GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HCM ĐỀ THU HOẠCH GIỮA HỌC KỲ MÔN PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU ĐỀ TÀI Sự tương đồng và khác biệt giữa tâm lý trị liệu phương Tây và tâm lý trị li[.]
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
H ỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM
ĐỀ THU HOẠCH GIỮA HỌC KỲ MÔN: PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU
ĐỀ TÀI
S ự tương đồng và khác biệt giữa tâm lý trị liệu phương Tây và tâm lý tr ị liệu Phật giáo, minh họa bằng một kỹ
thu ật trị liệu tâm lý cụ thể
Gi ảng viên phụ trách:NS.TS.TN Hương Nhũ &
TS Lương Thị Thu Hường
Sinh viên th ực hiện: Nguy ễn Thị Thu Nga Pháp danh: TN.Chánh Y
Mã sinh viên: TX 6258
L ớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Tri ết Học Phật Giáo
Thành ph ố Hồ Chí Minh, năm 2023
Trang 2Tâm lý trị liệu là hệ thống các phương pháp có vai trò quan trọng trong điều trị những
vấn đề về tâm lý, tâm thần Phương pháp này bắt đầu được quan tâm vào giữa thế kỷ 19 nhưng chỉ thực sự phổ biến trong vài năm trở lại đây Thực tế, tâm lý trị liệu mới chỉ phổ
biến trong những năm gần đây Tuy nhiên, theo nhiều ghi chép, phương pháp này đã xuất
hiện từ thời Hy Lạp cổ đại Mặc dù liệu pháp hóa dược được sử dụng trước và phổ biến hơn nhưng trị liệu tâm lý là phương pháp ra đời trước Đến năm 1853, phương pháp này
bắt đầu được nghiên cứu sâu và phát triển mạnh mẽ.Các rối loạn tâm thần gây ra nhiều ảnh hưởng đối với cuộc sống và sức khỏe Cho đến nay, cơ chế bệnh sinh và căn nguyên đều chưa được xác định rõ Điều này dẫn đến nhiều khó khăn và bất cập trong quá trình điều trị Tuy nhiên, sự ra đời của tâm lý trị liệu giúp ích rất nhiều trong việc ổn định cuộc
sống lâu dài và hạn chế nguy cơ lạm dụng thuốc Phương pháp trị liệu tâm lý phổ biến
hiện nay?
1 Li ệu pháp nhận thức hành vi (CBT- Cognitive Behavioral Therapy):
Liệu pháp nhận thức hành vi là một phương pháp hướng tới giải pháp, khuyến khích mọi người thay đổi hành vi và quan điểm của chính mình bằng việc thay đổi cách suy nghĩ
Liệu pháp này ngày càng phổ biến trong những năm gần đây.CBT tập trung vào “những suy nghĩ tự động” Đó là những suy nghĩ phản ánh về bản thân chúng ta, về những người khác, và về thế giới Các suy nghĩ này đại diện cho những niềm tin cốt lõi mà chúng ta níu giữ về chính bản thân mình, chẳng hạn như tin rằng chúng ta không xứng đáng hoặc
có khiếm khuyết Phương pháp điều trị này có thể được điều chỉnh cho phù hợp với từng
vấn đề tiềm ẩn của bệnh nhân như ám ảnh, nghiện ngập, lo lắng, mất ngủ và trầm
cảm.Bạn có thể sẽ không nhận thấy kết quả tức thời Tuy nhiên, nếu duy trì được sự cam
kết và kết nối trong quá trình trị liệu thì bạn sẽ bắt đầu cảm thấy khuây khỏa và đỡ hơn
2 Tr ị liệu liên cá nhân/Trị liệu giữa các cá nhân (IPT- Interpersonal Therapy):
Liệu pháp tâm lý trị liệu liên cá nhân thường được áp dụng để điều trị rối loạn tâm trạng,
với mục tiêu chính là cải thiện mối quan hệ và tương tác xã hội của một người nhằm xoa
dịu và làm giảm những gì họ đang phải chịu đựng IPT được cho là một hình thức trị liệu
mới và đã được chứng minh là có hiệu quả với những người chịu đau khổ vì một sự kiện nào đó trong cuộc sống như chuyển chỗ, ly hôn, người thân qua đời hoặc nghỉ hưu
Giống như liệu pháp nhận thức hành vi, IPT không đi quá sâu vào quá khứ mà hướng đến
những gì đang diễn ra trong cuộc sống của một cá nhân Suy nghĩ và hành vi của một người có tác động lên sự tự nhận thức về bản thân và cũng có tác động lên những mối quan hệ của người đó Điểm khác biệt chính yếu là IPT chú trọng vào cách mà suy nghĩ
và hành vi tác động lên những mối quan hệ của một người IPT chỉ tập trung vào bản thân những mối quan hệ thay vì đào bới những hệ quả tiêu cực đến từ các mối quan hệ thiếu lành mạnh.Quá trình điều trị theo IPT kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định, thường từ 12 đến 16 tuần Một phiên điều trị có thể bao gồm các hoạt động tương tác
nhập vai diễn ra ở bên ngoài văn phòng để xem liệu một người có thể xử lý mọi việc khác
đi hoặc theo cách có hiệu quả hơn hay không Các phiên làm việc theo nhóm cũng phổ
biến trong IPT, vì khi đó mọi người có thể thực hành kỹ năng giao tiếp liên cá nhân (giao
tiếp giữa nhiều người, nhiều cá nhân) trong một môi trường an toàn và tốt cho sự phát triển kỹ năng
3 Li ệu pháp hôn nhân – gia đình:
Một liệu pháp tâm lý ngắn hạn khác nữa là liệu pháp hôn nhân – gia đình Loại liệu pháp này thường kéo dài khoảng 12 tuần và tập trung vào việc cải thiện mối quan hệ của các
cặp đôi hoặc giữa các thành viên trong một nhà.Liệu pháp hôn nhân được cho là có hiệu
Trang 3quả đối với 7/10 cặp đôi trong một nghiên cứu năm 2011 Trong liệu pháp này, các nhà
trị liệu thường gặp từng người trước khi gặp chung 2 vợ chồng Đối với liệu pháp gia đình thì mọi người sẽ cùng gặp mặt, thỉnh thoảng nhà trị liệu cũng sẽ gặp riêng từng cá nhân nếu cần Thường thì các nhà trị liệu sẽ xác định những nhân tố gây ra mâu thuẫn, sau đó tìm kiếm cách thức chủ động để giải quyết những vấn đề của mọi người, rồi mỗi
cá nhân cũng sẽ nhận được lợi ích về mặt nào đó.Nicoletta Hedegger, một nhà trị liệu hôn nhân – gia đình ở Los Angeles, nói: “Liệu pháp hôn nhân – gia đình hữu ích cho công
việc có liên quan đến cá nhân và những mối quan hệ Tùy thuộc vào chuyên môn lâm sàng của bạn mà nó có thể giúp bạn xử trí và đạt được các kỹ năng ứng phó tốt hơn với
một loạt những cuộc đấu tranh, từ lo lắng đến trầm cảm, chấn thương, mâu thuẫn trong hôn nhân, đau buồn và mất mát”
4 Tr ị liệu tâm lý:
Trị liệu tâm lý là liệu pháp tâm lý truyền thống sử dụng các cuộc đối thoại, trò chuyện chuyên sâu nhằm hướng đến thế giới bên ngoài của bệnh nhân Hình thức này chủ yếu được áp dụng với những người đang đấu tranh với chứng trầm cảm, nhưng cũng có thể có
hiệu quả với những người bị nghiện, rối loạn lo âu xã hội và rối loạn ăn uống.Trong liệu pháp tâm động học (Psychodynamic therapy), mọi người được khuyến khích nói về bất
cứ điều gì họ nghĩ, với mục tiêu tổng quan là làm thuyên giảm các triệu chứng tiêu cực và nâng cao sự tự tin Thường thì loại hình trị liệu này sẽ diễn ra và đạt hiệu quả cao nhất đối với những người nhận thức rõ được vấn đề của họ, nhưng không có công cụ để tự mình xử lý chúng
5.Li ệu pháp thôi miên:
Liệu pháp thôi miên thường được áp dụng kết hợp với một liệu pháp tâm lý khác.Liệu pháp thôi miên dùng để giúp một người đối phó với một hành vi cụ thể nào đó, như là hút thuốc, mất ngủ, ám ảnh và rối loạn chức năng tình dục Liệu pháp thôi miên hoạt động
bằng cách ức chế một phần của não.John Mongiovi, nhà thôi miên ở New York, cho biết:
“Trong khi thôi miên, các trung tâm nhận thức của chúng ta chuyển sang những cấu trúc bên trong của não (các cấu trúc này có liên quan đến quá trình vô thức và trí nhớ dài hạn) Khu vực liên quan tới tư duy phản biện của một tâm trí có ý thức tạm thời bị ức chế nên chúng ta dễ dàng chấp nhận các đề xuất được đưa ra hơn”.Mongiovi nói: “Trong một phiên trị liệu thôi miên điển hình, một người nhắm mắt lại và được giúp để có thể thư giãn sâu Nhà thôi miên sau đó đưa ra gợi ý dẫn dắt trí tưởng tượng của người đó Đối với
một số trường hợp, trạng thái này có thể mang lại những ký ức và tài nguyên mà thông thường không thể tiếp cận được khi tâm trí còn trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo Thôi miên cũng có thể làm giảm căng thẳng và lo lắng bằng cách kích hoạt phản ứng thư giãn
của hệ thống thần kinh giao cảm”.Tâm lý trị liệu Phật giáo được Đức Phật nói trong Bát
chánh đạo đó là:
1 Chánh ki ến:Chánh kiến là chi phần đầu tiên trong Bát chánh đạo, thuật ngữ trong
tiếng Pali là sammā-diṭṭhi, trong tiếng Phạn được biết đến với danh từ samyag-dṛṣṭi; Chánh kiến tức là phá vỡ vô minh nghiệp tập ngàn đời ngàn kiếp, cái thấy cái nhìn đúng
với chân lý, đúng với sự thật y như chúng là, hành giả ứng dụng Chánh kiến, tức là người
đã có cái thấy, cái biết chân chánh bằng trí tuệ vượt qua không gian và thời gian; hành giả
đó đạt được cái nhìn trung đạo (Majjhimà patipadà), không vướng kẹt trong bất kỳ lý
luận nào, không vướng vào tri thức hiểu biết để vượt thoát khỏi ngã và pháp.Chánh kiến
là điểm cốt lõi, trọng tâm của Bát chánh đạo Trong tám chi phần thì chúng tương quan
và tương duyên lẫn nhau, thực hành thiền định hay tu tập Tứ niệm xứ ở cấp độ cao nhất
Trang 4thì hành giả cần phải biết rằng chúng vận hành đồng thời chứ không phải bước đi theo
từng bước hoặc thực hành hết chi phần này đến chi phần khác theo số thứ tự Dù cho ngay cả ở mức độ bắt đầu và thấp nhất cũng vậy, mỗi chi phần trong Bát chánh đạo đều được tác động với một mức độ nào đó của chánh kiến.Chánh kiến là sự tuệ tri như thật
bản chất của thế gian Hành giả thực hành và tu tập cần phải có một sự hiểu biết rõ ràng
về Tứ Thánh đế Ðó là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Ðạo đế Chánh kiến là kết quả của
việc hành thiền đều đặn và liên tục, một hành giả và thiền sinh tu tập thiền định hết sức nhiệt tâm và thận trọng của nội tâm; nghệ thuật của sự đạt trí tuệ là cái nhìn có chánh
kiến, một người có chánh kiến thì sẽ không có cái nhìn mê mờ, mê tín về mọi hiện tượng
của các pháp
chơn chánh, thuật ngữ trong tiếng Pali là sammā-saṅkappa, luôn dùng tư duy chân chánh
để tu đạo, thực hành đạo và hướng đạo, giúp cho mọi người ứng dụng và tu tập đúng với con đường Bát chánh để ra khỏi sanh tử luân hồi.Khi hành giả và thiền sinh đã làm chủ tâm, không để cho tâm làm chủ mình, thì lúc ấy hành giả tu tập chánh trí bao gồm hai chi đầu, đó là Chánh kiến và Chánh tư duy.Chánh tư duy có nghĩa là hành giả và thiền sinh
thực hành pháp hành Tứ niệm xứ trong đời sống hằng ngày để luôn có định niệm và tư duy chân chánh; tức là trong quá trình hành pháp và hoằng pháp giúp đời giúp người, hành giả luôn có những tư duy liên quan đến các cách tư duy như sau:Tư duy sự xuất ly, trong Kinh Tạng đức Phật thường dùng cụm từ: Nekkhamma-samkappa để chỉ cho trạng thái tư duy chân chánh này;Tư duy vô sân để nuôi dưỡng lòng từ ái mà trong Kinh Tạng đức Phật thường dùng cụm từ: Avyàpàda samkappa;Tư duy vô hại để nuôi dưỡng và phát triển lòng bi mẫn như trong Kinh Tạng đức Phật thường dùng cụm từ: Avihimsà-samkappa.Trong quá trình tu tập Bốn niệm xứ và thực hành Tứ vô lượng tâm, hành giả
và Thiền sinh cần phải phát triển đồng thời những tư duy này, vì chúng cần được tu tập
và mở rộng đến muôn loài chúng sanh không phân biệt chủng tộc, giai cấp, dòng dõi hay tín ngưỡng nào, hay loài vật nào… Cũng như trong quá trình tu tập và làm đạo, hoặc chia
sẻ kinh nghiệm học hỏi hành pháp v.v… thiền sinh tuyệt nhiên không được nghĩ và xem
rằng mình ban phát lòng từ, lòng bi mẫn đến cho ai đó hoặc loài nào đó, vì như thế là đã
thể hiện bản ngã và tự ngã trong cái tôi, cùng tự coi mình là trung tâm và ích kỷ thì đó không phải là tư duy hành pháp chân chánh, nó không phải là tư duy chân chánh.Hành
giả ứng dụng và tu tập Bát chánh đạo trong chi phần Chánh kiến, tức trí tuệ thì cũng tương duyên đang thấm nhuần Chánh tư duy; Chánh kiến và Chánh tư duy đi đôi với nhau và không bao giờ mất chúng trong tu tập niệm xứ và cách sống trong đời sống của mình; cái đó gọi là tuệ giác đi đôi với lòng bi mẫn Ứng dụng và thực hành Bát chánh trong hai chi phần này như thế chúng ta sẽ thấy đâu là người có trí giàu lòng bi mẫn, vị tha và vô ngã, và đâu là người vô minh, chấp thủ với bản ngã, và lòng tham muốn, vị kỷ, thù hận và bạo hành thì không thể nào đi chung cùng với trí tuệ Nghệ thuật của an vui,
hạnh phúc và giải thoát, tức là nghệ thuật phát triển lòng bi mẫn đi đôi với tuệ giác trong đời sống.Nghệ thuật ứng dụng và tu tập Bát chánh đạo nằm ở chỗ mời người có mắt (trí
tuệ) đến để thấy và thực hành chứ không phải đến để tin Chính việc đến để thấy, hiểu và
thực hành không phải để tin một cách mù quáng, đây là điều cốt lõi của Bát chánh đạo được đức Phật thuyết giảng và tán thành
hành và ứng dụng giáo pháp sẽ nhận thấy trong thuật ngữ Phật học Pali là cụm từ sammā-vācā, trong tiếng Phạn là samyag-vāk; tức là những lời nói thể hiện chân lý ngay tại đây
và bây giờ, những lời nói về Tứ diệu đế để cho người nghe thấu hiểu được chân lý
Thực hành và ứng dụng Chánh ngữ tức là:
Trang 5- Không nói dối, đồng thời phải luôn luôn nói sự thật
- Không nói lời ly gián gây sự bất hòa và chia rẽ, đồng thời phải nói những lời nào đưa đến sự hòa hợp và đoàn kết
- Không nói những lời thô ác, cộc cằn, thay vào đó phải nói những lời từ ái, tế nhị
- Không nói những lời vô ích, ngồi lê đôi mách, thay vào đó phải nói những lời có ý nghĩa và không bị bậc trí khiển trách
Nếu không nương vào sự áp dụng ngôn từ thì hiện thực tối cao của chân lý không được trình bày; và không đến chỗ hiện thực tối cao thì không thể trực chứng được chân lý; nghệ thuật của sự chân thật chính là ngôn từ thể hiện chân lý ngay tại đây và bây giờ
bằng cái nhìn chánh kiến
lời nói và hành động tương tầm tương tức với Chánh kiến, thuật ngữ trong tiếng Pali là sammā-kammanta; khi một người có Chánh kiến rồi thì suy nghĩ và hành động đều là chân chính.Chánh nghiệp là cách ứng dụng trong hành động và ngôn từ đều thể hiện đạo
lý chánh trí để người khác khi nghe hoặc nhìn thấy là nhận được đạo lý, nhờ đó có thể khai mở chân lý nơi chính mình, những hành động được xuất phát từ nơi thân của mình, nơi lời nói của mình được thể hiện trọn vẹn và nhất quán với cái đạo lý giác ngộ giải thoát, và khai mở trí tuệ cho mọi người để họ nhận chân ra được chân lý nhiệm mầu, đó được gọi là chánh nghiệp.Về mặt ứng dụng và thực hành của Chánh nghiệp đối với nam
nữ cư sĩ và thiền sinh, tức là tránh:
+Không sát sanh
+Không trộm cắp
+Không tà hạnh (ngoại tình, dan díu)
Khi thực tập chánh nghiệp là khi đó hành giả đồng thời cũng phải trau dồi lòng bi mẫn,
sự rộng lượng và đời sống đơn giản trong sạch Nghệ thuật của sự hài hòa giữa nội dung
và hình thức chính là sự nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi trong một đời sống rộng lượng và đơn giản
phối bởi cái thân mạng luôn thay đổi giữa cũ và mới trong mỗi giây phút trôi qua, trong
kiếp sống này, nhận diện chính mạng ngay bây giờ và ở đây Người sống đúng chính
mạng là người hòa nhập cái chỗ bất sanh bất diệt, sáng suốt nhiệm mầu trong mỗi một phút giây đều mới mẻ của hiện tiền này, tức là người đó đã có đủ chính mạng, thuật ngữ trong tiếng Pali sammā-ājīva mà đức Phật đề cập đến trong Chánh mạng chính là nghĩa này vậy.Đối với các hành giả Khất sĩ, và nam nữ cư sĩ thiền sinh ứng dụng Chánh mạng
tức là từ bỏ những lối làm ăn sinh sống tà vạy, bất chính, từ bỏ cách làm ăn đem lại sự tai
hại, khổ đau cho mình và cho người khác, theo những chỉ bày trong Luật tạng và lời răn
dạy của đức Phật và bậc thiện tri thức thì đời sống chánh mạng là nên từ bỏ buôn bán:
- Vũ khí (từ bỏ),
- Súc vật để giết thịt (từ bỏ),
- Người, ở đây muốn nói đến tình trạng mua bán nô lệ rất thịnh hành vào thời xưa và thời đức Phật (từ bỏ), ngày nay trong thời hiện đại nạn buôn người cũng còn diễn ra (từ bỏ)
- Các loại thức uống có men gây nghiện, say (từ bỏ),
- Các loại độc dược (từ bỏ)
Một sự nghiệp giàu mạnh đáng trân quý và thưởng thức chính là một sự nghiệp được đặt trên nền của những thiện ý, vì an lạc và hạnh phúc của chính mình, của gia đình mình và
của cả hành tinh này Nghệ thuật của sự xây dựng và phát triển sự công bằng xã hội chính
là những nguyên tắc đạo đức được nhắm vào việc làm cho xã hội an ổn bằng cách thúc đẩy sự hợp tác, hòa hợp và những quan hệ chính đáng giữa con người với nhau.Một thiền
Trang 6sinh có lối sống lành mạnh và đạo đức thì nó là nền tảng cho sự phát triển tinh thần, sự an
lạc trong thiền định, là nguồn năng lượng nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho tâm được vững vàng, an tịnh Không có một đời sống an lạc trong một lối sống dục lạc vô độ, tham lam và ích kỷ; nghệ thuật của cuộc sống thảnh thơi trong đời sống và trong thiền vị chính là sự nhận diện, từ bỏ và chuyển hóa cuộc sống vô độ, tham lam và ích kỷ
chánh niệm, nuôi dưỡng định niệm để người đó sống trong từng khoảnh khắc mới mẻ của
hiện tiền, không lầm lẫn, không bao giờ bị mê mờ giữa vọng niệm và chánh niệm Luôn
nhận biết chúng một cách rõ ràng có tuệ tri chân chánh, chính vì vậy mà thuật ngữ trong
tiếng Pali mà thiền sinh có thể nhận thấy là sammā-vāyāma, tức là đức Phật đề cập đến
trạng thái thức tỉnh tinh tấn, tinh tấn tức là thức tỉnh – thức tỉnh chính là tinh tấn Ðể ngăn
ngừa những tư duy ác, bất thiện chưa sanh, không cho sanh khởi trong tâm hành giả, và đoạn trừ những tư duy ác đã sanh Hành giả và Thiền sinh làm cho sanh khởi và phát triển những tư duy thiện chưa sanh Từ đó thúc đẩy và duy trì những tư duy thiện đã sanh càng thêm tăng trưởng và dồi dào.Một tâm hồn trong sáng và tĩnh lặng là nhờ siêng năng định chỉ và đoạn trừ những tư duy ác, bất thiện Luôn cảnh giác và chặn đứng những tư duy không lành mạnh, đồng thời tu tập, thúc đẩy, duy trì những tư duy thiện lành và trong sáng đang sanh trong tâm hành giả và trong đời sống hằng ngày Một đời sống an bình và
một thế giới hòa bình nhờ sự nuôi dưỡng và phát triển tư duy lành mạnh và trong sáng Nghệ thuật của sự phát triển an lạc và hòa bình chính là sự làm chủ lời nói và hành động
của mình, nhìn một cách toàn diện trong óc tư duy của mình bằng những tư duy chân chánh, và tránh những ý nghĩ điên đảo thì con người và thế giới bên ngoài sẽ an bình
7 Chánh ni ệm:Chánh niệm là một danh từ có nguồn gốc từ chữ Pali là sammā-sati,
trong tiếng Phạn là samyak-smṛti; là thuật ngữ mà các hành giả Khất sĩ và Thiền sinh
thực tập chánh niệm ngày nay thường nhận thấy trong hầu hết các Kinh điển cốt lõi trong đạo Phật Chánh niệm tức là sự tỉnh giác, không quên niệm, biết rõ các pháp một cách
trọn vẹn, biết rõ những gì phát sanh ngay trong mỗi giây phút của hiện tại, bây giờ và ở đây Chánh niệm là sự tuệ tri được những gì đang có mặt, đang xảy ra (biết rõ) Chánh
niệm là một loại năng lượng niệm chân chính và nhất niệm này đi theo ta ngàn đời muôn
kiếp về sau không còn thay đổi được nữa và đến khi đạt giải thoát.Nghệ thuật của sự chánh niệm chính là sự thận trọng đối với những hành động thân, khẩu, ý của chính mình; một tâm hồn tích cực và tĩnh lặng phát sinh theo sau năng lực chánh niệm, ngăn
ngừa và tiêu trừ sự tổn hại nhàu nát của tâm, tạo động lực cho một sự tiến bộ của tâm và nuôi dưỡng một tâm hồn lành mạnh trong đời sống Nghệ thuật của sức mạnh chính là sự buông xả những tâm hồn nặng trĩu ngàn đời trong đời sống, thân và tâm khỏe không phải
là nhấc chúng lên mạnh mà là đặt chúng xuống một cách nhẹ nhàng
8 Chánh định:Muốn nhập định và có chánh định thì phải loại bỏ vọng tưởng, tức là loại
bỏ những suy nghĩ lung tung tự động khởi niệm trong đầu và trong tâm không có vọng
niệm, sau một thời gian thực hành và tu tập thiền, hành giả và thiền sinh đạt được Chánh
niệm tỉnh giác, nghĩa là tâm không loạn động như trước, những suy nghĩ vẩn vơ vừa mới manh nha nổi lên đã bị phát hiện và loại bỏ ngay khi đó.Chánh định là sự an định vững
chắc của tâm, chính sự tập trung đã làm cho tâm an trú và khiến cho nó không bị dao động, xáo trộn Trong thiền ta có Tứ thiền, nghĩa là bốn cấp độ nhập định được chia ra từ
Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền, như vậy xét về công phu tu thiền chúng ta có
Tứ thiền Chánh định phát triển, chúng sẽ giúp cho tâm định vững vàng, có khả năng đẩy lùi những chướng ngại, những tham dục đang khuấy động tâm hành giả Nghệ thuật của
sự an cư, an định chính là sự hòa nhập vào đời sống hiện tại một cách tinh tế không đối kháng
Trang 7Phật dạy, quá khứ, vị lai sắc vô thường (過去, 未來色無常) Vô thường là quy luật sinh trụ dị diệt của vạn vật Vạn vật đều phải chịu quy luật sinh ra lớn lên, biến đổi và
diệt vong Diệt vong để có sự tiếp nối Bởi vì có sự tiếp nối xảy ra trong từng sát na, nên
vạn vật không có tính thường hằng Ngay cả thân ngũ uẩn cũng vô thường: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường Khi một sát na đi qua, hiện tại đang nắm giữ đã trở thành quá khứ.Tương lai là cái chưa đến Ôm ấp cái hiện tại với ý niệm thường hằng là
ôm ấp cái vọng tưởng (過去, 未來色無常, 況現在色- quá khứ vị lai sắc vô thường,
huống hiện tại sắc) Cái sắc quá khứ đã biến đổi không còn cái của ta, không còn như ta yêu quý, cái sắc vị lai chưa đến ta chưa biết Vì vậy đừng nhìn lại quá khứ của sắc, đừng tìm cầu tương lai của sắc, (不顧過去色,不欣未來色- bất cố quá khứ sắc, bất cầu vị lai
sắc), biết cái ta đang ôm giữ hiện tại là vô thường, ảo vọng, biến đổi từng sát na Phật dạy
vị hành giả không nên tham luyến mà biết xa lánh, diệt tận sắc dục (於現在識厭, 離欲、正向滅盡 - ư hiện tại yếm ly dục, chánh hướng diệt tận) Chánh hướng là thực hành chánh kiến, chánh tư duy hướng về thật tướng ngũ uẩn mà diệt tận những cái vọng tưởng thường hằng, vọng tưởng cái ngã riêng có của mình Vị hành giả trong khi hành trì Tam Pháp Ấn của đức Phật phải thấy được, tất cả các hành đều vô thường, vạn vật đều
phải đi từ hưng thịnh đến suy yếu Hễ có sinh là phải có diệt Người học Phật vượt thoát được cái sinh cái diệt ấy mới có được cuộc sống an lạc.Tuệ giác là ánh sáng, giúp người
học Phật thấy được tính vô thường, sinh diệt trong mỗi sát na của cơ thể cũng như của
cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức Tuệ giác, giúp người học Phật được thật tướng
của ngũ uẩn rong kinh Phật tự thuyết (Tiểu bộ I), Thế Tôn trình bày Duyên khởi một cách tóm tắt: “Do cái này có mặt nên cái kia có mặt Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt Do cái này sinh nên cái kia sinh Do cái này diệt nên cái kia diệt”.Cho đến thế kỷ XX, nhiều thành tựu của vật lý học, thiên văn học với các thuyết Nguyên tử, Big-bang rồi Tương đối, Cơ học lượng tử đến Hỗn hợp học… những nỗ lực của các nhà bác học đã từng bước đưa khoa học tiến gần uyên nguyên vũ trụ Tuy nhiên cho đến nay
mục tiêu ấy vẫn còn xa, bởi cái nhìn nhị nguyên chủ thể - khách thể khoa học chưa tiếp
cận thực tại như nó vốn là Trong khi hơn 2.600 năm trước Đức Phật với trực quán thiền định đã đi thẳng vào thực tại; xóa bỏ ranh giới chủ thể và khách thể.Với quan điểm Trung đạo Duyên khởi thì chủ thể và đối tượng là một Và “Pháp nhĩ như thị”(Pháp vốn như
thế); “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” (Một là tất cả, tất cả là một - Kinh Hoa nghiêm) Duyên sinh, Duyên khởi là lời giải đáp minh bạch, hùng hồn đầy thuyết phục đáp ứng câu hỏi nhân loại bao lâu trăn trở!Do vậy, Einstein, nhà bác học lỗi lạc thế kỷ
XX đã nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được với các nhu cầu của khoa
học hiện đại, thì đó là Phật giáo Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập
nhật hóa với những khám phá mới của khoa học Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” Không biết tự bao giờ, con người chấp chặt vào “cái ta và cái của ta” như định kiến thâm căn cố đế để rồi sinh ra khổ đau Phải chăng ngay từ khi lọt lòng mẹ đứa
bé đã được mẹ, người thân và người xung quanh nâng niu trân quý gọi là con của cha mẹ,
là cháu ngoan giỏi của ông bà Kết hợp với chủng tử (gène) đã huân tập và ngủ sâu từ vô lượng kiếp trước được thức dậy mà từ đó hình thành cái ngã Và đứa trẻ nào cũng được
dạy “vật này là của con… phải nắm giữ” Ai đụng tới là không được, nó giãy nãy khóc lóc, bảo vệ cho bằng được!Rồi lớn lên, dưới áp lực của các tôn giáo, chủ thuyết khiến con người chấp vào Thượng đế, thánh thần, chủ thuyết của ta… gây bao hệ lụy: phân chia đẳng cấp, phân biệt chủng tộc, màu da sắc tộc… dẫn đến chiến tranh tàn sát để tranh giành, bành trướng tôn giáo, chủ thuyết Lịch sử nhân loại chưa hết bàng hoàng trước
những cuộc thánh chiến và chiến tranh khủng bố đẫm máu giữa các giáo phái đã gieo rắc
Trang 8khổ đau kinh hoàng cho con người và muôn loài Bởi vô minh chúng sanh không nhận ra Duyên khởi nên sinh phân biệt ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả và mãi triền miên trong lục đạo luân hồi sinh tử.Pháp do Duyên sinh có mặt thì cũng từ Duyên sinh mà chấm dứt Vì
hễ cái gì do duyên sinh thì hữu vi, vô thường, đoạn diệt, biến hoại, không thật tức vô ngã Duyên khởi với 12 chi phần quyết định hình thành và tàn hoại của vạn hữu Và mỗi chi
phần là sự có mặt của 11 chi phần kia Do đó đoạn diệt hoàn toàn một chi phần cũng có nghĩa là đoạn diệt cả 12 chi phần nhân duyên Vô minh, hành, thức, v.v… không thể có
mặt một mình Vậy nên khi ái diệt, hoặc thủ diệt, hoặc thức diệt thì vô minh phải hoàn toàn diệt Và Thế Tôn dạy: “Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn thì hành
diệt, do hành diệt nên thức diệt; v.v… lão tử, sầu bi khổ ưu não diệt Như vậy là toàn bộ
khổ uẩn diệt Này các Tỳ-kheo, như vậy là đoạn diệt”(Kinh Tương ưng bộ II).Hết vô minh thì thấy pháp vô ngã, hành vô thường Không còn chấp ngã, chấp pháp tức chứng đạt Chánh đẳng giác, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi Duyên khởi là nền tảng xuyên suốt
mọi giáo lý cơ bản của đạo Phật Duyên khởi mà Đức Thế Tôn khám phá và tuyên thuyết
đã mở ra cánh cửa thực tại Trên cơ sở đó đập tan luận điểm về một đấng sáng thế, cứu
thế và trả con người về với vai trò làm chủ vận mệnh của mình đồng thời khai mở cho chúng sanh con đường giải thoát sinh tử luân hồi, đưa con người và muôn loài đến bến bờ
an vui hạnh phúc.Điểm khác so với trị liệu Phương Tây là trở thành vị Thánh đệ tử, thành tựu giới hạnh, hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, thành
tựu bảy diệu pháp, hiện tại lạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không
khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức: Và này Mahanama, thế
nào là v ị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử có
gi ới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh
h ạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp Và này Mahanama, th ế nào là vị Thánh đệ tử hộ trì các căn? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh
đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp
kh ởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn Khi tai nghe ti ếng mũi ngửi hương lưỡi nếm vị thân cảm xúc ý nhận thức các pháp, v ị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị
ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn Và này Mahanama,
th ế nào là vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ
t ử chơn chánh giác sát, thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không ph ải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các c ảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm,
s ống được an ổn".Và này Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử chú tâm cảnh giác? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang
ng ồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh gi ữa, vị này nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân v ới nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại Ban đêm trong canh cu ối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí kh ỏi các chướng ngại pháp Và này Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử thành
t ựu bảy diệu pháp? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử có lòng tin, có lòng tin ở sự giác ng ộ của Như Lai: Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thi ện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Trang 9Ph ật, Thế Tôn Vị này có lòng tàm, tự xấu hổ vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh,
t ự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp Vị này có lòng quý, tự sợ hãi vì thân ác hạnh,
kh ẩu ác hạnh, ý ác hạnh, tự sợ hãi vì thành tựu ác, bất thiện pháp Vị này là vị đa văn,
nh ớ nghĩ những điều đã nghe, tích tụ những điều đã nghe Những pháp nào, sơ thiện, trung thi ện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh,
nh ững pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đọc tụng bằng lời, được ý suy tư, được chánh ki ến thể nhập Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, trừ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thi ện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp Vị ấy có
ni ệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, nhớ lại, nhớ lại nhiều lần những gì đã làm từ lâu, đã nói t ừ lâu Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau Và này, Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử hiện tại
l ạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không
m ệt nhọc, chứng đắc không phí sức? Ở đây, này Mahanama, (vị ấy) ly dục, ly bất thiện pháp, ch ứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ Diệt tầm
và t ứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không t ứ, nội tĩnh nhất tâm Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các b ậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng và trú Thiền thứ ba Xả lạc, xả khổ,
di ệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả
ni ệm thanh tịnh Này Mahanama, như vậy là vị Thánh đệ tử hiện tại lạc trú bốn Thiền, thu ộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức.(M.A.53.48-49) Người xuất gia có ý chí mạnh mẽ với mục tiêu đạt
được Niết-bàn thì cho dù làm việc gì, suy nghĩ điều gì, mong mỏi sự gì cũng không rời xa
mục tiêu giải thoát Khi đã có mục tiêu như vậy tức là đã có sự mong muốn, ước nguyện, nhưng sự mong muốn, ước nguyện này là phù hợp với chánh pháp Trong đời sống thường nhật của người xuất gia không được có ước muốn xa rời mục tiêu giải thoát, tiệm
cận với phiền não nhiễm ô về cả thân lẫn tâm Vậy các Tỳ-kheo phải ước muốn những điềugì hợp với chánh pháp và hướng đến Niết-bàn? Trong Kinh Ước Nguyện (Ākankheyya Sutta), đức Phật dạy các Tỳ-kheo nên ước nguyện 17 điều sau đây:
1 Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh kính trọng
2 Mong rằng ta nhận được y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh
3 Mong rằng những ai đã cúng dường bốn món vật dụng cho ta được quả báo lớn, được
lợi ích lớn
4 Mong rằng các bà con huyết thốngkhi mệnh chung, nghĩ đến ta với tâm hoan hỷ và
nhờ vậy được quả báo lớn, lợi ích lớn
5 Mong rằng ta nhiếp phục lạc và bất lạc, không để bất lạc nhiếp phục ta
6 Mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi, không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp
phục ta
7 Mong rằngta chứng được bốn Thiền không có khó khăn
8 Mong rằng ta có thể cảm xúc với thân và sống an trú trong cảnh giới giải thoát tịch tịch
tịnh, siêu thoát sắc giới, vô sắc giới
9 Mong rằng ta trừ diệt ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, chắc chắn không còn bị đọa lạc, hướng đến Chánh giác
10 Mong rằng trừ diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, chứng được Nhứt Lai
11 Mong rằng, trừ diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, chứng được Niết-bàn không còn trở lui thế giới này nữa
12 Mong rằng ta chứng được các loại thần thông
13 Mong rằng ta chứng được thiên nhĩ thông
14 Mong rằng ta chứng được tha tâm thông
Trang 1015 Mong rằng ta chứng được túc mạng thông
16 Mong rằng ta chứng được thiên nhãn thông
17 Mong rằng ta chứng được lậu tận thông,tâm giải thoát, tuệ giải thoát
Như vậy ước nguyện của người xuất gia không phải vì cơm áo, danh dự, lợi dưỡng mà là ước nguyện đoạn trừ các kiết sử, hướng đến sự chứng đắc các tầng thiền mà đức Phật đã
dạy: “Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.” Vì một khi
đã đạt được Định, đồng thời trí tuệ và các thứ thần thông cũng đầy đủ,và đó cũng là phương tiện hóa độ chúng sanh, đáp đền ơn đàn na tín thí
Nhìn chung, ngày nay xã hội đang trên đà phát triển mạnh, con người luôn sáng tạo
ra cái mới để đáp ứng nhu cầu cuộc sống, đôi khi vì một lợi nhuận nào đó, mà con người quên đi tính nhân bản Vậy, đứng trước thực trạng này, người xuất gia phải làm gì? Sự
thật cho thấy, khổ đau có mặt là do lòng tham, sân, si ngự trị trong tâm hồn con người, vì lòng tham lam mà dẫn đến hủy diệt môi sinh, gây ra ô nhiễm môi trường, không những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe cá nhân mà còn cho cộng đồng xã hội Nếu chúng ta tu tập chuyển hóatham, sân, si thành Giới, Định, Tuệ thì xã hội hạnh phúc biết bao! Lý tưởng người xuất gia không chỉ „tự lợi‟ mà còn „lợi tha‟, vì chúng ta đang sống trong môi trường duyên sinh, nên góp phần bảo vệ môi sinh xã hội cũng chính là đang bảo vệ chính mình Bằng cách thực hành Thiền định để thanh lọc thân tâm,đưa vào thiên nhiên một năng lượng trong sạch, năng lượng của từ bi Đó là sức mạnh để kết nối sự yêu thương, thông cảm giữa người với thiên nhiên, hướng đến xây dựng một môi trường tốt đẹp cho hành tinh của chúng ta Lý thuyết Duyên sinh cho rằng sự sống là sự hỗ tương giữa các loài Cũng vậy,Đức Phật dạy lòng từ có được những lợi ích như sau: “Ngủ được an lạc,
dậy được an lạc, không có ác mộng, được người khác ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư thiên hộ trì ” Như những gì đã được trình bày ở trên, mỗi khi đọc lại những lời Đức Phật
dạy trong hệ kinh tạng Nikaya cảm thấy có sự gần gũi trong thực tế đời sống tu tập, tưởng chừng Đức Phật đang trực tiếp dạy cho hàng Tỳ-kheo phương pháp đoạn trừ phiền não và làm cho thiện căn được sung mãn.“Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu
tập, được làm cho sung mãn, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp
bất thiện đã sanh bị đoạn tận Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm Khi tu tập, khi làm cho sung mãn một pháp này, này các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh bị đoạn tận.” Vậy, khi nói đến lý tưởng tu học của người xuất gia cũng có nghĩa là đề cập đến những gì tốt đẹp nhất trong xã hội Bởi vì ở đâu có đời sống phạm hạnh thì ở đó có đạo đức; ở đâu có đạo đức thì ở nơi đó xây dựng một cõi nhân gian tịnh độ, nơi đó con người biết yêu thương nhau, giữ gìn và bảo vệ môi trường sống cho nhau Hơn nữa, mỗi
cá nhân chúng ta tinh tấn nỗ lực tu tập để cầu mong đạt được an lạc giải thoát,đồng thời
tạo nên một sức mạnh năng lượng tâm linh từ trường tác động vào thế giới duyên sinh,
hầu đem lại cho xã hội hòa bình và con người hạnh phúc
Hết