thống kết cấu hạ tầng và sự phát triển cácngành kinh tế biển của Việt Nam giữ vị trí đặc biệt quan trọng Vùng biển Việt Nam có
vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế, án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng khônghuyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu và Trung CậnĐông với Trung Quốc và Nhật Bản và các nước trong khu vực, đặc biệt là tuyến hànghải đi qua eo biển Malăcca và Xingapo, là một trong những tuyến đường biển có số tầuqua lại nhiều nhất trên thế giới Đối với nước ta, biển Đông là cửa ngõ thông ra thế
Trang 2giới, là nhân tố bảo đảm lợi thế chiến lược trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.Chính vì thế, phát triển một nền kinh tế trên cơ sở khai thác tiềm năng từ biển là chiếnlược đúng đắn mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Trong chiến lược đó, phát triển kinh
tế biển được coi là bước đi quan trọng nhất
Đặc biệt, trong tình hình kinh tế thế giới khó khăn, khai thác tối đa tiềm nănghiện có là chìa khóa để đưa kinh tế biển nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chungtừng bước phục hồi và khởi sắc
Chính vì vậy, sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tại Cục hàng hải Việt
Nam, em lựa chọn đề tài “Định hướng và giải pháp thu hút các nguồn vốn đầu tư nhằm khai thác tối đa tiềm năng phát triển kinh tế biển” làm chuyên đề thực tập tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển và số lượng,chất lượng các nguồn vốn đầu tư khai thác và phát triển kinh tế biển hiện nay, đề tài sẽgiải quyết câu hỏi: Làm thế nào để thu hút các nguồn lực đầu tư thác tiềm năng pháttriển kinh tế biển ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới?
Do vậy đề tài hướng đến lần lượt làm rõ các vấn đề sau đây:
a Trình bày những vấn đề cơ bản về kinh tế biển và tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay Định nghĩa về vốn cho đầu tư phát triển kinh tế biển
b Nghiên cứu thực trạng về vốn cho việc phát triển kinh tế biển, những tồn tại, vướng mắc trong thực tế cần tháo gỡ.
c Đề xuất, phân tích các biện pháp thu hút đối với từng loại vốn cho phát triển kinh tế biển.
1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những giải pháp huy động vốn đầu tư khai thác tiềm năng
Trang 3nguồn vốn cho phát triển kinh tế biển Đặc biệt chú trọng huy động và khai thác nguồnvốn từ nước ngoài.
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi không gian: lĩnh vực kinh tế biển ở Việt Nam
- Phạm vi thời gian: số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài 2005 – 2012, dự kiến tầmnhìn đến năm 2020
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích, đối chiếu so sánh;
4 Cấu trúc của chuyên đề:
Chuyên đề được chia thành 3 chương:
Chương I Tổng quan về nguồn vốn đầu tư trong khai thác tiềm năng kinh tế biển
Chương II Thực trạng vốn cho đầu tư khai thác tiềm năng phát triển kinh tế biển
Chương III Các giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư cho khai thác tiềm năng
phát triển kinh tế biển
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRONG KHAI THÁC TIỀM NĂNG KINH TẾ BIỂN
1.1 KINH TẾ BIỂN VÀ TIỀM NĂNG KINH TẾ BIỂN
1.1.1 Khát quát về biển và kinh tế biển
Trang 4Trái đất chúng ta có tới ¾ là nước và tập trung lại với 4 đại dương lớn là Ấn ĐộDương, Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương cùng với rất nhiềuvùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn
mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên Những vùng đó gọi chung
là biển Tuy chưa phải là nơi con người có thể cư trú được nhưng biển và đại dương lại
là nơi bắt nguồn của sự sống và cũng là nơi có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho sựsống của con người
Theo nghĩa hẹp, kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trênbiển, chủ yếu gồm kinh tế hàng hải (bao gồm vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hảisản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác Dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làmmuối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và Kinh tế đảo
Theo nghĩa rộng thì ngoài các ngành trên, kinh tế biển còn bao gồm các hoạtđộng kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển.Những hoạt động kinh tế này hoặc nhờ vào yếu tố biển, hoặc trực tiếp phục vụ các hoạtđộng kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạtđộng này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải), Công nghiệp chế biếndầu khí, công nghiệp chế biến thuỷ hải sản, cung cấp dịch vụ biển, thông tin liên lạc,nghiên cứu khoa học- công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biểnđiều tra cơ bản về tài nguyên- môi trường biển Như vậy nếu hiểu theo nghĩa rộng Kinh
tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trựctiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền và ven biển
Những năm gần đây vấn đề khai thác biển và đại dương chiếm một vị trí hết sứcquan trọng trong nền kinh tế thế giới Khoa học và công nghệ càng phát triển thì nhucầu về các nguồn nhiên liệu và năng lượng cũng càng lớn Trong khi đó nguồn dự trữtài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt nhanh, đòi hỏi loài người phải hướngmạnh ra khai thác biển và đại dương, nơi còn tiềm ẩn những nguồn tài nguyên rất lớn
có thể đáp ứng lâu dài nhu cầu phát triển của loài người Ngày nay, nhờ biết khai tháctốt các lợi thế và tiềm năng của biển mà nhiều quốc gia có biển đã tạo được nhữngbước phát triển vượt bậc, xác lập và củng cố vững chắc vị trí của mình trong nền kinh
Trang 51.1.2 Tiềm năng của kinh tế biển
Tiềm năng của kinh tế biển là vô cùng đa dạng và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sựnghiệp phát triển của mỗi đất nước, bao gồm:
- Tiềm năng về tài nguyên khoáng sản biển: Trong biển chứa đựng gần như tất cảcác loại tài nguyên khoáng sản đã phát hiện trên đất liền Những loiaj tài nguyên đãđược nghiên cứu nhiều và bắt đầu sử dụng là dầu mỏ, khí thiên nhiên, than, sắt, imerit,rutin, uranium,…Theo đánh giá của Viện nghiên cứu Dầu mỏ Pháp, trữ lượng dầu mỏ
đã thăm dò của tehes giới là 95 tỷ tấn và khí thiên nhiên là 98,5 ngàn tỷ mét khối, trong
đó 26% lượng dầu và 23% lượng khí phân bổ ngoài biển
- Tiềm năng về sinh vật biển: Theo thống kê hiện nay, trong lòng biển có khoảng
18 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật , trong đó dã phát hiện được hơn 400 loài cá
và hơn 100 loài hải sản khác có giá trị kinh tế Diện tích rộng lớn của biển cùng vớiđiều kiện mô trường thuân lợi và các kỹ thuật vi sinh vật ngày càng hiện đại là nhân tốhết sức quan trọng để phát triển ngành nuôi trồng biển, đặc biệt là nuôi trồng ve biểntrong tương lai
- Tiềm năng về vận tải biển:
Không gian biển cũng là mét trong những yếu tố qua trọng cho phát triển Sức sản xuấtngày càng tăng thì biển với tư cách là đường thông thương chủ yếu trên thế giới cũngngày càng có vai trò to lớn trong giao lưu kinh tế Từ lâu nền kinh tế thế giới đã vượtqua giai đoạn kinh tế tự nhiên, hoạt động sản xuất của các nước có liên quan chặt chẽvới nhau quá trình sản xuất luôn gắn kết các yếu tố sản xuất lại với nhau mà các yếu tốnày lại nằm ở các khu vực địa lý khác nhau của thế giới Để phát triển một nên côngnghiệp hiện đại cần phải có một mối quan hệ rộng giữa các nước và giữa các châu lục.Đặc điểm đặc trưng của một nền công nghiệp hiện đại là có sức sản xuất lớn trên mộtđịa bàn tập trung hẹp, nên cần có các tuyến đường vận tải thuận tiện để chuyên chởnguyên vật liệu và các sản phẩm trong khu vực rộng lớn Với sự phát triển ngày càngcao của một nền công nghiệp hiện đại, tập trung và một thị trường tiêu thụ sản phẩmrộng lớn, các khu vực trên thế giới cần phải gắn kết với nhau bằng các tuyến đường
Trang 6giao thông vận tải thuận lợi và liên tục Các khu vực này lại ngăn cách bởi biển cả nêncon đường giao thông thuận tiện và rẻ nhất vẫn là tuyến đường giao thông bằng đườngbiển Vận chuyển hàng hóa và nguyên vật liệu bằng đường biển có tính ưu việt hơn hẳn
so với các phương thức vận chuyển khác: có thể vận chuyển liên tục tới tất cả các nơitrên thế giới vì các biển trên thế giới đều nối liền với nhau, giá cả chi phí vận tải thấp
và thích hợp cho việc vận chuyển các loại hàng hóa cồng kềnh Sự hình thành cácđường thông thương quốc tế trên biển đã có tác động mạnh mẽ tới cục diện địa lý kinh
tế và chính trị của cả thế giới và xu thế toàn cầu hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế hiệnnay Các đường thông thương vòng quanh trái đất xuyên qua Thái Bình Dương, Ên ĐộDương, Đại Tây Dương đã tạo nên nhiều mối liên kết chặt chẽ giữa các khu vực côngnghiệp lớn của thế giới
- Tiềm năng về du lịch biển: cảnh quan ven biển và lòng biển là nguồn tìa nguyênquý để phát triển du lịch và dịch vụ gắn với du lịch, đưa con người đến gần với thế giớithiên nhiên kỳ thú
- Tiềm năng về ngành công nghiệp biển rất đa dạng
Trong lòng biển còn chứa một nguồn năng lượng khổng lổ (có thể nói là vô tận),
đó là các nguồn năng lượng thủy triều, năng lượng sóng, năng lượng dòng chảy, nănglượng nhiệt biển Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu năng lượng mới, nguồn nănglượng thủy triều có thể có khoảng 1 tỷ kW Nguồn năng lượng do chênh lệch nhiêt độkhoảng 2 tỷ kW, Nguồn năng lượng hải lưu là khoảng 5 tỷ kW Có thể nói, đây lànguồn năng lượng dồi dào mà loài người có thể khai thác cho công nghiệp biển
1.1.3 Các yêu cầu để phát triển kinh tế biển
Phát triển kinh tế biển phải đảm bảo sự cân đối trong tổng thể kinh tế cả nước,trong quan hệ với các vùng và trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thếgiới
Trang 7Phát triển kinh tế biển nhằm tăng cường sức mạnh của quốc gia, bảo vệ độc lậpchủ quyền và toàn ven lãnh thổ của đất nước, phục vụ cho đời sống của nhân dân, tạocho đất nước một thế đứng vững mạnh cả về kinh tế và chính trị.
Huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, mọi thành phần kinh tế để xâydựng đô thị và nông thôn vùng biển, vùng ven biển và hải đảo cùng phát triển
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế biển hướng mạnh vào xuấtkhẩu, dựa trên những tiến bộ về khoa học và công nghệ làm động lực, vừa thúc đẩynghiên cứu, quản lý, khai thác tiềm năng biển có hiệu quả cao, vừa tái tạo tài nguyênbiển, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực để phát triển bền vững
Lợi ích kinh tế biển không chỉ xuất phát từ một địa phương mà phải đặt trongmột chương trình phát triển tổng hợp thống nhất của cả miền, cả vùng Phát triển kinh
tế biển phải chú trọng ngay từ đầu về sự tiến bộ của xã hội vùng biển
Cần phải xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội vùngbiển, hải đảo và ven biển phải gắn kết với yêu cầu phát triển kinh tế, bảo vệ và phòngthủ đất nước
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
- Điều kiện tự nhiên: không thể nào phủ nhận vai trò của tự nhiên trong phát triển
kinh tế biển vì đây chính là đối tượng mà kinh tế biển hướng vào Phát triển kinh tếbiển là dựa trên khai thác lợi thế về thiên nhiên, cụ thể là tài nguyên từ biển Sự phongphú và khả năng khai thác tài nguyên biển phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên,đặc điểm khí hậu Sự biến đổi đột ngột của khí hậu, những thay đổi bất ngờ về điềukiện tự nhiên mang những tác động mang tính sống còn đến tài nguyên biển và nềnkinh tế biển
- Vốn đầu tư: là điều kiện cần hàng đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị khoa
hoạc công nghệ phục vụ cho phát triển kinh tế biển Quy mô nguồn vốn mang tínhquyết định đến quy mô, năng suất và trình độ phát triển của nền kinh tế biển Trong các
Trang 8nguồn vốn cho phát triển kinh tế biển, vốn từ ngân sách nhà nước thường đóng vai tròchủ đạo.
- Nguồn nhân lực: có vị trí quan trọng trong tất cả các lĩnh vực Trong lĩnh vực
kinh tế biển, vị trí ấy lại càng đặc biệt to lớn Để khai thác tiềm năng phát triển kinh tếbiển không những cần một đội ngũ nhân lực nhiều về số lượng mà còn phải có và trình
độ khoa học công nghệ đáp ứng được nhu cầu khai thác, chế biến, quản lý và bảo vệnguồn tài nguyên biển
- Tình hình chính trị - xã hội và cơ chế chính sách của Nhà nước: cũng như với
các lĩnh vực kinh tế khác, tính ổn định chính trị và mức độ hỗ trợ, quan tâm của cơ chếchính sách hỗ trợ đang thực hiện có mối quan hệ thuận chiều với sự phát triển kinh tếbiển
1.2 VỊ TRÍ CỦA KINH TẾ BIỂN TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ
1.2.1 Các lĩnh vực kinh tế biển
- Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ, hải sản:
- Kinh tế hàng hải
- Công nghiệp tàu biển
- Công nghiệp dầu khí
- Du lịch biển
Biều đồ 1.1 Ước tính cơ cấu đóng góp của các ngành kinh tế biển trên thế giới
Trang 9Nguồn: Internet
1.2.2 Tiềm năng cần tập trung khai thác nhằm phát triển kinh tế biển:
- Đề phát triển kinh tế biển không thể khai thác các tiềm năng một cách
riêng rẽ, không có định hướng mà cần huy động và phát huy tốt tất cả các nguồn lực để
khai thác tối đa mọi tiềm năng và lợi thế nhiều mặt của biển Trong khai thác tiềm năng
kinh tế biển, cần kết hợp tiểm năng từ cả kinh tế ven biển, kinh tế trên biển và kinh tếhải đảo theo một chương trình liên kết có hiệu quả và hiệu lực cao nhằm tạo bước
"nhảy vọt" trong phát triển kinh tế biển
- Đặc thù của tài nguyên kinh tế biển là gắn bó sâu sắc với an ninh quốc
phòng và môi trường sinh thái Do vậy, quá trình khai thác nguồn lợi này cần kết hợpchặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Kết hợpchặt chẽ giữa phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng và bảo vệ tài nguyên môitrường sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng biển, ven biển và các hảiđảo
- Cần tập trung khai thác các tiềm năng kinh tế biển dựa trên mục tiêu phát
triển tổng quát của phát triển kinh tế biển là đảm bảo ổn định và an toàn lãnh hải quốcgia, xây dựng vùng ven biển thành vùng kinh tế phát triển năng động, thúc đẩy các
Trang 10vùng trong cả nước phát triển với tốc độ nhanh và tạo môi trường hấp dẫn để thu hútđầu tư nước ngoài.
1.3 CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
1.3.1 Khái niệm vốn cho phát triển kinh tế biển
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, vốn cho phát triển kinh tế biển là toàn bộ nguồn lựcđược đưa vào phục vụ cho hoạt động kinh tế biển
Hiểu theo nghĩa hẹp, vốn cho phát triển kinh tế biển là biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ tài sản và vốn bằng tiền mà mọi thành phần kinh tế đầu tư cho các ngành đểphát triển kinh tế biển Trong nội dung chuyên đề tiếp cận vốn theo góc độ này
1.3.2 Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế biển
Vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng và không thể thiếu được trong đầu tưphát triển kinh tế biển Vai trò của vốn còn thể hiện ở chỗ, vốn tác động đến qui mô,tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế biển rất lớn:
- Việc đầu tư vốn vào ngành kinh tế biển cách hợp lý, giúp đầu ra của các hoạtđộng này có thêm nhiều cơ hội phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao vị thếcạnh tranh
- Đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng góp phần cải thiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, sẽtạo nền tảng cho việc pháp triển kinh tế biển một cách vững chắc, thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội
- Ngoài ra, vốn còn là điều kiện không thể thiếu trong việc tạo cơ hội việc làm rấtlớn cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
- Vốn còn góp phần thúc đẩy phát triển mạnh và đa dạng hóa các ngành côngnghiệp biển
1.3.3 Nguồn vốn đầu tư cho kinh tế biển
Trang 111.3.3.1.Nguồn vốn ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảngthời gian nhất định, thường là một năm
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơbản của nhà nước
Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nướchuy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau
Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trìnhtạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham giaphân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nướctrên cơ sở luật định.Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chínhquốc gia
1.3.3.2.Nguồn vốn ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức( thường gọi tắt là ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản cho vayvới những điều kiện ưu đãi hoặc hỗn hợp các khoản trên được cung cấp bởi các nhànước, các tổ chức kinh tế,tài chính quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợcho phát triển kinh tế - xã hội ở những nước đang và chậm phát triển
Mặc dù hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về ODA trên thế giới, nhưng nhìnchung chúng đều thống nhất và xoay quanh những đặc trưng cơ bản :
- ODA thể hiện mối quan hệ và hoạt động hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữaquốc gia này với quốc gia khác
- ODA mang tính chính thức giữa các chính phủ hoặc giữa chính phủ với các tổchức liên chính phủ
- ODA mang tính chất hỗ trợ : Viện trợ không hoàn lại ở một tỷ lệ nhất định vàcho vay ưu đãi,với các điều kiện ưu đãi có thể là : lãi suất thấp ( dưới 3% /năm); thời gian ân hạn dài ; thời gian vay dài ( 30 – 40 năm )
Trang 121.3.3.4.2.Vốn tư nhân
Vốn tư nhân là vốn cổ đông, cổ phần góp vào đầu tư một cảng biển mới để khaithác , cho thuê hoặc chuyển giao lại cho nhà đầu tư khác theo dạng cổ phiếu cổ phần.Khi các doanh nghiệp cảng muốn mở rộng sản xuất nhưng thiếu vốn thì sẽ huy độngthem các nguồn vốn tư nhân để góp phần vào đầu tư khai thác cảng biển để cùng có lợinhuận
Trang 131.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn cho phát triển kinh
tế biển.
- Hoạt động khai thác và sử dụng biển đảo
- Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công
- Nguồn nhân lực
- Môi trường đầu tư
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ BIỂN
1.4.1.Singapore
Nằm ở một vị trí và địa thế lý tưởng, nhắc đến Singapore, người ta nghĩ đếnhình ảnh bức tượng nhân ngư cũng như một nền kinh tế biển hiện đại với một mạnglưới vận chuyển bằng đường biển phát triển nhất khu vực Hải cảng ở Singapore đặcbiệt hấp dẫn vì nó có một hệ thống cơ sở hạ tầng rất hoàn thiện và hệ thống giao thôngliên lạc hiện đại vào loại bậc nhất thế giới
Với một tầm nhìn chiến lược, ngay từ những năm đầu của thập niên 80 của thế
kỷ 20, Singapore đã tiến hành đầu tư cho hạ tầng một cách đồng bộ để chuẩn bị cho sựphát triển của cảng biển và dịch vụ logistics sau này Để giải quyết bài toán về nguồnvốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế biển, chính phủ Singapore đã phát hànhtrái phiếu chính phủ để huy động nguồn vốn Năm 2001, nguồn vốn huy động được từtrái phiếu chính phủ lên đến 92 tỷ đô la Singapore.Ngoài ra, Chính phủ cũng đưa ramột chương trình tiết kiệm bắt buộc đối với tất cả người lao động Singapore do quỹ tiếtkiệm Trung ương Singapore quản lý (quỹ CPF) Quỹ này hoạt động dựa trên cơ sởđược tài trợ toàn phần Sau khi nghỉ hưu, người dân Singapore được hưởng lợi miễnthuế dựa trên những đóng góp trong quá khứ cộng với lãi suất
Có được những thành tựu như vậy, Chính phủ Singapore có rất nhiều biện pháp,chính sách phát triển kinh tế biển, trong đó chủ yếu phải kể đến chủ trương thu hút đầu
Trang 14tư nước ngoài để khai thác lợi thế từ biển Có thể nói Singapore là quốc gia rất thành công trong kinh tế biển nói chung và lĩnh vực phát triển cảng biển và dịch vụ logistics
nói riêng, thành công đó có được là nhờ:
- Biết tận dụng lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên để xây dựng một cách khoa học, có quy hoạch cơ sở hạ tầng nền kinh tế biển
- Chuẩn bị tốt hệ thống hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống cảng biển trước một bước để đón đầu sự phát triển của dịch vụ logistics.
- Ứng dụng triệt để các công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý và khai thác tiềm năng kinh tế biển.
- Có những chính sách hợp lý (cắt giảm thuế, ưu đãi về thuế quan) nhằm thu hút các nhà đầu tư và nguồn hàng trung chuyển trong khu vực
- Giải quyết tốt bài tóan về vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông qua trái phiếu chính phủ và tiết kiệm trong nước.
1.4.3.Trung Quốc
Nói đến bức tranh kinh tế của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa, người
ta không thể không nói đến các đặc khu kinh tế (ĐKKT) ven biển Đây là hạt nhân cho
sự phát triển thần kỳ của vùng ven biển miền Đông, xét về tất cả các mặt như côngnghiệp hóa và hiện đại hóa, hội nhập và đầu tư, tạo công ăn việc làm và chiếm lĩnh thịtrường thế giới
Từ năm 1980, Trung Quốc triển khai quá trình cải cách kinh tế theo hướng mởcửa, khởi đầu bằng việc xây dựng những ĐKKT mở Trung Quốc đã chọn vùng venbiển là vùng có nhiều thuận lợi hơn để đi đầu trong chính sách mở cửa, nhằm phát huylợi thế so sánh của vùng này, đẩy nhanh phát triển kinh tế, đồng thời để tìm con đườngphát triển cho cả nước Vùng ven biển có vị trí thuận lợi trong giao lưu quốc tế, có sứclao động dồi dào, tài nguyên phong phú; có truyền thống và kinh nghiệm kinh doanhbuôn bán lâu đời Vùng ven biển Đông Nam, nhất là hai tỉnh Quảng Đông và PhúcKiến còn là quê hương của hàng triệu Hoa Kiều ở nước ngoài Nền kinh tế của vùngven biển phát triển sẽ tác động kéo theo sự phát triển của miền Trung và miền Tây.Điều này mang ý nghĩa chiến lược to lớn đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc
Trang 15Với những bước đi thận trọng, với phương châm “dò đá qua sông”, sau chuyến
“du Nam” của ông Đặng Tiểu Bình từ 7/1979, Trung Quốc đã cho hai tỉnh QuảngĐông và Phúc Kiến được thử nghiệm một số chính sách đặc thù tạo tiềm lực phát triểncho các vùng kinh tế ven biển độc đáo và linh hoạt như:
- Thực hiện khoán định mức tài chính và thu nhập ngoại tệ;
- Điều tiết thích hợp thị trường vật tư, thương nghiệp dưới sự chỉ đạo kế hoạchcủa Nhà nước;
- Quản lý kế hoạch, vật giá tiền lương lao động và hoạt động kinh tế đối ngoạicủa doanh nghiệp, mở rộng quyền hạn của địa phương;
- Thử làm các vùng thương mại đặc biệt, tích cực thu hút vốn và công nghệ,kinh nghiệm quản lý của người nước ngoài và Hoa Kiều, mở rộng chế biến xuất khẩu.Kết quả thu được rất khả quan; thu hút FDI tăng mạnh, tốc độ phát triển cao hơn nhiều
so với các tỉnh khác, đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt
Do phần lớn các cảng biển của Trung Quốc đều nằm trong các khu kinh tế đặcbiệt (khu kinh tế mở, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu bảo thuế) nên chính phủ vàcác ban quản lý các khu kinh tế đã lập ra các công ty đầu tư phát triển hạ tầng 100%vốn nhà nước hoặc công ty cổ phần do Nhà nước nắm quyền chi phối để hợp tác đầu tưxây dựng kết cấu hạ tầng rồi cho thuê để thu hồi vốn, các công ty này có thể thế chấpđất cho ngân hàng để vay vốn đầu tư Như vậy, Nhà nước không phải đầu tư thêm vốn
để xây dựng kết cấu hạ tầng nhưng vẫn thu hút các nhà đầu tư, đây là mô hình kháthành công trong cơ chế thị trường, không tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước Năm
2005, lượng vốn đầu tư cho hệ thống cảng biển ở Trung Quốc xấp xỉ 16,31 tỷ USD vàkết quả là tổng năng lực thông qua tại các cảng biển Trung Quốc đã tăng thêm 190triệu tấn Tính đến hết năm 2007, lượng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạtđộng logistics đã lên đến gần 160 tỷ USD, tăng 18,8% so với năm 2006 [VietnamShipper, số tháng 06/2008] Để phát triển hệ thống cảng biển, Trung Quốc đã có nhữngchính sách mở cửa trong đầu tư và xây dựng cảng, khuyến khích các doanh nghiệp(trong và ngòai nước) có năng lực tham gia đầu tư vào lĩnh vực cảng biển Ngoài việc
Trang 16tăng lượng vốn do Nhà nước đầu tư, khuyến khích và ưu đãi nước ngoài đầu tư, TrungQuốc còn sử dụng biện pháp vừa xây dựng và khai thác, vừa bán và cho thuê để thu hồivốn rồi lại tiếp tục khai thác, phát triển tiếp.
Bài học từ Trung Quốc:
- Phát triển các khu kinh tế tự do ở cùng ven biển một cách năng động, nhiềusáng tạo
- Thành lập các công ty đầu tư phát triển hạ tầng (vốn nhà nước) nhằm thuậntiện cho việc huy động vốn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Ngoài việc tăng lượngvốn do Nhà nước đầu tư, khuyến khích và ưu đãi nước ngoài đầu tư, Trung Quốc còn
sử dụng biện pháp vừa xây dựng và khai thác, vừa bán và cho thuê để thu hồi vốn rồilại tiếp tục khai thác, phát triển tiếp cũng là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về huyđộng vốn đàu tư phát triển kinh tế biển
1.4.4.Bài học cho Việt Nam
Thứ nhất, xác định rõ chiến lược mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp sử dụngbền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường, cùng với đẩy mạnh các hoạt động kinh tếbiển, gắn với bảo vệ quốc phòng an ninh chủ quyền biển đảo của nước ta
Thứ hai, có cơ chế, chính sách đãi ngộ và lựa chọn, nắm bắt kịp cơ hội
Thứ ba, tận dụng nguồn vốn trong nước, sử dụng một cách khoa học có hiệu quảThứ tư, luôn tạo ra những sự kiện để có điều kiện tiếp cận, quảng bá mời gọiđầu tư để phát triển kinh tế biển
Thứ năm, cần tăng cường phối kết hợp chặt chẽ giữa các nước lân cận nâng caohiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên biển, giảm thiểu các xung đột lợi ích
Trang 17CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỐN CHO ĐẦU TƯ KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế biển
2.1.2.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng và đầu tư phát triển kinh tế biển
2.1.2.1.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác tiềm năng kinh tế biển
Cơ sở hạ tầng kinh tế biển bao gồm kết cấu kiến trúc vật thể trên bờ và dướinước được đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động quản lý và kinh doanhkhai thác biển: kho bãi, cầu cảng, nhà xưởng, vùng nước trứơc cầu cảng, vùng neo đậu,luồng ra vào cảng, tàu đánh bắt thủy sản, các công trình phục vụ cho công tác khai thácnguồn lợi từ biển,…
- Cơ sở hạ tầng khai thác và nuôi trồng thủy sản
Cảng cá, bến cá: Hiện nay cả nước có 60 cảng cá, bến cá là nơi thường xuyên
neo đậu của tàu thuyền khai thác hải sản Nhiều cảng cá đã được đầu tư xây dựng cầucảng và kè bờ Tổng chiều dài cảng cá gần 1.200km Theo thống kê, tổng sản lượng hảisản thông qua các cảng, bến cá là 1.923.700 tấn/năm Trong đó, sản lượng hải sảnthông qua các cảng cá là 1.619.299 tấn/năm, bến cá là 304.500 tấn/năm Các cảng cá cólượng hải sản lớn như cảng cá Tắc Cậu (Kiên Giang) 13.700 tấn/tháng, Cát Lở(VũngTàu) 12.000 tấn/tháng, Tân Phước(Vũng Tàu) 7.500 tấn/tháng, Mỹ Tho(Tiền Giang)4.500 tấn/tháng, Gành Hào (Bạc Liêu) 4.500 tấn/tháng
Sản xuất giống: Nhìn chung bước đầu đáp ứng được nhu cầu người nuôi Đến
năm 2010, cả nước có 1.106 trại sản xuất thủy sản nước ngọt, sản xuất được 14,078 tỷcon giống các loại; 453 trại sản xuất giống thủy sản nước lợ, mặn sản xuất đượckhoảng 11.945,6 triệu con Tuy nhiên các cơ sở sản xuất hình thành tự phát chưa cóquy hoạch, quy chuẩn về chất lượng
- Cơ sở hạ tầng du lịch biển:
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, đặc biệt là từ năm 2000, các khu du lịch và nghỉdưỡng cũng như các địa điểm giải trí biển đã được mở rộng đáng kể.Các khu du lịch
Trang 18đã được hình thành và phát triển gắn với hệ thống đô thị, khu dân cư nông thôn khuvực ven biển Trong tổng số 43 đô thị ven biển của cả nước, nhiều đô thị có tài nguyêncảnh quan du lịch hấp dẫn như Hạ Long, Đồ Sơn, Cửa Lò, Hội An, Đà Nẵng, NhaTrang,…đã được bảo vệ và khai thác có hiệu quả phục vụ phát triển du lịch, đưa hoạtđộng du lịch, nghỉ mát trở thành động lực quan trọng phát triển đô thị Một số đô thị trởthành trung tâm chuyên ngành của vùng lãnh thổ trong đó các đô thị đặc biệt và đô thịloại 1 đều là các trung tâm vùng du lịch Trong giai đoạn 2005-2012, tại các điểm dulịch này, nhiều nhà đầu tư đã phát triển các khu nghỉ dưỡng, resort chất lượng cao.Nhờ đó khu vực ven biển hàng năm thu hút khoảng 60-80% lượng khách du lịch của cảnước, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch biển có sức cạnh tranh caotrong khu vực và quốc tế Tuy nhiên, sự phát triển cơ sở hạ tầng du lịch chưa gắn liềnvới dịch vụ hàng không và mạng lưới đường bộ nên có phần hạn chế tiềm năng của cáckhu du lịch này., Một số tài nguyên du lịch biển như Cát Bà, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế -
Đà Nẵng, Khánh Hòa,…đang có hiện tượng suy thoái do thiếu hiệu quả trong đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng khai thác và tôn tạo
- Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đường biển:
Tính đến nay, ngành Hàng hải Việt Nam đã xây dựng được 119 cảng biển với tổngchiều dài tuyến mép bến là 25,617 km (tăng 29 cảng với 2,617 km so với năm 2005),đầu tư xây dựng 10 khu vực chuyển tải, tổng diện tích đất dành cho kho bãi và hoạtđộng của cảng biển trên 10 triệu m vuông Bước đầu hiện đại hoá các phương tiện xếp
dỡ, quy hoạch và sắp xếp lại kho bãi, xây dựng và nâng cấp thêm các cầu cảng
Hệ thống báo hiệu hàng hải gồm 23 tuyến luồng dài khoảng 1000 km và có đènbiển quốc gia Hiện tại số đèn biển của nước ta còn quá ít, nhiều đoạn bờ bố trí thưathớt như vùng ven bờ biển từ Hà Nam đến Thanh Hoá, từ Quảng Ngãi đến Bình Định,
từ Khánh Hoà đến Phú Yên Chỉ số đèn biển ở Việt Nam là 3 đèn/100 hải lý như vậy làrất thấp và không đảm bảo yêu cầu hàng hải, trong khi ở Nhật là 28 đèn/100 hải lý
Cơ giới hoá công nghệ bốc xếp còn kém, một số cảng đã được trang bị bán tự động,song mức độ tự động hoá vi tính chưa đồng bộ, tổ chức và trang bị xếp dỡ tuyến sauphần lớn còn lạc hậu, năng xuất làm hàng thấp, giải phóng kho bãi chậm Việc thay thế
bổ sung nhất là các thiết bị chuyên dùng có tính năng hiện đại còn chậm do thiếu vốn
Trang 19Hệ thống nhà xưởng bảo trì, sửa chữa, trình độ tay nghề, năng lực quản lý điều hànhcòn hạn chế.
Mặt bằng một số cảng chưa hợp lý (khu đất cảng Sài Gòn, cảng sông Hàn chật hẹp,bãi hậu phương một số bãi còn xa bến), nhiều cảng nằm trong hoặc cận thành phố, khutập trung dân cư Hệ thống giao thông vận tải hậu phương của các cảng biển cũng rấtlạc hậu,chưa đồng bộ, không tương xứng với yêu cầu thông qua cảng trong tình hìnhhiện nay.Một số cảng lớn không có đường sắt nối mạng quốc gia hoặc nằm ngay trongtrung tâm thành phố, gây ách tắc giao thông và không an toàn cho vận tải Tại cảngCái Lân, tuyến đường sắt tiếp nối cảng chưa kết nối được; tuyến đường nội bộ duy nhất– quốc lộ 18 mới được nâng cấp Duy nhất Quy cảng Hải Phòng có tuyến đường sắt vàquốc lộ 5 là cảng có hệ thống tuyến đường giao thông vận tải địa phương khả quan hơn
cả tuy nhiên, tần số hoạt động cao và mật đọ của các xe chở container trên tuyếnđường này đã gây nên tình trạng xuông cấp nghiêm trọng của tuyến đường này Mạnglưới giao thông đường sắt, đường bộ rút hàng ách tắc Một số cảng chỉ có đường bộđộc đạo như cảng Sài Gòn, Nhơn, Nha Trang…
2.1.2.1.2 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế biển
Bảng 2.1 : Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế biển
Nguồn: Cục Hàng hải Việt Nam
Những năm qua, đầu tư xây dựng và nâng cấp hạ tầng cơ sở cho việc khai tháctiềm năng to lớn từ biển không ngừng được Nhà nước quan tâm, không ngừng tăng qua
Trang 20các năm Đặc biệt chú trọng việc đầu tư hệ thống cảng biển Một số bến cảng của Chùa
Vẽ (Hải Phòng), cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), Tân Cảng, VICT, Bến Nghé, Tân Thuận(TP Hồ Chí Minh) đã trang bị một số phương tiện thiết bị xếp dỡ hiện đại, chuyêndụng container
2.1.2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
- Đóng góp của kinh tế biển trong GDP:
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2000 – 2008, kinh tế biểnđóng góp khoảng 47% - 48% GDP, năm 2010 mặc dù các lĩnh vực kinh tế khác gặpkhó khăn thì kinh tế biển vẫn đảm bảo tăng trưởng khá với 49%, ổn định ở mức nàycho đến nay và không có bước nhảy vọt đáng kể
Bảng 2.2: Đóng góp của kinh tế biển trong GDP của cả nước
Trang 21- Quy mô kinh tế biển:
Tính trung bình trên 1 km2 biển, quy mô kinh tế biển của chúng ta mới chỉ đạt bằng 1/20 của Trung Quốc; 1/94 của Nhật Bản; 1/7 của Hàn Quốc và 1/20 kinh tế biển của thế giới
Quy mô kinh tế biển Việt Nam trung bình chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước 1.300 tỷ USD, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD
Bảng 2.3 Quy mô sản lượng kinh tế biển Việt Nam và thế giới
Đơn vị lãnh thổ Quy mô (tỷ USD)
Trang 222.1.2.3 Quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế biển Việt Nam
Nghị quyết Trung ương 4 Đại hội X của Đảng xác định kinh tế biển nước ta baogồm cả cả du lịch biển, cảng biển, hoạt động cảng, hàng hải quốc tế, khai thác hải sản,khai thác tài nguyên biển Tuy nhiên, các lĩnh vực trên hiện vẫn chia cắt ra nhiều bộ,ngành quản lý chưa phối hợp với nhau nhịp nhàng theo một định hướng chung Nhưvậy, vai trò của một “nhạc trưởng” để chỉ huy nhịp nhàng mảng kinh tế màu xanh lamhiện đang bỏ trống Trướcđây, Bộ Thương mại phải đảm trách kinh tế biển, hiện nay
Bộ Thương mại đã sáp nhập với Bộ Cộng nghiệp thành Bộ Công Thương thì tính nănghoạt động kinh tế biển bị lu mờ và chuyển giao phần lớn cho Tổng cục Biển và Hải đảoViệt Nam thuộc Bộ Tài nguyên - Môi trường Muốn khai thác hiệu quả tiềm năng kinh
tế biển trước hết phải bắt đầu từ công tác tổ chức, nhiệm vụ này đòi hỏi lập một Bộkinh tế biển xứng tầm với vai trò biển Đông - tương lai, không gian sống, cửa ngõtương lai của dân tộc ta
2.1.2.5 Về nguồn nhân lực
Điểm yếu lớn đối với nền kinh tế biển Việt Nam là yếu và thiếu nguồn nhân lực
có tay nghề và kỹ năng đang thiếu và yếu so với các nước trong khu vực Chúng ta xemmột ví dụ đối với ngành kinh tế hàng hải (vận tải biển, khai thác cảng và những dịch vụliên quan đến kinh tế hàng hải) Theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam thì đếngiữa năm 2011 đội tàu biển Việt Nam gồm 1.689 tàu với tổng trọng tải trên 7,5 triệuDWT, tổng dung tích gần 4,4 triệu GT; tổng số thuyền viên hiện có gần 41,4 nghìnngười, trong đó có 2.956 thuyền trưởng, 2.523 máy trưởng các hạng trong độ tuổi laođộng Nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành này được cung cấp bởi Trường Đại họcHàng hải Việt Nam (tên trước đây là Trường Đại học Hàng hải Hải Phòng được thànhlập trên cơ sở của trường Sơ cấp Lái tàu, Máy tàu thủy thành lập năm 1956), cáctrường cao đẳng hàng hải và mỗi năm đáp ứng khoảng 70% lượng sĩ quan hàng hải vàthuyền viên cho đội tàu (kể cả xuất khẩu) và một phần lực lượng quản lý, khai thác cáccảng biển, đóng tàu biển và các ngành dịch vụ khác của kinh tế hàng hải Tuy nhiên, sĩquan và thuyền viên vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chuyên môn và ngoại ngữ, độingũ quản lý khai thác hệ thống cảng biển thì trình độ lẫn kinh nghiệm chưa ngang tầm
Trang 23quốc tế, nên các cảng hoạt động năng suất thấp, không đủ sức cạnh tranh với nhữngcảng trong khu vực và trên thế giới
Tình trạng cũng tương tự đối với các ngành khác như công nghiệp tàu thủy, khaithác dầu khí trên biển, công nghệ lọc hóa dầu, du lịch biển…
Công tác đào tạo nguồn nhân lực biển vẫn còn nhiều hạn chế, các ngành nghề,quy mô đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến kinh tế biển còn rất hạn chế Hệ thốngcác trường ĐH trong nước chỉ có một số chuyên ngành đào tạo về lĩnh vực này như
ĐH Thủy lợi đào tạo khoảng 70100 sinh viên/năm Khoa Kỹ thuật bờ biển ĐH Mỏ Địa chất cũng chỉ đào tạo các kỹ sư khai thác dầu khí Các trường ĐH KHTN thuộcĐHQG HN và TP.HCM tham gia đào tạo cán bộ khí tượng thủy văn nhưng số lượngkhông lớn
-2.1.3 Thực trạng về tiềm năng phát triển kinh tế biển
2.1.3.1 Ngành thủy hải sản
Vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta trữ lượng hải sản dao độngtrong khoảng 3,2-4,2 triệu tấn/năm với khả năng khai thác bền vững 1,4-1,8 triệutấn; không kể trữ lượng cá đại dương di cư và sinh vật đáy vùng triều Trong đó, cánổi nhỏ có trữ lượng 1,74 triệu tấn, cá đáy 2,14 triệu tấn, cá nổi đại dương 0,3 triệutấn Nhưng khả năng khai thác đạt tương ứng 0,69 triệu tấn; 0,86 triệu tấn, 0,12triệu tấn Chúng tập trung trong 15 bãi cá lớn, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven
bờ và 3 bãi cá ở ngoài khơi Nhưng trữ lượng cá có chiều hướng tăng dần theo sựgiảm dần của Vĩ độ (tức tăng dần từ Bắc vào Nam) Trong tổng trữ lượng cá ởvùng Vịnh Bắc Bột đạt 681.166 tấn, vùng biển miền Trung 606.399 tấn, ĐôngNam Bộ 2.075.889 tấn, nhưng ở vùng Tây Nam Bộ 506.679 tấn, cá nổi đại dương300.000 tấn
Xét theo nhóm cá có sự khác nhau theo vùng địa lý Nhóm cá nổi nhỏ tậptrung nhiều ở khu vực biển miền Trung (chiếm 82,5%) và Vịnh Bắc Bộ (57,3%),nhưng càng xuống thấp Vĩ độ thì tỷ lệ nhóm cá nổi nhỏ có xu hướng giảm
Trang 24Bảng 2.4 Nguồn lợi về loài cá biển Việt Nam
300.00 0
120.00 0
100
3
855.88 5
Cá nổiđại dương
(300.000 )
(120.000 )
3
1.669.98 5
100,0
Nguồn: Trung tâm Tin học thuỷ sản (2008)
Trong khoảng thời gian 20 năm qua, nghề cá của nước ta bao gồm cả đánhbắt và nuôi trồng đều có xu hướng liên tục tăng cả đánh bắt và nuôi trồng Theo sốliệu thống kê, đến năm 2007, cả nước đã có 21.130 tàu đánh bắt xa bờ (tăng 593chiếc so với năm 2005) với tổng công suất là 3.091,6x103CV (tăng 290,5x103 CV so
Trang 25thể năm 1981 sản lượng là gần 420.000 tấn, năm 2007 là 1.422,3x103 tấn (tăng54,8x103 tấn so với năm 2005 và 347,0x103 tấn so với năm 2000) Giá trị khaithác hải sản đã đạt dược khoảng trên 28 ngàn tỷ đồng (tăng 5,5 ngàn tỷ so với năm
2005 và 13 ngàn tỷ so với năm 2001)
Về nuôi trồng, bên cạnh đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản cũng có nhiềutiềm năng và lợi thế Tính trên phạm vi cả nước, diện tích có khả năng nuôi trồng hảisản trên biển gồm hơn 400.000 ha vùng vịnh và đầm phá; nhiều vùng biển có điềukiện phát triển như Quảng Ninh - Hải Phòng hơn 200.000 ha, khu vực ven biển miềntrung từ Thừa Thiên - Huế đến Bà Rịa - Vũng Tàu hơn 41.000 ha, khu vực Ðông vàTây Nam Bộ có hơn 62.000 ha, vịnh Văn Phong tỉnh Khánh Hòa 20.000 ha Giốngloài thủy sản nuôi phong phú, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm, cá song, cá giò, cácam, cá hồng, cá đù đỏ, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư, nuôi trai lấy ngọc, nuôi ngao,nghêu, hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô Từ năm 1986 đến nay, diện tích
và sản lượng nuôi trồng hải sản nược lợ, mặn liên tục tăng lên Các hình thức vàchủng loại nuôi trồng cũng trở nên đa dạng hơn (nuôi tôm, cua, cá trong đầm; tronglồng, bè - đối với một số cá đặc sản và tôm hùm; nuôi các lạo thân mềm như ốchương, vẹm xanh, tu hài, ngao, v.v.) Phương thức nuôi cũng càng ngày càng hiện đạihơn: từ nuôi quảng canh sang thâm canh và nuôi công nghiệp Do đó, các sản phẩmđạt chất lượng cao hơn và được xuất khẩu rộng rãi hơn thông qua chế biến
Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng này còn chưa gắn với việc phát triển bềnvững nguồn lợi thủy hải sản, giữa năng suất khai thác với sản lượng khai thác có mốitương quan nghịch
2.1.3.2 Ngành du lịch biển
Dọc bờ biển và các hải đảo, nhiều nơi có tiềm năng bảo tồn thiên nhiên, và
có hơn 125 bãi biển có thể phát triển du lịch, trong đó có trên 20 bãi biển đạt quy mô
và tiêu chuẩn quốc tế như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đố Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, VũngTàu, Phú Quốc, dọc bờ biển có các di tích lịch sử văn hóa như cố đô Huế, phố cổHội An, Tháp Chàm, Các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết nhau tạo thành mộtquần thể du lịch hiếm có trên thế giới như Vinh Hạ Long Dọc ven biển hoặc nằmcách biển không xa còn có các trung tâm thương mại, các thành phố du lịch như HạLong, Hải Phòng, Đà Năng, Nha Trang, Vũng Tàu,
Du lịch và giải trí biển là một lĩnh vực hoạt động kinh tế không mới ở nước
ta Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm trở lại đây, đặc biệt từ năm 2000, du lịch và nghỉdưỡng cũng như giải trí biển đã được mở rộng đáng kể Hiện nay, nước ta có nhiềukhu nghỉ dưỡng, trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằmtrên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á, như: Vũng Tàu, Phan Thiết, Nha Trang, Đà
Trang 26Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh Một số loại hình du lịch biển mới cùng đãđược dưa vào nước ta như lướt ván, thuyền buồm, v.v Song, tắm biển vẫn là hìnhthức phổ biến nhất, bởi vì dọc theo chiều dài bờ biển nước ta ở đâu cũng có bãi cát
từ bãi Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang)
Theo số liệu thống kê giai đoạn 2000 - 2012, lượng khách du lịch quốc tế đếncác tỉnh vùng ven biển luôn chiếm từ 71-74% tổng lượng khách quốc tế đặt chân tớicác địa phương trong cả nước Năm 2011, các tỉnh ven biển của Việt Nam đã thu hútđược 10.860.000 lượt khách quốc tế Đối với khách du lịch nội địa, du lịch biển hằngnăm cũng thu hút được từ 52-57% lượt du khách trên toàn quốc Năm 2012, đảo ngọcbiển xanh của chúng ta đã đón được 45,1 triệu lượt, chiếm 57% tổng lượng khách nộiđịa toàn quốc
Cùng với số lượt khách, doanh thu du lịch biển hiện cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu trongtổng số doanh thu toàn ngành (Năm 2011 chiếm 60,15% tổng thu nhập ngành du lịch
cả nước) Tốc độ trăng trưởng bình quân thời kỳ 2000-2012 đạt xấp xỉ 23,7%/năm.Những con số trên đã nói lên trọn vẹn vai trò quan trọng của khai thác du lịch biển đảo
- trong bức tranh tổng thể đa sắc mầu của du lịch Việt Nam
2.1.3.3 Ngành khai thác khoáng sản biển:
Ngành dầu khí Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển đầy ý nghĩa kể từ khidòng dầu đầu tiên được khai thác ở mỏ dầu Bạch Hổ vào năm 1986 Trước đó nền kinh
tế Việt Nam lệ thuộc nặng nề vào các sản phẩm dầu mỏ nhập khẩu từ Liên bang XôViết Hiện nay, Việt Nam đứng thứ ba về sản lượng dầu mỏ trong các quốc gia ĐôngNam Á, chỉ sau Inđônêsia và Malaysia Nếu tốc độ phát triển hiện tại tiếp tục được duytrì, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia sản xuất dầu mỏ lớn thứ 30 trên thế giới Về dầu
mỏ, Việt Nam có hơn 600 triệu thùng trữ lượng dầu đã được phát hiện Tuy nhiên, việcthăm dò ở Việt Nam tiếp tục đem lại những phát hiện mới và trữ lượng có thể lên tới4,5 tỷ thùng Hiện tại, Việt Nam có sáu mỏ dầu đang khai thác: Bạch Hổ, Rạng Đông,Ruby, Đại Hùng, Bunga và Kekwa Thêm nữa, một giếng dầu mới, Sư Tử Trắng, đã có
kế hoạch khai thác vào năm 2008 Trữ lượng khí đốt thậm chí được coi là có nhiều hứahẹn hơn so với trữ lượng dầu mỏ Việt Nam đã xác định trữ lượng khí đốt là 220 tỷ m3,nhưng dự kiến trữ lượng có thể lên tới 651 tỷ m3 Sản xuất và tiêu thụ khí đốt tự nhiên
Trang 27của Việt Nam đang tăng lên và dự kiến còn tăng thêm nữa khi có thêm các mỏ đượcđưa vào khai thác
Tuy nhiên, dầu và khí đốt nằm khá sâu 3.000 – 4.000 m dưới lòng đất nên việctìm kiếm và khai thác dầu khí là việc rất khó khăn, cần nhiều vốn, kinh nghiệm và trình
độ kỹ thuật cao Cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam có cácchính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này Hiện có 25 công ty dầukhí nước ngoài từ 13 quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, trong khuôn khổ 27 dự ánkhác nhau Các công ty dầu khí nước ngoài đã đầu tư hơn 7 tỷ USD vào Việt Nam Cónhiều đối tác nước ngoài đã làm việc với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam)trong nhiều thập kỷ Trong số đó, có liên doanh Vietsopetro giữa Petro Vietnam vớicông ty Zarubezhneft của Nga, hiện đang hoạt động tại các mỏ Bạch Hổ ở ngoài khơiphía Nam Những công ty dầu khí thượng nguồn nước ngoài hàng đầu khác ở ViệtNam bao gồm Conoco Phillips, BP, Petronas, Chevron, Tập đoàn Dầu lửa Quốc giaHàn Quốc, và Talisman Energy Những công ty này hoạt động với tư cách là nhà thầucho Petro Vietnam và chia sản lượng dầu khai thác được theo thỏa thuận
Không chỉ hoạt động tại thị trường nội địa, Petro Vietnam đang tăng cường cáchoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí trên thị trường quốc tế Trong khoảng thờigian từ năm 2006 - 2010, tập đoàn này đã lên kế hoạch ngân sách 6,7 tỷ USD cho việcthăm dò ở nước ngoài, và sẽ tăng thêm 9,7 tỷ USD cho giai đoạn 2011-2015 Trongnăm 2007, Petro Vietnam đã tiến hành thăm dò dầu khí ở Cuba và Peru và hiện tiếnhành đấu thầu để thăm dò dầu khí ở Nigeria và Kazakhstan Đến nay Petro Vietnam đãtiến hành thăm dò và khai thác dầu khí ở Algeria, Iraq, Madagascar, Venezuela, Mông
Cổ, cũng như tại Indonesia và Malaysia, nơi tập đoàn lần đầu hoạt động tại nước ngoàivào năm 1998
Trong gần 20 năm vừa qua, sản lượng dầu mỏ khai thác và xuất khẩu của ViệtNam liên tục gia tăng với tốc độ bình quân đạt gần 15%/năm Tính từ năm 1990 đếnnăm 2006, Việt Nam đã khai thác và xuất khẩu hơn 190 triệu tấn dầu thô, đóng gópquan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước
Song song với công việc khai thác dầu để xuất khẩu, công nghiệp khí cũng đượctriển khai tích cực Dòng khí đồng hành của mỏ Bạch Hổ sau những năm đầu khôngđược sử dụng, đến giữa năm 1995 đã được dẫn vào bờ với công suất gần 1 triệu
m3/ngày sau đó tăng lên 3-4 triệu m3/ngày cung cấp cho các nhà máy điện, đạm Phú
Mỹ Đồng thời công trình này cũng đã cung cấp một khối lượng lớn condensate và khíhóa lỏng LPG cho công nghiệp và dân sinh Dự án khí Nam Côn Sơn khai thác các mỏ
Trang 28khí Lan Tây, Lan Đỏ hàng năm cung cấp được 5-6 tỷ m3 khí thiên nhiên Các côngtrình đó đã tạo thành cụm công nghiệp khí-điện-đạm ở miền Đông Nam bộ Sản phẩmchính là điện và đạm cùng các sản phẩm phụ khác của cụm công nghiệp này đã gópphần quan trọng cân đối nhu cầu phân bón, nhu cầu nguyên-nhiên liệu cho các ngànhkinh tế khác Ở miền Tây, dự án tổ hợp khí-điện-đạm Cà Mau đang được thực hiện có
ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long nóiriêng và của cả nước nói chung
Tuy nhiên, trong một số năm gần đây, sản lượng dầu khai thác ở Việt Nam đãbắt đầu khựng lại và có xu hướng giảm Đặc biệt, năm 2007, Petro Vietnam đã phảiđiều chỉnh giảm sản lượng dầu thô khai thác năm 2007, từ 17,5 triệu tấn xuống còn16,8 triệu tấn Nguyên nhân được nêu ra là do dự án mua mỏ tại Kazakhstan không đạtđược theo dự kiến nên kế hoạch khai thác 1 triệu tấn dầu thô nước ngoài trong năm
2007 không thực hiện được Bên cạnh đó, một số mỏ dầu đang khai thác không thể giatăng công suất vì phải đảm bảo sơ đồ công nghệ khai thác và các mỏ có cấu tạo tươngđối phức tạp (địa chất, địa tầng và tình trạng các tầng sản phẩm) Các chuyên gia dựbáo rằng, nếu không tìm kiếm thêm được những nguồn mới, sản lượng dầu khai tháccủa Việt Nam sẽ tiếp tục giảm trong những năm tới
Về chế biến dầu khí, do chưa có nhà máy lọc dầu cho nên toàn bộ dầu thô khaithác của Việt Nam đều được đem xuất khẩu Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Nhàmáy lọc dầu Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) với số vốn đầu tư 2,5 tỷ USD và công suất
50 triệu thùng/năm, đang tiến hành các thủ tục đầu tư xây dựng Nhà máy lọc dầu phíaNam và một số dự án khác như: dự án Polypropylen, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, nhàmáy đạm Cà Mau, tổ hợp hóa dầu phía Nam Tuy nhiên, nhìn chung phần lớn các dự
án này đều đang bị chậm tiến độ Đến nay, Việt Nam mới chỉ có Nhà máy Đạm Phú
Mỹ hoàn thành và đang hoạt động bình thường với công suất tối đa 740.000 tấn/năm
2.1.3.4 Vận tải và dịch vụ biển
Nước ta có trên 3.260 km bờ biển và có nhiều vị trí có thể xây dựng hệ thốngcảng biển như: Của ông, Cái Lân, Nghi Sơn, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, DungQuất, Vân Phong, Thị Vải đủ điếu kiện cho hàng trăm triệu tấn hàng hóa thông quanmỗi năm, đồng thời đảm bảo cho ngành sửa chữa, đóng mới phương tiện thủy và cácngành dịch vụ biển phát triển cả trong hiện tại và tương lai Riêng khu vực từ VũngTàu đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít có khả năng xây dựng cảng biểnlớn, nhưng vẫn có thể xây dựng các cảng có quy mô vừa ở Hòn Chông, Phú Quốc
Trang 29hoặc cảng sông Cần Thơ.
So với năng lực phục vụ của các cảng biển trên thế giới, tổng số lượng vậnchuyển của các cảng biển Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.Công suất vận chuyển luôn dư thừa trên 30%, chỉ có 1/3 cảng đạt sản lượng trên 1,5triệu tấn/ năm, hàng container cũng chỉ mới khai thác được 50% công suất Xem xétnăng lực cầu cảng với sản lượng thực tế của các cảng trong Hiệp hội cảng biển VPAcho thấy tổng chiều dài cầu gần 21 km và 50 bến phao, trong đó có khoảng 29 cầu tàu(dài 5.198m) tiếp nhận được tàu container loại feeder cho tổng năng lực bình quân củacác cảng VPA hiện nay vào khoảng 60 triệu TEU/ năm Thực tế, sản lượng của cáccảng này chỉ vào khoảng 50% năng lựu hiện có Do vậy, năng lực thông qua bến củacác cảng VPA vẫn còn thừa gấp đôi đối với lượng hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay
2.2 THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ CHO KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
Ở Việt Nam, nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển chủ yếu từ các nguồn:Ngân sách nhà nước, quỹ hỗ trợ phát triển (ODA), vốn doanh nghiệp cảng, vốn đầu tưnước ngoài dưới hình thức liên doanh và một số nguồn vốn khác
Bảng 2.5: Vốn đầu tư phát triển chia theo cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2001- 2012
Năm2007
Năm2008
Năm2009
Năm2010
Năm2011
Năm2012
Vốn
Trang 30Nguồn: Bộ kế hoạch – đầu tư
Bảng 2.6: Vốn đầu tư phát triển chia theo cơ cấu % đóng góp của nguồn vốn giai đoạn
Năm2006
Năm2007
Năm2008
Năm2009
Năm2010
Năm2012
% Vốn DN
Trang 31Nguồn: Bộ kế hoạch – đầu tư
Qua con số về lượng vốn đầu tư tăng dần qua các năm, ta có thể thấy tiềm năngkinh tế biển đang càng ngày càng được chú trọng đầu tư khai thác Nhìn chung, xéttrong cả giai đoạn 2005 - 2012, cơ cấu đầu tư có sự thay đổi nhưng không đồng đềugiữa các nguồn Tỷ trọng vốn ngân sách Nhà nước và vốn ODA trong tổng vốn đầu tư
có xu hướng giảm, vốn doanh nghiệp cảng và các nguồn vốn khác có xu hướng tăngdần Nguyên nhân do xu hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu dần dần được chú trọng,các doanh nghiệp khai thác và kinh doanh cảng tạo nguồn vốn tự có nhằm tái đầu tư,
cổ phần hoá doanh nghiệp cảng đã mang lại nguồn vốn cổ phần lớn cho các doanhnghiệp có thể tự đứng ra đầu tư xây dựng và khai thác, bớt phụ thuộc vào nguồn vốnNgân sách Nhà nước
Để tìm hiểu chi tiết hơn về cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, ta xem xét từng nguồn vốn đầu tư trong cơ cấu đầu tư này.
2.2.1 Thực trạng huy động vốn Ngân sách Nhà nước.
2.2.1.1 Lượng vốn NSNN được huy động đầu tư cho kinh tế biển
Nguồn vốn NSNN có vai trò rất quan trọng trong khai thác và phát triển kinh tếbiển, bởi đây là nguồn chính sử dụng để đầu tư xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng cảngbiển – khung xương sống sự phát triển của kinh tế biển Tuy nhiên, tỷ trọng vốn ngân
Trang 32sách nhà nước đầu tư cho cảng biển trong tổng đầu tư cho toàn ngành GTVT chiếm tỷ
Nguồn: Cục hàng hải Việt Nam
Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu vốn NSNN đầu tư cho hệ thống cảng biển
Trước 1997, vốn đầu tư cho kinh tế biển biển Việt Nam chủ yếu là vốn trongnước Từ năm 1997, do Nhật Bản bắt đầu đầu tư vào Việt Nam sau 2 năm khảo sát làmvốn đầu tư cho kinh tế biển tăng mạnh (vốn ODA) Tuy nhiên, cùng với lượng vốnODA tăng thì vốn ngân sách đối ứng cũng gia tăng
Trang 33Bảng 2.7 : Vốn NSNN trong tổng vốn đầu tư do Nhà nước quản lý (Vốn Ngân sách + ODA) cho ngành Hàng hải.
Đơn vị: Tỷ đồng
Vốn ODA + NSNN
VốnNSNN
Vốn ODA+ NSNN
VốnNSNN
Cục Hàng hải 9.388,62 3110,37 1.772,82 637,62
Tổng công ty Hàng hải 5.134,82 1701,12 816,75 293,76
Các địa phương 3.493,48 1157,36 946,16 340,3
Nguồn: Cục Hàng hải Việt Nam
2.2.1.2 Địa bàn, lĩnh vực đầu tư
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế biển, Ngân sách nhà nước Việt Nam
đã huy động hàng chục ngàn tỉ đồng mỗi năm cho các ngành kinh tế biển để khai tháccác tài nguyên biển như thủy hải sản, dầu khí, dịch vụ thương mại, cảng biển…Tuynhiên, việc đầu tư này lại thiếu quy hoạch đầu tư cụ thể nên số tiền đã ít lại bị rải "mỗinơi một ít" dẫn tới tình trạng sử dụng kém hiệu quả Thiếu quy hoạch đầu tư nên khôngxác định được trọng tâm của từng ngành theo mỗi giai đoạn khác nhau cũng như chưaphân định rõ giá trị trước mắt hay giá trị tiềm ẩn của các dạng tài nguyên để tìm huyđộng nguồn đầu tư đúng hướng
Nguồn vốn đầu tư từ NSNN cho kinh tế biển chủ yếu tập trung cho hệ thốngcảng biển và các vùng kinh tế ven biển Hiện Việt Nam có khoảng 15 khu kinh tế venbiển và 100 cảng được thành lập với nguồn vốn từ NSNN khiến vốn vào nhiều nhưngxuất ra thì ít Việc đầu tư xây dựng tràn lan, thiếu trọng điểm các khu kinh tế biển nàyđang được Bộ Kế hoạch Đầu tư khắc phục bằng Đề án "Rà soát, xây dựng tiêu chí lựa