1. Con người là một thực thể tự nhiên – xã hội Con người là sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao nhát của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội.Trải dài lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, đã có rất nhiều quan niệm được đưa ra về con người. Dù lịch sử trước Mác coi con người là một thực thể tự nhiên – xã hội nhưng đó cơ bản vẫn là những quan niệm duy tâm, tôn giáo hoặc siêu hình, họ đã quy bản chất chất con người theo khuynh hướng tuyệt đối hóa những thuộc tính tự nhiên hoặc xã hội mà bỏ qua vai trò của hoạt động thực tiễn xã hội. Thông qua quá trình vừa tiếp thu một cách mang tính phê phán những quan điểm mang tính hợp lý vừa khắc phục những thiếu sót trong quan niệm về con người những giai đoạn trước, triết học Mác khẳng định rằng con người hiện thực là một chỉnh thể sinh vật – xã hội, là thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. 1.1. Con người là một thực thể tự nhiên Tự nhiên là yếu tố tiên quyết quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người thế nên để hiểu rõ về bản thân, con người đã và đang đi vào quá trình khám phá khoa học về nguồn gốc, cấu tạo sinh học của con người. Về phương diện sinh học, con người là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội. Đầu tiên, theo học thuyết Đácuyn về sự tiến hóa của các loài, con người là kết quả của quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên, thế nên con người không thể chối bỏ những đặc tính vốn có của con vật. “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật” – Các Mác Thứ hai, con người là bộ phận của giới tự nhiên, như Các Mác đã khẳng định “Giới tự nhiên…là thân thể vô cơ của con người,… đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”. Vậy nên những thay đổi của giới tự nhiên đều tác động đến con người và xã hội loài người dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp. Và ngược lại, hoạt động và việc biến đổi của con người cũng luôn luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên, làm cho môi trường đó biến đổi theo. Do vậy con người phải hòa hợp, gắn bó với giới tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển. Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người và các tồn tại khác của giới tự nhiên
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN
BỘ MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI:
Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và bản chất con người Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
của quan điểm trên.
Người thực hiện: Mai Đỗ Ái
Mã lớp học phần:21C1PHI51002302
MSSV: 31211026094
TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2021
Trang 2Mục lục
1 Con người là một thực thể tự nhiên – xã hội 5
1.1 Con người là một thực thể tự nhiên 5
1.2.Con người là một thực thể xã hội 6
1.2.1.Xét từ nguồn gốc hình thành 6
1.2.2.Xét từ việc tồn tại và phát triển 6
2 Bản chất con người 7
2.1.Con người vừa là sản phẩm lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử 7
2.2.Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội 7
3 Ý nghĩa lý luận 8
4.Thực tiễn 8
4.1.Sự tiếp thu của chủ tịch Hồ Chí Minh 8
4.2.Sự phát triển đường lối Đảng 9
4.2.1.Định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến con người 9
4.2.2.Phát huy nhân tố con người là hàng đầu 9
4.3.Góc nhìn của sinh viên 9
Trang 31 Con người là một thực thể tự nhiên – xã hội
Con người là sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao nhát của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội.Trải dài lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, đã có rất nhiều quan niệm được đưa ra về con người Dù lịch sử trước Mác coi con người là một thực thể tự nhiên – xã hội nhưng đó cơ bản vẫn là những quan niệm duy tâm, tôn giáo hoặc siêu hình, họ đã quy bản chất chất con người theo khuynh hướng tuyệt đối hóa những thuộc tính tự nhiên hoặc xã hội mà bỏ qua vai trò của hoạt động thực tiễn xã hội Thông qua quá trình vừa tiếp thu một cách mang tính phê phán những quan điểm mang tính hợp lý vừa khắc phục những thiếu sót trong quan niệm về con người những giai đoạn trước, triết học Mác khẳng định rằng con người hiện thực là một chỉnh thể sinh vật – xã hội, là thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có
sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội
1.1 Con người là một thực thể tự nhiên
Tự nhiên là yếu tố tiên quyết quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người thế nên để hiểu rõ về bản thân, con người đã và đang đi vào quá trình khám phá khoa học về nguồn gốc, cấu tạo sinh học của con người Về phương diện sinh học, con người là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự
nhiên, là một động vật xã hội
Đầu tiên, theo học thuyết Đácuyn về sự tiến hóa của các loài, con người là kết quả của quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài
Trang 4của giới tự nhiên, thế nên con người không thể chối bỏ những đặc tính vốn có của con vật “Bản thân cái sự kiện là con người
từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người
không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật” – Các Mác
Thứ hai, con người là bộ phận của giới tự nhiên, như Các Mác đã khẳng định “Giới tự nhiên…là thân thể vô cơ của con người,… đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” Vậy nên những thay đổi của giới tự nhiên đều tác động đến con người và xã hội loài người dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp Và ngược lại, hoạt động và việc biến đổi của con
người cũng luôn luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên, làm cho môi trường đó biến đổi theo Do vậy con người phải hòa hợp, gắn bó với giới tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người và các tồn tại khác của giới tự nhiên
1.2.Con người là một thực thể xã hội
1.2.1.Xét từ nguồn gốc hình thành
Đặc tính sinh học không phải là nguồn gốc hình thành duy nhất của loài người, mà còn có nguồn gốc xã hội, con người là thực thể xã hội có các hoạt động, và nhân tố hoạt động quan trọng nhất chính là lao động sản xuất Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”, nhờ có lao động con người mới có thể vượt qua con vật để tiến hóa và phát triển, trở thành thực thể xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất,
Trang 5con người tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ cho nhu cầu của bản thân
1.2.2.Xét từ việc tồn tại và phát triển
Trong quá trình tồn tại và phát triển, loài người luôn bị tác động, chi phối bởi các nhân tố, quy luật xã hội Xã hội biến đổi thì con người biến đổi song sự tương tác giữa người với người lại là yếu
tố tạo nên xã hội, sự phát triển của mỗi cá nhân đều góp phần tạo nên sự phát triển của xã hội Tính xã hội của con người chỉ tồn tại trong “xã hội loài người”, đây là điểm khác biệt khi so với con vật, con người không thể nào sống tách biệt với xã hội, con người hoạt động xã hội không chỉ vì lợi ích bản thân, mà còn là
vì lợi ích xã hội
Trong quá trình tương tác với nhau, con người đã nảy sinh ý thức và tư duy, từ đó có sự xuất hiện và phát triển của ngôn ngữ, hai yếu tố này đã làm nổi trội tính xã hội của con người, là biểu hiện rõ nhất trong việc khẳng định con người là một thực thể xã hội
2 Bản chất con người
2.1.Con người vừa là sản phẩm lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử
Vì có khả năng lao động và sáng tạo nên ngoài việc là sản
phẩm, thì con người còn là chủ thể của lịch sử tự nhiên và lịch
sử xã hội Nhờ hoạt động chế tạo công cụ lao động, lao động sản xuất mà con người tách mình ra khỏi con vật,chính con người làm ra lịch sử của chính mình, không để lịch sử làm mình thay đổi mà bản thân con người chính là chủ thể của lịch sử
Trang 6Dù có khả năng sáng tạo nhưng con người không thể tùy tiện làm ra lịch sử theo ý muốn chủ quan mà phải vừa tiếp tục các hoạt động dựa trên điều kiện cũ của thế hệ trước để lại, vừa tiến hành các hoạt động mới để biến đổi những điều kiện cũ cho phù hợp Lịch sử tạo ra con người thế nào, con người phải sáng tạo
ra lịch sử như thế ấy Từ khi tạo ra lịch sử cho đến nay, con
người luôn là chủ thể của lịch sử, cũng luôn là sản phẩm của lịch sử
2.2.Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội
Để làm rõ bản chất xã hội của con người, chủ nghĩa Mác đã phê phán quan niệm Phoiơbắc vì xét con người tách khỏi hoạt động thực tiễn, trừu tượng hóa, tuyệt đối hóa phương diện tự nhiên của con người Thông qua quá trình kế thừa, tiếp thu những tư tưởng hiện đại, tiến bộ, dựa vào những thành tựu khoa học, Chủ nghĩa Mác đã khẳng định con người vừa là sản phẩm của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người, từ đó nêu lên quan niệm mới: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ
xã hội” Luận đề này khẳng định rằng con người không thể sống tách biệt khỏi điều kiện và hoàn cảnh lịch sử xã hội Các quan
hệ xã hội đều góp phần tạo nên bản chất của con người, không phải bằng việc gộp chúng lại với nhau, mà là tổng hòa chúng, mỗi quan hệ xã hội đều có vị trí, vai trò nhất định tác động qua lại với nhau và không thẻ tách rời Các quan hệ sớm muộn sẽ thay đổi không ít thì nhiều, khi đó bản chất con người cũng sẽ thay đổi theo
Trang 73 Ý nghĩa lý luận
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người và bản chất conngười là cơ sở phương pháp luận cho các hoạt động của con người Đầu tiên, muốn giải thích một cách đầy đủ, khoa học về con người thì cần kết hợp cả hai phương diện bản tính tự nhiên
và bản tính xã hội Tiếp đến, con người cần tiếp tục phát huy khả năng sáng tạo của bản thân, bởi sáng tạo là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của toàn xã hội
4.Thực tiễn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và bản chất con người đã được Đảng ta vận dụng, quán triệt trong sự nghiệp lãnh đạo đất nước, nhất là trong thời kì đổi mới
4.1.Sự tiếp thu của chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển lý luận về con người một cách sáng tạo và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam hiện đại, cụ thể là các nội dung về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh như:
-Con người là mục tiêu và động lực cách mạng: mục tiêu này đã được cụ thể hóa trong các giai đoạn cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, giải phóng con người và xã hội Về động lực, theo Người, con người chính là nhân tố hàng đầu
quyết định sự thành công của cách mạng, vì “mọi việc đều do người làm ra” thế nên các chính sách, đường lối, chiến lược của Đảng đều lấy lợi ích con người và toàn dân tộc làm trọng
-Xây dựng con người là yêu cầu khách quan và thiết yếu của sự nghiệp cách mạng, mang tính chiến lược và lâu dài
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những
con người xã hội chủ nghĩa” Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa và con người xã hội chủ nghĩa trở thành động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 84.2.Sự phát triển đường lối Đảng
4.2.1.Định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến con người
Trong quá trình xây dựng xã hội mới, kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã khẳng định con người có vai trò quyết định nhất, là nguồn lực quý báu nhất và là nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam Việc định hướng xã hội chủ nghĩa suy cho cùng cũng là hướng đến con người, vì lợi ích con người Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, việc chúng ta
có tận dụng được cơ hội, các thuận lợi và vượt qua khó khăn, thách thức hay không đều phụ thuộc phần lớn vào con người
4.2.2.Phát huy nhân tố con người là hàng đầu.
Tại đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã có quan điểm như sau: “Thực chất là tôn trọng con người, phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới” Ta thấy được rằng mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều lấy việc chăm lo bồi dưỡng phát huy nhân tố con người làm trọng, là ưu tiên hàng đầu
Thống nhất quan điểm về chiến lược phát triển con người trong thời kì đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
đã có chủ trương: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
Trang 9nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.Việc phát triển đất nước và kinh tế xã hội cũng như hội nhập quốc tế không thể không dựa vào nhân tố con người, thế nên việc bồi dưỡng, phát triển khả năng, trí tuệ cũng như đạo đức nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực cũng là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Việc xây dựng con người không chỉ hướng tới phát triển
cá nhân mà còn là phát triển toàn dân tộc, toàn xã hội
4.3.Góc nhìn của sinh viên
Là một phần của xã hội, mỗi sinh viên cũng cần có những định hướng riêng cho bản thân Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, mỗi sinh viên cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về phòng chống dịch bệnh, tăng cường tuyên truyền cũng như thực hiện đầy đủ quy tắc 5K để đảm bảo an toàn cho bản thân, từ đó góp phần bảo vệ an toàn cho gia đình cũng như toàn xã hội Mỗi con người đều là nhân tố quan trọng trong công cuộc đẩy lùi dịch bệnh trong phạm vi rộng, mỗi cá nhân có ý thức thì toàn xã hội có ý thức, xã hội được an toàn thì mỗi cá nhân mới an toàn
và khỏe mạnh, từ đó nền kinh tế nói riêng và toàn đất nước nói chung mới ngày một tiến bộ, ngày một đi lên và phát triển
Các nguồn tài liệu tham khảo:
Giáo trình Triết học Mác-Lênin- GS.TS Phạm Văn Đức (chủ biên)
http://www.xaydungdang.org.vn/home/dien-dan/2018/12380/ quan-diem-cua-dang-ve-phat-huy-nhan-to-con-nguoi-trong.aspx