Ở Việt Nam, tại các trung tâm y tế lớn đã xây dựng các chiến lược phòng chống loét, các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng điều trịvết loét mạn tính được thực hiện một cách hệ thốn
Trang 1NGUYỄN XUÂN HƯNG
NGHIÊN CỨU KÍCH ỨNG DA VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ LOÉT DO TỲ ĐÈ CỦA MỠ SINH CƠ
Trang 2NGUYỄN XUÂN HƯNG
NGHIÊN CỨU KÍCH ỨNG DA VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ LOÉT DO TỲ ĐÈ CỦA MỠ SINH CƠ
TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Mã số: 8720115
Người hướng dẫn khoa học : TS ĐỒ ĐÌNH LONG
TS LƯU MINH CHÂU
- Chấn thương chỉnh hình
g
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa học và hoàn tất luận văn này, tôi luôn nhận được
sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám đốc, Phòng đào tạo Sau Đại học và các thầy cô giáo trong Học Viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam đã giảng dạy, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và lòng kính trọng đến các GS, PGS, TS trong Hội đồng chấm luận văn đã góp ý cho tôi nhiều kiến thức quý báu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Đình Long,TS Lưu Minh Châu đã tận tình chỉ bảo, cung cấp cho tôi những kiến thức về mặt lý thuyết cũng như triển khai đề tài để hoàn tất luận văn
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Khoa nghiên cứu thực nghiệm – Viện Y học cổ truyền quân đội , Khoa A11 - Viện Y học cổ truyền quân đội , Khoa Dược – Viện Y học cổ truyền quân đội và các bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi cũng rất biết ơn những người thân trong gia đình, cùng bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nguyễn Xuân Hưng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Xuân Hưng, học viên Cao học khóa 11, Học viện Y dược học
cổ truyền Việt Nam, chuyên ngành Y học cổ truyền, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn củaTS.Đỗ Đình Long, TS Lưu Minh Châu
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Người viết cam đoan
Nguyễn Xuân Hưng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 10
ĐẶT VẤN ĐỀ 11
Chương 1 13
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13
1.1 Đặc điểm mô học của da: 13
1.1.1 Biểu bì 13
1.1.2 Chân bì 13
1.1.3 Hạ bì 13
1.2 Sinh bệnh học quá trình liền vết thương: 14
1.2.1 Giai đoạn viêm: 14
1.2.2 Giai đoạn tăng sinh tế bào: 14
1.2.3 Hình thành mô liên kết: 16
1.2.4 Co kéo vết thương: 17
1.2.5 Quá trình tái lập mô: 17
1.3 Loét tỳ đè theo y học hiện đại 18
1.3.1 Định nghĩa: 18
1.3.2 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh 18
1.3.3 Các yếu tố liên quan: 22
1.3.4 Các vị trí thường gặp của loét tỳ đè: 23
1.3.5 Phân độ loét tỳ đè: 25
1.3.6 Dự phòng và điều trị: 27
1.4 Loét tỳ đè theo quan niệm y học cổ truyền (YHCT): 33
1.4.1 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh loét do tỳ đè theo YHCT: 33
1.4.2 Phân loại thể bệnh của loét tỳ đè: 33
1.4.3 Pháp, phương điều trị loét da do tỳ đè: 34
Trang 61.5 Các nghiên cứu, ứng dụng thuốc YHCT điều trị vết thương, vết loét: 35
1.5.1 Nghiên cứu, ứng dụng trong nước 35
1.5.2 Các nghiên cứu nước ngoài 37
1.6 Các vị thuốc trong Mỡ sinh cơ 38
1.6.1 Đương qui (Radix Angelicae sinensis) 38
1.6.2 Bạch chỉ(Radix Angelicae dahurica) 38
1.6.3 Cốt toái bổ (Rhizoma Drynaria) 39
1.6.4 Ma hoàng (Herba Ephedra) 39
1.6.5 Khương hoạt (Rhizoma et Radix Notopterygii) 40
1.6.6 Thương truật (Rhizoma Atractylodis lancaea) 40
1.6.7 Đại hoàng (Rhizoma Rhei) 41
1.6.8 Sinh địa (Radix Rehmanniae glutinosa) 43
1.6.9 Ngưu tất(Radix Achyranthis) 43
1.6.10 Quế nhục (Cortex Cinnamomi) 44
1.6.11 Nghệ tươi(Curcuma longa) 44
1.6.12 Long não(Cinnamomum camphora N Et E) 45
Chương 2 47
ĐỐI TƯỢNG, CHẤT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 47
2.1.1 Động vật thực nghiệm: 47
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 47
2.2.1 Thuốc nghiên cứu: 47
2.2.2.Thuốc, phương tiện và trang bị sử dụng trong nghiên cứu 48
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 48
2.3.1 Nghiên cứu trên thực nghiệm 48
2.4 Xử lý số liệu 53
Chương3 54
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
Trang 73.1 Kết quả nghiên cứu kích ứng da của mỡ sinh cơ 54
3.2 Nghiên cứu hiệu quả điều trị của Mỡ sinh cơ trên thực nghiệm 55
Chương 4 Bàn Luận 69
4.1 Xác định tính kích ứng da của mỡ sinh cơ……….69
4.2 Đánh giá hiệu quả điều trị loét da mạn tính của mỡ sinh cơ trên thực nghiệm ……… ……… ….69
4.2.1 Đánh giá hiệu quả điều trị ……… ……69
4.2.2 Cơ chế tác dụng của mỡ sinh cơ……… ……74
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 85
Trang 8NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
EPUAP : European Pressure Ulcer Advisory Panel (Hội đồng tư
vấn châu âu về loét tỳ đè ) TNPT : Topical Negative Pressure Therapy ( Trị liệu hút áp lực
âm tính) VAC : Vacuum Assisted Closure ( Băng hút áp lực âm)
VPT : Vacuum Pack Tecnique ( Kỹ thuật hút chân không ) EGF : Epidermal Growth Factor (Yếu tố tăng trưởng biểu bì ) SSD : Silver Sulfadiazine (Bạc sulfadiazine )
OECD : Organization for Economic Co-operation and
Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ) NPUAP : National Pressure Ulcer Advisory panel (Hội đồng tư vấn quốc gia về loét tỳ đè)
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cấu trúc của da 13
Hình 1.3: Tác động của lực ma sát 21
Hình 1.4: Các vị trí hay gặp loét tỳ đè 23
Hình 1.5: Tổn thương loét da độ I 25
Hình 1.6: Tổn thương loét da độ II 26
Hình 1.7: Tổn thương loét da độ III 26
Hình 1.8: Tổn thương loét da độ IV 27
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Kết quả xác định kích ứng trên bề mặt da 54
Bảng 2 Diện tích vết thương (cm2) 56
Bảng 3 Tốc độ liền vết thương (cm2/ngày) 56
Bảng 4 Phần trăm phục hồi (%) 57
Bảng 5 Đánh giá vết thương theo thang điểm Design-R 58
Bảng 6 Tổng điểm Design-R 58
Bảng 7 Ảnh hưởng của Mỡ sinh cơ đến thể trọng chuột 59
Bảng 8 Các chỉ số xét nghiệm huyết học 59
Bảng 9 Các chỉ số xét nghiệm sinh hóa máu 60
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét da mạn tính là tổn thương thường thấy trong lâm sàng cả nội và ngoại khoa Với sự tiến bộ của khoa học nói chung và y học nói riêng, ngày nay việc chăm sóc và điều trị đã có nhiều thay đổi mang tính chuyên sâu.Trên thế giới việc điều trị các vết thương, vết loét mạn tính đã rất được quan tâm, nhiều trung tâm chăm sóc vết thương, vết loét (Wound Care Center) và các hội chăm sóc vết thương đã được thành lập
Ở Việt Nam, tại các trung tâm y tế lớn đã xây dựng các chiến lược phòng chống loét, các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng điều trịvết loét mạn tính được thực hiện một cách hệ thống theo hướng ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại như công nghệ sinh học, nuôi cấy tế bào gốc Tuy nhiên, các nghiên cứu ứng dụng điều trị chủ yếu được thực hiện ở một số trung tâm lớn như Viện Bỏng quốc gia, Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Các tuyến dưới thường vẫn theo quy trình điều trị cũ Sự phối hợp chuyên khoa, ứng dụng các kỹ thuật chuyên sâu có nhiều trở ngại do đó hiệu quả điều trị chưa cao, chưa mang tính chuyên khoa
Loét do tỳ đè là thương tổn chiếm tỉ lệ cao trong các loại vết loét mạn tính Ước tính mỗi năm thế giới có hơn 1,6 triệu bệnh nhân bị loét do tỳ đè trong thời gian nằm viện Trong các đơn vị điều trị tích cực, tỷ lệ bệnh nhân
bị loét tỳ đè chiếm từ 30%-60% Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 2,5 triệu bệnh nhân đến khám và điều trị vết loét do tỳ đè[1] Tỷ lệ bệnh nhân bị loét tỳ đè ngày càng tăng cao, một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ loét tỳ đè trong các bệnh viện đa khoa chiếm 3-12%, trong đó bệnh nhân cao tuổi bị loét
chiếm 10-25%, tỷ lệ tử vong liên quan đến loét tỳ đè tăng 6 lần[2] Theo điều tra của Triệu Quang Hồng [3] và cộng sự tỷ lệ loét tỳ đè trong thời gian nằm viện là 1.54% Trên toàn thế giới tỷ lệ bệnh nhân loét tỳ đè so với cách đây 15
Trang 12năm có xu hướng tăng lên [4] Cũng như các loại vết thương vết loét mạn tính khác, việc điều trị loét tỳ đè còn gặp rất nhiều khó khăn, kéo dài, hết vết loét này đến vết loét khác, điều này có thể làm suy sụp người bệnh và đặt gánh nặng vô cùng to lớn về ngân sách tài chính lên hệ thống chăm sóc sức khỏe
Y dược học cổ truyền đã được sử dụng để phòng ngừa và điều trị loét da mạn tính từ rất lâu với nhiều bài thuốc uống, thuốc bôi đắp tại chỗ trên cơ sở biện chứng về nguyên nhân- cơ chế bệnh sinh của loét da mạn tính gồm: thấp,
ứ và hư Từ đó đề ra các pháp trị phù hợp với các thể bệnh nhằm đạt mục tiêu
‘‘khứ hủ sinh cơ, cơ bình bì trưởng’’ và đã đạt những hiệu quả nhất định
Mỡ sinh cơ là một sản phẩm y học cổ truyền, sản xuất tại khoa Dược Viện y học cổ truyền Quân đội đã được sử dụng trong điều trị các bệnh lý hậu môn trực tràng như trĩ, dò, nứt kẽ hậu môn cho thấy kết quả rất khả quan Tuy nhiên, việc dùng để điều trị loét do tỳ đè thì chưa được ứng dụng nhiều và chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Với mong muốn có thể cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng, đặc biệt là ở các tuyến mà điều kiện về chăm sóc vết thương, vết loét còn chưa hiện đại có thêm sự lựa chọn trong điều trị các vết
loét do tỳ đè, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu kích ứng da và tác
dụng điều trị loét do tỳ đè của Mỡ sinh cơ trên động vật thực nghiệm”
với mục tiêu:
1 Đánh giá kích ứng da của Mỡ sinh cơ trên động vật thực nghiệm 2.Đánh giá tác dụng điều trị loét do tỳ đè của Mỡ sinh cơ trên động vật thực nghiệm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm mô học của da:
Da là bộ phận rất quan trọng, giống như một tấm áo tự nhiên bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại bên ngoài và có chức năng bài tiết, điều hòa nhiệt độ cơ thể Cấu trúc da gồm 3 phần chính: Biểu bì, chân bì và hạ bì [5]
1.1.1 Biểu bì: là biểu mô lát tầng sừng hóa, từ dưới lên trên gồm có lớp đáy,
lớp gai, lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng Các tế bào ở các lớp của biểu bì là những giai đoạn tiến triển khác nhau của các tế bào đáy thành tế bào sừng.[5]
1.1.2 Chân bì: gồm tế bào của mô liên kết (nguyên bào sợi, tế bào sợi), mạch
máu, thần kinh, tuyến bã, nang lông và tuyến mồ hôi, các chất nền ngoại bào Chất nền ngoại bào (Extra Cellular Matrix: ECM) là tập hợp các polysaccahride (glycosaminoglycan: GAG), hyaluronic acide, fibronectin, proteoglycan, sợi tạo keo, sợi lưới, sợi chun Chân bì ngăn cách với biểu bì bởi màng đáy ngoằn nghoèo Những chỗ chân bì nhô lên cao gọi là nhú chân
bì Chân bì gồm 2 lớp:
Lớp nhú: ngay dưới màng đáy tập trung nhiều mạch máu, thần kinh Lớp lưới gồm tế bào sợi, thành phần phụ của da và thần kinh, mạch máu.[5]
1.1.3 Hạ bì: là mô liên kết thưa, lỏng lẻo nối da với các cơ quan bên dưới và
giúp da có thể trượt được trên các cấu trúc đó
Hình 1.1: Cấu trúc của da[5]
Trang 141.2 Sinh bệnh học quá trình liền vết thương:
Liền vết thương là quá trình mô tổn thương được phục hồi, tái sinh.Các
tế bào mô và tổ chức sắp xếp để tạo sẹo Quá trình này diễn ra ở tất cả các cơ quan trong cơ thể Liền vết thương trải qua 5 giai đoạn: viêm, tăng sinh tế bào,tạo mô liên kết, co kéo vết thương và tái lập mô [6]
1.2.1 Giai đoạn viêm:
Giai đoạn này bao gồm tạo cục máu đông và tăng tính thấm thành mạch
để kháng thể và các protein chủ chốt của quá trình liền vết thương như fibronectin và fibrin vào mô Dòng máu tăng lên và sự xuyên mạch xảy ra ngay sau đó, bạch cầu đa nhân trung tính tập trung tại vết thương trong vài phút để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn Sự kích hoạt viêm gửi đi các tín hiệu hóa học mang tính hóa ứng động để lôi kéo đại thực bào tới vết thương, các tế bào này có thời gian sống dài hơn duy trì các giai đoạn liền vết thương thông qua việc giải phóng các polypeptid khác nhau là các yếu tố tăng trưởng tạo ra các tín hiệu liền vết thương khác nhau [7][8]
Viêm quá mức được nhìn nhận với sự tồn tại mô hoại tử, nhiễm trùng, hoặc các yếu tố tiền viêm ở vết thương gây cản trở quá trình liền vết thương Các proteases và các độc tố được giải phóng từ hoạt động quá mức của các bạch cầu đa nhân trung tính trong dịch rỉ trên bề mặt vết thương sẽ làm tổn thương ra xung quanh mô còn sống, đặc biệt là các tế bào mới [9]
Các yếu tố cản trở quá trình liền vết thương ở giai đoạn viêm bao gồm: Các yếu tố gây suy yếu phản ứng viêm: Corticosteroid gây ức chế phản ứng viêm, giảm lượng máu đến vết thương do giảm thể tích máu hoặc chèn ép
mô, sự cung cấp oxy không thỏa đáng…
Các yếu tố gây phá hủy mô: Viêm quá mức, nhiễm trùng, sự có mặt của
mô chết không được loại bỏ, tăng tiết dịch, các hóa chất hoặc dị vật ở vết thương…
1.2.2 Giai đoạn tăng sinh tế bào:
Trang 15Giai đoạn này bắt đầu từ ngày thứ 2 của vết thương, bao gồm 3 quá
trình: tăng sinh mạch, tăng sinh fibroblast, tăng sinh biểu mô
1.2.2.1 Tăng sinh mạch:
Bề mặt vết thương bị thiếu máu khi tổn thương sâu qua lớp chân bì dẫn đến thiếu hụt dưỡng chất làm quá trình liền vết thương gặp trở ngại Lúc này các đại thực bào sẽ tiết ra các yếu tố tân tạo mạch Tân tạo mạch bắt đầu trong vài ngày đầu, nó có thể bị trì hoãn nếu các thành phần và mô hoại tử trên bề mặt vết thương không được loại bỏ Các tế bào nội mạc mạch tăng sinh và tạo
ra mầm mao mạch, các mầm mao mạch tạo ra một mạng lưới các quai mao mạch đứt quãng làm nền cho mao mạch mới Nếu mép vết thương đủ hẹp thì các mao mạch này sẽ là cầu nối cho mép vết thương
Biểu mô hóa sớm sẽ hạn chế mức độ ứ máu của vết thương và kích thích tân tạo mạch bị loại bỏ Khi quá trình đóng kín vết thương bị kéo dài (trên 3 tuần) thì lớp bảo vệ vết thương sẽ là các mao mạch mới kết hợp với hoạt động của nguyên bào sợi (fibroblast) để tạo mô hạt Khi vết thương được đóng kín, các mao mạch giảm và mất đi cùng tình trạng xung huyết bề mặt, đồng thời các nhu cầu chuyển hóa của vết thương cũng giảm dần theo
Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự liền vết thương ở giai đoạn này bao gồm: mô hoại tử không được loại bỏ, dịch tiết quá mức trên bề mặt vết thương, quá trình tưới máu bị tổn thương Đặc biệt các mô mới tạo ra rất dễ bị tổn thương dưới tác dụng phân hủy của các proteases giải phóng ra từ các bạch cầu đa nhân trung tính bị chết.[8][9]
1.2.2.2 Tăng sinh nguyên bào sợi (fibroblast):
Fibroblast xuất hiện từ ngày thứ 2 của vết thương Các fibroblast đầu tiên có mặt ở vết thương là do sự dịch chuyển từ các mô liên kết bên cạnh bởi các yếu tố hóa ứng động Tiểu cầu và đại thực bào giải phóng các yếu tố tăng trưởng kích thích fibroblast tăng sinh và tổng hợp collagen Fibroblast di cư
Trang 16đến vết thương dọc theo sợi fibrin tại chỗ và fibronectin được giải phóng vào
vết thương trong giai đoạn đông máu ban đầu.[9]
Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến giai đoạn này:
- Giảm tân tạo mạch: do giảm dòng máu đến vết thương, các bệnh về
máu, mạch máu, nhiều hoại tử trên bề mặt vết thương
- Suy giảm sự tăng sinh: do thiếu oxy, năng lượng, các acid amin cần
thiết, bệnh nhân đang dùng thuốc corticoid
- Tổn thương toàn bộ quá trình trên do nhiễm trùng hoặc viêm quá mức
1.2.2.3 Biểu mô hóa:
Với các vết thương nông thì biểu mô hóa là quá trình chủ yếu của liền vết thương Chân bì tiếp tục tăng trưởng và tạo ra mô giống như chân bì da bình thường Nếu vết thương sâu gây tổn thương lớp chân bì thì các tế bào cạnh vết thương sẽ phải thực hiện công việc này Dưới tác dụng của các tín hiệu tại chỗ, keratinocyte tách ra khỏi màng đáy, phân chia và di chuyển vào vết thương trong môi trường ẩm dọc theo các sợi fibrin và fibronectin Đầu tiên chúng tạo thành một lớp tế bào đơn, sau đó lớp tế bào này tiếp tục phát
triển tạo thêm các lớp tế bào mới và biệt hóa thành các tế bào biểu bì.[9]
Quá trình này cần có sự tương tác của các yếu tố chân bì và biểu bì Các thành phần chủ chốt của chân bì, gồm: các protein đệm kết dính, đặc biệt fibronectin cho phép tách tế bào chân bì, di chuyển và kết dính chúng lại Fibonectin cũng trực tiếp kích thích sự tăng sinh tế bào Khoảng cách các tế bào di chuyển thường giới hạn trong khoảng 3cm tính từ mép vết thương Quá trình biểu mô hóa diễn ra trong 5-10 ngày hoặc vài tháng tùy thuộc vào kích thước của tổn thương đó, cũng như số lượng các tế bào đáy còn sống sau tổn thương, việc cung cấp năng lượng đến vết thương và môi trường vết thương
1.2.3 Hình thành mô liên kết:
Được bắt đầu từ ngày thứ 5-7 của vết thương, gồm 4 quá trình chính:
Trang 17- Tổng hợp collagen trong tế bào fibroblast Quá trình này cần oxy, vật
liệu tạo protein cùng các yếu tố tăng trưởng
- Tạo các sợi collagen ở vết thương Quá trình này cần protein, vitamin
C, sắt, kẽm, đồng và oxy
- Liên kết chéo collagen Cần oxy và vitamin C
- Tổng hợp các chất nền từ fibroblast: Tổng hợp proteoglycans,
chondroitin sulfates, kết dính collagen trong khoảng trống
Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quá trình hình thành mô liên kết:
+ Giảm tổng hợp collagen do suy dinh dưỡng, kích thích đồng hóa không thỏa đáng, thiếu các yếu tố cần thiết
+ Giảm quá trình trùng hợp do suy dinh dưỡng, thiếu oxy và các yếu tố
kết hợp, bất thường về gen, nhiễm trùng gây viêm quá mức
+ Giảm liên kết chéo collagen do thiếu oxy và vitamin C, bất thường về
gen, thiểu dưỡng
+ Giảm chất nền do mô bị phù quá mức, giảm nuôi dưỡng và đồng hóa
1.2.4 Co kéo vết thương:
Là quá trình vết thương được đóng kín hay thu nhỏ diện tích bằng cách dịch chuyển bờ mép về phía trung tâm mà không do sự di chuyển của tế bào biểu mô Đặc tính co rút tạo ra sự co kéo vết thương là do các thành phần có tính co rút của fibroblast Do sự co rút của myofibroblast (nguyên bào sợi cơ), collagen, proteoglycans được tiết ra tạo sự liên kết chặt chẽ giữa mô mới với vết thương, điều đó càng làm vết thương co rút nhiều hơn Quá trình này kéo
dài nhiều tuần đến hàng tháng và nếu diễn ra quá mức có thể tạo sẹo co kéo 1.2.5 Quá trình tái lập mô:
Quá trình tái tạo bắt đầu vào khoảng tuần thứ 3 của vết thương và kéo
dài nhiều tháng đến hàng năm Là kết quả của các quá trình sau:
- Tăng liên kết chéo giữa các sợi collagen làm tăng tính bền vững
- Hoạt động của collagenase phân cắt sự tích tụ quá mức collagen
Trang 18- Giảm mạng lưới dày đặc các mao mạch khi nhu cầu chuyển hóa giảm
- Giảm proteoglycans, thay thế bằng thành phần nước của vết thương Vết thương thiểu dưỡng hoặc nhiễm trùng có thể dẫn đến tăng sự mất collagen làm suy yếu vết thương
Sự tích tụ quá mức của sẹo có thế diễn ra dẫn đến hình thành sẹo phì đại hoặc sẹo quá phát gây đau và hạn chế vận động Sẹo lồi là sự phát triển quá mức của mô liên kết, thường được tạo ra sau vết thương nhỏ, quá trình này có liên quan đến yếu tố gen.[8][9]
1.3 Loét tỳ đè theo y học hiện đại
tố bên trong, bên ngoài khác [11]
1.3.2 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
1.3.2.1 Lực tỳ đè
Lý thuyết tác động của lực đè ép gây ra thiếu máu cục bộ được nhiều tác giả đồng nhất.Cường độ lực tỳ đè và thời gian tác động là yếu tố chủ đạo dẫn đến việc hình thành vết loét, mô bị thiểu dưỡng, sẹo hoặc nhiễm khuẩn sẽ mẫn cảm hơn với áp lực Áp lực tỳ đè tác dụng theo hình nón, lực tỳ đè đi qua
da, gian chất và đến tổ chức xương, áp lực lớn nhất chính là tại xương, xung quanh vị trí đó áp lực giảm dần từ trong ra ngoài Áp lực trong lòng mao mạch là 32 mmHg, khi áp lực tỳ đè vượt qua 32mmHg sẽ làm tổn thương tế bào nội mạc và gây kết tập tiểu cầu, gây tắc các mao mạch nhỏ, ảnh hưởng đến cung cấp máu [12][13]
Trang 19Tác giả John E Stevenson [14] đã chứng minh lý thuyết này khi nghiên cứu một nhóm người được đo áp lực các vị trí đè ép ở các tư thế nằm ngửa, nằm sấp, ngồi Kết quả: nằm ngửa áp suất đo được tại các điểm xương cùng, gót, chẩm dao động từ 40- 60 mmHg Nếu nằm sấp thì ngực và đầu gối chịu
áp lực 50 mmHg Khi ngồi thì ụ ngồi chịu áp lực 100mmHg
Khi áp lực ở biểu bì đạt đến 60mmHg, lưu lượng máu trong tổ chức da giảm xuống còn 33% so với bình thường, nếu áp lực 69mmHg trong thời gian trên 2 giờ sẽ gây tổn thương không hồi phục [15]
Feuchtinger [16] tổng kết từ 61 báo cáo về nguy cơ bị loét tì đè với các bệnh nhân phẫu thuật tim đã chỉ ra rằng cường độ áp lực và thời gian tác động
là yếu tố quan trọng làm phát sinh loét tì đè,lực tỳ đè càng lớn thì thời gian để gây ra loét tỳ đè càng ngắn [17].Đến thời điểm này thì áp lực tỳ đè vẫn được coi là yếu tố then chốt trong cơ chế bệnh sinh của loét do tỳ đè [18]
1.3.2.2 Dinh dưỡng kém:
Tình trạng dinh dưỡng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát sinh và khả năng hồi phục của các vết loét tỳ đè Theo Bergstrom và Braden [19], phát sinh loét tì đè có liên quan đến sự giảm hấp thu các chất dinh dưỡng của cơ thể.Chế độ ăn không đầy đủ ảnh hưởng lớn đến cân bằng nitrogen gây ra loét điểm tỳ, khi nồng độ protein huyết tương nhỏ hơn 35g/l thì nguy cơ bị loét tì
đè càng cao [20][21] Năm 2005 Stratton và cộng sự [22] phân tích hồi cứu từ
916 báo cáo, kết quả cho thấy mỗi ngày cung cấp cho các BN có nguy cơ cao loét tì đè 1046-2092 kJ bơm qua sonde dạ dày sẽ giảm 25% tỉ lệ bị loét so với nuôi dưỡng thông thường
Trên lâm sàng, các bệnh nhân có bệnh lý gây kém hấp thu, thiếu máu nặng, protein máu thấp, teo cơ, giảm lớp mỡ dưới da…nguy cơ bị loét tỳ đè cao hơn
1.3.2.3 Độ ẩm tại chỗ:
Trang 20Độ ẩm làm cho da tại chỗ ẩm ướt, dẫn đến tính đàn hồi và sức đề kháng của da kém, làm tăng lực ma sát của da với giường đệm, do đó tăng khả năng
bị loét 5 lần so với da được giữ khô Bình thường bề mặt da có tính acid (pH 4.0-5.5), nước tiều và phân đều có tính kiềm, do đó có thể làm da bị kích thích, ngoài ra nước tiểu và phân là môi trường tốt cho vi khuẩn phát triển, đó cũng làm nguy cơ bị loét tăng lên Trương Hiểu Minh [23] và cộng sự so sánh các chỉ sổ tổn thương của giai đoạn cấp với sau giai đoạn cấp phát hiện thấy vùng da bị kích ứng do yếu tố ẩm ướt dễ bị loét hơn
1.3.2.4.Giảm cảm giác:
Hạn chế về cảm giác làm bệnh nhân kém phản ứng với các kích thích gây hại Mất cảm giác làm cho bệnh nhân không cảm nhận thấy kích thích đau khi chịu áp lực tỳ đè quá mức, do đó không tự thay đổi tư thế hoặc yêu cầu được thay đổi tư thế, làm cho một vùng da chịu áp lực quá lớn, quá lâu dẫn đến loét
1.3.2.5 Lực trượt:
Lực trượt sinh ra khi hai bộ phận cạnh nhau di lệch ngược chiều với nhau.Khi nâng cao đầu giường, do tác động của trọng lực cơ thể sẽ có xu hướng trượt xuống, trong khi lực ma sát giữa da với ghế hoặc chăn đệm có xu hướng giữ da tại vị trí cũ, da vùng cùng cụt sẽ di lệch so với xương cùng cụt, mạch máu bị co kéo làm ảnh hưởng đến tuần hoàn tại chỗ, gây thiếu máu và loét [24]
Lực trượt được coi là nguyên nhân quan trọng của loét vùng cùng cụt
1.3.2.6 Lực ma sát:
Lực ma sát được sinh ra khi hai vật tiếp xúc bề mặt với nhau và di chuyển ngược chiều nhau Trên lâm sàng, bệnh nhân chuyển động trên bề mặt của giường, ga, đệm, ghế …đều có thể sinh ra lực ma sát Lực ma sát chủ yếu tác động ở vùng thượng bì, làm bong các lớp bảo vệ ngoài cùng của da, khi
Trang 21lớp sừng bên ngoài bị bong đi thì các sợi fibrin ở lớp trung bì sẽ dần bị phân giải, từ đó hình thành vết loét
phản ứng [25]
1.3.2.8 Tổn thương sau tái tưới máu tổ chức:
Tồn thương sau tái tưới máu tổ chức được Jennings đề cập từ năm 1960,
cơ chế chủ yếu do sau khi tổ chức bị thiếu máu và được tái tưới máu thì nồng
độ các gốc tự do tăng cao, hoạt động của các kênh ion bị rối loạn và sự kích hoạt bạch cầu Sundin và cộng sự [26] nghiên cứu trên mô của lợn và người
đã phát hiện gốc tự do sinh ra sau tái tưới máu có liên quan đến sự hình thành loét tỳ đè
1.3.2.9 Biến đổi tế bào:
Trang 22Thuyết về biến đổi tế bào đang dần trở thành tiêu điểm Bouten [27] và cộng sự lần đầu tiên đề cập đến vấn đề biến đổi tế bào, tế bào tổn thương có liên quan đến việc hình thành loét tỳ đè Breuls [28] và cộng sự cũng đã chứng minh lý thuyết này đối với loét tỳ đè trên vùng cơ sát xương
1.3.3 Các yếu tố liên quan:
1.3.3.1 Tuổi:
Loét tỳ đè có liên quan mật thiết đến tuổi của bệnh nhân.Bệnh nhân trên
40 tuổi dễ bị loét tỳ đè hơn dưới 40 tuổi 6-7 lần [29] Do các chức năng sinh
lý suy giảm, khả năng tự phục vụ kém, nằm hoặc ngồi lâu, không thể tự thay đổi tư thế, làm các tổ chức mô tại chỗ bị chịu áp lực trong thời gian dài, giảm tuẩn hoàn tại chỗ, kết hợp với dinh dưỡng và chức năng miễn dịch kém nên
dễ dẫn đến loét.Bệnh nhân tuổi cao có thể hấp thu chất dinh dưỡng không đủ, ít hấp thu nước Hệ thống miễn dịch, tuần hoàn, hô hấp cũng suy yếu, khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn giảm, quá trình tăng trưởng và tái tạo giảm đi Đó là những nguy cơ làm tăng sự huỷ hoại của da và trì hoãn lành vết thương [30]
1.3.3.2 Hút thuốc lá:
Nicotin trong lá thuốc lá có tác dụng co các mao mạch tận cùng, giảm dinh dưỡng tại chỗ, từ đó làm tổ chức mô nhạy cảm hơn với áp lực tỳ đè Nhiều phân tích đã cho thấy mức độ hút thuốc lá có liên quan đến tỷ lệ loét tỳ đè và mức độ trầm trọng của loét Dừng hút thuốc sẽ làm giảm nguy cơ loét [31]
1.3.3.3 Giới tính:
Fisher [32] và cộng sự nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến loét tỳ đè phát hiện thấy nam giới có nguy cơ bị loét cao hơn so với nữ giới Trong khi đó Pearson [33] và cộng sự lại thấy tỷ lệ giữa hai giới không có sự khác biệt
Chất lượng hộ lý, sa sút tinh thần, trầm cảm, mất khả năng tự ý thức về bệnh tật là những yếu tố nguy cơ của loét tỳ đè [34][35] Sử dụng các phương pháp vô cảm cũng là yếu tố nguy cơ của loét tỳ đè nhưng còn ít được đề cập tới.Khi bị vô cảm, các phản xạ của bệnh nhân giảm hoặc mất, một bộ phận cơ
Trang 23thể không có phản ứng với các kích thích áp lực từ bên ngoài, từ đó tạo điều kiện cho vết loét hình thành Theo Bành Thúy Lan thì có 55% bệnh nhân phẫu thuật trong thời gian bị vô cảm có tình trạng giảm oxy máu, tác dụng của thuốc
vô cảm có thể làm giãn mạch máu tại chỗ, máu lưu thông chậm lại, khả năng chịu áp lực tại vị trí này sẽ suy giảm và dễ bị loét do tỳ đè [36]
1.3.4 Các vị trí thường gặp của loét tỳ đè:
1.3.4.2 Vùng gót chân:
Là vị trí thường gặp đứng hàng thứ 2, vị trí này tổ chức da rất cứng chắc, lớp mỡ dưới da mỏng, tốc độ thượng bì sừng hóa nhanh, vận chuyển máu lại chậm.Ở tư thế nằm áp lực tại các vị trí gót chân, vùng chẩm, xương cùng cụt,
2 bả vai đều lớn hơn 32mmHg, thậm trí vùng gót chân còn cao hơn 70mmHg
Trang 24và tạo thành đường hầm ngóc ngách, miệng nhỏ nhưng đáy lớn, rất khó xử lý
1.3.4.4 Ụ ngồi:
Thường gặp ở những bệnh nhân liệt 2 chi dưới Khi ngồi phần lớn trọng lượng cơ thể tập trung lên 2 ụ ngồi, vì vậy áp lực nó phải chịu đựng là rất lớn, nếu thời gian kéo dài sẽ làm giảm lưu lượng máu tại chỗ, khả năng chịu đựng
áp lực của nó sẽ dần dần giảm sút và hình thành loét
1.3.4.5 Vùng lưng:
Do liệt nằm lâu, chăm sóc không thích đáng, thường kết hợp với loét vùng cùng cụt Ở đây các lớp cơ phát triển, lớp mỡ dưới da dày, khi có loét thường sâu đến tận lớp cơ, vết loét có thể có dạng miệng nhỏ đáy lớn, tuy nhiên thời gian điều trị thường ngắn hơn loét ở mấu chuyển lớn hay ụ ngồi
Lã Thức Ái [38]trong cuốn “Chăm sóc hộ lý cơ bản” nêu ra các vị trí dễ
bị loét tỳ đè, gồm: cùng cụt, hông, bả vai, khuỷu tay, 2 bên đầu gối, mắt cá chân, gót chân, vành tai, chẩm Theo Trịnh Bích Hà [39] và cộng sự tỷ lệ loét
tỳ đè vùng cùng cụt là 38.39%, gót chân 11.37%, nếp lằn mông 10.43%.Kết quả trên cho thấy các vị trí này có xương nhô ra hơn, lớp da thường phải chịu
áp lực lớn hơn bình thường trong thời gian tương đối dài, điều đó rất có ý nghĩa trong việc chăm sóc, theo dõi và dự phòng loét do tỳ đè
Trang 25Hiện nay cơ chế bệnh sinh được công nhận chủ yếu là áp lực tỳ đè, lực trượt, lực ma sát kết hợp với các yếu tố bên trong và bên ngoài gây ra loét tỳ đè Tuy nhiên ba loại lực tác động nói trên tác động qua lại với nhau như nào và tác động cộng hưởng của nó gây ra loét như nào vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng.Thạch Lan Bình [40] và cộng sự tiến hành so sánh yếu tố nguy cơ giữa nhóm đã bị loét và nhóm có các yếu tố nguy cơ loét cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt
Do vậy tính tin cậy của các yếu tố nguy cơ còn cần phải tiếp tục chứng minh
1.3.5 Phân độ loét tỳ đè:
Năm 2009 [41], NPUAP và EPUAP thống nhất đưa ra hệ thống phân loại quốc tế đối với loét da tỳ nén, gồm 4 mức độ trên lâm sàng
Độ I:Da liền, vết đỏ không mất sau khi giải phóng lực tỳ đè Có thể có đau,
da cứng hay mềm hơn bình thường,có thể không có triệu chứng cơ năng
Hình 1.5:Tổn thương loét da độ I
Độ II:Tổn thương bán phần lớp dưới da Đáy vết thương màu đỏ hoặc hồng,
không có tế bào chết màu vàng đục Những tổn thương dạng bọng nước
(phồng da) màu trắng vị trí sát xương cũng được xem là loét do tỳ đè độ II
Trang 26Hình 1.6:Tổn thương loét da độ II
Độ III:Tổn thương toàn bộ lớp da, dưới da Lớp tế bào dưới da hay lớp tế
bào mỡ có thể được nhìn thấy nhưng không có sự hiện diện của xương, dây chằng, gân và cơ trên vết thương Tế bào hoại tử màu vàng đục có thể xuất hiện nhưng không tổn thương sâu vào cơ Có thể có đường hầm hay lỗ dò
Hình1.7:Tổn thương loét da độ III
Độ IV:Mất toàn bộ mô da và dưới da, làm lộ cơ, xương, hay gân/dây chằng
Mô hoại tử màu vàng đục hoặc khô đen chiếm một phần tổng thể đáy vết
thương Thường xuất hiện đường hầm hay lỗ dò
Trang 27Đánh giá nguy cơ loét tỳ đè:Có nhiều phương pháp đánh giá nguy cơ
đối với loét do tỳ đè, dựa trên cơ sở đánh giá và cho điểm các yếu tố nguy cơ riêng lẻ sau đó tính tổng số điểm và đưa ra kết luận Hiện nay, chủ yếu là dùng bảng đánh giá của Braden và bảng đánh giá của Norton[42]
Thang điểm Braden: Thang điểm này được đề xuất từ năm 1987 và đến
nay vẫn được tổ chức nghiên cứu chính sách bảo vệ sức khỏe của Mỹ (AHCPR) khuyến cáo sử dụng [43]
Nguy cơ thấp: >20 điểm, nguy cơ trung bình: 16-20 điểm, nguy cơ cao: 11-15 điểm, nguy cơ rất cao: <11 điểm
Thạch Mỹ Kim[44]đã nghiên cứu ứng dụng thang điểm Braden trên người châu Á, kết quả cho thấy: 18-23 điểmkhông có nguy cơ hoặc nguy cơ loét rất thấp, 15-17 điểm nguy cơ thấp, 13-14 điểm nguy cơ trung bình, 10-12 điểm nguy cơ cao, 9 điểm trở xuống là nguy cơ rất cao
Trang 28Thang điểm Norton: Được lập ra từ những năm 1960 và được dùng rộng
rãi để đánh giá nguy cơ loét do tì đè ở người lớn, với 5 chỉ tiêu đánh giá là: thể chất, tinh thần, sinh hoạt, khả năng vận động và tình trạng đại tiểu tiện không tự chủ.Cho điểm từ 5 đến 20, điểm càng thấp nguy cơ càng cao, 14 điểm hay nhỏ hơn được xem là có nguy cơ cao
Sự đánh giá loét tỳ đè phải thường xuyên, lặp lại sau ít nhất mỗi 48 giờở bệnh nhân có bệnh lý cấp tính và mỗi 4 tuần ở bệnh nhân mạn tính
Các biện pháp dự phòng sau khi đánh giá nguy cơ:
- Thay đổi tư thế và sử dụng các công cụ giảm áp lực: Lăn trở ít nhất
2h/lần Loại bỏ lực đè ép giúp tái lập tuần hoàn cho các mô phục hồi tốt hơn,nên đặt BN nằm ở cả bốn tư thế (nghiêng hai phía, sấp, ngửa) trừ khi có
chống chỉ định Kiểm tra vùng bị đè ép sau mỗi lần thay đổi tư thế
Phương pháp truyền thống dự phòng loét là lật người 90°, có thể sử dụng phao cao su để bảo vệ, nhất là vùng cùng cụt Tuy nhiên khi nằm nghiêng 90°,
vị trí cơ thể tiếp xúc với mặt giường sẽ chịu áp lực lớn nhất, mặt khác phao cao su có thể làm giảm lưu thông máu tĩnh mạch, vùng tổ chức phía trong phao có thể phù thũng, do đó hiện nay không còn được khuyến khích sử dụng Một đệm hơi cao su có độ dầy khoảng 2,5cm (1 inch) có áp lực hơi thay đổi liên tục là điều kiện tốt nhất cho bệnh nhân bị liệt Sự thay đổi áp lực không khí tạo ra sự co bóp làm lưu thông các mạch máu nông ở da do đó tránh được loét do đè ép và tăng cường lưu thông máu
Trong vài năm gần đây phương pháp dự phòng loét tỳ đè đã không ngừng được cải tiến Cuttmann (1955) [45] đã đề xuất nghiêng bệnh nhân 30°, dùng gối đỡ sau lưng, thấy phương pháp này tỏ ra rất hiệu quả An Xuân Thực [46] dùng đệm tạo sóng dự phòng loét thu được kết quả rất tốt Lý Phong Quỳnh [47] dự phòng loét bằng sử dụng áp lực âm để hút nước tiểu, phương pháp này giải quyết được vấn đề đại tiểu tiện cho bệnh nhân liệt nằm lâu
Trang 29Khi ngồi trên xe lăn cần cho ngồi dồn trọng lực lên toàn bộ mông và hai đùi, không để hai chân cao khi ngồi vì trọng lực của toàn bộ cơ thể sẽ dồn lên hai ụ ngồi làm bệnh nhân rất dễ bị loét và cầnnâng người lên 20-30 phút một lần Sử dụng đệm khi ngồi trên xe lăn hoặc trên ghế, kết hợp các yếu tố như
vệ sinh, dinh dưỡngcho bệnh nhân
1.3.6.2 Điều trị:
Để điều đạt kết quả,việc đầu tiên là phải loại bỏ lực tỳ đè Tăng cường dinh dưỡng và oxy, chống bội nhiễm cũng là điều bắt buộc Bất luận dùng phương pháp nào cũng cần chăm sóc và cắt lọc vết thương một cách triệt để, loại bỏ các tổ chức hoại tử.Với các vết loét độ II-III cần phải sát khuẩn vùng
da xung quanh thường xuyên và cần được tiến hành trong điều kiện vô khuẩn Vết loét có nhiễm trùngphải rửa bằng oxy già 3%, nếu có nhiều hoại tử cần cắt lọc,rửa sạch bằng nước muối sinh lý Sau 1-2 tuần tình trạng viêm nhiễm
đã hết hoặc nền vết loét đỏ tươi không có dịch tiết hay hoại tử thì chỉ cần rửa bằng nước muối sinh lý, không dùng các thuốc sát khuẩn, vì nếu thuốc sát khuẩn dùng quá nhiều sẽ gây tổn thương đến các mô mới hình thành [48] Với loét độ II thì chăm sóc như trên khoảng 10-14 ngày vết loét có thể liền tốt Với loét độ III phải kết hợp các biện pháp hỗ trợ cũng như các thuốc có tác dụng kích thích liền vết thương thì có thể liền trong vòng 3-8 tuần
Dinh dưỡng đầy đủ là rất cần thiết Protein, vitamin như C, E, các nguyên tố vi lượng như kẽm, đồng có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình liền vết thương
* Điều trị loét tỳ đè theo từng giai đoạn:
Loét độ I: Ở giai đoạn này chủ yếu là cần loại bỏ tác nhân gây loét,
phòng vết loét tiếp tục phát triển Dùng đệm khí, tích cực lật trở cho bênh nhân, bảo đảm giường không bị dốc, giữ cho giường đệm và da bệnh nhân khô thoáng, tránh tạo ra lực ma sát trên bề mặt da Tăng cường dinh
Trang 30dưỡngnâng cao sức đề kháng, cung cấp năng lượng và các chất cần thiết cho
quá trình liền vết thương
Loét độ II:Giai đoạn này ngoài các biện pháp giống như ở loét độ I thì
còn cần phải bảo vệ tốt vùng da bị tổn thương tránh bị nhiễm trùng Hạn chế tối đa để cho phỏng nước bị cọ sát, tránh để phỏng nước bị vỡ Với những phỏng nước kích thước lớn có thể dùng xilanh để hút dịch bên trong nốt phỏng, không nên lấy bỏ lớp da bên trên, chú ý cần phải thực hiện trong điều kiện vô khuẩn
Loét độ III:Giai đoạn này cần giữ sạch bề mặt vết loét, rửa và cắt lọc để
đảm bảo bề mặt vết thương không còn hoại tử hoặc các chất tiết Có thể áp dụng các phương pháp như chiếu hồng ngoại, laser, oxy cao áp, hút áp lực âm, che phủ vết thương bằng các vật liệu sinh học…giúp thúc đẩy quá trình liền vết thương.Phẫu thuật nếu vết thương có đường kính trên 5cmkhông thể tự liền
Loét độ IV: Giai đoạn này loét đã sâu và thường có nhiều ngóc nghách
Tùy theo độ sâu và mức độ nhiễm khuẩn để xử lý cho vết loét sạch sẽ, loại bỏ
tổ chức hoại tử, bảo đảm sự thông thoáng Sau khi vết loét đã tương đối sạch hoại tử có thể áp dụng các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy quá trình liền vết thương Tuy nhiên, với loét độ IV hầu hết đều phải phẫu thuật vết loét mới liền được
* Các phương pháp thúc đẩy quá trình liền vết thương:
Cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại, ngày càng có nhiều phương pháp mới được ứng dụng điều trị vết loét mạn tính nói chung và loét
tỳ đè nói riêng, các biện pháp thường được dùng hiện nay là trị liệu oxy cao
áp, hút áp lực âm, sử dụng yếu tố tăng trưởng, tia laser, trị liệu tế bào[49]
Trị liệu oxy cao áp(OXCA):OXCA là phương pháp sử dụng oxy tinh
khiết dưới áp lực cao (2- 3 at, 45-60 phút) có tác dụng nén trực tiếp, làm tăng nồng độ oxy tại chỗ tổn thương vốn đã bị thiếu OXCA làm lượng oxy trong máu tăng lên 20-30 lần bình thường, do đó oxy nguyên chất được khuếch tán,
di chuyển, hòa tan trong máu và đưa đến tổ chức, tế bào đang trong tình trạng
Trang 31thiếu oxy, đồng thời góp phần xúc tác vận chuyển chất dinh dưỡng, làm tăng
phân áp oxy ở tế bào giúp tốc độ phục hồi tế bào được đẩy nhanh
Trị liệu áp lực âm (VAC): Trị liệu áp lực âm có nhiều tên gọi khác nhau:
TNPT (topical negative pressure therapy); VAC (vacuum assisted closure); VPT (vacuum pack tecnique) Đây là phương pháp điều trị giúp thúc đẩy quá trình liền vết thương có những tác dụng [50][51] :
- Làm giảm dịch tiết, giảm phù nề tại chỗ
- Giảm nhiễm khuẩn
- Làm co hẹp vết thương có tính cơ học
Trị liệu VAC đã được dùng rộng rãi ở nhiều nước châu Âu, Singapore cho các vết thương cấp tính, mạn tính, vết thương bị ô nhiễm sau khi đã kiểm soát được chảy máu, sử dụng trong cả bệnh viện và trong cộng đồng [52][53]
Tại Châu Âu, trị liệu VAC có thể được sử dụng ngay cho vết thương cấp tính, vết thương bị ô nhiễm sau khi đã kiểm soát được chảy máu [54]
Theo Nguyễn Trường Giang (2012), hút áp lực âm có ưu điểm tuyệt đối trong làm sạch vết thương, giúp dẫn lưu dịch tiết, dịch mủ triệt để hơn các biện pháp dẫn lưu thông thường khác [50] Trần Đoàn Đạo (2010), nghiên cứu trên 30 bệnh nhân vết thương mạn tính thấy rằng: Có 25/30 bệnh nhân tình trạng tiết dịch cải thiện rõ rệt sau 10 ngày trị liệu VAC, nền vết thương bắt đầu có tổ chức hạt [51].VAC được chứng minh là một liệu pháp điều trị với nhiều tính năng và tác dụng như giúp loại bỏ dịch tiết, làm giảm phù nề, giảm sự khếch tán của vi khuẩn, làm tăng tưới máu tổ chức, duy trì độ ẩm thích hợp, giúp kích thích hình thành tổ chức hạt, đóng cơ học vết thương, cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đến mô tổn thương như vậy đã góp phần thúc đẩy quá trình liền vết thương [55]
Sử dụng các yếu tố tăng trưởng(growth factor):Yếu tố tăng trưởng là các
protein liên kết với các thụ thể trên bề mặt tế bào, với kết quả chính là kích hoạt sự tái tạo và biệt hóa tế bào Nhiều yếu tố tăng trưởng khá linh hoạt, kích
Trang 32thích phân chia tế bào trong nhiều loại tế bào khác nhau, trong khi những yếu
tố khác lại kích thích phân chia một loại tế bào đặc biệt
Có nhiều yếu tố tăng trưởng tham gia vào quá trình liền vết thương như yếu tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi, yếu
tố tăng trưởng biểu bì, yếu tố tăng trưởng chuyển đổi, yếu tố tăng trưởng nội
mô mạch máu , trong đó yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF) được ứng dụng nhiều nhất trong điều trị loét mạn tính nói chung và loét tỳ đè nói riêng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các EGF có các tác dụng:
- Kích thích tăng sản tế bào biểu mô và chuyển đến lấp đầy vết thương
- Kích thích nguyên bào sợi ở mô da biệt hóa và tăng trưởng tế bào biểu bì
- Thúc đẩy tế bào nội bì tăng sản để tái tạo mạch máu, kích thích hình thành mô hạt Lê Tuyết Hoa và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm điều trị EGF với bệnh nhân loét bàn chân do đái tháo đường cho kết quả tốt [57].Tương tự như vậy, tác giả José Fernadez Montequin điều trị 2 nhóm bệnh nhân loét do tiểu đường và thu được kết quả tốt ở nhóm dùng EGF [58]
Sử dụng laser:Laser đã bắt đầu được dùng để điều trị loét mạn tính và
loét tỳ đè từ hơn 30 năm qua Tia laser cường độ thấp có tác dụng giảm đau
và thúc đẩy quá trình liền vết thương Đinh Văn Hân [58]và cộng sự dùng tia laser bán dẫn vùng ánh sáng đỏ (630-670nm) điều trị các vết thương thực nghiệm cấp tính và mạn tính trên thỏ, kết quả cho thấy chiếu tia laser kết hợp với đắp SSD 1% có tác dụng giảm viêm ở vết thương mạn tính khó lành tốt hơn,thời gian đóng kín vết loét cũng ngắn hơn so với đắp SSD đơn thuần Các loại tia laser hiện nay đang được dùng là laser CO2, Helium-neon, Argon(Ag), Cu(Copper)
Vật liệu thay thế da:Có nhiều vật liệu sinh học được dùng để che phủ tạm
thời lên bề mặt vết loét, tạo điều kiện cho quá trình liền vết loét thuận lợi hơn
- Apligraf: sản phẩm này gồm 3 lớp, lớp dưới cùng là collagen, giữa là lớp fibroblast và ngoài cùng là lớp tế bào sừng
Trang 33- Orcel: sản phẩm thương tự Apligraf được dùng cho tổn thương tự tiêu hủy biểu bì, vùng cho da và vết loét
- Tại viện bỏng đã nghiên cứu sử dụng tấm Tegaderm để làm giá đỡ nguyên bào sợi đang đẩy mạnh nghiên cứu phát triển công nghệ sinh học, công nghệ tế bào, sản xuất các vật liệu sinh học thay thế
1.4 Loét tỳ đè theo quan niệm y học cổ truyền (YHCT):
Theo danh pháp YHCT, loét da mạn tính thuộc các phạm trù ác sang (mụn nhọt độc lở loét, máu mủ đầm đìa), ung dương (mụn nhọt), sang dương (mụn nhọt lở ngoài da), ung thư (ung nhọt nói chung, sưng nóng đỏ đau gọi là ung, chưa thành mủ thì khó tiêu, thành mủ rồi thì khó vỡ, vỡ rồi khó hàn miệng gọi là thư), sang ung (vết thương sưng nóng làm mủ), kim sang (vết thương do đao thương gây nên) Loét tỳ đè là thể bệnh của loét da mạn tính.Theo YHCT thì loét tỳ đè thuộc chứng “Tịch Sang“ Trong sách Ngoại Khoa Khải Huyền có nói “Tịch sang là do bệnh lâu ngày nằm liệt giường, bị
ma sát làm rách da gây ra“ Điều đó cho thấy nguyên nhân bệnh là do lâu ngày cơ thể suy yếu, người già khí huyết hư tổn, nằm liệt giường trong thời gian dài dẫn đến khí huyết không lưu thông, kinh lạc nghẽn tắc, cơ bì mất nuôi dưỡng thành mục nát, nhiễm độc mà thành loét[59]
1.4.1 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh loét do tỳ đè theo YHCT:
Theo YHCT thì loét tỳ đè là do khí huyết ngưng trệ, huyết mạch không thông, cơ bì mất dinh dưỡng mà biến thành nhợt nhạt hoặc đỏ, phù nề nhẹ, hoặc sắc sạm tối, rách loét, toàn thân suy nhược vô lực, ăn uống kém Chất lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế là biểu hiện của khí huyết hư, mạch lạc không thông Tà độc thâm nhập, độc vào đến phần dinh huyết, lưu lại trong huyết lạc, cản trở lưu thông khí huyết, làm cho cơ bì mất nuôi dưỡng dẫn đến loét, cơ nhục xương cốt bị hoại tử khó liền Tóm lại Tịch sang chủ yếu do khí huyết hư, khí trệ huyết ứ
1.4.2 Phân loại thể bệnh của loét tỳ đè:
Trang 341.4.2.1 Khí huyết hư
Chứng hậu: Thể này tương đương với thời kỳ đầu của loét tỳ đè, da nhợt
nhạt hoặc trắng xám, vùng xung quanh tổn thương xanh tím, giữa tổn thương mầu khá sẫm, toàn thân suy nhược vô lực, ăn uống kém, chất lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế
Biện chứng: Bệnh thường gặp ở thời kỳ mới phát, tổn thương phần nông
của da, tương đương với loét độ I-II theo y học hiện đại Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng da tại chỗ nhợt nhạt hoặc đỏ, loét nông, mạch trầm tế
Bệnh cơ:Khí huyết hư tổn, mạch lạc không thông, cơ bì mất nuôi dưỡng
mà hình thành loét Mạch trầm tế là biểu hiện của khí huyết hư
1.4.2.2 Khí trệ huyết ứ:
Chứng hậu: Thể này tương đương với giai đoạn sau của loét, cơ nhục và
màng cân xương bị hoại tử, lâu ngày khó liền Chất lưỡi tối, rêu mỏng, mạch huyền sáp
Biện chứng: Chẩn đoán thể này chủ yếu dựa vào mạch huyền, chất lưỡi
tối, rêu mỏng Thời gian bị bệnh dài và ở giai đoạn sau của bệnh
Bệnh cơ: Khí huyết hư tổn, ngưng trệ, huyết mạch không thông, kinh lạc
bế tắc, cơ nhục cân cốt mất nuôi dưỡng dẫn đến loét và đau Mạch huyền sáp
là mạch tượng của chứng khí trệ huyết ứ
1.4.3 Pháp, phương điều trị loét da do tỳ đè:
Y học cổ truyền đã có một lịch sử lâu dài trong việc điều trị các vết thương nói chung và loét mạn tính nói riêng, trong đó có loét tỳ đè.Những nguyên tắc được nhắc đến nhiều bao gồm: “Vị ẩm trưởng cơ”, “Khứ ứ sinh tân”, “Cơ bình bì trưởng” và “Liễm sang” Đây là các nguyên tắc cơ bản chỉ dẫn cho việc can thiệp đối với loét da mạn tính [60]
Hư và ứ là nguyên nhân then chốt làm cho vết loét không liền miệng Từ thực tiễn lâm sàng cũng như trong nghiên cứu khoa học cho thấy: hóa ứ, bổ
hư là nguyên tắc căn bản trong điều trị loét da mạn tính; làm sạch “hủ”, trừ
Trang 35thấp là điều kiện bắt buộc để khỏi bệnh Từ đó hình thành nguyên lý “hóa ứ,
bổ hư và trừ thấp” trong điều trị [60]
Cũng như quan điểm của y học hiện đại, YHCTđiều trị loét tỳ đè gồm điều trị toàn thân và điều trị tại chỗ Điều trị toàn thân là các biện pháp chăm sóc tương tự như của y học hiện đại, ngoài ra có thêm biện chứng luận trị theo từng thể bệnh để có bài thuốc uống thích hợp
Khí huyết hư:
Pháp: bổ khí huyết, thông kinh nhuận phu
Phương: Sách “Chính thể loại yếu“ dùng Bát chân thang gia giảm, gồm: Đương qui, Xuyên khung, Bạch thược, Thục địa, Đẳng sâm, Bạch truật, Phục linh, Đan sâm, Hồng hoa, Ngân Hoa, Trần bì, Liên kiều, Cam thảo
Nếu cơ nhục hoại tử gia thêm Hoa phấn, bạch chỉ, cát cánh để tiêu độc bài nùng, sốt thì cho thêm Địa cốt bì, linh dương giác, miệng khô khát nước gia thêm sinh thạch cao
Khí trệ huyết ứ:
Pháp: Ích khí hóa ứ, thấu nung chỉ thống
Phương: Thác lý thấu nung thang gia giảm “Y Tông Kim Giám“ gồm: Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Đương qui, Bạch truật, Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích, Bạch chỉ, Thanh bì, Kê huyết đằng, Thân cân thảo, Hoa phấn, Địa đinh, Cam thảo
Nếu vết loét tiết dịch nhiều mùi hôi gia thêm Hoàng bá, Trạch tả, Tử thảo Đại tiện táo gia thêm Đại hoàng Ăn uống kém, miệng khô gia thêm tiêu tam tiên (Sơn tra, Mạch nha, Thần khúc)
1.5 Các nghiên cứu, ứng dụng thuốc YHCT điều trị vết thương, vết loét: 1.5.1 Nghiên cứu, ứng dụng trong nước
YHCT Việt Nam đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển Nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý có tác dụng chữa vết thương, vết loét đã được sử dụng bởi các danh y như Tuệ Tĩnh, Lê Đức Vọng, Dương Công Chính, Lê
Hữu Trác
Trang 36* Thế kỷ XIV, Tuệ Tĩnh đã dùng thuốc YHCT chữa bỏng và các chứng
“Lở” được ghi trong bộ “Nam dược thần hiệu”.Ông đã dùng lá Trầu không giã nát trộn rượu trắng đắp chữa bỏng; Rễ mướp già sắc đặc đắp chữa vết loét;
Vỏ trứng gà, Hạt thông đốt tán bột, thêm ít xạ hương đắp tại chỗ chữa các vết loét khó liền; Lòng đỏ trứng gà, Nhựa thông chế thành cao dán tại chỗ loét
* Hải Thượng Lãn Ông (1724- 1791),trong cuốn “Hành giản chân nhu- quyển 57” đã giới thiệu nhiều bài thuốc uống, thuốc bôi đắp chữa lở loét, như: Đại hoàng, Cam thảo tán bột trộn mật ong đắp chữa vết thương, vết bỏng; Bạch chỉ tán nhỏ trộn với dấm đắp; Nam mộc hương, Huyết dụ, Bồ hóng bếp, Đại hoàng, Hạt gấc sắc nước đắp; lá Canh châu, lá Lốt, lá Đuôi chồn, lá Mã
đề, Nghệ giã nát đắp vết loét…
Tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương từ năm 1966- 1969 đã sử dụng lá mỏ quạ tươi điều trị cho 120 bệnh nhân vết thương phần mềm, nhận thấy thuốc có tác dụng làm sạch hoại tử, kích thích sự phát triển mô hạt, nhanh chóng làm đầy vết thương [61][62]
Năm 1986, Nguyễn Thị Tỵ đã nghiên cứu tác dụng của tinh dầu tràm trong điều trị các vết bỏng cho thấy có tác dụng chống nhiễm khuẩn và rụng hoại tử nhanh [63]
Nghiêm Đình Phàn (1992) sử dụng cao lá Cỏ lào điều trị các vết thương phần mềm nhiễm khuẩn và lâu liền, nhận thấy: thuốc có tác dụng chống nhiễm khuẩn tại vết thương, chống viêm nề, giảm tiết dịch, kích thích dụng hoại tử, thúc đẩy nhanh quá trình tái tạo vết thương [64]
Nguyễn Văn Hỷ (1996), nghiên cứu tác dụng của cao Lân- Tơ- Uyn trên vết thương phần mềm nhiễm khuẩn, cho thấy có tác dụng ức chế một số chủng vi khuẩn cả invitro và invivo, thời gian rụng hoại tử vết thương ngắn hơn so với nhóm chứng, đồng thời có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình tái tạo vết thương, thời gian liền sẹo ngắn hơn nhóm chứng [65]
Trang 37Năm 1997, Nguyễn Gia Tiến đã nghiên cứu điều trị vết thương bỏng bằng mỡ Maduxin, cho thấy: Thuốc có tác dụng ức chế một số chủng vi khuẩn gây bệnh tại vết bỏng, kích thích tái tạo mô và biểu mô hóa ở cả vết bỏng nông và sâu; số lượng đại thực bào, nguyên bào sợi, mạch máu tân tạo, hàm lượng hydroxyproline tăng rõ rệt sau một tuần điều trị Sau 2 tuần, ở vết bỏng nông chỉ số phân bào của tế bào tạo sừng lớp mầm gia tăng [66]
Trần Hữu Hiệp (2012), nghiên cứu tác dụng của cao lỏng Bạch đàn trong điều trị vết thương phần mềm nhiễm khuẩn nhận thấy: Thuốc có tác dụng kháng khuẩn và tác dụng kích thích hình thành mô hạt trên vết thương tốt hơn dung dịch NaCl 10%
Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Ngọc Tuấn, Nguyễn Thị Vân Anh (2014), đánh giá tác dụng điều trị của kem Berberin 1% trên vết thương mạn tính, thấy: thuốc có tác dụng làm giảm tiết dịch, giảm viêm bờ mép vết thương, hình thành mô hạt đỏ đẹp, mềm mại, thu hẹp vết thương và rút ngắn thời gian điều trị so với nhóm dùng silvirin [67]
Viện Y học Cổ Truyền Quân Đội đã sử dụng Mỡ sinh cơ điều trị các bệnh lý, như: trĩ, rò, nứt kẽ hậu môn…có kết quả rất tốt Một số trường hợp bệnh nhân loét tỳ đè cũng được dùng để điều trị cho kết quả rất khả quan
1.5.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Thôi Khôi Lệ [68] và cộng sự dùng thuốc thành phẩm Kinh phương hồng nhuyễn cao, gồm các vị: Địa du, Đương qui, Đào nhân, Tử thảo, Kim ngân hoa, Ngũ bội tử, Bạch chỉ, Huyết kiệt bôi ngoài điều trị cho 50 bệnh nhân loét tỳ đè độ II-III thu được kết quả rất tốt
Chu Đan Hoa [69]dùng Sinh cơ tán, gồm: Chân châu mẫu 20g, Đương qui 20g, Huyết kiệt 10g, Tam thất 10g, Chu sa 10g, Nhũ hương chế 15g, Một dược chế 15g, Bạch chỉ 15g, Băng phiến 1g, Sinh thạch cao 50g, Long cốt 15g tẩm vào gạc sạch rồi đắp lên miệng vết loét đã được làm sạch hoại tử tương đối, thu được kết quả rất tốt, rút ngắn thời gian liền vết thương
Trang 38Tần Lệ Na [70] và cộng sự dùng Lô hội và Cao sinh cơ kết hợp điều trị loét tỳ đè cho 40 bệnh nhân.Cao sinh cơ được tẩm kỹ vào miếng gạc vô khuẩn, rắc bột lô hội lên bề mặt miếng gạc rồi đắp lên miệng vết loét, mỗi ngày thay một lần, liệu trình 5 ngày, kết quả đã rút ngắn thời gian điều trị
1.6 Các vị thuốc trong Mỡ sinh cơ
Mỡ sinh cơ là sản phẩm được sản xuất bởi khoa Dược,Viện YHCT Quân đội.Tác dụng chính là tiêu viêm, loại mủ sinh cơ Chỉ định điều trị tại chỗ cho các bệnh lý mụn nhọt lở loét, trĩ, rò và nứt kẽ hậu môn.Trên lâm sàng còn được sử dụng cho một số bệnh nhân loét mạn tính.Thành phần gồm[71] :
1.6.1 Đương qui (Radix Angelicae sinensis)
- Rễ phơi khô của cây Tần quy, Tần hoàng quỳ (Angelica sinens (Oliv.)
Diels) thuộc họ hoa Tán (Apiaceae)
Thành phần hoá học: Rễ chứa tinh dầu 0,2%, trong đó có 40% acid tự
do Tinh dầu gồm có các thành phần chủ yếu sau: Ligustilide, n-butyliden phthalide, o-valerophenon carboxylic acid, n.butyl- phtalide, bergapten, sesquiterpen, dodecanol, tetradecanol, safrol, p-cymen, carvacrol, cadinen, vitamin B12 0,25-0,40%, acid folinic, boitin
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt cay, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng bổ huyết,
hoạt huyết, điều kinh, giảm đau, nhuận tràng và thông tiện
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Đương quy được dùng chữa thiếu
máu, đau đầu, cơ thể gầy yếu, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đại tiện táo, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ứ huyết, kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng kinh Còn được dùng trị tăng huyết áp, ung thư và làm thuốc giảm dau, chống co giật, làm ra
mồ hôi, kích thích ăn ngon
1.6.2 Bạch chỉ(Radix Angelicae dahurica)
Tên khác là Bách chiểu (Bản Kinh), An bạch chỉ, Hàng bạch chỉ, Xuyên
bạch chi (Trung dược đại từ điển) Tên khoa học Angelica Dahurica Et Hook
F thuộc họ Hoa tán (Apiaceae).
Trang 39Thành phần:Có tinh dầu, Angelicotoxin 0,430%, hydrocarotin, Angelic
acid, chất byak- angelixin 0,20%, chất byak- angelicola
Tác dụng dược lý:
- Giảm đau,hưng phấn trung khu thần kinh
- Kháng khuẩn: Ức chế trực khuẩn lị, thương hàn, vi khuẩn Gram dương, đối với vi khuẩn lao ở người có tác dụng ức chế rõ rệt
Theo Đông y: Bạch chỉ có tác dụng tán hàn, giải biểu, khu phong chỉ
thống, táo thấp, giải độc bài nùng, hoạt huyết nhuận cơ
Thường được dùng để điều trị các bệnh ung nhọt sưng tấy, cơ nhục đau mỏi, rắn cắn do có tác dụng tiêu sưng bài mủ
1.6.3 Cốt toái bổ (Rhizoma Drynaria)
Cây tổ phượng, cây tổ rồng Tên khoa học (Drynari fortunei (Mett.)
.I.Sm.) thuộc họ Dương xỉ (Polypodiaceae)
Thành phần hoá học chủ yếu: Tinh bột, flavonoid
Tác dụng dược lý:
-Cốt toái bổ có tác dụng tăng cường sự hấp thu Calci của xương, nâng
cao lượng Phospho và calci trong máu giúp nhanh liền xương Thuốc có tác dụng giảm đau và an thần
- Có tác dụng rõ rệt trongphòng ngừa và điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu, phòng ngừa xơ vữa mạch máu
- Thực nghiệm trên chuột lang thấy có tác dụng làm giảm độc của Kanamycin đối với ống tai trong
Công năng: Bổ thận, mạnh gân xương, hoạt huyết, cầm máu giảm đau Công dụng:Cốt toái bổ là Thuốc bổ thận, trị đau xương, đau lưng, mỏi gối,
chữa gãy xương, ỉa chảy kéo dài, chảy máu
1.6.4 Ma hoàng (Herba Ephedra)
Vị cay đắng, tính ấm vào phế kinh
Tác dụng dược lý chủ yếu:phát hãn (làm ra mồ hôi), bình suyễn, lợi tiểu
Trang 40- Giải nhiệt: Tinh dầu Ma hoàng có tác dụng hạ nhiệt đối với chuột nhắt bình thường
- Tác dụng chống co thắt phế quản từ từ và kéo dài do Ephedrin làm giãn
cơ trơn khí quản
- Lợi tiểu: AncaloitMa hoàng có tác dụng lợi tiểu rõ, kích thích bài tiết nước tiểu và dịch vị
- Tăng áp: Ephedrinlàm co thắt mạch máu nên huyết áp tăng nhưng chậm và kéo dài vài giờ
- Ephedrincó tác dụng hưng phấn võ não làm tinh thần phấn chấn,hưng phấn trung khu hô hấp, làm giảm tác dụng thuốc ngủ
- Kháng vi rút: có tác dụng ức chế vi rút cúm (do tinh dầu ma hoàng)
1.6.5 Khương hoạt (Rhizoma et Radix Notopterygii)
Thành Phần Hóa Học:Angelical, Isoimperatorin 0,38%, Cnidilin 0,34%,
Notoperol 1,2%, Bergapten 0,009%, Demethylfuropinnarin 0,012%, Hydroxy-8 (3’, 3’-Dimethylallyl)-Psoralen, Bergaptol 0,088%, Nodakenetin 0,04%, Bergaptol-O-b-D Glucopyranoside 0,075%, 6’-O-Trans-Feruloylnodakenin 0,022%, Columbiananine, Imperatorin Phenethylferulate
5-Tác Dụng:
- Tác Dụng Kháng Khuẩn: Dùng rượu chiết xuất Khương hoạt với nồng
độ 1/50.000 có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn
- Giải biểu, khứ hàn, dẫn khí đi vào kinh Thái dương và mạch Đốc, thông kinh hoạt lạc ở chi trên và lưng
- Phát hãn, giải biểu, trừ phong, thắng thấp
1.6.6 Thương truật (Rhizoma Atractylodis lancaea)
Thành phần chủ yếu: Tùy loại mà thành phần có khác:
- Trong loại Rhizoma Atractylodis Lancea có: atractylol, hinesol, eudesmol
beta Trong loại Rhizoma Atractylodis chinensis có: atractylol, atractylone, hinesol, beta-eudesmol