GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HCM ĐỀ THU HOẠCH GIỮA HỌC KỲ MÔN PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU ĐỀ TÀI Dựa vào kiến thức đã học, Quý Tăng, Ni sinh và Học viên hãy chỉ ra sự tương[.]
Trang 1ĐỀ THU HOẠCH GIỮA HỌC KỲ MÔN: PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU
ĐỀ TÀI
Dựa vào kiến thức đã học, Quý Tăng, Ni sinh và Học viên hãy chỉ ra
sự tương đồng và khác biệt giữa tâm lý trị liệu phương Tây và tâm lý trị liệu Phật giáo, minh họa bằng một kỹ thuật trị liệu tâm lý cụ thể
Giảng Viên Phụ Trách: NS.TS.TN Hương Nhũ
& TS Lương Thị Thu Hường
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Luân Pháp danh: Thích Giác Minh Chuyển
Mã sinh viên: TX 6230 Lớp: PHTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2023.
Trang 2CHƯƠNG 1 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÂM LÝ TRỊ LIỆU PHƯƠNG TÂY
1.1.Liệu pháp hành vi
+ Liệu pháp hành vi cổ điển:Vào những năm 1920, trên cơ sở tiếp thu những thành quả của học thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov, Watson là người đi đầu trong việc xây dựng Tâm lí học Hành vi Theo Watson, những hành vi dị thường chẳng qua là do có kích thích không hợp lí Ví dụ: cậu bé Albert bị ám ảnh sợ màu trắng là do khi đưa cho cậu bé con thỏ bông trắng, người ta đồng thời cho cậu nghe một âm thanh rất to, chói tai, khiến cậu hoảng sợ Do vậy, để có được hành vi phù hợp, cần phải có các kích thích phù hợp
+ Liệu pháp hành vi của Skinner:Skinner, một nhà tâm lí học hành vi khác cho rằng phần lớn các hành vi của con người (cũng như của động vật) không được củng cố theo cách mà Watson đã đưa ra (củng cố xuất hiện cùng kích thích) Theo Skinner, hành vi được củng
cố chủ yếu bởi hậu quả của nó Nếu một hành vi nào đưa đến kết quả có lợi thì hành vi đó
có khả năng xuất hiện nhiều hơn so với hành vi khác Ví dụ: nếu như khóc mà được quà thì lần sau, trong tình huống tương tự, đứa trẻ sẽ khóc để được quà Chính vì vậy, Skinner cho rằng cần phải sử dụng kết quả để củng cố những hành vi phù hợp
+Giải cảm ứng:Liệu pháp giải cảm ứng gắn liền với J.Wolpe một trong những người đi đầu của liệu pháp hành vi Có 2 cơ sở chính để Wolpe xây dựng liệu pháp sau cảm ứng của mình.Những kỹ thuật mà M Jones (1928) sử dụng nhằm khắc phục chứng sợ thỏ ở một cậu bé.Những qui trình của E Jacobson (1929): theo Jacobson, những trạng thái cảm xúc bền vững của con người, ví dụ lo âu, có thể bị ức chế đáng kể nếu chủ thể ở trong trạng thái thư giãn sâu.Nhiều bệnh nhân của Wolpe có trạng thái sợ không phải là một vật
gì cụ thể mà là một hiện tượng như sợ bị chỉ trích, phê phán trong công việc, sợ bị thất bại trong cuộc sống.Kĩ thuật của Wolpe được thực hiện qua từng bước sau:
Đưa người bệnh vào trạng thái thư giãn sâu
Yêu cầu người bệnh tưởng tượng dần từng tình huống gây ra sợ hãi Buổi đầu là những tình huống gây ít sợ nhất
Dừng lại quá trình tưởng tượng ngay khi bắt đầu xuất hiện hiện tượng sợ
Các buổi sau vẫn được tiến hành theo qui trình trên, với tưởng tượng tình huống gây sợ tăng dần Nếu cảm giác sợ do tưởng tượng tái tạo lại quá mạnh, ức chế thư giãn thì người bệnh được yêu cầu tưởng tượng ở mức độ nhẹ hơn.Có một số tác giả (Homes, 2000) gọi đây là kĩ thuật bộc lộ/ tiếp xúc từ từ, có kiểm soát
+ Liệu pháp cảm xúc hợp lí của Ellis:Nếu chúng ta cứ thầm nhắc đi nhắc lại một từ nào
đó nhiều lần thì sẽ xuất hiện hiện tượng mà tâm lí học gọi là lạ nghĩa từ Theo Ellis, nếu thầm nhắc đi nhắc lại một câu thì có thể gây ra phản ứng cảm xúc nhất định Cũng theo nguyên lí đó mà những niềm tin không hợp lí dẫn đến các phản ứng cảm xúc không hợp
lí Ví dụ, quá dằn vặt về những hạn chế của mình hoặc những tham vọng quá lớn.Nhiệm
vụ chính của nhà liệu pháp là phải vô hiệu hoá những ý nghĩ, niềm tin bất hợp lí bằng cách thăm khám, kiểm tra một cách logic.Sau khi nắm được vấn đề của người bệnh, Thầy thuốc trao đổi với người bệnh về những nét cơ bản của liệu pháp cảm xúc hợp lí sao cho người bệnh hiểu và chấp nhận Tiếp đó thầy thuốc dẫn dắt người bệnh đi dần vào từng khía cạnh của vấn đề phức tạp, chỉ ra những điều không có cơ sở, không hợp lí.Sau khi chỉ ra những yếu tố không hợp lí đó thầy thuốc chuyển qua việc hướng dẫn người bệnh
Trang 31.2.Liệu pháp nhân văn và hiện sinh
Liệu pháp thân chủ là trung tâm của Carl Rogers:Rogers được coi là người đi đầu trong việc xây dựng chuyên ngành tham vấn tâm lí từ liệu pháp tâm lí Chính Ông cũng là người đề xuất sự thay đổi cách gọi: thân chủ (Client), thay cho từ bệnh nhân (Patient) và dùng từ tham vấn tâm lí thay cho liệu pháp tâm lí Những luận điểm chính của Rogers là:Chỉ có thể hiểu con người khi đặt mình vào vị trí của người đó, cảm nhận và trải nghiệm từ thế giới hiện tượng của họ Cần phải hiểu cách mà cá nhân trải nghiệm sự kiện chứ không phải là bản thân sự kiện Đối với mỗi con người đều có một thế giới riêng, qui định hành vi và tạo nên tính riêng biệt của họ
Những người khoẻ mạnh ý thức được hành vi của mình
Ngay từ ban đầu, người khoẻ mạnh đã là người tốt và hoạt động có hiệu quả
Họ trở lên kém hiệu quả là do những tác động sai lầm
Người khoẻ mạnh luôn hoạt động có mục đích Họ không phản ứng thụ động đối với môi trường xung quanh hoặc đối với những động cơ xa lạ Họ là những người tự điều chỉnh.Thầy thuốc không được mổ xẻ những sự kiện của cá nhân Họ phải sáng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc khách hàng tự đưa ra quyết định Khi con người không bị bận tâm bởi những đánh giá, yêu cầu của người khác, họ sẽ sống theo xu hướng
tự thể hiện.Cũng theo Rogers (1951), người thầy thuốc cần phải có 3 phẩm chất cơ bản:
sự chân thành, sự quan tâm tích cực không gượng ép và sự thông cảm Những phẩm chất này là cơ sở để đảm bảo cho sự thành công của liệu pháp.Liệu pháp hiện sinh:Dòng phái Tâm lí học Hiện sinh xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX.Tâm lí học Nhân văn
và Tâm lí học Hiện sinh có nhiều điểm giống nhau Tuy vậy nếu Tâm lí học Nhân văn như của Rogers phát triển mạnh ở Mĩ thì Tâm lí học Hiện sinh lại xuất phát từ châu Âu
và bắt đầu từ các nhà triết học như Sartre, Kierkegaard và Heidegger, hoặc từ các nhà tâm thần học như: Binswanger và Boss ở Thuỵ Sĩ, V Frankl ở Áo.Giống như Tâm lí học Nhân văn, các quan điểm của Tâm lí học Hiện sinh cũng nhấn mạnh đến sự phát triển cá nhân Tuy nhiên nếu Tâm lí học Nhân văn nhấn mạnh đến bản chất tốt đẹp của con người thì Tâm lí học Hiện sinh lại cho rằng ở mỗi con người đều có sự lo âu, bất an trong cuộc sống, nghề nghiệp xã hội Tất cả điều này lại ảnh hưởng đến sự tồn tại hiện sinh của cá nhân.Cá nhân, Theo Tâm lí học Hiện sinh, là tổng của các sự lựa chọn của chính con người đó Chỉ có thể hiểu được những khó khăn trong sự lựa chọn bằng cách thăm dò kinh nghiệm Nhiệm vụ của người thầy thuốc là phải cổ vũ, giúp đỡ cho người bệnh để
họ tự khám phá về hành vi, cảm giác về những mối quan hệ và về những gì có ý nghĩa trong cuộc sống Thầy thuốc cũng giúp cho người bệnh xác định được rõ những lựa chọn trong quá khứ và hiện tại, tuy nhiên những lựa chọn hiện tại được xem như là quan trọng nhất.Một mục đích khác nữa của liệu pháp hiện sinh là nhằm giúp cho người bệnh tạo dựng mối quan hệ chân thành, tin cậy, tự nhiên đồng thời cũng xác định riêng về cơ bản con người là độc lập (cô đơn) Con người phải tự mình sáng tạo sự tồn tại/hiện sinh của chính mình trong thế giới này
Trang 4CHƯƠNG 2:
TÂM LÝ TRỊ LIỆU PHẬT GIÁO QUA BẢY PHƯƠNG PHÁP
2.1.Đoạn trừ phiền não do tri kiến
Tri kiến là sự thấy biết, sự nhìn rõ Chúng ta phải nhìn rõ khi nào thì phiền não khởi lên
và thấy được nó bắt nguồn từ đâu Biết được nguyên nhân thì chúng ta mới có thể hóa giải phiền não.Thí dụ, nếu người thân trong gia đình qua đời, lẽ thường ta sẽ rất đau khổ Vậy chúng ta phải ứng dụng Phật pháp như thế nào để hóa giải phiền não trong lúc này? Đức Phật dạy, những gì hữu hình đều hữu hoại, có sinh phải có diệt, có hợp phải có tan Xét lại thân của chúng ta, vốn là thứ vật chất giả tạm, do tứ đại nương nhau hợp thành nên một ngày nào đó sẽ phải tan hoại theo quy luật vô thường: sinh, già, bệnh, chết Đó là điều hiển nhiên và không thể tránh khỏi Chúng ta có mặt trên cuộc đời đều mang chung một án tử, chỉ khác là khi ra “pháp trường” kẻ trước người sau Trước đây, chúng ta đau khổ, than khóc Bây giờ, chúng ta hiểu rằng, khóc như vậy chỉ thêm sầu bi mà thôi, có khóc bao nhiêu thì người mất cũng đã ra đi, không thể sống lại được Hiểu được như thế
là chúng ta đang dùng Phật pháp để đoạn trừ phiền não và hóa giải những nỗi khổ của mình.Vào thời đức Phật còn tại thế, có một nữ cư sĩ đến tinh xá cúng dường, trong lúc bà đang sớt bát cho chư Tăng thì người ta đến báo tin con của bà vừa mất Khi nghe như vậy, bà không biểu lộ sự hốt hoảng hay khổ đau mà vẫn bình tĩnh tiếp tục sớt bát cho chư Tăng Sau khi cúng dường xong, bà trở về nhà Lúc đó, người ta hỏi: “Tại sao con bà mất rồi mà bà vẫn bình tĩnh như vậy?” Bà nói rằng: “Tôi không mời mà nó đến, tôi không đuổi mà nó đi, đến như thế nào, đi như thế đó, đến đi như gió, hợp tan như mây, gió mây
vô thường, vấn vương chi khổ”.Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy vị nữ cư sĩ này đã hiểu Phật pháp rất sâu sắc Điều quý giá nhất là khi còn sống với nhau, con người có thể yêu thương, chăm sóc và quan tâm nhau hết lòng Còn sinh tử là lẽ đương nhiên, đời người “đến đi như gió, hợp tan như mây”, cảm thấy đau khổ vì gió đã thổi qua hay vì mây đã tan mất thì thật là dại dột Vậy nên, khi thấy biết đúng đắn tính chất vô thường của gió mây nói riêng và vạn vật nói chung, chúng ta sẽ hóa giải được phiền não và đau khổ của mình.Tương tự như vậy, tài sản là vật ngoài thân, không thể tồn tại mãi mãi, nhưng khi mất rồi chúng ta vẫn tiếc nuối, đau khổ Ngay cả người học Phật cũng vậy Đức Phật dạy rằng tài sản của chúng ta trước sau gì cũng sẽ rơi vào một trong năm nhà:
bị nước trôi, lửa cháy, trộm cướp, vợ con phá tán hoặc bị vua quan tịch thu Chúng ta đã hiểu giáo lý nhân quả thì phải biết rằng, trong quá khứ mình nợ người ta thì bây giờ mình phải trả Nếu chỉ nhìn hiện đời, chúng ta sẽ thấy mình bị mất, bị thiệt, nhưng xét theo nhân quả thì thật ra chúng ta không hề thiệt thứ gì, bởi đã là trả nợ thì không thể gọi là thiệt được.Như vậy, khi có sự thấy biết đúng đắn, chúng ta sẽ hóa giải được phiền não,
Trang 52.2.Đoạn trừ phiền não do phòng hộ
Phòng có nghĩa là giữ gìn, ngăn ngừa Hộ có nghĩa là bảo vệ, che chở Để ngăn nước tràn vào ruộng làm lúa bị ngập úng, chúng ta đắp bờ đê Để ngăn gà, heo vào phá vườn rau, chúng ta làm hàng rào Để ngăn kẻ trộm vào lấy cắp tài sản, chúng ta đóng cửa thật chặt
và khóa tủ thật kỹ Đó gọi là phòng hộ.Tương tự như vậy, để ngăn sáu tên giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp làm nhiễu loạn tâm, mỗi chúng ta phải phòng hộ sáu cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý Đức Phật dạy rằng, ví như một tòa thành có sáu cánh cửa, mỗi cửa có một ông lính gác, nếu có một ông lính ngủ gật, không canh giữ được thì quân giặc
sẽ đột nhập vào bên trong và phá nát tòa thành đó Cũng vậy, nếu không chính niệm tỉnh giác, phòng hộ sáu căn thì “giặc sáu trần” sẽ đột nhập vào trong tâm thức, phá hoại thiện căn của chúng ta và làm phát sinh phiền não.Cụ thể, về việc phòng hộ nhĩ căn: Khi nghe bất cứ điều gì chúng ta cũng cần phải có chính niệm, tỉnh giác, đừng để bị dẫn dắt, sai sử Chẳng hạn, khi bị người chê bai hoặc chửi mắng, nếu chúng ta để tên giặc âm thanh xâm nhập và làm chủ trong tâm thì sẽ rất dễ tức giận, phiền não, thậm chí còn có những lời nói và hành động không tốt gây ra đau khổ cho cả ta và người Hay khi nghe lời nói êm dịu, ngọt ngào từ những kẻ xấu, nếu không phòng hộ thì chúng ta dễ tin tưởng, giao cho
họ làm những việc quan trọng, đưa cho họ tài sản vật chất của chúng ta Lúc tỉnh ra thì có tiếc nuối cũng đã muộn màng Nếu chính niệm, tỉnh giác, chúng ta sẽ nghĩ: “Người ta nói vậy thôi, còn đúng hay sai mình có thể cân nhắc” Thế thì tên giặc âm thanh sẽ không thể làm nhiễu loạn tâm ta và không sai sử được ta nữa.Trong kinh Tương Ưng Bộ IV, đức Phật đã kể một câu chuyện như sau: Có con rùa đang đi kiếm ăn dọc bờ sông thì chợt nhìn thấy từ đằng xa, một con dã can đang tiến đến Biết con dã can chuyên ăn thịt rùa,
nó liền rụt đầu, rụt bốn chân và cả đuôi vào trong mai Con dã can đến đứng cạnh con rùa, chờ cho con rùa thò cái gì ra là chộp ăn ngay Nhưng con rùa vẫn nằm bất động Dã can đứng canh một lúc, thấy không đợi được nên đành bỏ đi Thế là con rùa thoát nạn.Cũng vậy, đức Phật dạy chúng ta phải biết thu thúc sáu căn của mình, giống như con rùa biết bảo vệ sáu bộ phận cơ thể trước con dã can Nếu không làm chủ được sáu căn thì chúng ta dễ rơi vào phiền não và khổ đau do ngoại cảnh Câu chuyện trên là bài học quý báu cho mỗi chúng ta.Phòng hộ không có nghĩa là nhắm mắt không nhìn, bịt tai không nghe, ngậm miệng không nói,… mà là lúc nào cũng chính niệm, tỉnh giác Chúng ta phòng hộ sáu căn bằng cách nhận biết niệm nào khởi, niệm nào diệt, niệm nào chính, niệm nào tà Từ đó, chúng ta sẽ ngăn chặn và hóa giải được phiền não Như vậy, phương pháp thứ hai đức Phật dạy cho chúng ta để đoạn trừ phiền não chính là phòng hộ
Đoạn trừ phiền não do thọ dụng Thông thường chúng ta nghĩ rằng, đã là Phật tử thì phải biết thiểu dục tri túc, phải biết buông bỏ Càng buông bỏ thì càng ít phiền não, càng thọ
Trang 6dụng thì càng nhiều phiền não Nhưng trong pháp này, đức Phật lại dạy rằng, phiền não
có thể được đoạn trừ do thọ dụng.Thí dụ như đói – đói là một loại phiền não Khi đói, chân tay bủn rủn, đi đứng không vững, thậm chí là không ngủ được Để đối trị với phiền não này, chúng ta phải thọ dụng bằng cách ăn uống.Hoặc như lạnh, chúng ta thường cảm thấy khó chịu khi trời lạnh Đặc biệt là ban đêm, khi nhiệt độ xuống thấp sẽ rất khó ngủ
Để có được một giấc ngủ ngon, chúng ta phải mặc áo ấm hoặc dùng lò sưởi Hay khi thời tiết nóng cũng sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy rất khó chịu, bực bội Để được mát mẻ và
dễ chịu hơn, chúng ta phải dùng quạt hoặc máy điều hòa Khi thọ dụng những thứ này là chúng ta đang đoạn trừ phiền não do ngoại cảnh gây ra.Hay như bị bệnh, đơn cử là khi bị đau răng, chúng ta vô cùng khó chịu, nhiều khi cơn đau còn lên đến tận đầu và chúng ta
sẽ thấy rất phiền não Muốn đoạn trừ phiền não này, chúng ta phải uống thuốc giảm đau Sau khi thọ dụng thuốc, cơn đau sẽ giảm dần.Qua các thí dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng, tùy từng hoàn cảnh mà đức Phật dạy các phương pháp khác nhau để đoạn trừ phiền não Không phải loại phiền não nào chúng ta cũng diệt trừ bằng cách đối trị, nhiều khi phải thọ dụng, phải thuận theo từng loại phiền não mới có thể giải quyết được
2.3.Đoạn trừ phiền não do kham nhẫn
Kham nhẫn nghĩa là chịu đựng Phương pháp này giúp chúng ta tăng khả năng chịu đựng,
cố gắng vượt qua những khó khăn, thử thách để đoạn trừ phiền não.Thí dụ, nếu chúng ta
đi đến một xứ sở quá nóng hoặc quá lạnh so với nơi ta ở, chắc chắn ta sẽ thấy trong người khó chịu và sinh phiền não Tại sao như vậy? Vì khả năng thích ứng của chúng ta sẽ không bằng người dân bản xứ Người ở xứ nào thì chịu được thời tiết của xứ đó, do từ nhỏ đến lớn họ đã quen với việc chịu đựng khí hậu đó rồi, nên cũng ít bị phiền não hơn.Cũng vậy, khi sống gần những người thường hay nói khích, nói nặng hoặc hay la mắng, nếu không biết kham nhẫn, chúng ta sẽ dễ nổi sân Nếu cả hai đều sân hận như vậy thì bên nào cũng bị phiền não và đau khổ Ngược lại, nếu chúng ta biết kham nhẫn thì mọi việc sẽ tốt đẹp Người xưa thường nói: “Một điều nhịn, chín điều lành” Kham nhẫn
sẽ giúp tâm chúng ta bình lặng.Kham nhẫn trước những tác động của ngoại cảnh đã khó, nhưng để có thể kham nhẫn trước những ham muốn của nội tâm còn khó khăn hơn Chẳng hạn, chúng ta bị nghiện rượu, nghiện thuốc lá Khi hiểu được tác hại nghiêm trọng của rượu và thuốc lá đến bản thân, gia đình và xã hội, chúng ta cố gắng từ bỏ Nhưng hằng ngày chúng ta sử dụng quen rồi, không dùng nữa sẽ cảm thấy rất khó chịu, nên không thể bỏ ngay được mà phải tập từ từ Trước đây, mỗi ngày mình uống một xị, hút một bao, giờ giảm xuống còn một nửa thôi, rồi dần dần không sử dụng liên tục nữa mà vài ngày mới dùng một lần, cuối cùng là bỏ hẳn Dân gian có câu: “Ăn quen khó nhịn, nhịn hoài cũng quen” Trước bất kỳ phiền não nào, nếu biết chịu đựng, nhất định sẽ có ngày chúng ta vượt qua nó.Người học Phật cần phải biết kham nhẫn, từ từ vượt qua những khó khăn, thử thách để tiến bộ hơn trên con đường tu tập Lúc mới bắt đầu tu, mỗi
Trang 7than mệt, than đau, thế là bỏ cuộc giữa chừng Nhưng nếu lúc đó chúng ta tự nhủ với bản thân: “Thôi kệ, đau một chút cũng ráng”, thì sau một thời gian, chắc chắn chúng ta sẽ tiến bộ.Như vậy, ngược với pháp thứ ba là thọ dụng để đoạn trừ phiền não, ở pháp thứ tư này, đức Phật lại dạy chúng ta phải đoạn trừ phiền não bằng kham nhẫn
2.4.Đoạn trừ phiền não do tránh né
Tránh né là gì? Tránh né nghĩa là không đối diện, không tiếp xúc, gần gũi với người, sự vật hoặc sự việc nào đó Đức Phật dạy rằng có những phiền não có thể đoạn trừ do tránh
né Để chúng ta hiểu rõ hơn, tôi sẽ đưa ra một vài thí dụ:Khi thấy những con thú dữ, chúng ta nên tránh xa, vì khi đến gần chúng ta có thể bị tấn công Thứ hai là chúng ta không nên vào những nơi cờ bạc, coi chừng “cháy túi”, bởi “cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà bán hết tra chân vào cùm” Thứ ba, không nên vào các quán rượu Đó là nơi ăn chơi
sa đọa, hơn nữa, trong năm giới căn bản của người Phật tử có giới không uống rượu Uống rượu làm tâm trí mê mờ, mất tự chủ, không những gây ảnh hưởng xấu tới bản thân chúng ta mà còn tới gia đình và xã hội.Và nhất là chúng ta nên tránh xa những người không phải thiện tri thức Thời đức Phật còn tại thế, Đề-bà-đạt-đa là anh em bà con và cũng là đệ tử của đức Phật Về sau, vì muốn lên làm giáo chủ nên Đề-bà-đạt-đa đã tìm mọi cách để hại đức Phật Ông ta đến xúi thái tử A-xà-thế giết vua Tần-bà-sa-la để cướp ngôi, còn ông ta sẽ giết đức Phật để lên làm giáo chủ Thái tử A-xà-thế đã nghe lời Đề-bà-đạt-đa, nhẫn tâm giết chết vua cha và sau khi tỉnh ngộ đã ân hận rất nhiều “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, nếu gần người xấu ác trước sau gì mình cũng sẽ có hành động xấu ác, tự chuốc lấy phiền não cho mình Ngoài ra, quý vị cũng nên tránh né những người hay sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, vì gần gũi những người này sẽ đem đến cho quý
vị rất nhiều phiền não
2.5.Đoạn trừ phiền não do trừ diệt
Phương pháp thứ sáu là đoạn trừ phiền não do trừ diệt Nghĩa là khi phiền não khởi lên, chúng ta phải lập tức đoạn diệt, không để nó dây dưa và phát triển.Ví như một vết dầu khi mới rớt xuống hồ nước, nếu chúng ta kịp thời vớt lên thì sẽ hạn chế vết dầu loang ra, còn không thì chắc chắn mặt hồ sẽ bị vết dầu này làm cho loang lổ Cũng như thế, khi phiền não khởi lên, chúng ta phải lập tức đoạn diệt, không nên để nó kéo dài và nhân rộng.Khi tâm khởi lên một ý niệm xấu, nếu được hóa giải ngay lập tức thì sẽ không có vấn đề gì xảy ra Thí dụ, một em học sinh xích mích với người bạn cùng lớp Không thể phản ứng lại ngay khi bị ăn hiếp, trong tâm em liền khởi lên ý niệm: “Tao sẽ trả thù” Nếu cha mẹ, thầy cô biết được và giúp hai em hòa giải thì mọi chuyện sẽ ổn thỏa Còn nếu để xích mích ngày càng phát triển, em học sinh đó có thể sẽ rủ bạn bè đến đánh người bạn kia Điều đó sẽ gây đau khổ cho cả hai bênHay như trong gia đình, khi hai vợ chồng bất hòa
Trang 8với nhau, dù là những mối bất hòa nhỏ, nếu không hòa giải sớm sẽ ngày càng buồn phiền,
bế tắc, cuối cùng có thể dẫn đến ý nghĩ muốn ly hôn để giải thoát cho nhau Còn nếu mâu thuẫn được dập tắt ngay lúc mới khởi lên thì sẽ tránh được nhiều hậu quả khôn lường.Cho nên, đức Phật dạy, khi phiền não khởi lên, chúng ta phải trừ diệt ngay, không
để nó kéo dài và phát triển Nếu chúng ta nuôi dưỡng phiền não chắc chắn sẽ gây khổ đau cho mình và cho người
2.6.Đoạn trừ phiền não do tu tập
Đức Phật đã dạy cho chúng ta vô lượng pháp môn để tu tập, phải tùy theo căn cơ, trình độ của mình mà chọn pháp môn thích hợp để thực hành Khi thực hành thuần thục rồi thì phiền não sẽ không còn cơ hội để phát triển nữa Đó gọi là do tu tập mà đoạn trừ được phiền não.Chẳng hạn, về pháp môn niệm Phật Niệm Phật là lúc nào cũng nghĩ nhớ đến Phật, không nhớ gì khác nữa Tâm làm chủ các pháp, tạo ra mọi hạnh phúc và khổ đau Chúng ta thường nhớ Phật, niệm Phật thì tâm sẽ luôn tỉnh giác và tham, sân, si bớt dần Hằng ngày, chúng ta niệm Phật là đang luyện cho tâm được thanh tịnh Từ đó thân và khẩu cũng thanh tịnh, tránh xa được các ác pháp Khi ấy, chúng ta sẽ không còn phiền não, bởi trong tâm có Phật thì không có Ma, cũng như có sáng thì không có tối
Thường niệm Phật Di-đà,
Ý chẳng nghĩ điều tà, Miệng không nói điêu ngoa, Thân lánh xa việc ác, Thời thời hằng tỉnh giác Trong cả bốn oai nghi
Như vậy, nếu thường xuyên niệm Phật thì chúng ta sẽ đoạn trừ và chuyển hóa được phiền não, giúp cho thân tâm của mình luôn được an lạc Đó là một thí dụ do tu tập đoạn trừ được phiền não.Tóm lại, đức Phật đã dạy chúng ta bảy pháp để đoạn trừ phiền não, đó
là dùng tri kiến, phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt, và tu tập Sau khi biết được bảy pháp này, khi phiền não khởi lên, chúng ta phải suy nghĩ xem nên ứng dụng phương pháp nào để hóa giải và đoạn trừ.Trong kinh Pháp Cú, đức Phật dạy: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự khổ
sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo”Tâm của chúng ta là chủ Nếu tâm thanh tịnh thì lời nói và việc làm cũng sẽ thanh tịnh Nếu tâm ô uế thì lời nói và việc làm cũng sẽ ô uế Chúng ta phải nắm chắc điều này để chọn cho mình những phương pháp hóa giải phù hợp và đúng đắn Khi đó, chắc chắn chúng ta sẽ đoạn trừ được phiền não, tránh gây tạo ác nghiệp, đạt đến an vui và hạnh phúc ở hiện tại cũng như tương lai Chủ nghĩa tư bản cho rằng hạnh phúc số đông bao giờ cũng xuất phát từ hạnh phúc cá nhân Tuy nhiên, một xã hội công bằng vẫn thường mơ ước hạnh phúc cộng đồng đem lại hạnh phúc cho từng cá nhân Trong thế giới ngày nay, càng lúc, người ta càng áp dụng
Trang 9ngược lại nó càng làm tăng thêm tánh ích kỷ trong mỗi cá nhân mà thôi Chúng ta hãy lựa chọn sự tiến bộ nào hoặc cộng đồng hoặc cá nhân kéo theo sự tiến bộ phía phụ thuộc là tự nhiên và có thể thực hành được
Ngày nay, một bên có nhiều nhóm người chủ trương đời sống hưởng thụ, xa hoa và một bên số đại đồng đang bị rơi vào tình trạng túng thiếu và nghèo đói Nếu thế giới này tiến triển tốt, nhân loại đã thoát khỏi đói khổ, nghèo nàn Bởi vậy, nhân loại cần phải dựa trên ba giá trị nền tảng, đó là - tự do, bình đẳng và tình hữu nghị Đạo Phật là triết học đưa xã hội tiến bộ dựa trên những giá trị này Do đó, phổ biến các giá trị tự do, bình đẳng, và tình hữu nghị anh em là đóng góp nổi bật, đầy ý nghĩa của đạo Phật đối với sự tiến bộ của nhân sinh.Trong thời gian gần đây, Ấn Độ và nhiều nước đang chạy đua với thế giới Đạo Phật không phải là một tôn giáo đề xướng ra sự tranh đua, hơn thua mà là một tôn giáo cổ vũ tinh thần đoàn kết Thế giới hiện nay đang trong giai đoạn nhìn nhận lại sự thật và tán dương chân giá trị của tình hữu nghị, tình đoàn kết giữa mọi người, mọi quốc gia Nếu chúng ta không cố gắng gìn giữ tinh thần này liên tục và bền vững thì sự hiện hữu của nhân loại có thể gặp nhiều nguy khốn, và nguy cơ này đã và đang bắt đầu Thế giới tùy thuộc vào chúng ta và mọi người trong chúng ta có trách nhiệm đưa cuộc sống đi lên Thế giới hôm nay công nhận nguyên tắc giản đơn này, và chúng ta có thể giải quyết phần lớn những vấn nạn nhân loại đang đối mặt một cách thông minh hơn và dễ dàng hơn Chiến tranh và vũ khí không phải là những phương tiện, phương thức để giải quyết những vấn nạn ấy và thật ra chúng chẳng giải quyết được gì cả Quân đội, chiến tranh hầu mong đem lại hòa bình cho thế giới chỉ là triết lý sai lầm Hòa bình duy nhất chỉ có thể đạt được từ những phương tiện, phương thức hòa bình, an lạc Ý niệm hòa bình
- một trong những triết thuyết cao cả nhất của Đức Phật đã đặt ra cho thế giới Điều này khẳng định lại niềm tin rằng giải pháp của các vấn nạn nhân loại trên tinh thần hòa bình
là con đường đưa thế giới hướng về đạo Phật.Chúng tôi, những người Ấn Độ luôn tin chắc rằng đạo Phật và quan điểm của tôn giáo này là giải pháp hữu hiệu nhất cho các vấn nạn của chúng ta Nhưng trớ trêu thay, ngay trên mảnh đất Đức Phật giáng sanh, tinh thần
bị động, thoái lui đã ăn sâu tận gốc rễ khắp mọi nơi Chế độ phân biệt giai cấp đã làm tê liệt hoàn toàn xã hội Ấn Tình trạng phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn vẫn còn kéo dài cho tới bây giờ và do vậy, mọi người sống giữa nhiều ranh giới “Chỉ có đạo Phật mới là con đường duy nhất để phá vỡ những biên giới giai cấp này”,ông Babasaheb Ambedkar
đã tuyên bố như thế và đã làm rung chuyển đến tận gốc rễ chế độ giai cấp trong xã hội
Ấn Độ.Babasaheb đề cao các giá trị tự do, bình đẳng, tình hữu nghị và dân chủ trong hiến pháp mà ông đặt ra cho quốc gia Về sau, sự bất đồng giữa giá trị bình đẳng ghi trong hiến pháp và thực tế của bất bình đẳng trong xã hội Ấn mỗi lúc mỗi gay gắt hơn Nếu như
Trang 10Ấn Độ là một đất nước năng động, chế độ giai cấp đã hoàn toàn triệt tiêu trong xã hội Ấn
Độ rồi Nói tóm lại, điều này cho thấy rằng Ấn Độ tuyệt đối công nhận các giá trị của đạo Phật Hiện nay cứ sáu người trên thế giới thì có một người Ấn cho nên thảo luận về con người Ấn Độ là việc rất cần thiết liên quan đến sự tiến bộ của thế giới Triết học đạo Phật
là cột sống của tất cả sự thay đổi đi lên của Ấn Độ Đây là đóng góp sống động của Phật giáo đối với thế giới.Mọi tôn giáo cũng như các hệ thống tổ chức xã hội trên thế giới đều đặt người phụ nữ ở vị trí thứ hai, thấp hơn nam giới Tất cả vấn nạn hiện hành trong thế giới ngày nay đều bắt nguồn từ sự bất bình đẳng này Khái niệm nổi bật của phụ nữ có nghĩa là chịu đựng sự thống trị, chi phối của nam giới – được thế giới công nhận như một điều hiển nhiên Tuy nhiên, ngày nay vì sự lãnh đạo năng động và nỗ lực của nhiều phụ
nữ cũng như nam giới, quan điểm bình đẳng đối với nữ giới đã được thực hiện trên khắp năm châu Hiện nay nữ giới ngang bằng nam giới, cùng làm việc chung với nam giới trên mọi lãnh vực Trong lịch sử nhân loại, đạo Phật là tôn giáo đầu tiên đề cập đến sự bình đẳng giữa nam và nữ Đạo Phật cho rằng sự đi lên của thế giới này là sự tiến bộ song song của cả nam và nữ Luận điểm này đã được chấp nhận rộng rãi và làm thay đổi thái
độ, tầm nhìn của xã hội đối với nữ giới Đây cũng là đóng góp của đạo Phật đối với sự bình đẳng về giới tính Chủng tộc và màu da được xem như là cơ sở để phân chia, kỳ thị trong nhiều quốc gia Con người không thể nào tạo hai yếu tố này được và khi ra đời con người ta đã phải nhận hai yếu tố này rồi, vì vậy chúng ta không thể nhìn vào chủng tộc màu da mà kỳ thị nhau Đức Phật không chấp nhận bất cứ sự đối xử phân biệt nào và luôn nhấn mạnh quan điểm không phân biệt trong triết lý của mình Vì lẽ đó, chúng ta có thể thấy được nguyên nhân và quan điểm rõ ràng không chấp nhận sự phân biệt chủng tộc màu da trong triết học đạo Phật Chính quan điểm này hình thành nền tảng cho các phong trào xã hội Pandit Jawaharlal Nehru, vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ đánh giá cao về Năm giới này và khẳng định rằng đây là cách thực hành cụ thể trên tinh thần bình đẳng đối với nữ giới, và các giai cấp thấp trong xã hội Ấn Độ.Cái có và không luôn hiện hữu trong cuộc đời, tuy vậy chúng ta cần nhớ điều quan trọng là tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng Đạo Phật đặc biệt bảo vệ quan điểm này và vì vậy luôn khuyến khích mọi người thay đổi thế giới hướng đến tinh thần bình đẳng Nhân loại mơ cùng nhau thay đổi cuộc đời, thiết lập một trật tự chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội công bằng trong ánh sáng triết học Phật giáo Đó là lý do tại sao chúng ta có thể phát biểu một cách tự tin rằng triết học Phật giáo là nền tảng để thay đổi một thế giới tốt đẹp hơn Đây là đóng góp thiết thực và đáng chú ý của đạo Phật cho sự công bằng của xã hội
HẾT