Từ các phân tích và đánh giá ở trên có thể thấy rằng, cơ cấu ngành công nghiệp là tổng thể các bộ phận sản xuất của các ngành công nghiệp khác nhau hợp thành; và quan trong hơn, sự tương
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: KINH TẾ VI MÔ NÂNG CAO
Đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS Nguyễn Duy Thục HVTH : Võ Minh Luân
Lớp : 21QLKT1
Mã HV : 0521900026
Đồng Nai, tháng 03-2022
Trang 21 Mở đầu
Hiện nay, các doanh nghiệp (DN) cơ khí trong nước đang phải chịu sự cạnh tranh rất khốc liệt và nhiều khi thiếu bình đẳng từ các DN nước ngoài Hầu hết các
DN Việt Nam đi sau trong quá trình hội nhập quốc tế, nên để tham gia được vào chuỗi cung toàn cầu là rất khó Chính vì vậy, để tạo động lực mới cho ngành công nghiệp phát triển nhanh, cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo (CBCT) Đồng thời, giảm tỷ trọng gia công, lắp ráp với sản phẩm được sản xuất ở Việt Nam
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp CBCT ước tính tại thời điểm ngày 30-9-2019 tăng 17,2% so cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 13,8%) Tỷ lệ tồn kho toàn ngành CBCT bình quân chín tháng năm 2019 lên tới 72,1%, tỷ lệ tồn kho ở mức an toàn là khoảng 65% (cùng kỳ năm trước là 63,8%)
Vụ trưởng Thống kê Công nghiệp (Tổng cục Thống kê) Phạm Đình Thúy nhận định, tình hình tồn kho của ngành CBCT cao hơn năm ngoái, vượt ngưỡng an toàn Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính kỹ thuật và thời điểm Tồn kho chủ yếu nằm ở ba nhóm: Thứ nhất là ngành sản xuất xăng dầu có tỷ lệ tồn kho tăng cao 55,7% so năm trước; Thứ hai là ngành sản xuất ô-tô, xe máy (lý do là thuế nhập khẩu (NK) ô-tô xe máy từ các nước ASEAN về 0% nên đang có xu hướng NK ồ ạt ô-tô và xe máy, trong khi trong nước mới có thêm nhà máy sản xuất ô-tô VinFast
có quy mô lớn); Thứ ba là ngành sản xuất kim loại (lượng tồn kho của ngành này
là mang tính kỹ thuật, vì vậy, có thể khẳng định tồn kho cao không đáng lo ngại) Tuy vậy, tại báo cáo xu hướng sản xuất, kinh doanh ngành công nghiệp CBCT quý III, dự báo quý IV-2019 cho thấy, vẫn còn 18,3% số DN ngành này đánh giá gặp khó khăn trong quý III, 12,1% dự báo khó khăn hơn trong quý IV
Trang 3Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của DN quý
III-2019, có 59% số DN cho rằng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước là yếu
tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN; 45,2% số DN cho rằng do nhu cầu thị trường (TT) trong nước thấp; 24,7% số DN cho rằng tính cạnh tranh của hàng NK là yếu tố quan trọng
Mặt khác, trong chín tháng năm nay, ngành CBCT cũng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất, với số vốn đăng ký của các dự án (DA) được cấp phép mới đạt 8.139,3 triệu USD, chiếm 74,2% tổng vốn đăng ký cấp mới Do vậy,
lo ngại cạnh tranh trên “sân nhà” gia tăng cũng là điều dễ hiểu
Bài viết này trình bày các nhân tố tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua
2 Khái niệm cơ cấu ngành công nghiệp
Theo Phạm Văn Vận (2015) thì công nghiệp là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân Công nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng dựng cho toàn xã hội Đặc điểm cơ bản của quá trình sản xuất công nghiệp là nó không bị ảnh hưởng nhiều vào thời tiết, và đất đai Đây còn là ngành tạo ra sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhất là sự phát triển của khoa học công nghệ nâng cao năng xuất lao động Tại nhiều quốc gia, ngành công nghiệp giúp thức đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước
Theo Hà Văn Thắm (2013) thì ngành công nghiệp có thể được phân chia thành ba nhánh chính gồm: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất điện nước Trong đó Công nghiệp khai thác nhằm khai thác những tài nguyên thiên nhiên, nhờ đó tạo nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Phạm Văn Vận (2015) cho rằng công nghiệp chế biến sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm hữu hình phục vụ cho sản xuất nền kinh tế quốc dân và tiêu
Trang 4dùng của người dân Tại một số quốc gia, sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến phản ánh sự phát triển, thịnh vượng của một quốc gia Công nghiệp điện nước
là ngành sản xuất kết cấu hạ tầng phục vụ cho các lĩnh vực đời sống và sản xuất của doanh nghiệp
Từ các phân tích và đánh giá ở trên có thể thấy rằng, cơ cấu ngành công nghiệp là tổng thể các bộ phận sản xuất của các ngành công nghiệp khác nhau hợp thành; và quan trong hơn, sự tương quan tỷ lệ giữa các ngành sản xuất trong ngành công nghiệp có tác động thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp, từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung Nói cách khác, cơ cấu ngành công nghiệp chính là mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp trong nên kinh tế quốc gia: công nghiệp khai thác, chế biến, sản xuất điện nước trong tổng thể ngành công nghiệp
Cơ cấu ngành công nghiệp còn được xác định bằng tỷ trọng của mỗi ngành sản xuất trong tổng sản phẩm của ngành công nghiệp tạo ra Đào Mạnh Ninh (2019) cho rằng cơ cấu ngành công nghiệp xuất phát từ sự phát triển của lực lượng lao động xã hội, sự phân công và phân hóa lao động xã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay, và tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới cũng là nhân tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp
3 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp được định nghĩa như là "quá trình
thay đổi về số lượng và chất lượng của các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân" (Đào Mạnh Ninh, 2019, trang 45) Trần Du Lịch (2016) thì cho rằng chuyển
dịch cơ cấu ngành công nghiệp sự thay đổi về mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành sản xuất trong nền kinh tế, đó là sự nâng cấp các ngành công nghiệp với trình độ công nghệ cũ sang các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp chính là tăng cường tỷ trọng đóng góp của các ngành sản xuất thiết bị công nghệ
Trang 5cao, ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp còn gắng với tăng năng xuất lao động, giảm dần những ngành sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều lao động (như may mạc, giày da, dệt lụa), hoặc những ngành đang ứng dụng công nghệ lạc hậu, gây tác động xấu đến tự nhiên, như ô nhiễm môi trường
Tuy nhiên, để hoạt động chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp được thành công thì các ngành công nghiệp phải biết khai thác các lợi thế, thế mạnh của từng ngành sản xuất cụ thể trong nội bộ ngành công nghiệp, biết ưu tiên tập trung sử dụng các nguồn lực cần thiết để phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn, đồng thời phải biết kết hợp tối ưu quy mô sản xuất với kỹ thuật công nghệ Ngoài ra, phải có giải pháp làm tăng nhanh tỷ trọng giá trị đóng góp của ngành công nghiệp
Để làm được như vậy, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến bằng cách ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện, loại bỏ dần các công nghệ lạc hậu đang sử dụng
4 Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam 4.1.Nhân tố 1: Sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế có tác động đáng kể đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp tại Việt Nam theo hướng phát huy tích cực các lợi thế phự hợp với thực trạng nền kinh tế Việt Nam, và phù hợp với sự phân công lao động xã hội trong trong từng khu vực kinh tế trong cả nước (Tạp chí Tài chính, 2021) Bên cạnh đó, chính sự phân công lao động quốc tế tạo ra cơ hội cho thu hút đầu tư cho từng địa phương Một số địa phương có thể mạnh thu hút đầu tư như Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu Ngoài ra, nhờ vào hội nhập kinh tế quốc tế mà mỗi vùng miền có thể phát huy tối đa các tiềm năng và thế mạnh riêng của địa phương mình để phát triển kinh tế Do đó, các ngành công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới có thể chuyển dịch cơ cấu ngành công
Trang 6nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành hàng mà từng địa phương có lợi thế về xuất khẩu, như xuất khẩu nguyên liệu gỗ, mủ cao su, giày da, may mặc Ngoài ra, cần mở rộng hợp tác đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các công ty liên doanh để khai thác các thế mạnh sẵn có của từng vùng, từng địa phương
4.2.Nhân tố 2: Sự cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước
Năng lực cạnh tranh có thể phân biệt thành 3 cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia, Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/sản phẩm,; Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong đó, nhờ vào sự cải thiện liên tục chỉ số cạnh tranh trong thời gian vừa qua đã có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam Một số thông tin về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam được thể hiện dưới đây:
Theo Tạp chí Tài chính thì trong năm 2019, cả nước có 138.139 DN thành lập mới, tăng 5,2% so với năm 2018 Tổng vốn đăng ký của DN thành lập mới năm
2019 đạt 1,73 triệu tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2018; vốn đăng ký của khu vực dịch vụ đạt cao nhất đạt 1,17 triệu tỷ đồng, chiếm 67,6%, tăng 12,9% so với năm 2018; tiếp đến, khu vực công nghiệp 531,15 nghìn tỷ đồng, tăng 30,2%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 25,6 nghìn tỷ đồng, giảm 16,5% so với năm 2018 Khu vực dịch vụ có số DN thành lập mới năm 2019 nhiều nhất với 99.548 DN, tăng 5,1% so với năm 2018; khu vực công nghiệp và xây dựng có 36.562 DN, tăng 5,3%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 2.029 DN, tăng 9,9%
Theo Tạp chí Quản lý Nhà nước thì trong giai đoạn 2016-2019, bình quân có 126.593 DN thành lập mới/năm, vốn đăng ký khoảng 1,35 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng số DN thành lập mới là 49,3%, vốn đăng ký tăng 24,8% Cũng trong giai đoạn này, mỗi năm có 31.642 DN quay trở lại hoạt động, tăng 71,4% so với giai đoạn
Trang 72014-2015; có 24.365 DN tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) có đăng ký, tăng 78,0% so với bình quân giai đoạn 2014-2015; có 14.436 DN hoàn thành thủ tục giải thể, tăng 52% so với số DN hoàn tất thủ tục giải thể bình quân giai đoạn 2014-2015
Ngoài ra, nhờ chiến lược cạnh tranh hiệu quả mà hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước nên hiện nay có thể cạnh tranh tốt với doanh nghiệp nước ngoài Hơn nữa, các doanh nghiệp nội địa có thể cạnh tranh tốt với hàng ngoại nhập Trong thời gian tới, để đứng vững trên thị trường thì các doanh nghiệp nội địa phải nâng cao năng lực cạnh tranh về giá bán, về chất lượng hàng hóa, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng của sảm phẩm, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, quảng
bá tiếp thị sảm phẩm
4.3.Nhân tố 3: Sư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra nước ngoài
Trong trung tâm VCCI thì đến tháng 06/2021, Việt Nam đã ký kết tổng cộng
17 hiệp định thương mại tự với hơn 35 quốc gia và vùng lãnh thổ Cho nên, với việc các hàng rào thuế quan và phi thuế quan từng bước được rỡ bỏ sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa công nghiệp của Việt Nam phát triển Cho nên, trong thời gian tới, việc thị trường được mở rộng sẽ tác động đến sản xuất hàng hóa đang
có lợi thế xuất khẩu của Việt Nam như ngành thủ công mỹ nghệ may mặc, giầy da, hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng điện tử Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế (như Vũ Thành Tự Anh), việc cắt giảm thuế quan, sâu rộng liên tục, các Hiệp định thương mại với cam kết mở cửa thị trường cho sản phẩm, dịch
vụ hàng hóa Việt Nam theo hướng minh bạch, công khai, đã mở ra một triển vọng tương lai theo hướng có lợi cho Việt Nam khi tham gia vào một khu vực kinh tế có giá trị GDP chiếm tới 60% tổng GDP toàn cầu
Theo Thời báo Kinh tế thì năm 1985, Việt Nam xuất khẩu khoảng 0,34 tỷ USD nhưng năm 2021 tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên cả nghìn lần Xét về
Trang 8kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam hiện đứng 26/240 nền kinh tế trên thế giới Tăng trưởng xuất khẩu bình quân trong 35 năm qua đạt trên 20%/năm, thuộc nhóm cao nhất thế giới Đặc biệt, Việt Nam đã có nhiều mặt hàng xuất khẩu đứng Top 5 thế giới như gạo, hạt điều, cà phê, dệt may, da giày, thủy sản
Tuy nhiên, việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng sẽ là thách thức cho các doanh nghiệp nội địa, vì việc này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài xâm nhập vào thị trường Việt Nam Các doanh nghiệp ngoại với lợi thế vốn, công nghệ, năng lực quản lý cao, chất lượng nguồn nhân lực tốt cũng là thách thức đối với ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới Tóm lại, việc tiếp cận và xâm nhập vào thị trường thế giới rộng lớn giúp các doanh nghiệp trong nước học hỏi kinh nghiệm, tranh thủ vốn đầu tư, phát triển sảm phẩm-dịch vụ mới, quản lý doanh nghiệp Hơn nữa, mở rộng thị trường còn giúp doanh nghiệp nội địa hiểu biết về các thông lệ thương mại quốc tế và luật pháp của các quốc gia, từ đó phòng tránh được những rủi ro về pháp lý trong quá trình làm ăn với đối tác Tất cả những yếu tố trên sẽ gúp phần tăng khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
4.4.Nhân tố 4: Sự tiếp cận công nghệ mới của các doanh nghiệp Việt Nam
Đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN) cho thấy, vòng đời của một công nghệ khoảng 10 năm, sau đó sẽ có một thế hệ công nghệ mới ra đời thay thế, nhằm tăng năng suất và hiệu quả cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Ở Việt Nam, mức độ sử dụng các thiết bị lạc hậu và rất lạc hậu chiếm đến hơn 20%-50% tổng số thiết bị, thiết bị hiện đại chỉ khoảng 10% Các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, lẻ thì mức độ sử dụng thiết bị lạc hậu lên đến hơn 50%-70% Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có tốc độ tiếp cận công nghệ thế giới khá cao, bình quân 15% Trong đó, các doanh nghiệp lớn như Vin Group, Viettel
có tốc độ đầu tư cho cải tiến công nghệ rất cao (bình quân 20%-30% doanh thu)
Trang 9Nhờ đó, trong tương lai gần, Việt Nam có thể rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và thế giới Từ đó, các doanh nghiệp có thể tăng năng suất lao động và khuyến khích chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở mức độ quy
mô quốc gia Hơn nữa, sự phát triển r ấ t năng động của khu vực kinh tế tư nhân
ở Việt Nam cũng là một yếu tố thúc đẩy nhanh quỏ trình đổi mới công nghệ, tiếp nhận công nghệ hiện đại và các ngành sản xuất mới vì tính linh hoạt dễ thích ứng của khu vực kinh tế này
4.5.Nhân tố 5: Sự cải thiện đáng kể chất lượng nguồn nhân lực
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đật mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10) xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á Trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysia đạt 5,59 điểm Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có những biến đổi đáng kể, theo hướng tăng cường số lượng lao động thông qua đào tạo, giảm bớt lao động phổ thông chưa qua đào tạo Nhờ đó, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017 Tính theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn
2011-2015 Song song với đó, chất lượng lao động Việt Nam trong những năm qua cũng
đã từng bước được nâng lên; Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí
Trang 10công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài
5 Định hướng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Việt Nam trong những năm tiếp theo
Một là, tập trung thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam theo hướng ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sử dụng ít lao động Trong đó, các tỉnh và thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội, Bình Dương, Đà Nẵng, Bà Rịa-Vũng Tàu phải tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp mũi nhọn gồm: điện-điện tử-công nghệ thông tin, ngành
cơ khí, ngành hóa dầu, và sản xuất và chế biến tinh lương thực-thực phẩm Bốn ngành công nghiệp mũi nhọn này phải được ưu tiên đầu tư và thu hút đầu tư để tạo
ra sự phát triển về chất lượng Trong đó, chú ý đầu tư về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin-truyền thông
Hai là, ưu tiên phát triển mạnh các ngành công nghiệp mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về xuất khẩu, như may mặc, giày da, dệt lụa Ưu tiên phát triển kết cấu đầu tư theo chiều sâu, đẩy mạnh áp dụng thiết bị công nghệ hiện đại đại trong sản xuất để tạo ra những sảm phẩm có chất lượng cao để phục vụ thị trường Ngoài
ra, các địa phương phải tiến hành xây dựng thương hiệu sảm phẩm cho các ngành công nghiệp đang có lợi thế như: ngành chế biến thực phẩm, ngành dệt may, da giày, nhựa cao su, hóa dầu, và cơ khí
Thứ ba, nhanh chóng quy hoạch, sắp xếp, điều chỉnh các khu công nghiệp tập trung theo hướng chuyên môn hóa Đặc biệt một số khu công nghiệp tại các tỉnh như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bình Dương Các địa phương chủ trương xây dựng mới một số khu công nghiệp chuyên ngành, các ngành công nghiệp trong trung tâm thành phố nên di chuyển ra ngoại thành để có thêm đất đai nhằm mở rộng quy mô, và bảo vệ môi trường Cho đến cuối năm 2023, các địa phương gồm