1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận kinh tế phát triển đề tài nghiên cứu về tăng trưởng xanh của nền kinh tế năm 2022

31 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về tăng trưởng xanh của nền kinh tế năm 2022
Tác giả Lê Ngọc Trà My, Nguyễn Xuân Anh, Nguyễn Đức Anh, Nguyễn Thị Mai Hoa, Trương Thị Lan Hương, Nguyễn Thị Hoài, Nguyễn Thị Thảo
Người hướng dẫn GVHD: Tô Trọng Hùng
Trường học Học viện Chính sách và Phát triển
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 262,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH (8)
    • 1.1 Một số khái niệm về tăng trưởng xanh về tăng trưởng xanh (8)
    • 1.2 Tính cấp thiết tăng trưởng xanh (8)
    • 1.3 Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.4 Phạm vi nghiên cứu (9)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (10)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM (11)
    • 2.1 Thực trạng tăng trưởng xanh (11)
      • 2.1.1 Trong công nghiệp (12)
      • 2.1.2 Trong nông nghiệp (13)
      • 2.1.3 Trong dịch vụ và tiêu dùng (14)
    • 2.2 Thuận lợi khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam (16)
      • 2.2.1 Về vị trí địa lý (16)
      • 2.2.2 Về sự kế thừa, tận dụng trợ giúp của kinh tế (16)
      • 2.2.3 Về tình hình chính trị, chính sách (17)
    • 2.3 Khó khăn khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam (19)
      • 2.3.1 Về nhận thức (19)
      • 2.3.2 Về cách thức vận hành nền kinh tế (20)
      • 2.3.3 Về nguồn vốn cho việc thực hiện tăng trưởng xanh (21)
      • 2.3.4 Về nguồn lao động (22)
      • 2.3.5 Về trình độ công nghệ (22)
      • 2.3.6 Về cơ chế, chính sách (23)
      • 2.3.7 Về vấn đề ESG (môi trường, xã hội, quản trị) (24)
  • CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH NĂM 2022 (26)
    • 3.1 Kết luận và kiến nghị giải pháp thực hiện tăng trưởng xanh năm 2022 (26)
    • 3.2 Một số vấn đề cần lưu ý (28)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (31)

Nội dung

HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN NHÓM 1 TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI “Nghiên cứu về tăng trưởng xanh của nền kinh tế năm 2022” GVHD Tô Trọng Hùng HÀ NỘI 2023 SVTH Lê Ngọc Trà My MSSV 712310204[.]

GIỚI THIỆU VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH

Một số khái niệm về tăng trưởng xanh về tăng trưởng xanh

Theo tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên Hợp Quốc, tăng trưởng xanh là quá trình tái cấu trúc kinh tế và hạ tầng nhằm tối ưu hóa kết quả từ đầu tư vào tài nguyên, nhân lực và tài chính Mục tiêu của tăng trưởng xanh là giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải và giảm bất bình đẳng xã hội.

Theo OECD, tăng trưởng xanh không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn bảo vệ các nguồn tài sản tự nhiên, đảm bảo cung cấp tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu Để đạt được điều này, tăng trưởng xanh cần đóng vai trò là nhân tố xúc tác cho đầu tư và đổi mới, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và mở ra các cơ hội kinh tế mới.

Tính cấp thiết tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh đã trở thành trọng tâm trong chính sách phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới Các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp đã dẫn đầu trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh với cam kết mạnh mẽ Trong khi đó, Lào đang xây dựng lộ trình phát triển kinh tế xanh, còn Campuchia, Thái Lan và Trung Quốc đã có kế hoạch phát triển nền kinh tế tuần hoàn vững mạnh.

Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, với tầm nhìn đến 2050, nhấn mạnh việc tái cơ cấu nền kinh tế nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và giảm phát thải khí nhà kính Điều này được thực hiện thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, phát triển cơ sở hạ tầng, và ứng phó với biến đổi khí hậu Chiến lược này không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững, thể hiện rõ nét trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.

Trong 30 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế ấn tượng, chuyển mình từ một quốc gia nghèo nàn và chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thành một quốc gia có thu nhập trung bình Các chỉ số như thu nhập bình quân, phúc lợi xã hội và cơ sở hạ tầng đã có sự cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa thực sự bền vững do chất lượng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế còn thấp.

Tăng trưởng kinh tế hiện nay phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên với cường độ cao và hiệu quả thấp, dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các ngành kinh tế thân thiện với môi trường vẫn chưa được phát triển đầy đủ.

Việc lựa chọn chiến lược tăng trưởng xanh là rất phù hợp và phản ánh xu thế hiện đại Việt Nam đang thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng và hiệu quả của tăng trưởng xanh tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2022 là cần thiết để đưa ra các giải pháp áp dụng hiệu quả.

Phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận này nghiên cứu các chính sách tăng trưởng xanh tại Việt Nam, đánh giá những thành tựu và thách thức trong suốt 10 năm thực hiện.

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bài tiểu luận của chúng em áp dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể.

Phương pháp phân tích tổng, tổng hợp là một kỹ thuật quan trọng trong việc thu thập thông tin cho các cuộc điều tra xã hội học Phương pháp này dựa trên các tài liệu hiện có về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam và cách tính chỉ số tổng hợp, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp thống kê, thu thập số liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia,quy nạp và diễn giải nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM

Thực trạng tăng trưởng xanh

Hình 1.2_Chỉ số môi trường kinh doanh (Business Climate Index - BCI) của quý II/2022 của Việt Nam Nguồn:thitruongtaichinhtiente.vn

Theo báo cáo, Chỉ số Môi trường Kinh doanh do EuroCham đánh giá đã giảm 4,4 điểm phần trăm trong quý II, xuống còn 68,8 điểm, sau khi tăng trong quý I Sự giảm sút này được ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm xung đột địa chính trị Nga - Ukraine, sự tăng đột biến của giá hàng hóa toàn cầu, và tác động từ chính sách "Không COVID" của Trung Quốc, điều này đã ảnh hưởng đến đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam.

Nhiều doanh nghiệp dự đoán nền kinh tế Việt Nam sẽ ổn định hoặc cải thiện trong quý III/2022, nhờ vào những tín hiệu tích cực về triển vọng tăng trưởng xanh Ông Nguyễn Hải Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam, đã nhấn mạnh điều này.

Các doanh nghiệp châu Âu vẫn lạc quan về sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong quý III, với đa số cho rằng sẽ duy trì hoặc tăng quy mô đầu tư 79% lãnh đạo doanh nghiệp kỳ vọng vào tiềm năng phát triển xanh của Việt Nam, và gần 90% người tham gia khảo sát cho rằng cần tăng cường phát triển lĩnh vực xanh để thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài Tăng trưởng xanh không chỉ mang lại lợi ích cho nền kinh tế và người dân, mà còn giúp Việt Nam kết nối với các thị trường lớn trên thế giới.

Theo kết quả BCI, 79% lãnh đạo doanh nghiệp EU nhận thấy tiềm năng phát triển xanh của Việt Nam đã cải thiện từ quý đầu tiên Hơn nữa, gần 90% người được khảo sát cho rằng Việt Nam cần tăng cường phát triển lĩnh vực xanh để thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài.

Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, nông nghiệp Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ và phát triển toàn diện trong những năm qua, đạt được nhiều thành tựu lớn Sản lượng lương thực và thực phẩm không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn cải thiện về chất lượng, đảm bảo nguồn cung dồi dào để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Tăng trưởng xanh trong công nghiệp là chiến lược nhằm tách rời sự gia tăng sản xuất với việc gia tăng sử dụng tài nguyên và tác động tiêu cực đến môi trường Chiến lược này bao gồm việc đảm bảo an ninh nguồn tài nguyên thiên nhiên bằng cách giảm áp lực lên các nguồn tài nguyên khan hiếm như nước, nguyên liệu và nhiên liệu Đồng thời, nó cũng góp phần giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc giảm khí thải nhà kính từ năng lượng và các hoạt động liên quan Hơn nữa, quản lý môi trường tốt hơn và đảm bảo an toàn công nghiệp, hóa chất trong hoạt động doanh nghiệp được thực hiện thông qua phát triển và sử dụng hàng hóa, dịch vụ môi trường, đồng thời thúc đẩy mở rộng phát triển hàng hóa môi trường.

Tăng trưởng xanh trong ngành công nghiệp Việt Nam được thúc đẩy thông qua các chính sách của chính phủ và việc áp dụng công nghệ tiên tiến Mục tiêu là giảm thiểu sử dụng tài nguyên, chất thải và khí thải ra môi trường Điều này bao gồm việc sử dụng tài nguyên và năng lượng hiệu quả hơn, thay thế nguyên liệu không tái tạo bằng nguồn năng lượng tái tạo, gia tăng trách nhiệm của nhà sản xuất, và nâng cao quản lý chất thải cùng các quy trình xử lý chất thải, đồng thời giảm dần việc sử dụng các chất độc hại.

Tăng trưởng nông nghiệp xanh đã hỗ trợ nhiều quốc gia trên thế giới phát triển nền công nghiệp bền vững, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, duy trì sự đa dạng trong ngành công nghiệp, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên và đất đai ngày càng khan hiếm.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021- 2030.

Phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, hữu cơ và tuần hoàn với phát thải carbon thấp là cần thiết để nâng cao chất lượng tăng trưởng và giá trị gia tăng Điều này không chỉ tăng cường năng lực cạnh tranh mà còn đảm bảo phát triển bền vững Đồng thời, cần giảm ô nhiễm môi trường nông nghiệp và nông thôn, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng, hướng tới mục tiêu nền kinh tế trung hòa carbon vào năm 2050.

Tăng trưởng xanh trong nông nghiệp Việt Nam:

Quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam được sử dụng hiệu quả với tổng diện tích 11,530.2 nghìn ha, trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm 6,998 nghìn ha và đất lâm nghiệp là 14,923.6 nghìn ha Diện tích đất bỏ hoang rất thấp, cho thấy sự tận dụng quỹ đất nông nghiệp khá triệt để Đặc biệt, diện tích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp đã tăng lên qua các năm, và từ năm 2005, Việt Nam đã bắt đầu triển khai mô hình nông nghiệp hữu cơ.

Thị trường thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát, với lợi nhuận lớn từ buôn bán khiến các đại lý bỏ qua hậu quả của việc sử dụng thuốc bừa bãi Chất lượng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay chưa được đảm bảo, và tình trạng làm giả, nhái thương hiệu vẫn phổ biến Mặc dù có nhiều cơ quan chuyên trách đánh giá và giám sát, sự phối hợp giữa các cơ quan này còn hạn chế Do đó, việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật và quy trình nuôi trồng thân thiện với môi trường là cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

2.1.3 Trong dịch vụ và tiêu dùng:

Sống xanh và tiêu dùng xanh đang trở thành xu hướng toàn cầu, đặc biệt ở các nước phát triển và đang lan tỏa sang các nước đang phát triển Đây là bước quan trọng trong tiêu dùng bền vững nhằm giảm tác động đến môi trường Theo báo cáo năm 2019, nhiều người tiêu dùng sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho thực phẩm đóng gói bằng vật liệu thân thiện với môi trường, với thế hệ Millennial sẵn lòng trả thêm 10% Khảo sát của Nielsen cho thấy 86% người tiêu dùng Việt sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm từ thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và môi trường, cao hơn mức trung bình 76% của khu vực Đông Nam Á Cam kết của doanh nghiệp về trách nhiệm môi trường cũng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của 62% người tiêu dùng Việt.

Biến đổi khí hậu và sự cạnh tranh trong việc thu hút người tiêu dùng chọn lối sống xanh đã thúc đẩy ngành sản xuất, đặc biệt là ngành thời trang, với các thương hiệu lớn như Nike, Adidas, Zara, H&M, và Levi’s hướng đến sản xuất bền vững để giảm thiểu tác động đến môi trường Tuy nhiên, thị trường năng lượng quốc tế vẫn bất ổn và biến động cao do các yếu tố địa chính trị Trong nước, ngành gặp khó khăn với năng lực công nghệ hạn chế, thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ Hơn nữa, hành lang pháp lý cho việc sử dụng hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo vẫn chưa hoàn thiện.

Xu thế chính trong tương lai là tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng, giảm đáng kể việc tiêu thụ than và sản phẩm dầu mỏ Sự gia tăng sử dụng khí trong công nghiệp, nhiên liệu sinh học trong giao thông vận tải, và nhiên liệu sinh khối trong phát điện cũng đang diễn ra mạnh mẽ Đồng thời, năng lượng gió và năng lượng mặt trời đang chiếm tỷ trọng cao trong tổng năng lượng sơ cấp Đây là thông tin từ tiến sỹ Nguyễn Ngọc Hưng, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021.

Theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021, tầm nhìn đến năm 2030 và 2050 tập trung vào việc xây dựng các chính sách nhằm thúc đẩy chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh và sạch Mục tiêu đặt ra là tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo (NLTT) đạt từ 15-20% trong tổng cung cấp năng lượng sơ cấp vào năm 2030.

Thuận lợi khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam

2.2.1 Về vị trí địa lý

Việt Nam sở hữu tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, với sinh khối từ nông nghiệp đạt 10 triệu tấn dầu/năm Khí sinh học có thể khai thác khoảng 10 tỉ m³/năm từ rác thải và phân động vật Tiềm năng thủy điện nhỏ hơn 4.000MW, trong khi năng lượng mặt trời với bức xạ trung bình 5kWh/m²/ngày hiện diện khắp nơi Địa lý với hơn 3.400km bờ biển cũng mang lại cơ hội lớn cho năng lượng gió, ước tính khoảng 500-1000 kWh/m²/năm.

2.2.2 Về sự kế thừa, tận dụng trợ giúp của kinh tế

Nhiều quốc gia trên thế giới đã bắt đầu thực hiện tăng trưởng xanh từ thập niên 70, sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 Cụ thể, Mỹ cam kết sử dụng 25% điện từ năng lượng sạch vào năm 2020, trong khi Trung Quốc đặt mục tiêu là 16% Tại Việt Nam, tỷ lệ này chỉ đạt 3,5% vào năm 2010, tăng lên 4,5% vào năm 2015 và dự kiến đạt 6% vào năm 2020.

Một nước đi sau có lợi thế trong việc học hỏi từ kinh nghiệm của các nước tiên tiến và nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế Tại Ninh Thuận, với xuất phát điểm thấp, cần lựa chọn một hướng đi phát triển nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững, đặc biệt là trong mô hình tăng trưởng xanh.

Hàn Quốc, một trong những quốc gia hàng đầu về tăng trưởng xanh, đã đầu tư 38,1 tỷ USD vào năm 2008 để chuyển đổi từ nền kinh tế “nóng” sang nền kinh tế xanh Trong chiến lược quốc gia về “tăng trưởng xanh, các-bon thấp”, Hàn Quốc đã xác định tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng là 3,78% vào năm 2013 và tăng lên 6,08% vào năm 2020 Đồng thời, quốc gia này đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính xuống 30% trước năm 2020.

Việt Nam có cơ hội hợp tác với Lào và Campuchia trong việc xây dựng lộ trình tăng trưởng xanh quốc gia, khi cả hai nước này cũng đang trong quá trình tương tự Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2012, Đan Mạch đã hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình viện trợ.

135 triệu USD sẽ được đầu tư vào ba lĩnh vực chính của tăng trưởng xanh: tối ưu hóa sử dụng nước, cung cấp nước sạch cho các hộ nghèo, phát triển năng lượng gió và các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu.

2.2.3 Về tình hình chính trị, chính sách Ở Việt Nam, tăng trưởng xanh đã sớm được đưa vào dòng chảy chủ đạo của chính sách và được lồng ghép trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-

Năm 2020 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, kết hợp nhiệm vụ bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế xã hội Cần chú trọng vào phát triển kinh tế xanh và thân thiện với môi trường, đồng thời thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững Điều này bao gồm việc từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch.

Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020 nhấn mạnh tầm quan trọng của sản xuất và tiêu dùng bền vững thông qua việc áp dụng sản xuất sạch hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải và ô nhiễm, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Để thúc đẩy tiêu dùng xanh, cần thực hiện dán nhãn sinh thái, mua sắm xanh, phát triển thị trường sản phẩm sinh thái và áp dụng các chính sách điều chỉnh hành vi tiêu dùng không hợp lý Ngày 25 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, với hai nhiệm vụ chiến lược: xanh hoá sản xuất thông qua công nghiệp hoa sạch và khuyến khích công nghệ xanh, cùng với việc xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Chiến lược tăng trưởng xanh là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc xây dựng các chính sách kinh tế xanh tại Việt Nam trong tương lai Việc chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh đã trở thành đường lối và quan điểm của Đảng, đồng thời là chính sách xuyên suốt của Nhà nước, thể hiện rõ trong định hướng phát triển hiện nay của Việt Nam.

Bộ Công Thương đã ban hành quyết định số 13113/QĐ-BCT vào ngày 8 tháng 12 năm 2015, phê duyệt Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cho ngành Công Thương giai đoạn 2015-2020 Kế hoạch này cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính từ 8-10% so với năm 2010 và giảm tiêu hao năng lượng từ 1-15% mỗi năm Mục tiêu xanh hóa sản xuất bao gồm tái cơ cấu quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, áp dụng sản xuất sạch hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, cũng như đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường Bộ Công Thương cũng đã triển khai chương trình dán nhãn năng lượng cho thiết bị sử dụng năng lượng, với hai loại nhãn là nhãn năng lượng xác nhận và nhãn năng lượng so sánh Mặc dù sản xuất và sử dụng sản phẩm xanh tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhưng đã có những bước tiến trong việc phát triển thị trường mua sắm xanh, với nhiều doanh nghiệp như Sony Việt Nam, Viglacera, Vinamilk, và Điện quang đã đưa “sản phẩm xanh” vào kế hoạch sản xuất.

Bộ Tài chính đang triển khai dự án “Duy trì và thúc đẩy các cải cách về chính sách tại khoa xanh và sinh thái” nhằm hỗ trợ ngành tài chính thực hiện các cải cách tài chính thân thiện với môi trường.

Bộ Xây dựng đang triển khai dự án xanh hóa đô thị (GDSS) với mục tiêu xây dựng bộ chỉ số đô thị xanh và phát triển hệ thống hỗ trợ quyết định cho quy hoạch đô thị xanh Dự án cũng nhằm xây dựng khung pháp lý cho quy hoạch đô thị xanh và điều phối các hoạt động liên quan GDSS đóng góp tích cực vào việc thực hiện các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực quy hoạch đô thị xanh tại Việt Nam.

Khó khăn khi áp dụng tăng trưởng xanh tại Việt Nam

2.3.1 Về nhận thức Đổi mới sáng tạo tuy đã tăng lên trong thời gian qua, song vẫn là con số khiêm tốn, chưa thực sự tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế xanh Hơn nữa, nhận thức hiểu thế nào là một nền kinh tế xanh hiện nay ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ, cần tiếp tục có những nghiên cứu và phổ biến kiến thức rộng rãi trong tầng lớp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và người dân Nếu không nhận thức đầy đủ, tính đồng thuận trong xã hội sẽ không đạt được mong muốn, do vậy sẽ khó thực hiện Nền kinh tế xanh gắn với sử dụng năng lượng tái tạo, các-bon thấp, tăng trưởng xanh, đầu tư khôi phục hệ sinh thái, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi môi trường Trên thực tế hiện nay, công nghệ sản xuất ở Việt Nam so với thế giới phần lớn là công nghệ cũ, lạc hậu tiêu hao năng lượng lớn Vì vậy, việc thay đổi công nghệ mới phù hợp với nền kinh tế xanh là thách thức không nhỏ nếu không có trợ giúp của các nước có công nghệ cao trên thế giới Nhiều vùng nông thôn và khu vực miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiều khó khăn Tốc độ tăng của bụi mịn qua các năm biến động bất thường và nếu theo dõi số liệu quan trắc giai đoạn từ năm 2012 đến nay cũng cho thấy, mức độ ô nhiễm bụi tại các đô thị vẫn ở ngưỡng cao Theo số liệu thống kê về hiện trạng chất lượng không khí tại 3.000 thành phố trên thế giới thì có 64% vượt quá mức khuyến cáo phơi nhiễm hàng năm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (10àg/m3) đối với bụi mịn, còn được gọi là bụi PM2,5 Nếu xếp hạng theo khu vực, Đông Nam Á có 95% các thành phố bị ô nhiễm PM2.5, tương đương với 20 thành phố, trong đó Hà Nội xếp hạng thứ 2 và TP Hồ Chí Minh xếp hạng thứ 15.

2.3.2 Về cách thức vận hành nền kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu lao động trên thị trường diễn ra chậm, không theo kịp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Năm 2020, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,61 triệu người, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 33,1%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 30,80%, và khu vực dịch vụ chiếm 36,10% Trong khi đó, cơ cấu nền kinh tế năm 2020 cho thấy khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 14,85%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,72%, và khu vực dịch vụ chiếm 41,63% Bên cạnh đó, tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ giữa các vùng và ngành nghề vẫn tồn tại, với lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (trên 22%) và Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên 21%) Các khu vực có diện tích đất rộng và nhiều đô thị thu hút đông đảo lao động, trong khi những khu vực hẹp, nhiều đồi núi lại không thu hút được nhiều lao động Lực lượng lao động ở nông thôn vẫn chiếm khoảng gần 70%, mặc dù có xu hướng giảm qua các năm.

2.3.3 Về nguồn vốn cho việc thực hiện tăng trưởng xanh

Nguồn lực tài chính cho tăng trưởng xanh của doanh nghiệp chưa đủ.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có nhu cầu sử dụng sản phẩm tín dụng xanh, hoặc nếu có thì thiếu thông tin để tiếp cận Để thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, doanh nghiệp cần một nguồn vốn lớn cho các dự án xanh Tuy nhiên, các ngân hàng chưa có giải pháp hỗ trợ cụ thể cho xu hướng này Để đảm bảo tăng trưởng xanh bền vững, cần thiết lập cơ chế và chính sách đầy đủ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn, nhằm phát triển tín dụng xanh.

Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại chủ yếu dựa vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chưa chuyển dịch theo hướng bền vững Ngành công nghiệp khai khoáng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, trong khi ngành dịch vụ phát triển chậm và bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19.

Việt Nam đang đối mặt với hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu nhân thức về tăng trưởng xanh, một xu hướng đã xuất hiện trên thế giới khoảng 8-10 năm qua Doanh nghiệp trong nước chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách, huy động nguồn lực, và nâng cao nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp Nhận thức về kinh tế xanh của nguồn nhân lực còn hạn chế, do thói quen sản xuất và tiêu dùng lạc hậu, chủ yếu tập trung vào giá cả và tính an toàn của sản phẩm cho người tiêu dùng, mà chưa chú trọng đến lợi ích chung cho môi trường.

2.3.5 Về trình độ công nghệ

Trình độ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp và lạc hậu, không tương xứng với tiềm năng phát triển Hầu hết các doanh nghiệp có hạn chế về hàm lượng công nghệ mới và công nghệ sạch, trong khi tiềm lực kinh tế còn yếu, dẫn đến sự ngần ngại trong việc đầu tư mạo hiểm để đổi mới sản xuất và kinh doanh Cấu trúc doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, với năng lực đổi mới công nghệ thấp, gây khó khăn trong việc thay đổi công nghệ Đầu tư cho nâng cấp và cải tiến công nghệ còn hạn chế, và mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp lớn vào tăng trưởng, nhưng sự tương tác và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp trong nước vẫn rất ít, chưa thực sự hỗ trợ cho tăng trưởng xanh.

2.3.6 Về cơ chế, chính sách

Nhận thức về chiến lược tăng trưởng xanh của các bộ, ngành và chính quyền địa phương còn mơ hồ Đến tháng 7/2016, chỉ có khoảng 5/22 bộ ngành và 30/63 tỉnh thành ban hành kế hoạch thực hiện chiến lược này, cho thấy việc cụ thể hóa chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia chưa được coi là nhiệm vụ ưu tiên.

Các dự án liên quan đến Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của các bộ, ngành địa phương hiện nay chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế và phi chính phủ (NGO), mà chưa phát huy được năng lực nội sinh của chính các bộ ngành và địa phương.

Hiện nay, có sự xung đột về mục tiêu giữa các chiến lược như chiến lược phát triển bền vững, chiến lược quốc gia về ứng phó biến đổi khí hậu và chiến lược tăng trưởng xanh Điều này khiến các địa phương gặp khó khăn trong việc xác định chiến lược nào cần thực hiện và cơ quan nào sẽ là đầu mối thực hiện.

Hiện nay, nguồn lực để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh vẫn chưa được xác định rõ ràng, đặc biệt trong bối cảnh suy giảm kinh tế và việc cắt giảm đầu tư công.

Mặc dù đã có những thành tựu nhất định trong việc lồng ghép Chiến lược tăng trưởng xanh vào các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, nhiều khu vực vẫn đang phải đối mặt với không ít thách thức Một số địa phương đã phê duyệt và ban hành kế hoạch hành động tăng trưởng xanh, nhưng sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất và kết quả đạt được vẫn chưa rõ ràng do thiếu các giải pháp cụ thể và khả thi cho hoàn cảnh địa phương.

Vào thứ sáu, các mục tiêu của chiến lược tăng trưởng xanh đã được tích hợp vào nội dung tái cấu trúc nền kinh tế quốc gia và Đề án chuyển đổi mô hình tăng trưởng của địa phương.

Vào thứ bảy, trong bối cảnh mô hình tăng trưởng mới chưa được thiết lập cho ngắn hạn và trung hạn, câu hỏi đặt ra là liệu các mục tiêu của chiến lược tăng trưởng xanh có thể được hoàn thành hay không.

2.3.7 Về vấn đề ESG (môi trường, xã hội, quản trị)

ESG, viết tắt của Environment (môi trường), Social (xã hội) và Governance (quản trị doanh nghiệp), là bộ tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Bộ tiêu chuẩn này giúp tổ chức nhận diện rủi ro và cơ hội, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các hoạt động của họ Điểm số ESG phản ánh tác động của doanh nghiệp đến môi trường, xã hội và hiệu suất quản trị, với điểm số cao chứng minh thương hiệu thực hành tốt trong các lĩnh vực này.

ESG là phương pháp mà doanh nghiệp cần theo đuổi để phát triển bền vững, thúc đẩy tăng trưởng xanh và giảm phát thải Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng tiêu chí ESG, nhưng họ vẫn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực về con người, tài chính và kiến thức cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn cao về ESG.

Ngày đăng: 12/04/2023, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w