1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển thương mại rau an toàn tại hà nội

11 677 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển thương mại rau an toàn tại hà nội
Tác giả Đỗ Thị Sa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thương mại
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 171,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển thương mại rau an toàn tại hà nội

Trang 1

BÀI VIẾT THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI

RAU AN TOÀN TẠI HÀ NỘI

Đỗ Thị Sa 1

1 Một vài nét về tình hình thương mại đối với các sản phẩm rau trên thế giới và tác động đến thương mại rau tại Việt Nam

1.1 Xu hướng chung:

Cùng với xu hướng tăng cường các sản phẩm sạch, hữu cơ trong khẩu phần ăn của người tiêu dùng các nước trên thế giới, thương mại rau quả của thế giới đã gia tăng rõ rệt

so với một thập kỷ trước Ngày càng có nhiều người sử dụng rau như một nguồn dinh dưỡng quan trọng trong chế độ ăn kiêng của mình và thay đổi thói quen ăn uống quá phụ thuộc vào chất béo sang sử dụng nhiều rau củ Xu hướng này đang trở nên phổ biến đến mức nhiều hãng bán lẻ đã sử dụng hình ảnh Rau quả sạch để làm thông điệp cho Tinh thần trách nhiệm xa hội của mình2

Do nhu cầu gia tăng, thương mại rau quả toàn cầu đã gia tăng mạnh mẽ từ khoảng

80 tỷ USD vào năm 2000 lên trên 160 tỷ USD như hiện nay

Biểu đồ 1: Thương mại rau quả toàn cầu từ năm 1990-2009

1Phó giám đốc Văn phòng Phát triển thương mại- Bộ Công Thương

2Ben Horsbrugh, Director, Quality Management Mumbai, 26/3/2012

Trang 2

Nguồn: Ben Horsbrugh, Director, Quality Management Mumbai, 26/3/2012

Nhu cầu về các sản phẩm rau được biết đến qua một mức tăng trưởng đều đặn tại nhiều thị trường, đặc biệt tại các thị trường các nước phát triển cao nhất trong khu vực

Tỷ trọng của rau củ trong tổng kim ngạch xuất khẩu thực phẩm của các nước đang phát triển đã gia tăng rõ nét trong giai đoạn 2000-2010 (biểu đồ 2)

Biểu đồ 2: Tỷ trọng của rau quả trong xuất khẩu thực phẩm của Hoa Kỳ

Nguồn: Ben Horsbrugh, Director, Quality Management Mumbai, 26/3/2012

Trong một thập kỷ trở lại đây, Trung Quốc cũng nổi lên như một nhà cung ứng rau chủ chốt trong khu vực, với các dòng sản phẩm đa dạng và giá hấp dẫn Việc ứng dụng

Trang 3

khoa học kỹ thuật đã giúp nhiều loại rau cho thu hoạch quanh năm Nhưng một thập kỷ trở lại đây cũng chứng kiến sự lạm dụng quá mức các chất hóa học trong sản xuất rau, khiến sản xuất rau tại Trung Quốc và Việt Nam mang đặc trưng của việc chỉ đảm bảo về

số lượng trong khi chất lượng bị sao nhãng

Các thị trường tiêu thụ rau phát triển cao nhất trong khu vực, chủ yếu tại phía Bắc với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông ngày càng trở nên thận trọng hơn với rau nhập khẩu từ các thị trường đang phát triển Những bộ tiêu chuẩn khắt khe về VSATTP đối với hàng rau củ nhập khẩu đã được dựng lên Đối với rau của Việt Nam, các thị trường này chủ yếu ưa chuộng các sản phẩm của các vùng trông rau sạch nổi tiếng như Lâm Đồng hoặc Vĩnh Phúc Tuy nhiên, việc thâm nhập vào các thị trường này đang trở nên ngày càng khó khăn và mỗi thị trường lại có các điều kiện, đặc thù khác nhau trong nhập khẩu rau sạch

1.2 Xu hướng tại một số thị trường nhập khẩu rau quả lớn trên thế gới

a) Tiêu thụ rau quả tại châu Âu

EU là thị trường nhập khẩu rau quả truyền thống và vẫn còn nhiều tiềm năng của Việt Nam Theo số liệu thống kê Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này trong năm 2011 đạt khoảng 79 triệu USD Năm 2011, Việt Nam đã có tới 84 mặt hàng rau hoa quả xuất khẩu sang EU, tăng 14 mặt hàng so với cùng kỳ 2010 Nhiều mặt hàng rau và rau gia vị của Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường này với khối lượng khá lớn

Mặc dù là một thị trường nổi tiếng về “khó tính” nhưng khủng hoảng kinh tế đã khiến các nhà nhập khẩu châu Âu quan tâm hàng nhiều hơn giá cả Trong bối cảnh đó rau quả Việt Nam với giá rẻ đã có lợi thế cạnh tranh lớn hơn so với các nước khác trên thế giới khi xuất khẩu vào EU

Một yếu tố tác động khác là năm 2011, dịch khuẩn E.Coli trên dưa chuột bùng phát đã khiến cho một số nước trong khu vực châu Âu vốn tiêu thụ mạnh sản phẩm này như Anh, Pháp, Bỉ, Hy Lạp…phải chuyển hướng nhập khẩu rau quả mạnh từ các nước ngoài khu vực châu Âu, trong đó có Việt Nam

Trong năm 2012, xuất khẩu rau quả sang EU dự báo sẽ tiếp tục tăng Các sản phẩm rau - rau thơm, rau gia vị chế biến mang tính mới lạ và đặc trưng vùng miền của

Trang 4

Việt Nam sẽ được người tiêu dùng EU ưa chuộng Các sản phẩm rau quả nhiệt đới được nhập khẩu nhiều nhất sẽ vẫn là từ Thái Lan và Việt Nam, nếu các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội trong năm nay thì rau quả và rau gia vị của Việt Nam sẽ còn lợi thế hơn cả Thái Lan khi xuất khẩu vào EU nhờ giá cả phải chăng hơn

b) Tiêu thụ rau tại Hoa Kỳ

Ngành rau quả của Hoa Kỳ là một trong những trọng tâm chính sách của Hoa Kỳ bởi những chương trình dinh dưỡng khuyến khích người tiêu dùng sử dụng nhiều hơn nữa rau quả trong các bữa ăn nhằm bảo vệ sức khỏe Hình dưới cho thấy tiêu thụ trên đầu người đối với các sản phẩm rau tươi, đông lạnh và đóng hộp trong giai đoạn

1980-2011 Từ năm 1970-2000, tiêu thụ rau đã tăng mạnh và tạo cơ hội cho người trồng rau gia tăng sản lượng Tuy nhiên trong khi tiêu thụ rau tươi trong xu hướng tăng, tiêu thụ rau đông lạnh chỉ tăng nhẹ thì tiêu thụ rau quả đóng hộp lại không tăng, thậm chí là giảm

Biểu đồ 3: Tiêu thụ rau/đầu người tại Hoa Kỳ

Sau năm 2000, tăng trưởng của thị trường trong xu hướng giảm nhưng không hoàn toàn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế mà do hai yếu tố cơ bản là dân số và thu nhập Theo cơ quan Thống kê quốc gia Hoa Kỳ, dân số nước này tăng 9,7% trong giai đoạn 2000-2007 Nếu tiêu thụ rau quả trên đầu người tăng tương tự với mức 9,7% thì thị

Trang 5

trường rau quả Hoa Kỳ cũng sẽ tăng lên nhưng thực tế tiêu thụ rau tươi trên thị trường (trừ khoai tây, cà chua ngọt, đậu khô) đã giảm 2,8% còn rau đóng hộp và rau đông lạnh giảm lần lượt 2,9% và 4,2% Xét chung, tiêu thụ rau trên đầu người của Hoa Kỳ đã giảm 7,1% so với năm 2000

Chương trình ChooseMyPlate của Bộ Nông nghiệp Mỹ đã khuyến cáo người dân nước này tăng tiêu thụ rau quả trong các bữa ăn (theo đó rau củ nên chiếm khoảng 50% thành phần bữa ăn) Cũng trong thời gian này sản xuất và thương mại các sản phẩm rau

củ hữu cơ, sản xuất bền vững cũng được khuyến khích tại Hoa Kỳ, khiến chi phí sản xuất rau củ tăng lên và giá rau củ cũng tăng tương ứng Chính điều này đã khiến cho tiêu thụ rau củ không thể tăng được dù nhận thức của người tiêu dùng về vai trò của rau củ đã tăng lên

Cũng do chi phí sản xuất tăng lên nên tỷ trọng của rau nhập khẩu đã gia tăng rõ nét , lên tới 24,3% thị phần trong năm 2010

Do cuộc khủng hoảng tài chính khiến ngân sách của quốc gia bị thu hẹp, năm

2012, khi xây dựng Đạo luật Nông trại, các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ dường như đã cắt giảm ngân sách cho nhiều chương trình nông nghiệp để đầu tư cho các hạng mục khác, đặc biệt là ngành tài chính ngân hàng Điều này có thể khiến cho các dự án nông nghiệp bị trì hoãn Các cuộc điều tra cho thấy mặc dù nhận thức rất rõ về giá trị của rau củ đối với việc tăng cường sức khỏe nhưng người tiêu dùng Hoa Kỳ đang ngày càng quan tâm hơn tới vấn đề giá cả do lo ngại suy thoái kinh tế vẫn có thể kéo dài Tuy nhiên, cũng theo các chuyên gia trong ngành, khi nền kinh tế phục hồi, nhu cầu tiêu thụ rau chắc chắn sẽ tăng mạnh trở lại Trước mắt, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cơ bản, người tiêu dùng Hoa Kỳ sẽ vẫn chấp nhận một số loại rau giá cạnh tranh hơn được nhập khẩu từ các nước đang phát triển

1.3 Khả năng tác động đến thương mại rau Việt Nam

Những xu hướng chung của thương mại rau thế giới cho thấy nhu cầu đối với rau hữu cơ đang ngày càng gia tăng do lợi ích đặc biệt của nó đối với việc bảo vệ sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và bảo vệ môi trường Nhưng do chi phí sản xuất rau hữu cơ tại các nước phát triển quá cao nên việc nhập khẩu rau đảm bảo VSATTP từ các nước đang phát triển vẫn là lựa chọn được ưu tiên Đây là một cơ hội tốt cho ngành rau an toàn của Việt Nam trong việc chuẩn hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm cơ hội xuất khẩu rau

Trang 6

sạch ra nước ngoài Các mô hình này một khi được nhân rộng sẽ tạo nên mặt bằng chuyên nghiệp chung cho sản xuất và thương mại rau của Việt Nam

2 Thực trạng hoạt động thương mại rau và rau an toàn tại Hà Nội hiện nay

Theo một cuộc nghiên cứu về thương mại rau an toàn tại Hà Nội do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Viện Rau quả Trung ương và một số chuyên gia Bộ Công Thương phối hợp tiến hành năm 2011, trên mẫu

là 50 cơ sở kinh doanh tại các quận nội thành của Hà Nội, kết quả cho thấy một số tiêu chí cụ thể như sau:

2.2.1 Về xây dựng kế hoạch kinh doanh sản phẩm rau an toàn

Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của các cơ sở kinh doanh rau an toàn Tuy nhiên hiện nay, tỷ lệ số cơ sở sản xuất xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm kinh doanh rau an toàn mới chiếm khoảng 48,98% Như vậy tỷ lệ giữa số cơ sở có kế hoạch phát triển sản kinh doanh cũng tương đương với tỷ lệ cơ sở không có kế hoạch phát triển sản phẩm kinh doanh rau an toàn Điều này cho thấy mức độ chuyên nghiệp và có định hướng trong sản xuất rau tuy vẫn chưa đồng đều nhưng đã được cải thiện so với những năm trước

Hình 1: Hộ có xây dựng Kế hoạch phát triển kinh doanh sản phẩm rau an toàn

Trang 7

51.02

Có không

Nguồn: Số liệu điều tra 2011

Theo kết quả điều tra, chỉ 8% số cơ sở bán lẻ chưa có kế hoạch phát triển sản phẩm kinh doanh RAT Có tới 62% cho biết sẽ phát triển thêm các sản phẩm mới do danh mục sản phẩm RAT hiện đang được bày bán còn khá nghèo nàn, để đáp ứng được nhu cầu liên tục thay đổi các loại rau trong những bữa ăn trong tuần của người tiêu dùng, việc đa dạng hóa danh mục sản phẩm là hết sức cần thiết 28% cho rằng sẽ mở rộng cửa hàng/chi nhánh và 2% cho biết sẽ phát triển các kênh phân phối khác (ví dụ giao hàng tại nhà, bán hàng qua mạng)

Hình 2: Tỷ lệ cơ sở bán lẻ có kế hoạch phát triển sản phẩm kinh doanh RAT (hình

thức phát triển nào là phổ biến)

Trang 8

62 28

Phát triển thêm sản phẩm mới

Mở rộng cửa hàng/

chi nhánh

Phát triển các kênh phân phối khác Chưa có kế hoạch

Nguồn: Số liệu điều tra 2011

2.2.2 Về việc đầu tư xây dựng thương hiệu RAT

Khoảng 80% số cơ sở bán lẻ RAT được điều tra cho biết đã đầu tư cho việc xây dựng, quảng bá thương hiệu RAT Điều này khá logic với kết quả điều tra về chi phí dành cho việc quảng bá, tiếp thị Trong bối cảnh thực tế hiện nay, người tiêu dùng vẫn chưa

“mặn mà” với RAT, một mặt do các kênh tiếp cận với sản phẩm này còn hạn chế, mặt khác do niềm tin vào sự “an toàn” của RAT

Hình 3: Tỷ lệ cơ sở bán lẻ có hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu

20

80

Chưa thực hiện

Đã và đang thực hiện

Nguồn: Số liệu điều tra 2011

2.2.3 Về thương mại công bằng trên thị trường RAT

Trang 9

Hiện nay tại Hà Nội, người kinh doanh rau an toàn vẫn chưa có được lợi thế xứng đáng so với người kinh doanh rau thường Mặc dù phải đầu tư nhiều hơn cho việc sản xuất/thu mua và bán hàng nhưng giá rau an toàn không cao hơn nhiều, thậm chí phải bán bằng giá rau thường khi không tìm được đầu ra ổn định Theo Chi cục BVTV Hà Nội, dù rau an toàn mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu tiêu dùng của người dân Thủ đô, nhưng việc tiêu thụ rau an toàn lại gặp rất nhiều khó khăn do chưa phân biệt được rau bẩn, rau sạch, sự nhập nhèm giữa rau an toàn và rau đại trà khó được kiểm soát Năm 2011, Chi cục lấy 600 mẫu để phân tích kiểm tra chất lượng Kết quả phát hiện 25/600 mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt mức giới hạn tối đa cho phép (chiếm 4,1%) Ngoài ra, phối hợp với Cục BVTV và Cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản, Chi cục BVTV Hà Nội đã tổ chức 70 lượt kiểm tra các cơ sở sơ chế và cửa hàng kinh doanh rau an toàn; lấy 110 mẫu rau các loại để kiểm tra chất lượng, phát hiện 5 mẫu có mức dư lượng thuốc BVTV vượt mức giới hạn tối đa cho phép (chiếm 4,5%) Do chưa có quy định bắt buộc người trồng rau, kinh doanh rau phải chứng minh nguồn gốc xuất xứ nên khi phát hiện mẫu rau có dư lượng thuốc trừ sâu quá quy định cũng không thể truy nguyên nguồn gốc để xử lý nơi sản xuất

Tất cả những vấn đề nêu trên dẫn tới tình trạng không minh bạch trên thị trường rau tại Hà Nội hiện nay Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài sẽ hạn chế động lực tham gia thị trường của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh rau an toàn, khiến hoạt động thương mại rau an toàn không có cơ hội phát triển

3 Một số đề xuất nhằm đẩy mạnh thương mại RAT tại Hà Nội (ở góc độ thương mại)

3.1 Xây dựng và phát triển thương hiệu RAT đủ mạnh để tạo niềm tin cho người tiêu dùng

Thực tế trên thị trường rau an toàn hiện nay cho thấy sở dĩ thương mại rau an toàn chưa phát triển là do người tiêu dùng chưa thực sự tin tưởng vào các sản phẩm rau ngay

cả khi đã được dán nhãn rau an toàn Điều này chứng tỏ nhãn hiệu sản phẩm chưa đủ sức thuyết phục mà cần đến những chính sách xây dựng và bảo vệ thương hiệu đủ mạnh của các cơ sở sản xuất và kinh doanh rau an toàn, đủ để người tiêu dùng tin tưởng khi tiêu thụ rau

Một trong những ví dụ tiêu biểu về vai trò của việc xây dựng và phát triển thương hiệu đối với sản phẩm rau hiện nay chính là trường hợp của Rau Đà Lạt Nổi tiếng là

Trang 10

vùng trồng rau sạch phục vụ cả trong nước và xuất khẩu, lãnh đạo thành phố Đà Lạt đã sớm quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm rau của địa phương Thương hiệu rau Đà Lạt đã chính thức được công nhận về mặt pháp lý

Công ty cổ phần Nông sản Lâm Đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn Trình Nhi, công ty trách nhiệm hữu hạn Dalat GAP, hợp tác xã rau an toàn Xuân Hương, công ty trách nhiệm hữu hạn Liên doanh Orgarnik, hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Anh Đào, tổ trang trại Phong Thúy, doanh nghiệp tư nhân Phú Sĩ Nông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “rau Đà Lạt.”

Những cơ sở sản xuất rau này được phép sử dụng và được bảo hộ trong phạm vi toàn quốc cho sản phẩm rau có nguồn gốc xuất xứ từ Đà Lạt và vùng phụ cận như Lạc Dương, Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng Tám đơn vị này cung cấp cho thị trường khoảng 160 tấn rau sạch/ngày trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu, điều kiện sản xuất rau an toàn, đảm bảo về chất lượng sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất và lưu thông; giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn, sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận rau Đà Lạt gồm bốn nhóm là rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ và rau ăn hoa

Theo Trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh Lâm Đồng, mỗi năm ngành nông nghiệp tỉnh cung cấp khoảng 1,3 triệu tấn rau củ ra thị trường, trong đó xuất khẩu 10%, còn lại 90% tiêu thụ nội địa, tập trung chủ yếu tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh

Chính quyết tâm trong việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu đã giúp rau Đà Lạt được người tiêu dùng ưa chuộng hơn so với các loại rau khác Mô hình này cần được nhân rộng tại nhiều địa phương trồng rau sạch trong cả nước, bởi tác dụng của nó không chỉ dừng lại ở việc phát triển thương hiệu rau nội địa mà còn có giá trị to lớn trong thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm rau sạch của Việt Nam ra nước ngoài

3.2 Minh bạch hóa thị trường rau an toàn nhằm tạo điều kiện cho thương mại rau an toàn phát triển lành mạnh

Minh bạch hóa thị trường rau an toàn là một trong những yêu cầu tất yếu cho việc phát triển thương mại bình đẳng về rau quả tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Để tạo điều kiện cho thương mại rau an toàn, nhất thiết phải thực hiện công bằng thương mại cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh rau an toàn, để họ yên tâm sản xuất, kinh doanh theo đúng các qui định về sản xuất và kinh doanh rau an toàn của Nhà nước

3.3 Tăng cường sử dụng các phương thức thương mại trong kinh doanh rau

an toàn

Ngày đăng: 21/01/2013, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w