GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HCM TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ☸ ĐỀ TÀI HÌNH MẪU NGƯỜI XUẤT GIA QUA QUY SƠN CẢNH SÁCH CỦA TỔ QUY SƠN Giảng Viên Phụ Trách SC TN[.]
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
☸
ĐỀ TÀI
HÌNH MẪU NGƯỜI XUẤT GIA QUA QUY SƠN CẢNH
SÁCH CỦA TỔ QUY SƠN
Giảng Viên Phụ Trách: SC.TN Tuệ Châu Sinh viên thực hiện: Dương Thị Ngọc Ánh
Pháp danh: Thích Nữ Huệ Trạm
Mã sinh viên: 062000009 Lớp: PHTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 03 năm 2023.
Trang 2Con xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng con Các thông tin nêu trong tiểu luận này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ Luận văn, Luận án nào khác
Tác giả ký tên Thích Nữ Huệ Trạm
NHẬN XÉT
Trang 3
Trang 4
“Để hoàn thành tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin.Xin cảm ơn giảng viên bộ môn
- SC.TS.TN Tuệ Châu đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài tiểu luận này.Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trong bài tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.Lời cuối cùng, em xin kính chúc SC.TN Tuệ Châu nhiều sức khỏe, sớm thành tựu đạo và quả.”
Trang 5MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1 :GIỚI THIỆU VỀ TỔ QUY SƠN VÀ QUY SƠN CẢNH SÁCH 1.1 Tổ Quy Sơn ………2
1.2 Qui Sơn Cảnh Sách 3
CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI XUẤT GIA TRONG QUY SƠN CẢNH SÁCH 2.1 Sự hình thành tăng đoàn Phật giáo 5
2.2.Hình ảnh Người xuất gia trong Quy Sơn cảnh sách 5
2.2.1 Trân trọng kiếp Người 5
2.2.2.Hướng đến mục đích xuất gia 10
C.KẾT LUẬN
… 15
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 6A.PHẦN MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mùa xuân là mùa đâm chồi nảy lộc của thiên nhiên Cách đây hơn 25 thế kỷ, nhân loại cũng đã chứng kiến một hiện tượng "đâm chồi nảy lộc" khác vĩ đại và tuyệt vời hơn nhiều Không phải của thiên nhiên mà của trí tuệ, không phải làm đẹp cảnh vật mà làm sáng lên một con đường giải phóng chúng sinh thoát khổ Hiện tượng khai hoa nở nhụy
đó là sự thành hình của Tăng đoàn Phật giáo (Tăng già, Sangha) do chính Đức Phật khai sinh, nuôi dưỡng và uốn nắn để từ đó lớn lên, lan rộng, vượt thời gian, tồn tại cho đến ngày nay dưới những chiếc tăng bào nhiều màu sắc trên khắp mặt địa cầu Lịch sử cho biết rằng năm 528 đến năm 484 trước Tây lịch là khoảng thời gian 45 năm mà Đức Phật
đã đi hết miền Tây bắc nước Ấn Độ, qua các vương quốc Kosala và Magadha cùng nhiều tiểu quốc khác dọc sông Ganges và sông Gandak để tuyên giảng giáo pháp của mình Đó cũng chính là giai đoạn Ngài khai sinh và xây dựng Tăng đoàn, từng người một, từng ngày một, để đặt nền móng nhưng đồng thời cũng thiết kế và hoàn thiện một công cụ thiện xảo với chức năng, thay Ngài sau này, duy trì bánh xe Chánh pháp được quay đều,
và quay bền vững, trong không gian vô tận và thời gian vô cùng.Trong một xã hội Ấn Độ với thượng tầng văn minh và hạ tầng tổ chức cách đây hơn 25 thế kỷ, trình độ khoa học chưa cao, cơ sở vật chất còn sơ khai, các trường phái học thuật và tôn giáo còn mông muội thần quyền, Đức Phật đã bắt đầu như thế nào với Tăng đoàn sơ khai để sau này, với nội lực khởi động đó, trở thành một trong Tam bảo Ngài đã bắt đầu như thế nào để kết nạp, huấn luyện và chuyển giao công tác hoằng dương Chánh pháp cho các đệ tử của mình? Ngài đã xây dựng cấu trúc, đặt ra nguyên tắc vận hành, và giải quyết các vấn đề tồn sinh của tổ chức Tăng đoàn như thế nào? Và Ngài đã vạch chiến lược phát triển cũng như giải quyết các khủng hoảng nội bộ như thế nào?…Vì lý do đó Học viên chọ đề tài:
“Hình mẫu người xuất gia qua văn cảnh sách của tổ Quy Sơn”,để làm bài tiểu luận của mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài được chọn nhằm đáp ứng mục đích sau: Tìm hiểu ý nghĩa và hành trì tu tập của người xuất gia
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Hình ảnh người xuất gia
Phạm vi nghiên cứu: Kinh văn pali và tác phẩm quy sơn cảnh sách
4 CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN
Bài tiểu luận gồm có 4 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và thư mục tham khảo
Trang 7B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :GIỚI THIỆU VỀ TỔ QUY SƠN VÀ QUY SƠN CẢNH SÁCH 1.1 Tổ Quy Sơn
Quy Sơn Linh Hựu (zh guīshān língyòu 潙潙潙潙, ja isan reiyū), 771-853, là một vị Thiền sư Trung Quốc trứ danh, môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải và thầy của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Cùng với Ngưỡng Sơn, sư khai sáng tông Quy Ngưỡng Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất thời đó và môn đệ của sư trên dưới không dưới 1500 Tác phẩm Quy Sơn cảnh sách văn của sư được phổ biến rộng rãi trong giới thiền cho đến ngày nay [1] Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu sư xuất gia năm mười lăm tuổi và chăm học kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa Ban đầu, sư đến núi Thiên Thai, chú tâm nghiên cứu các bài luận của hai vị Đại luận sư Ấn Độ Vô Trước và Thế Thân với giáo lý Duy thức Tương truyền sư cũng có gặp hai dị nhân trong giới Thiền tại đây là Hàn Sơn và Thập Đắc Không rõ là những bài luận nói trên có gây ấn tượng nào trong sư không, nhưng chỉ ba năm sau đó (khoảng 796), sư rời Thiên Thai và quyết định tham học với một vị Thiền sư
Sư đến Giang Tây yết kiến Thiền sư Bách Trượng Bách Trượng thấy sư liền cho nhập hội, nơi đây sư đứng hàng đầu.Cơ duyên ngộ đạo của sư được ghi lại như sau: Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: "Ngươi đem được lửa đến chăng?" Sư thưa: "Đem được." Bách Trượng hỏi tiếp: "Lửa đâu?" sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa Bách Trượng gạt qua
và bảo: "Như sâu đục vỏ cây Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!" Hôm khác, sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: "Ai?" Sư thưa: "Con, Linh Hựu!" Bách Trượng bảo: "Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?" Sư vạch ra thưa: "Không có lửa." Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ sư bảo: "Ngươi bảo không, cái này là cái gì!" Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ Bách Trượng bảo: "Đây là con đường rẽ tạm thời Kinh nói ‘Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.’ Cho nên Tổ sư bảo ‘Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.’ Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ."Sư ở lại hầu Bách Trượng khoảng hai mươi năm rồi vâng lời thầy đến núi Quy khai sơn Nơi đây thú dữ nhiều, sư bảo chúng: "Nếu ta có duyên nơi đây thì các ngươi đi chỗ khác, còn không duyên thì cứ ăn thịt ta đi." Sư nói xong, thú dữ
đi hết Dần dần chúng hay tin sư ở đây rủ nhau đến tham học và thành lập một ngôi chùa, vua đặt tên là Đồng Khánh Sư bắt đầu hoằng hoá và cùng với Hoàng Bá Hi Vận, môn phong của Bách Trượng cao vút từ đây Có vị tăng hỏi: "Người được Đốn ngộ có tu chăng?"Sư trả lời (Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch): "Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn Tập khí nhiều kiếp từ vô thủy chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trút sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy
Trang 8Không có nói một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng Từ nghe nhập được lý nghe và
lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế Nói tóm lại ‘Chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp.’ Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức Phật như như."Sư thượng đường bảo chúng (Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch): "Sau khi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ
‘Quy Sơn Tăng Linh Hựu.’ Khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?"Đời Đường niên hiệu Đại Trung năm thứ bảy (853), ngày mùng 9 tháng giêng, sư tắm gội xong ngồi kết già viên tịch, thọ
83 tuổi, 64 tuổi hạ Vua ban hiệu là Đại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh Những lời dạy của sư còn được ghi lại trong Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền sư ngữ lục
1.2 Qui Sơn Cảnh Sách
“Qui Sơn” là ngọn núi Qui, nơi Thiền Sư Linh Hựu giáo hóa bốn chúng “Cảnh Sách”: Cảnh là đánh thức những người đang mê chưa ngộ Người tu tuy đã phát tâm xuất gia học đạo, song còn mê say trong dục lạc, thường quên lãng việc tu hành Nên Ngài dùng phương tiện đánh thức cho mỗi hành giả nhớ lại bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia để nổ lực tiến tu, đó là cảnh Sách nghĩa là roi da Thường người cỡi ngựa muốn cho ngựa chạy nhanh, dùng roi da tróc tróc cho nó chạy Cũng vậy, muốn sách tấn thúc đẩy người ta cũng phải dùng lời để răn nhắc cho tiến Tông chỉ của bộ luận này, chủ yếu của
Tổ là đánh thức người tu chúng ta nỗ lực tiến tới chỗ cứu cánh của người xuất gia Qui Sơn Cảnh Sách là bộ luận mà trong thiền môn nói riêng, giới xuất gia nói chung, coi như kinh của Phật Thế nên ai xuất gia vào chùa, trong thời gian đầu học làm Sa Di, đều phải học thuộc lòng ba quyển gọi là Phật Tổ Tam Kinh; Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Di Giáo, Qui Sơn Cảnh Sách Hai quyển đầu là lời Phật dạy được gọi là kinh thì đúng Quyển Cảnh Sách của Ngài Qui Sơn đáng lý phải gọi là luận, tại sao lại gọi là kinh?Các
vị thuở xưa thấy lời chỉ dạy sách tấn của Ngài rất thiết yếu, vừa thích hợp với chân lý, vừa phù hợp với căn cơ mọi người, nên các vị xem như lời Phật dạy, vì vậy mà gọi là kinh Quyển Qui Sơn Cảnh Sách đối với tất cả những người xuất gia còn trẻ, trong thời tập sự đã phải học thuộc lòng.Đây là tác phẩm của Tổ Qui Sơn thuộc đời thứ tư sau Lục Tổ: 1 Nam Nhạc Hoài Nhượng 2 Mã Tổ Đạo Nhất 3 Bá Trượng Hoài Hải 4 Qui Sơn Linh Hựu Ngài sinh năm 771 tịch năm 853 Quyển sách này ra đời vào khoảng cuối thế
kỷ VIII Ngài giáo hóa trên núi Qui, nơi đây có hơn 1500 thiền sinh qui tụ tu tập, nên Ngài có lời cảnh sách để răn nhắc chung toàn chúng.Lời Ngài chẳng những có giá trị về đạo lý, mà còn có giá trị về văn chương, nên được trong thiền môn dùng để sách tấn toàn thể Tăng Ni Bởi có giá trị như thế nên sau này có nhiều nhà giải thích: 1 Đời Tống, Ngài Thủ Toại chú đề tựa là “Qui Sơn Cảnh Chú” (1 quyển) 2 Đời Minh, Ngài Đạo Bá
Trang 9giải đề tựa là “Qui Sơn Cảnh Sách Chỉ Nam” Quyển này nằm trong bộ Phật Tổ Tam Kinh (1 quyển) 3 Đời Minh, Ngài Hoàng Tán chú, Ngài Khai Quýnh ký, đề tựa là “Qui Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký” (2 quyển) Tập sách này được các chùa đặc biệt dùng, vì cho lời giải của hai vị này đầy đủ nhất 4 Đời Minh, Ngài Đại Hương chú giải đề tựa là
“Cảnh Sách Chú” (1 quyển)
Dịch từ Hán sang Việt , có các vị: 1 Hòa Thượng Hành Trụ dịch từ quyển “Qui Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký” của Ngài Hoàng Tán và Khai Quýnh 2 Pháp sư Kiểu dịch bản
“Qui Sơn Cảnh Sách Chỉ Nam” của Ngài Đạo Bá 3 Hòa Thượng Trí Quang dịch đề tựa
là “Qui Sơn Cảnh Sách Văn” in trong tập luật Sa di và Sa di ni 4 Thầy Hoàn Quan dịch trong Phật Tổ Tam Kinh Chánh văn “Qui Sơn Cảnh Sách” vừa cô đọng vừa có âm điệu, nên ở đây tôi giảng chánh văn để quí vị thấy giá trị văn chương và ý nghĩa cô đọng trong lời Ngài dạy[2]
Trang 10CHƯƠNG 2
SỰ HÌNH THÀNH TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI XUẤT
GIA TRONG QUY SƠN CẢNH SÁCH 2.1 Sự hình thành tăng đoàn Phật giáo
Theo “Đại Phẩm” trong Luật Tạng ghi rằng, sau khi đức Phật thành đạo, đức Phật đã thuyết bài pháp đầu tiên cho 5 Tỳ kheo ở vườn Lộc uyển Các vị Tỳ kheo này đều tin tưởng thọ học và trở thành đệ tử của Ngài Đây chính là giai đoạn thành lập giáo đoàn đầu tiên trong Phật giáo, ngoài ra, đức Phật khuyên dạy 60 vị đệ tử của mình rằng: “Các thầy đã giải thoát khỏi mọi trói buộc, hãy du hành vì lợi ích cho tất cả chúng sinh.” Đây
là dấu hiệu quy định đơn giản cho phương thức sinh hoạt của giáo đoàn Phật giáo vào thời kỳ đầu Quy định về đời sống du hành của Tỳ kheo như thế này không phải chỉ riêng Phật giáo mới có Theo “Kinh Sa môn quả”, các vị Lục sư ngoại đạo đều là những người lãnh đạo quần chúng (saṁghin), cũng là người lãnh đạo của tập thể hành đạo (gaṇin), là bậc đạo sư của tập thể hành đạo (gaṇācariya) Họ đều là những bậc tri thức uyên bác, danh giá cao quí, là hạng người thủy tổ, được mọi người tôn sùng, họ đều là những vị xuất gia lâu năm, những bậc trưởng thượng dày dạn kinh nghiệm Như vậy, đoàn thể tu tập do các vị Sa môn lãnh đạo, cũng là một Tăng già (saṁgha) hay đoàn thể hành đạo (gaṇa), tuy nhiên ý nghĩa của từ này trong cách dùng của xã hội học, chính trị học là một
“tập đoàn sinh hoạt” Do đó, điều này mang nghĩa là qui y nương tựa vào những vị du hành giả là những người nói pháp làm bậc đạo sư, hình thành một đoàn thể Vào thời kỳ đầu, các vị Sa môn theo Phật giáo được gọi là “Sa môn Thích Tử” (Sakyaputtiya Samaṇa), giáo pháp của đạo Phật gọi là giáo pháp của Thích Tử (Sakyaputtiya Dhamma), như vậy ở thời kỳ này Phật giáo cũng được xem như là một phái của những người sống đời sống du hành Tuy nhiên, Phật giáo thời kỳ đầu chưa có khuynh hướng phân phái, chỉ lấy việc tu tập hoằng hóa giáo pháp làm mục đích Sự giác ngộ của đức Phật được gọi là Chánh-đẳng-giác (Sammā Sambuddha), sau khi Phật nhập diệt, giáo đoàn Phật giáo không đề cử người lãnh đạo, lấy quan điểm nương tựa chính mình, nương tựa chánh pháp làm mục tiêu Như vậy, do mục đích phổ biến chánh pháp mà hình thành các đoàn thể
“Tăng già” ở các nơi, sự phát triển này dần dần về sau hình thành quan niệm “tứ phương Tăng già chế độ”, cộng đồng sinh hoạt này phát triển từ một đoàn thể Tăng già nhỏ thời Phật giáo nguyên thủy, nhưng cho dù đoàn thể Tăng lữ nào trong Phật giáo tất cả đều lấy đức Phật và giáo pháp của ngài làm mục đích [3]
2.2.Hình ảnh Người xuất gia trong Quy Sơn cảnh sách
2.2.1 Trân trọng kiếp Người
“Nhơn do kiếp trước,Nghiệp buộc thân này
Nương các duyên thành tựu,Nhờ cha mẹ hình hài
Tuy hoả phong địa thủy làm thân, nhưng vẫn hằng trái lẽ;
Trang 11Khiến lão bịnh vô thường hiện tướng, chẳng kỳ hẹn cùng người
Sớm còn tối mất,Nháy mắt qua đời
Như sương mùa xuân, như móc ban mai, bỗng liền tan rã;
Như cây dựa bực, như dây bên giếng, nào chắc lâu dài
Chóng nhanh mỗi phút,Nhấp nháy từng giây
Biến hơi thở thoạt nhiên đổi kiếp,Há an lòng thong thả qua ngày?”
Người ta thường nghĩ một kiếp của con người là từ sanh cho đến già, bệnh chết là hết, tức sanh ra để rồi kết thúc bằng cái chết; nếu một kiếp của con người đơn giản như vậy thì thiệt ra không đáng sống Vì vậy, Đức Phật có suy nghĩ xa hơn là thấy được phía bên trong có cái gì khác nữa mà kinh Hoa Nghiêm diễn tả là Pháp giới duyên sanh Khi Đức Phật dạy rằng con người sanh, già, bệnh, chết là khổ thì gần như ai cũng nhàm chán sống, tức sống để chịu khổ rồi chết Từ đó, người theo Phật tu hành, xuất gia, bỏ nhà cửa, sự nghiệp và quyến thuộc để sống phạm hạnh Như vậy, người xuất gia hầu như đã cắt bỏ hết cuộc sống bình thường, nhưng còn thân này thì họ còn phải ăn uống ngủ nghỉ Tuy nhiên, người tu cắt bớt việc ăn uống ngủ nghỉ để không bị lệ thuộc bốn thứ này thì được giải thoát Đó là pháp đầu tiên mà Phật dạy cho con người Thật vậy, trong kinh Pháp hoa, Đức Phật nói rằng Ta vì những người nhàm chán sanh, già, bệnh, chết mới nói pháp Niết-bàn và chỉ dạy con đường đưa đến Niết-bàn là pháp đầu tiên gọi là Tứ Thánh đế, tức bốn chân lý không thay đổi.Từ bốn chân lý này mở ra cho chúng ta cuộc sống có ý nghĩa
là Đức Phật vẽ ra hai con đường sống là cuộc sống khổ đau và cuộc sống an lạc, hay kiếp người khổ đau và kiếp người an lạc Nếu chọn con đường đi lên là thiên đường hay Niết-bàn, chọn con đường đi xuống là địa ngục Và Đức Phật dạy rằng kiếp sống khổ hay vui cũng do ta tạo nên, đó là tư tưởng mới nảy sanh trái ngược với tư tưởng cổ của Ấn Độ thời bấy giờ chủ trương con người khổ hay vui đều do Thượng đế quyết định, Thượng đế ban vui, hay hành hạ con người khổ là toàn quyền của ngài Nhưng Đức Phật dạy rằng con người quyết định vận mạng của mình, Ngài phủ nhận quyền sinh sát của Thượng đế
và dạy rằng chúng ta không nên giao vận mạng của mình cho người mà mình không biết gọi là Thượng đế Đức Phật hỏi người Bà-la-môn rằng ông có biết hay thấy Thượng đế hay không Ông ta trả lời không thấy cũng không biết Thượng đế Phật hỏi như vậy tại sao ông tin Thượng đế Ông nói tại vì cha của con, ông của con, tổ tiên của con nói có Thượng đế Bấy giờ Phật dạy rằng đừng tin những gì được nhiều người trước ta tin Muốn tin phải kiểm chứng, coi điều ta tin có hợp lý hay không, nếu không hợp lý, ta không tin Nếu thấy hợp lý rồi còn phải kiểm chứng trong cuộc sống và thấy kết quả không đúng cũng gạt bỏ Không phải nghe rồi tin, không phải người xưa dạy rồi ta theo.Trên bước đường giáo hóa độ sanh, có lần Phật gặp người theo ngoại đạo nói rằng cha của ông dạy mỗi sáng phải lạy sáu phương, nên ông theo truyền thống này mà lạy Phật mới bảo rằng không nên tin theo truyền thống, nhưng làm phải suy nghĩ truyền