Ưu điểm của báo cáo tự nguyện [46] Cơ cấu đơn giản, chi phí thực hiê ̣n thấp hơn so với các phương pháp theo dõi ADR khác; Phạm vi áp dụng rộng rãi với tất cả các thuốc, tất c
TỔNG QUAN
Tổng quan về Cảnh giác Dƣợc và phản ứng có hại của thuốc (ADR)
1.1.1 Hệ thống Cảnh giác Dược
1.1.1.1 Định nghĩa hệ thống Cảnh giác Dược
Cảnh giác Dƣợc (Pharmacovigilance) được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là môn khoa học và các hoạt động chuyên môn nhằm phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác dụng có hại hoặc các vấn đề liên quan đến thuốc Đây là thành phần chủ đạo trong việc theo dõi hiệu quả của thuốc, thực hành lâm sàng và các chương trình y tế công cộng.
Hoạt động Cảnh giác Dược đã được mở rộng để bao gồm các lĩnh vực như thuốc có nguồn gốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thực phẩm chức năng, thuốc có nguồn gốc sinh học, trang thiết bị y tế và vắc xin Bên cạnh đó, Cảnh giác Dược cũng chú trọng đến các vấn đề an toàn thuốc khác, bao gồm thuốc không đảm bảo chất lượng, sai sót trong điều trị, sử dụng thuốc với chỉ định chưa được phê duyệt, báo cáo ngộ độc cấp và mãn tính, đánh giá tỷ lệ tử vong liên quan đến thuốc, lạm dụng hoặc sử dụng sai thuốc, cũng như các tương tác bất lợi giữa thuốc - thuốc hoặc thuốc - thực phẩm.
Cảnh giác Dược đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và cải thiện việc sử dụng thuốc hợp lý Thông qua việc thu thập, đánh giá và giao tiếp kịp thời về các nguy cơ và lợi ích, Cảnh giác Dược hỗ trợ các cấp quản lý trong hệ thống y tế đưa ra quyết định cần thiết Mạng lưới theo dõi và các phương pháp thu thập dữ liệu của Cảnh giác Dược cung cấp thông tin quan trọng về thực tế sử dụng thuốc, giúp phát hiện các tác dụng phụ hiếm gặp và muộn, từ đó hạn chế hậu quả và tiết kiệm chi phí điều trị Ngoài ra, Cảnh giác Dược hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc giám sát sau khi thuốc được đưa ra thị trường, đánh giá lại chỉ định, điều chỉnh liều lượng và hướng dẫn sử dụng cho các đối tượng đặc biệt Nhờ đó, Cảnh giác Dược góp phần tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả.
1.1.1.2 Hoạt động Cảnh giác Dược tại Việt Nam
Công tác theo dõi phản ứng có hại của thuốc tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1994 với sự ra đời của Trung tâm theo dõi ADR Hà Nội Đến năm 1998, Việt Nam chính thức gia nhập Hệ thống giám sát thuốc toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới, trở thành thành viên thứ 56.
Vào tháng 3/2009, Trung tâm DI & ADR Quốc gia được thành lập, và từ tháng 01/2010, trung tâm bắt đầu tiếp nhận, xử lý, thẩm định và lưu trữ tất cả các báo cáo ADR tự nguyện từ các cơ sở điều trị và các đơn vị khác trên toàn quốc Quy trình thu thập và phản hồi thông tin trong mạng lưới Cảnh giác Dược được thể hiện rõ trong hình 1.1.
Hình 1.1 Quy trình thu thập và phản hồi thông tin trong Cảnh giác Dƣợc
Sai sót ADR trong sử dụng thuốc
Khuyến khuyết chất lƣợng thuốc
- Cơ sở KCB, TT y tế dự phòng
- Đơn vị sản xuất, kinh doanh dƣợc phẩm
- Đơn vị thử nghiệm lâm sàng
Cơ quan quản lý các nước (FDA, EMA, ANSM…)
Trung tâm DI&ADR Quốc gia Các Trung tâm khu vực
Tổng hợp và phân tích
Phản hồi kết quả cho cá nhân báo cáo
Cơ quan quản lý của Bộ Y tế
- Cục quản lý Khám chữa bệnh
Ra quyết định quản lý
Mã hoá và gửi dữ liệu đến
Trong quá trình triển khai các hoạt động Cảnh giác Dược tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm tăng cường công tác báo cáo ADR Các Cục chức năng có trách nhiệm thiết lập cơ chế phối hợp với Trung tâm DI&ADR Quốc gia và củng cố vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện, nhằm nâng cao báo cáo ADR tự nguyện từ các khoa lâm sàng Các bệnh viện và chương trình y tế công cộng cam kết thúc đẩy việc sử dụng thuốc an toàn và phát hiện biến cố Quyết định 1088/QĐ-BYT và các thông tư liên quan nhấn mạnh trách nhiệm của thầy thuốc trong việc thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc và báo cáo kịp thời cho khoa Dược Khoa Dược sẽ theo dõi và gửi báo cáo về cơ quan quản lý và Trung tâm Quốc gia Các đơn vị sản xuất và kinh doanh dược phẩm cũng cam kết tăng cường trách nhiệm báo cáo ADR Đặc biệt, giai đoạn 2012-2016, Dự án “Hỗ trợ hệ thống Y tế” đã triển khai nhiều hoạt động Cảnh giác Dược tại 29 bệnh viện và 31 tỉnh trọng điểm.
Quy trình báo cáo ADR tại các cơ sở khám, chữa bệnh được xây dựng dựa trên Thông tư 1088/TT-BYT, hướng dẫn cụ thể về việc báo cáo ADR tại các bệnh viện Thông tư này tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động báo cáo ADR trên toàn quốc.
Xây dựng Hướng dẫn Cảnh giác Dược Quốc gia là cần thiết để phát triển hệ thống cảnh giác dược và đảm bảo an toàn thuốc Mặc dù hoạt động thông tin thuốc đã được quan tâm, nhưng vẫn thiếu văn bản pháp quy hướng dẫn triển khai tại cấp cơ sở Để tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị, một cuộc khảo sát toàn quốc đã được thực hiện vào năm 2013 nhằm đánh giá thực trạng và nhu cầu về cảnh giác dược và an toàn thuốc Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở để xây dựng hướng dẫn an toàn thuốc chuẩn quốc gia, phục vụ cho các hoạt động an toàn thuốc trong hệ thống y tế.
Xây dựng và phát triển phần mềm để lưu trữ, xử lý và khai thác các báo cáo phản ứng có hại trong hệ thống Cảnh giác dược nhằm phát triển cơ sở dữ liệu báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR), hướng tới việc thiết lập một hệ thống báo cáo tự nguyện trực tuyến toàn quốc.
Hỗ trợ Ban tư vấn Cảnh giác dược tại các trung tâm DI&ADR khu vực và các đơn vị kỹ thuật trong các chương trình y tế quốc gia, đồng thời tăng cường hoạt động cho Ban tư vấn tại các đơn vị cảnh giác dược trọng điểm trong hệ thống Cảnh giác dược.
Xây dựng tài liệu đào tạo nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên môn về cảnh giác dược Đào tạo kỹ năng thực hành tại cơ sở bao gồm theo dõi, báo cáo ADR, giám sát và đánh giá các hoạt động CGD cũng như an toàn thuốc.
Tổ chức các lớp tập huấn kiến thức và kỹ năng Cảnh giác Dƣợc cho cán bộ y tế tại 31 tỉnh/thành phố và 29 bệnh viện trọng điểm
Tăng cường hoạt động trao đổi và phản hồi thông tin về báo cáo ADR cho cán bộ y tế và cơ sở khám, chữa bệnh tham gia báo cáo Cung cấp phản hồi cho từng cá nhân báo cáo, gửi báo cáo tình hình phản ứng có hại hàng quý và báo cáo tổng kết năm tới hơn 1000 bệnh viện và Sở Y tế trên toàn quốc Phát hành bản tin Cảnh giác Dược, tờ rơi và tờ gấp để nâng cao nhận thức.
1.1.2 Phản ứng có hại của thuốc
1.1.2.1 Định nghĩa về phản ứng có hại của thuốc
Thuốc trong ngành y tế là các chất có tác dụng dược lý để chữa bệnh, phòng bệnh, và cải thiện chức năng cơ thể Mặc dù thuốc có thể giúp giảm triệu chứng và nâng cao sức khỏe, nhưng chúng cũng có thể gây ra phản ứng có hại, thậm chí dẫn đến tử vong, ngay cả khi được sử dụng đúng liều lượng và quy định.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ADR (phản ứng có hại do thuốc) là phản ứng gây hại đáng kể xảy ra sau khi sử dụng thuốc, có thể dự đoán được mức độ nguy hại để điều chỉnh liều hoặc ngừng thuốc Phản ứng có hại nghiêm trọng có thể xảy ra ở bất kỳ liều nào, dẫn đến tử vong, nguy hiểm đến tính mạng, nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện, tàn tật vĩnh viễn, hoặc dị tật bẩm sinh.
Trong Cảnh giác Dược, thuật ngữ thường bị nhầm lẫn với phản ứng có hại của thuốc là biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event - ADE) ADE được định nghĩa là một biến cố không mong muốn xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc, có thể do thuốc hoặc không Việc xác định một thuốc có phải là nguyên nhân gây ra ADE trên một bệnh nhân cụ thể thường khó khăn và cần xem xét cẩn thận Khi cán bộ y tế nghi ngờ thuốc là nguyên nhân, ADE nên được ghi nhận.
1.1.2.2 Các phương pháp theo dõi phát hiện ADR
Tổng quan về báo cáo tự nguyện
1.2.1 Giới thiệu về báo cáo tự nguyện
Hiện nay, Cảnh giác Dược sử dụng nhiều phương pháp dịch tễ học để phát hiện và theo dõi các phản ứng có hại của thuốc (ADR) Trong số đó, báo cáo tự nguyện vẫn là phương pháp phổ biến và chủ đạo trên toàn cầu.
Các phương pháp giám sát ADR
Các phương pháp giám sát thụ động Hình thành giả thuyết
Báo cáo tự nguyện có chủ đích
Các phương pháp giám sát tích cực Kiểm định giả thuyết
Giám sát trọng điểm (Sentinel site)
Hồ sơ đăng ký (Registries)
Theo dõi biến cố kê đơn
Các nghiên cứu thuần tập, bệnh chứng
Hệ thống báo cáo tự nguyện là cơ chế thu thập thông tin về các phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc Các báo cáo này được gửi từ cán bộ y tế và các công ty dược phẩm đến cơ quan quản lý có thẩm quyền, nhằm nâng cao nhận thức và đảm bảo an toàn cho người sử dụng thuốc.
Hệ thống nhằm xác định dấu hiệu an toàn, đưa ra giả thuyết và cung cấp thông tin quan trọng về nhóm nguy cơ và tác nhân nguy cơ, được đánh giá qua các phương pháp khai phá dữ liệu Báo cáo tự nguyện về các ADR nghi ngờ rất hữu ích trong việc phát hiện phản ứng hiếm và chậm, nhờ khả năng theo dõi suốt vòng đời của thuốc Việc thu thập thông tin từ các báo cáo này giúp xác định mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và phản ứng xảy ra, hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định phù hợp Mặc dù không phải là phương pháp lý tưởng, báo cáo tự nguyện đã chứng minh vai trò quan trọng trong thực tế Từ năm 1999 đến 2001, trong 11 sản phẩm bị thu hồi tại Anh và Hoa Kỳ, 8 sản phẩm được thông báo từ các báo cáo tự nguyện, trong đó 4 sản phẩm hoàn toàn dựa vào thông tin từ phương pháp này Tại Liên minh Châu Âu, 6 trong 9 vấn đề an toàn thuốc được phát hiện nhờ báo cáo tự nguyện, chứng tỏ tầm quan trọng của chúng trong việc phát hiện các vấn đề mới về an toàn thuốc.
Báo cáo ADR diễn ra trên nền tảng tự nguyện, với thông tin được nhập vào cơ sở dữ liệu quốc gia và thường xuyên sàng lọc để phát hiện tín hiệu an toàn thuốc Sự thành công của hệ thống báo cáo tự nguyện phụ thuộc vào người báo cáo, quy trình báo cáo đơn giản, hướng dẫn ghi nhập, theo dõi báo cáo nghiêm trọng, công cụ phân tích tín hiệu, quá trình xử lý tín hiệu và phản hồi tới người báo cáo.
Nguồn cung cấp báo cáo tự nguyện quan trọng nhất là từ các cán bộ y tế, bên cạnh đó, báo cáo từ bệnh nhân cũng đang được nhiều quốc gia khuyến khích, mặc dù có những lo ngại về chất lượng của báo cáo ADR từ nguồn này Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định rằng các hoạt động tăng cường Cảnh giác Dược cho cán bộ y tế trong bệnh viện, như đào tạo tập huấn, cung cấp thông tin thuốc và phản hồi báo cáo, đã giúp cải thiện đáng kể cả số lượng lẫn chất lượng báo cáo ADR.
Hầu hết các quốc gia đều có trung tâm Cảnh giác Dƣợc để theo dõi phản ứng có hại do thuốc Các trung tâm này tập trung vào việc thu thập báo cáo ADR tự nguyện, tiến hành thẩm định và phản hồi đến người báo cáo cũng như cơ quan quản lý quốc gia Những báo cáo này sau đó được gửi về trung tâm theo dõi ADR toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới.
Tại Uppsala, Thụy Điển, thông tin từ báo cáo ADR của nhiều quốc gia sẽ được tổng hợp vào hệ thống VigiBase Những phản ứng không mong muốn sẽ được theo dõi và đánh giá sâu hơn thông qua các phương pháp khai phá dữ liệu, từ đó gửi đi những cảnh báo về ADR tiềm tàng và nghiêm trọng.
Việc mở rộng các hệ thống báo cáo tự nguyện đã được triển khai tại nhiều quốc gia và đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, công việc này không phải là một nhiệm vụ dễ dàng.
“Liều thuốc chữa bách bệnh” chỉ ra rằng kết quả đưa ra chỉ là những “tín hiệu” hay mối liên quan có thể giữa thuốc và biến cố bất lợi, cần có đánh giá và nghiên cứu sâu hơn để kiểm định mối liên quan này Một số dấu hiệu có thể trở thành trường hợp dương tính giả khi phản ứng có hại không liên quan đến thuốc Hơn nữa, phương pháp hiện tại không thể phát hiện kịp thời tất cả các ADR chưa được ghi nhận, như những giá trị âm tính giả chỉ được phát hiện bởi phương pháp khác.
1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện
1.2.2.1 Ưu điểm của báo cáo tự nguyện [46]
Cơ cấu đơn giản, chi phí thực hiê ̣n thấp hơn so với các phương pháp theo dõi ADR khác;
Phạm vi áp dụng của phương pháp này rất rộng, bao gồm tất cả các loại thuốc và thời điểm, phục vụ cho một số lượng lớn dân số mà không phân biệt đối tượng Nó có thể được áp dụng cho cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú, đồng thời là phương pháp quen thuộc với các cán bộ y tế và trung tâm.
Khả năng nhanh chóng nhận diện các nghi ngờ lâm sàng chưa được ghi nhận, đặc biệt là các tác dụng phụ hiếm gặp và nghiêm trọng, sẽ hỗ trợ hiệu quả cho hệ thống cảnh báo sớm.
Ít có khả năng bị ảnh hưởng bởi thói quen kê đơn của cán bộ y tế [43] [54];
Nhiều hệ thống báo cáo tự nguyện đã được xây dựng và phát triển tại nhiều quốc gia, tuy nhiên, hiệu quả thực tế vẫn chưa đạt như mong đợi Nguyên nhân chủ yếu là do cách thực hiện vẫn áp dụng theo lý thuyết mà chưa được điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
1.2.2.2 Hạn chế của báo cáo tự nguyện [46]
Báo cáo thấp hơn thực tế về số lượng và chất lượng là vấn đề lớn nhất của phương pháp báo cáo tự nguyện, với tỷ lệ các ADR nghiêm trọng chỉ được báo cáo khoảng 10-15% Một nghiên cứu ở Thụy Điển cho thấy 56% các trung tâm y tế cơ sở không có báo cáo nào trong năm 2008 Thiếu dữ liệu chính và kiểm soát trong báo cáo có thể do cán bộ y tế thiếu thời gian, quên thông tin hoặc mắc sai sót Tại Việt Nam, tỷ lệ báo cáo thấp hơn thực tế ở các bệnh viện vẫn còn cao, gây khó khăn trong việc phát hiện và hình thành giả thuyết về các nguy cơ an toàn.
Hệ thống báo cáo tự nguyện hiện tại chưa hỗ trợ việc thiết lập mối quan hệ giữa thuốc và ADR một cách hiệu quả, cũng như không cung cấp tỷ lệ mắc phải chính xác Hơn nữa, hệ thống này cũng không cho phép xác định rõ ràng các yếu tố nguy cơ liên quan đến ADR.
Các trường hợp tử vong do ADR có thể không được báo cáo đầy đủ nhất là khi biến cố này không xảy ra tại các cơ sở y tế;
Báo cáo gặp nhiều loại sai số trong đó có thể do thành kiến của người báo cáo với một cặp thuốc – ADR nhất định;
Cán bộ y tế hiện nay vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về việc báo cáo các phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) Chẳng hạn, những phản ứng nghiêm trọng đã được ghi nhận nhưng lại không được báo cáo Nhiều cán bộ y tế không thực hiện báo cáo khi không chắc chắn liệu thuốc có gây ra tác dụng phụ hay không, hoặc lo ngại về việc bị quy trách nhiệm.
Tổng quan về các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR
Một hệ thống báo cáo ADR tự nguyện hiệu quả cần đảm bảo cả số lượng và chất lượng báo cáo Hiện tượng báo cáo thấp hơn thực tế (under-reporting) là thách thức lớn cho hệ thống này trên toàn cầu Nghiên cứu của Gedde-Dahl tại Na Uy cho thấy 45% trong số 304 báo cáo ADR đạt điểm 0, trong khi chỉ 1,83% đạt điểm 3 Phương pháp tính điểm hoàn thành báo cáo theo khuyến cáo của WHO UMC năm 2013 cũng chỉ ra sự cần thiết phải cải thiện chất lượng báo cáo.
Tính đến tháng 1 năm 2012, hệ thống vigiBase đã ghi nhận 7 triệu báo cáo với điểm trung bình là 0,45, trong đó 13% được xếp loại tốt Chất lượng của từng báo cáo đơn lẻ có ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và phản ứng xảy ra Khi số lượng báo cáo tăng lên, chất lượng của mỗi báo cáo sẽ tác động đến kết quả phân tích cơ sở dữ liệu, bao gồm cả việc phát hiện tín hiệu Dữ liệu kém chất lượng có thể dẫn đến nhiều tác động tiêu cực, và việc khắc phục hậu quả sẽ trở nên khó khăn và tốn kém.
Chất lượng nội dung trong báo cáo về biến cố bất lợi là rất quan trọng, vì nếu thông tin kém hoặc thiếu giá trị, việc xác định mối quan hệ giữa biến cố và thuốc nghi ngờ sẽ trở nên khó khăn Nhiều tạp chí Y và Dược thường xuyên công bố các báo cáo này, và bác sĩ thường dựa vào thông tin trong đó để điều trị cho bệnh nhân Do đó, việc đánh giá chất lượng của các báo cáo này là cần thiết, nhằm đảm bảo rằng các báo cáo đơn lẻ cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác để phân loại đúng đắn.
Quản lý chất lượng là một vấn đề quan trọng đã được thảo luận trong nhiều năm, đặc biệt trong lĩnh vực Cảnh giác Dược và Dịch tễ Dược học Trên toàn cầu, đã có nhiều công cụ được đề xuất nhằm đánh giá chất lượng các báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc Các phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng trong ngành dược.
Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm giám sát UMC (Uppsala Monitoring Center) đã được áp dụng rộng rãi với các phiên bản được đề xuất vào các năm 1996, 2012 và 2013 Mỗi quốc gia có cách thức thẩm định, xây dựng và lựa chọn các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tự nguyện riêng, phù hợp với cơ cấu, quy mô của trung tâm Cảnh giác Dược và đặc điểm ADR của từng quốc gia.
Các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR được đưa vào nghiên cứu này bao gồm:
Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR dựa trên thang điểm đánh giá (Quality of documentation) của Tổ chức Y tế thế giới công bố vào năm 1996
Phương pháp đánh giá này sử dụng thang điểm với 3 nhóm câu hỏi, yêu cầu trả lời theo thứ tự từ trên xuống Mỗi nhóm bao gồm 1 hoặc 2 câu hỏi với lựa chọn trả lời có/không Nếu tất cả câu trả lời trong một nhóm đều là “Có”, người dùng sẽ tiếp tục đến nhóm câu hỏi tiếp theo Nếu có bất kỳ câu hỏi nào trong nhóm trả lời “Không”, quá trình đánh giá sẽ dừng lại.
Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR được áp dụng đơn giản và hiệu quả cho số lượng lớn báo cáo, như đã được chứng minh trong nghiên cứu của Đỗ Ngọc Trâm tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2012 và nghiên cứu tại Na Uy Cả hai nghiên cứu đều sử dụng cỡ mẫu tương đương, với 304 báo cáo ADR ở Na Uy và 330 báo cáo tại Bạch Mai, cho kết quả tương đồng: 40% báo cáo đạt điểm 0 và 2,11% đạt điểm 3 Điều này cho thấy phương pháp này phù hợp để đánh giá báo cáo ADR tại Việt Nam.
Phương pháp đánh giá báo cáo ADR của WHO năm 1996 có những hạn chế đáng chú ý, bao gồm việc chỉ dựa vào 5 tiêu chí quan trọng, trong đó có tiêu chí liên quan đến tái sử dụng thuốc có lặp lại phản ứng ADR Mặc dù tái sử dụng thuốc cho biến cố lặp lại là một tiêu chuẩn để đánh giá “chắc chắn”, nhưng không phải lúc nào cũng cần thiết Hơn nữa, phương pháp này không đề cập đến thông tin về đối tượng báo cáo và tên thuốc nghi ngờ, điều này gây khó khăn trong việc đánh giá mối quan hệ giữa thuốc và phản ứng bất lợi khi thiếu thông tin này.
Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR dựa trên điểm số hoàn thành báo cáo, được gọi là Report completeness score Hệ thống chấm điểm thu nhận thông tin (Documentation grading) này thuộc Trung tâm giám sát thuốc quốc tế Uppsala.
Tổ chức Y tế thế giới (Trung tâm WHO-UMC) [63]
Trong những năm gần đây, số lượng báo cáo về biến cố trong sử dụng thuốc gửi tới Trung tâm giám sát Uppsala đã gia tăng, nhưng thông tin cung cấp vẫn chưa đủ để thẩm định Để cải thiện phân tích báo cáo, vào năm 2012, WHO-UMC đã đề xuất một phương pháp đánh giá chất lượng nội dung thông tin trong báo cáo Phương pháp này sử dụng hai tham số chính: sự đầy đủ (completeness) và sự phù hợp (relevance) Tham số “đầy đủ” đo lường mức độ hoàn tất của báo cáo, trong khi “phù hợp” đánh giá sự liên quan của thông tin trong mối quan hệ giữa thuốc và phản ứng có hại Một thuật toán được áp dụng để tính điểm hoàn thành báo cáo bằng cách gán trọng số cho các trường dữ liệu cụ thể.
Lê Thị Thuỳ Linh đã áp dụng phương pháp đánh giá chất lượng hoàn thành báo cáo ADR liên quan đến thuốc kháng lao ở Việt Nam, mặc dù nghiên cứu chỉ thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ (69 báo cáo) Kết quả đạt được tương ứng với điểm hoàn thành báo cáo theo đánh giá của WHO về các báo cáo ADR tự nguyện của Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2012, dựa trên thời gian gửi báo cáo cho WHO Phương pháp này mang lại ưu điểm trong việc đánh giá chất lượng báo cáo ADR dựa trên điểm hoàn thành.
Năm 2012 đánh dấu sự mở rộng các tiêu chí đánh giá báo cáo, cho phép việc đánh giá trở nên hoàn thiện hơn Các tiêu chí này được mã hoá và gán trọng số tương ứng với mức độ quan trọng của chúng.
Phương pháp tính điểm hiện tại gặp hạn chế do sự phức tạp trong cách tính và chỉ dựa vào tính đầy đủ của các trường thông tin tối thiểu cần báo cáo So với yêu cầu của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) về một báo cáo chất lượng tốt, nhiều thông tin quan trọng như thuốc sử dụng đồng thời, bệnh mắc kèm và tiền sử bệnh nhân vẫn không được tính điểm Sự thiếu hụt này có thể dẫn đến hiểu lầm và cảnh báo sai về các phản ứng có hại của thuốc (ADR).
Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR theo khuyến cáo năm 2013 của Trung tâm WHO-UMC [52]
Vào năm 2013, Trung tâm WHO-UMC đã đề xuất phương pháp đánh giá mức độ hoàn thành báo cáo vigiGrade, trong đó sự đầy đủ và phù hợp của thông tin vẫn giữ vai trò quan trọng, tương tự như phương pháp đánh giá năm 2012 nhưng với nhiều tiêu chí hơn Thuật toán được sử dụng để tính điểm báo cáo bằng cách gán trọng số cho các trường dữ liệu cụ thể, với điểm xuất phát cho mỗi trường là 1; điểm số sẽ giảm tương ứng với trọng số dựa trên mức độ đầy đủ và phù hợp của thông tin trong trường dữ liệu đó.
Khi áp dụng phương pháp đánh giá báo cáo ADR trong hệ thống vigiBase của WHO UMC, chỉ có một trong tám báo cáo mới đạt mức tốt, và tỷ lệ này có thể khác nhau giữa các quốc gia.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Tất cả các báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc được gửi từ cán bộ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh và được lưu trữ tại Trung tâm DI&ADR Quốc gia đều đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ.
Tiêu chuẩn lựa chọn cho mục tiêu 1 bao gồm các báo cáo thu nhận từ trung tâm DI&ADR Quốc gia, được gửi từ ba bệnh viện: bệnh viện Đà Nẵng, bệnh viện Phụ sản Trung Ơng và bệnh viện Từ Dũ Đây là ba trong số mười bệnh viện có số lượng báo cáo nhiều nhất trong năm 2012, với số lượng báo cáo tương đương và đại diện cho ba miền khác nhau, trong khoảng thời gian từ 01/01/2012 đến 31/12/2012.
Tiêu chuẩn lựa chọn của mục tiêu 2 và mục tiêu 3: Các báo cáo đƣợc thu nhận tại trung tâm DI&ADR Quốc gia trong khoảng thời gian từ 01/01/2011 đến 31/12/2013
Tiêu chuẩn loại trừ: Các báo cáo về chất lƣợng thuốc và các báo cáo về phản ứng có hại không liên quan đến thuốc
Cấu trúc của đối tƣợng nghiên cứu:
Báo cáo ADR tự nguyện của Việt Nam (phụ lục 1) gồm các phần thông tin nhƣ sau:
Thông tin bệnh nhân bao gồm họ và tên, ngày sinh hoặc tuổi, giới tính và cân nặng Về phản ứng có hại, cần ghi lại ngày xuất hiện, thời gian phản ứng sau khi dùng thuốc nghi ngờ, mô tả biểu hiện ADR, các xét nghiệm liên quan, và tiền sử bệnh lý như dị ứng, thai nghén, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, bệnh gan và bệnh thận Ngoài ra, cần nêu rõ cách xử trí phản ứng, mức độ nghiêm trọng và kết quả sau khi xử trí.
Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR bao gồm tên gốc và tên thương mại, dạng bào chế, hàm lượng, nhà sản xuất, số lô, liều dùng một lần, số lần sử dụng trong ngày/tuần/tháng, đường dùng, và thời gian điều trị (ngày bắt đầu và kết thúc) Cần ghi rõ lý do sử dụng thuốc, cũng như theo dõi xem phản ứng có xuất hiện lại sau khi ngừng hoặc giảm liều thuốc nghi ngờ hay không Ngoài ra, cần xác định xem việc tái sử dụng thuốc có dẫn đến phản ứng tương tự hay không, cùng với danh sách các thuốc dùng đồng thời.
Đơn vị thẩm định ADR sẽ đánh giá mối liên quan giữa thuốc và ADR, sử dụng thang đánh giá phù hợp, đồng thời cung cấp bình luận từ cán bộ y tế để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của thông tin.
Thông tin về người báo cáo: Họ và tên, điện thoại liên lạc, chức vụ, email, dạng báo cáo (lần đầu hay bổ sung), ngày báo cáo.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu của mục tiêu 1
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc nhằm khảo sát sự tương đồng của các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR Ba bệnh viện được lựa chọn cho nghiên cứu này bao gồm bệnh viện Đà Nẵng, bệnh viện phụ sản Trung Ƣơng và bệnh viện Từ Dũ, dựa trên các tiêu chí cụ thể.
+ Nằm trong danh sách 10 bệnh viện có số lƣợng báo cáo ADR nhiều nhất năm 2012
+ Bệnh viện thuộc ba vùng miền đặc trưng của đất nước (miền Bắc, miền Trung và miền Nam)
+ Các bệnh viện có số lượng báo cáo tương đương
Sau khi chọn mẫu nghiên cứu, chúng tôi áp dụng thiết kế mô tả hồi cứu để phân tích các báo cáo ADR được gửi từ nhân viên y tế của ba bệnh viện đến Trung tâm DI&ADR Quốc gia.
Chấm điểm chất lượng báo cáo được thực hiện độc lập bởi hai người, và nếu có sự khác biệt, sẽ dựa vào kết quả đồng thuận thông qua một người đánh giá thứ ba Các báo cáo được đánh giá bởi một cán bộ Trung tâm DI&ADR Quốc gia và một sinh viên Chất lượng các báo cáo này được chấm điểm theo các thang tương ứng của các phương pháp đã được xác định.
Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR được xây dựng dựa trên thang điểm đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố vào năm 1996 Phương pháp này, được biết đến với tên gọi Phương pháp WHO 1996, cung cấp một khung tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tài liệu liên quan đến báo cáo ADR.
Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR được thực hiện thông qua việc xác định mức độ hoàn thành của báo cáo, được gọi là điểm số hoàn thành báo cáo Hệ thống chấm điểm thu nhận thông tin này thuộc Trung tâm giám sát thuốc quốc tế Uppsala, nhằm đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin trong báo cáo.
Tổ chức Y tế thế giới (Trung tâm WHO-UMC) (Phương pháp WHO UMC 2012) [63];
- Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR theo khuyến cáo năm 2013 của Trung tâm WHO-UMC (Phương pháp vigiGrade) [52];
- Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR được Trung tâm Cảnh giác dược Đài Loan xây dựng (Phương pháp Đài Loan [49]
Phương pháp đánh giá sự tương đồng giữa các phương pháp chấm điểm chất lƣợng báo cáo ADR
Sự tương đồng trong nghiên cứu đề cập đến việc phương pháp đánh giá X và Y đều đánh giá một báo cáo ADR tại cùng một mức điểm Phần trăm tương đồng được tính bằng tỷ lệ phần trăm số báo cáo ADR được đánh giá độc lập ở một mức nhất định so với tổng số báo cáo ADR đã được đánh giá Sau khi áp dụng các phương pháp này, đối tượng nghiên cứu sẽ được quy đổi thành hai mức điểm A và B dựa trên chất lượng nội dung theo bảng quy định.
Bảng 2.1 Quy đổi các mức điểm chất lượng của các phương pháp
A (Báo cáo tương đối đầy đủ các thông tin cần thiết)
B (Báo cáo thiếu nhiều thông tin cần thiết)
Phương pháp WHO 1996 2 và 3 0 và 1
Phương pháp Đài Loan Tốt và Trung bình Kém
Hệ số kappa (ƙ) được sử dụng để kiểm định phần trăm tương đồng giữa hai phương pháp, sau khi đã loại bỏ yếu tố ngẫu nhiên Kappa là một chỉ số thống kê quan trọng, giúp đánh giá mức độ tương đồng một cách chính xác Hệ số này được tính toán thông qua bảng tính.
Bảng 2.2 Bảng tính hệ số Kappa
Công thức tính hệ số kappa: Ƙ = 𝑝0−𝑝𝑒 1−𝑝𝑒
Hệ số kappa được sử dụng để đánh giá tỷ lệ phần trăm tương đồng giữa các phương pháp, trong đó phần trăm tương đồng thực tế được tính bằng công thức \$p_o = p_{AA} + p_{BB}\$ và phần trăm tương đồng mong đợi được tính bằng \$p_e = p_{A0} \cdot p_{0A} + p_{B0} \cdot p_{0B}\$.
Bảng 2.3 Ý nghĩa của hệ số kappa
Kappa Độ tương đồng giữa các phương pháp
< 0 Không tương đồng (poor)
0,0 – 0,20 Rất ít tương đồng (slightly)
0,61 – 0,80 Rất tương đồng (strong)
0,81 – 1,00 Gần như tương đồng hoàn toàn (almost complete)
Sau khi đánh giá tương đồng, thang điểm được lựa chọn để chấm điểm báo cáo ở mục tiêu 2 ít nhất phải thoả mãn đƣợc các tiêu chí sau:
Cách đánh giá đơn giản, có thể áp dụng với số lƣợng báo cáo lớn;
Phù hợp với mẫu báo cáo ADR của Việt Nam;
Có các ưu điểm vượt trội hơn so với các phương pháp còn lại
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu của mục tiêu 2
Sau khi lựa chọn mẫu nghiên cứu, chúng tôi tiến hành đánh giá chất lƣợng báo cáo ADR dựa trên thang điểm đƣợc lựa chọn
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu của mục tiêu 3
Dựa trên kết quả nghiên cứu từ mục tiêu 2, chúng tôi tiến hành phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng báo cáo ADR, với các yếu tố được đánh giá trong nghiên cứu này.
Tác động của dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” - Hợp phần 2.1 “Tăng cường các hoạt động Cảnh giác Dƣợc” do Quỹ Toàn Cầu tài trợ;
Dự án đã tổ chức các lớp tập huấn về báo cáo ADR, thiết lập mạng lưới cán bộ đầu mối cho hoạt động này tại cơ sở, và cung cấp hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị tham gia Ngoài ra, dự án còn tăng cường trao đổi thông tin giữa các đơn vị thông qua phản hồi báo cáo ADR, xuất bản bản tin Cảnh giác Dược hàng quý, và phát hành các ấn phẩm tuyên truyền như tờ rơi và tờ gấp về báo cáo ADR.
Phạm vi tác động của dự án bao gồm 29 bệnh viện và 31 tỉnh trọng điểm – danh sách đƣợc phê duyệt xin xem phụ lục 6 [12])
Dựa trên địa bàn triển khai dự án, các báo cáo ADR được phân loại thành hai nhóm: nhóm trong vùng can thiệp của dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” - Hợp phần 2.1.
“Tăng cường các hoạt động Cảnh giác Dược” (nhóm can thiệp) và nhóm không nằm trong vùng can thiệp của dự án này (nhóm không can thiệp);
Vị trí địa lý của các cơ sở y tế được phân chia theo 7 vùng kinh tế, bao gồm Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuyến cơ sở y tế: Tuyến Trung ương và tuyến dưới (Danh sách các cơ sở y tế thuốc tuyến Trung ƣơng xin xem phụ lục 9 [4]);
Cách thức nhập báo cáo (nhóm nhập bằng tay và nhóm nhập bằng máy);
Đối tƣợng báo cáo (nhóm bác sỹ - y sỹ, nhóm dƣợc sỹ, nhóm điều dƣỡng - hộ sinh, nhóm nhân viên y tế khác).
Chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1
- Tỷ lệ % báo cáo theo các mức điểm chất lượng dựa trên các phương pháp đánh giá;
- Xác định hệ số kappa của từng cặp phương pháp đánh giá
2.3.2 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2
- Xác định thông số thống kê của điểm chất lƣợng báo cáo ADR cho từng năm;
- Xác định sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo qua ba năm và sự khác biệt của từng năm so với các năm còn lại;
- Thống kê các thiếu sót về mặt chất lƣợng của báo cáo ADR
2.3.3 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 3
So sánh điểm chất lượng giữa nhóm được can thiệp trong Hợp phần 2.1 “Tăng cường các hoạt động Cảnh giác Dược” của dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” do Quỹ Toàn Cầu tài trợ và nhóm không được can thiệp cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong hiệu quả và nhận thức về các hoạt động cảnh giác dược.
+ Xác định các thông số thống kê của điểm chất lƣợng báo cáo ADR của từng nhóm theo từng năm;
Xác định sự khác biệt về chất lượng báo cáo giữa hai nhóm là rất quan trọng Đặc biệt, cần phân tích sự khác biệt chất lượng báo cáo của nhóm được can thiệp qua ba năm và so sánh sự khác biệt này từng năm với các năm còn lại.
So sánh điểm chất lượng giữa các báo cáo từ các cơ sở y tế thuộc 7 vùng kinh tế: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong chất lượng dịch vụ y tế Các vùng miền này có những đặc điểm riêng, ảnh hưởng đến hiệu quả và độ tin cậy của các báo cáo y tế.
+ Xác định các thông số thống kê của điểm chất lƣợng báo cáo ADR của từng nhóm trong 3 năm;
+ Xác định sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo giữa các nhóm, sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo của từng nhóm với các nhóm còn lại
- So sánh giữa các báo cáo gửi từ các cơ sở y tế thuộc các tuyến bệnh viện khác nhau:
+ Xác định các thông số thống kê của điểm chất lƣợng báo cáo ADR của từng nhóm trong 3 năm;
+ Xác định sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo giữa hai nhóm
So sánh điểm chất lượng của các báo cáo từ các nhóm đối tượng khác nhau, bao gồm nhóm bác sĩ - y sĩ, nhóm dược sĩ, nhóm điều dưỡng - nữ hộ sinh, và nhóm nhân viên y tế khác, giúp xác định sự khác biệt trong hiệu suất và chất lượng công việc giữa các nhóm này Việc phân tích này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về năng lực của từng nhóm mà còn hỗ trợ trong việc cải thiện quy trình làm việc và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
+ Xác định các thông số thống kê của điểm chất lƣợng báo cáo ADR của từng nhóm trong 3 năm;
+ Xác định sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo giữa các nhóm, sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo của từng nhóm với các nhóm còn lại
- So sánh giữa các nhóm báo cáo có cách điền báo cáo khác nhau (nhóm điền tay và nhóm điền bằng máy tính):
+ Xác định các thông số thống kê của điểm chất lƣợng báo cáo ADR của từng nhóm trong 3 năm;
+ Xác định sự khác biệt về chất lƣợng báo cáo giữa hai nhóm
Các thông số thống kê quan trọng liên quan đến điểm chất lượng của báo cáo ADR bao gồm: điểm trung bình ±SD, tứ phân vị 25%, 50%, 75%, trung vị, cùng với số lượng và tỷ lệ báo cáo có điểm chất lượng lớn hơn 0,8.
Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được lưu trữ, quản lý và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2007
Kết quả được thống kê mô tả và phân tích kiểm chuẩn Kolmogorov-Smirnov được sử dụng để xác định xem điểm báo cáo có tuân theo phân bố chuẩn hay không Nếu không, kiểm định Kruskal-Wallis (kiểm định phi tham số cho hơn 2 mẫu độc lập) sẽ được áp dụng để xác định sự khác biệt về chất lượng báo cáo giữa các nhóm đối tượng Trong trường hợp có sự khác biệt, kiểm định Mann-Whitney (kiểm định phi tham số cho 2 mẫu độc lập) sẽ được sử dụng để phân tích sự khác biệt giữa từng cặp đối tượng với mức p.
< 0,05 đƣợc coi là có ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả đánh giá sự tương đồng giữa các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR và lựa chọn phương pháp cho mục tiêu 2
3.1.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu
Các bệnh viện đƣợc lựa chọn để lấy báo cáo đƣa vào đánh giá trong mục tiêu
Ba bệnh viện nằm trong danh sách 10 bệnh viện có số lượng báo cáo gửi về trung tâm DI&ADR Quốc gia nhiều nhất trong năm 2012, cho phép sử dụng kết quả khảo sát mức độ tương đồng của 4 phương pháp trên mẫu nghiên cứu Các bệnh viện này được chọn từ ba miền khác nhau với số báo cáo tương đương, giúp loại bỏ sai số do ảnh hưởng của vùng miền và số lượng báo cáo Số lượng báo cáo của ba bệnh viện được trình bày trong bảng 3.1.
Bảng 3.1 Số lƣợng báo cáo năm 2012 của ba bệnh viện
Bệnh viện Số lƣợng báo cáo Tỷ lệ
Bệnh viện Phụ sản Trung ƣơng 83 33,5%
Số báo cáo bị loại 0 0%
Tổng số báo cáo đƣa vào nghiên cứu 248 100%
Tổng cộng có 248 báo cáo được tổng hợp để đánh giá sự tương đồng của 4 phương pháp Trong đó, bệnh viện Đà Nẵng chiếm 33,9% với 84 báo cáo, bệnh viện Phụ sản Trung Ơng chiếm 33,5% với 83 báo cáo, và bệnh viện Từ Dũ chiếm 32,6% với 81 báo cáo.
3.1.2 Tỷ lệ báo cáo ở các mức điểm chất lượng
248 báo cáo đã được chấm điểm chất lượng bằng cả 4 phương pháp Kết quả đánh giá chất lƣợng của các báo cáo này đƣợc trình bày trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Số lượng báo cáo và tỷ lệ tương ứng ở các mức điểm chất lượng
Phương pháp Số lượng báo cáo đạt mức điểm A (n = 248)
Số lƣợng báo cáo đạt mức điểm B (n = 248)
WHO UMC 2012 209 (84,3%) 39 (15,7%) vigiGrade 193 (77,8%) 55 (22,2%) Đài Loan 195 (78,6%) 53 (21,4%)
Kết quả cho thấy có sự chênh lệch về số báo cáo ở từng mức điểm chất lƣợng giữa 4 phương pháp:
Phương pháp WHO UMC 2012 cho thấy số lượng và tỷ lệ báo cáo đạt điểm A cao nhất với 209 báo cáo, chiếm 84,3%, trong khi số lượng và tỷ lệ báo cáo đạt điểm B thấp nhất chỉ có 39 báo cáo, tương ứng với 15,7%.
Phương pháp WHO 1996, vigiGrade và phương pháp Đài Loan có số lượng báo cáo đạt điểm A và B tương đương, với số lượng báo cáo đạt điểm A lần lượt là 194, 193 và 195 Tuy nhiên, vigiGrade có tỷ lệ báo cáo đạt điểm A thấp nhất, trong khi tỷ lệ báo cáo đạt điểm B cao nhất.
3.1.3 Đánh giá tương đồng giữa các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR
Tỷ lệ báo cáo ở từng mức điểm chất lượng giữa bốn phương pháp có sự khác biệt, do đó, tỷ lệ báo cáo tương đồng và không tương đồng được thống kê trong bảng 3.3 để làm rõ sự khác biệt này Từ đó, hệ số kappa giữa bốn phương pháp được tính toán.
Bảng 3.3 Tỷ lệ báo cáo tương đồng và không tương đồng ở các mức quy kết
Tỷ lệ báo cáo tương đồng ở các mức quy kết (%)
Tỷ lệ báo cáo không tương đồng ở các mức quy kết (%)
Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ báo cáo tương đồng cao nhất giữa phương pháp WHO 1996 và vigiGrade đạt 92,3%, trong khi tỷ lệ thấp nhất là 84,7% giữa phương pháp Đài Loan với các phương pháp WHO UMC 2012 và vigiGrade Hệ số kappa chỉ ra rằng phương pháp WHO 1996 có mức độ "rất tương đồng" với ba phương pháp còn lại, đặc biệt là với vigiGrade, với hệ số kappa cao nhất là 0,78 Các cặp phương pháp còn lại chỉ đạt mức độ "khá tương đồng".
Phương pháp vigiGrade nổi bật hơn so với phương pháp WHO UMC 2012 và phương pháp Đài Loan nhờ vào tính toàn diện, sự đơn giản trong tính toán và khả năng ứng dụng cao Do đó, vigiGrade đã được chọn làm phương pháp nghiên cứu cho mục tiêu 2 và mục tiêu 3.
Kết quả đánh giá chất lƣợng báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc
3.2.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu
Trong khoảng thời gian từ 01/01/2011 đến 31/12/2013, các báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc đã được gửi và lưu trữ tại trung tâm DI&ADR Quốc gia, đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ để đưa vào nghiên cứu.
Số lƣợng báo cáo nhận đƣợc, số lƣợng báo cáo đƣa vào nghiên cứu và tỷ lệ báo cáo của từng năm đƣợc thống kê ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Số lƣợng báo cáo đƣa vào nghiên cứu của mục tiêu 2
Năm Tổng số báo cáo
Số báo cáo đƣa vào nghiên cứu Tỷ lệ
Trong giai đoạn 2011-2013, số lượng báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc tại trung tâm DI&ADR Quốc gia đã tăng từ 2407 lên 5463 báo cáo Trong số này, có 35 báo cáo liên quan đến chất lượng thuốc và 03 báo cáo về các biến cố có hại không liên quan đến thuốc, nhưng đã bị loại do không đáp ứng tiêu chí lựa chọn Thông tin chi tiết về các báo cáo được trình bày trong phụ lục 8.
3.2.2.Đánh giá chất lượng báo cáo ADR giai đoạn 2011-2013 Điểm chất lượng của báo cáo ADR của 3 năm được chấm bằng phương pháp vigiGrade theo khuyến cáo năm 2013 của Trung tâm WHO UMC (phương pháp đƣợc lựa chọn ở mục tiêu 1), kết quả sau khi xử lý đƣợc tổng hợp ở bảng 3.5
Bảng 3.5 Điểm chất lƣợng báo cáo ADR của 3 năm
Năm Điểm trung bình ±SD Tứ phân vị Số lƣợng và tỷ lệ báo cáo tốt
Tỷ lệ báo cáo tốt
Điểm trung bình của các báo cáo trong ba năm qua là 0,853 ± 0,233, với tỷ lệ báo cáo có chất lượng tốt đạt 71,3% Kết quả kiểm định bằng test Kruskal-Wallis cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phương pháp (p = 0,977) Sử dụng test Mann-Whitney, điểm chất lượng báo cáo ADR giữa các năm theo phương pháp vigiGrade cũng không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
2011 và 2012: p=0,935; giữa năm 2011 và 2013: p = 0,916; giữa năm 2012 và 2013: p = 0,830)
3.2.3 Thống kê các thiếu sót về mặt nội dung của báo cáo ADR giai đoạn 2011-
Dựa trên bảng chấm điểm các báo cáo theo phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR của Trung tâm WHO UMC năm 2013, một số báo cáo đã bị xếp ở mức 0 điểm do không đủ điều kiện đánh giá, cụ thể là thiếu thông tin về ADR và thông tin về thuốc nghi ngờ Số lượng báo cáo này được tổng hợp trong bảng 3.6.
Bảng 3.6 Số lƣợng và tỷ lệ các báo cáo xếp ở mức 0 điểm trong 3 năm Năm
Báo cáo thiếu thông tin về ADR
Báo cáo thiếu thông tin về thuốc nghi ngờ
Tỷ lệ so với tổng số báo cáo của năm
Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy số lượng báo cáo đạt 0 điểm trong năm 2012 là 79, giảm so với 85 báo cáo của năm 2011 Tuy nhiên, năm 2013 ghi nhận 101 báo cáo đạt 0 điểm, tăng so với hai năm trước Đáng chú ý, tỷ lệ báo cáo xếp ở mức 0 điểm so với tổng số báo cáo trong nghiên cứu năm 2013 lại giảm so với hai năm 2011 và 2012.
Với các báo cáo còn lại, số lƣợng và tỷ lệ báo cáo thiếu thông tin theo từng tiêu chí cũng rất khác nhau (bảng 3.7)
Bảng 3.7 Số lƣợng và tỷ lệ (%) báo cáo thiếu thông tin theo từng tiêu chí Năm
Số lƣợng và tỷ lệ (%) báo cáo thiếu thông tin
Giới tính Tuổi Thời gian*
* Thời gian: Khoảng thời từ khi bắt đầu dùng thuốc nghi ngờ đến khi xảy ra ADR
** Liều: Liều dùng của thuốc nghi ngờ
Bảng 3.7 cho thấy sự khác biệt trong mức độ hoàn thành các trường thông tin trong báo cáo qua các năm Đặc biệt, trường thông tin về lý do sử dụng thuốc nghi ngờ là trường thiếu nhiều nhất trong các báo cáo năm 2011.
Trong tổng số báo cáo, có 400 báo cáo không hoàn thành trường thông tin, chiếm 17,2% Trường thông tin về tuổi của bệnh nhân có tỷ lệ thiếu thấp nhất với chỉ 107 báo cáo không hoàn thành Trong các năm 2012 và 2013, trường thông tin về liều sử dụng thuốc là trường thiếu nhiều nhất, với tỷ lệ không hoàn thành lần lượt là 16,7% và 17,6% Ngoài ra, các trường thông tin liên quan đến thời gian xảy ra ADR và hậu quả của ADR cũng thường bị bỏ trống trong các báo cáo.
Trong giai đoạn 2011-2013, tỷ lệ phần trăm báo cáo thiếu thông tin liên quan đến giới tính, tuổi, chỉ định của thuốc nghi ngờ và thông tin bổ sung đã giảm, cho thấy sự cải thiện trong việc hoàn thành các trường thông tin này Tuy nhiên, mức độ hoàn thành các trường thông tin về thời gian xảy ra ADR, hậu quả của ADR và liều của thuốc nghi ngờ lại có xu hướng giảm.
3.3 Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo ADR giai đoạn 2011-2013
3.3.1 Khảo sát sự tác động của Hợp phần 2.1 “Tăng cường các hoạt động Cảnh giác Dược” thuộc dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” đến chất lượng báo cáo ADR của các cơ sở khám chữa bệnh
3.3.1.1 Số lượng báo cáo của nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp
Dự án Hợp phần 2.1 “Tăng cường các hoạt động Cảnh giác dược” thuộc dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” do Quỹ Toàn cầu tài trợ, triển khai tại 31 tỉnh và 29 bệnh viện trọng điểm trên toàn quốc Các báo cáo trong nghiên cứu được phân chia thành nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp nhằm khảo sát ảnh hưởng của dự án đến chất lượng báo cáo ADR Danh sách các cơ sở y tế trong hai nhóm này được trình bày ở phụ lục 6, và số lượng báo cáo theo các nhóm được tổng hợp trong hình 3.1.
Tỷ lệ báo cáo của nhóm can thiệp so với cả nước luôn ở mức cao: chiếm 73,9% vào năm 2011, 75,9% vào năm 2012 và 80,7% vào năm 2013
Từ năm 2011 đến năm 2013, số lượng báo cáo trên toàn quốc đã tăng hơn 2,3 lần, từ 2407 lên 5425 báo cáo Đối với nhóm được can thiệp, số lượng báo cáo cũng tăng tương tự, gấp 2,5 lần, từ 1779 lên 4380 báo cáo Trong khi đó, nhóm không được can thiệp có số lượng báo cáo thấp hơn đáng kể, mặc dù có xu hướng tăng nhưng với tốc độ chậm hơn, chỉ gấp 1,7 lần, từ 628 lên 1045 báo cáo.
Hình 3.1 Số lượng báo cáo qua các năm của cả nước và các nhóm
3.3.1.2 So sánh sự khác biệt về chất lượng báo cáo ADR giữa nhóm được can thiệp và nhóm không được can thiệp
Theo phương pháp vigiGrade, các báo cáo đạt chất lượng tốt được định nghĩa là những báo cáo có điểm chất lượng lớn hơn 0,8 Trong ba năm qua, số lượng báo cáo tốt của các nhóm đã có xu hướng tăng lên.
Hình 3.2 Số lƣợng báo cáo có điểm > 0,8 của các nhóm qua 3 năm
Nhóm không đƣợc can thiệp
Nhóm can thiệp Nhóm không can thiệp
Kết quả từ hình 3.2 cho thấy số lượng báo cáo đạt chất lượng tốt của cả nhóm can thiệp và không can thiệp đều tăng trong 3 năm qua, với nhóm can thiệp tăng 2,5 lần từ 1261 lên 3125 báo cáo, trong khi nhóm không can thiệp tăng 1,7 lần từ 450 lên 746 báo cáo Tuy nhiên, kiểm định thống kê chỉ ra rằng tỷ lệ báo cáo chất lượng tốt giữa hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể, duy trì ở mức khoảng 70%.
Trong khi đó điểm chất lƣợng trung bình của các nhóm qua ba năm lại không có sự khác biệt đáng kể (bảng 3.8)
Bảng 3.8 Điểm chất lƣợng trung bình của báo cáo ADR của nhóm can thiệp và không can thiệp Năm Nhóm đƣợc can thiệp Nhóm không can thiệp
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy điểm trung bình của tất cả các nhóm trong 3 năm đều lớn hơn 0,8, cho thấy chất lượng nội dung báo cáo tốt Nhóm không được can thiệp có điểm trung bình cao hơn nhóm được can thiệp Các thông số thống kê khác cho thấy trung vị của ba nhóm không có sự khác biệt (1,0), và tứ phân vị 50% và 75% của các nhóm đều là 1,0 Tuy nhiên, tứ phân vị 25% của nhóm không can thiệp năm 2012 có sự khác biệt so với các nhóm còn lại (0,8 so với 0,7).