1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quyền lực chính trị và cầm quyền vị trí, vai trò của đảng chính trị trong đời sống chính trị của các nước

30 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận quyền lực chính trị và cầm quyền vị trí, vai trò của đảng chính trị trong đời sống chính trị của các nước
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 54,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (3)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu (4)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (5)
  • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (6)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (6)
  • CHƯƠNG 1:............................................................................................................6 (7)
    • 1. Khái niệm (7)
      • 1.1. Đảng chính trị (7)
      • 1.2. Chức năng của đảng chính trị (8)
    • 2. Phân loại đảng chính trị (10)
    • 3. Đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền (10)
  • CHƯƠNG 2:..........................................................................................................11 (12)
    • 2.1 Vị trí của Đảng cộng sản Việt Nam trong các bản Hiến pháp (12)
    • 2.2. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị (18)
    • 2.3 Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội (24)
    • 2.3. Mối quan hệ mật thiết giữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội (25)
  • CHƯƠNG 3:..........................................................................................................24 (26)
    • 3.1 Đổi mới việc ra nghị quyết, xác định đúng và trúng nhiệm vụ (26)
    • 3.2 Đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến, (27)

Nội dung

Phần Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Lịch sử đã cho thấy, trong quá trình đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp, không chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất có mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang. Sau khi liên quân Pháp Tây Ban Nha nổ súng xâm lược Việt Nam (91858), các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần Vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt tan rã. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1895) đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của giai cấp phong kiến Việt Nam. Sau khi phong trào Cần Vương thất bại, những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại liên tục nổ ra như: Phong trào Đông Du (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912) do Phan Bội Châu khởi xướng; Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (19061908); Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và nhiều nhân sĩ yêu nước lãnh đạo. Tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại bởi sự khủng bố khốc liệt của kẻ thù. Trải qua một chặng đường dài, Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, thành lập ngày 321930. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục tiêu, đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử dân tộc và thời đại, cho nên Đảng được thừa nhận quyền lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện cho quyền lợi của cả dân tộc, thể hiện được năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị, có nhiều đảng viên của Đảng là những tấm gương, những tượng đài bất tử trong lòng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, chỉ có một đảng cách mạng chân chính, có đường lối cách mạng đúng đắn, thực sự có bản lĩnh, có trí tuệ, phấn đấu vì mục tiêu “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, Đảng đó mới xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có thể thấy rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chúng ta đã có cuộc sống độc lập, dân chủ. Và hiện nay đang đòi hỏi phải tiếp tục tập trung nghiên cứu về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng trong đời sống chính trị. Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Vị trí, vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị” để nghiên cứu.

Lịch sử nghiên cứu

Doãn Hùng, Nguyễn Ngọc Hòa, Đoàn Minh Huấn (2006), Đảng cộng sản Việt Nam - Những tìm tòi và đổi mới trên con đường lên chủ nghĩa xã hội

(1986 - 2006), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.

PGS, TS Đinh Xuân Lý và TS Đoàn Minh Huấn (2008) đã biên soạn cuốn sách "Một số chuyên đề Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam", phục vụ cho giảng dạy và học tập môn đường lối cách mạng của Đảng, do NXB lý luận chính trị phát hành tại Hà Nội Năm 2009, Đinh Xuân Lý tiếp tục nghiên cứu và xuất bản tác phẩm "Đảng lãnh đạo phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", do NXBCTQG phát hành tại Hà Nội.

PGS TS Đinh Xuân Lý (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới ( 1986- 2011), NXBĐHQG, HàNội.

Cuốn sách “Đảng Cộng sản Việt Nam - trách nhiệm trước dân tộc” của tác giả Phùng Hữu Phú và cộng sự, xuất bản năm 2011, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền trong bối cảnh chính trị - xã hội hiện tại Tác phẩm nêu rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong thời kỳ đổi mới Đồng thời, cuốn sách cũng phản bác các luận điểm sai trái từ thế lực thù địch về vai trò cầm quyền của Đảng và đưa ra những đề xuất nhằm xây dựng Đảng vững mạnh hơn.

Luận văn của Nguyễn Thị Tuyết nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc thực hiện chính sách xã hội giai đoạn 2001-2012, khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đất nước Bài viết chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo, đồng thời rút ra kinh nghiệm trong thực hiện chính sách xã hội, góp phần bổ sung và nghiên cứu đường lối đổi mới của Đảng hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, các tác giả áp dụng các nguyên lý và phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích vị trí và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống.

Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu chung từ nhiều lĩnh vực khoa học, bao gồm phương pháp lôgic, lịch sử, kết hợp giữa lôgic và lịch sử, cũng như các phương pháp quy nạp, diễn dịch, phân tích và tổng hợp.

Các tác giả áp dụng phương pháp thu thập, nghiên cứu và phân tích tài liệu, cũng như sắp xếp các kết quả từ các công trình nghiên cứu đã được công bố, nhằm làm rõ những vấn đề cần được nghiên cứu.

Khái niệm

Đảng chính trị, theo định nghĩa của nhà xã hội học nổi tiếng M Weber, là một hiệp hội nhằm theo đuổi các mục tiêu nhất định, bao gồm mục tiêu vật chất, tinh thần, chung hoặc cá nhân, hoặc có thể là sự kết hợp của tất cả các loại mục tiêu này.

Một số học giả xác định đảng dựa trên hai tiêu chí: tiêu chí xã hội (đảng đại diện cho giai cấp nào) và tiêu chí ý thức hệ (đảng theo tư tưởng chính trị gì) Đảng được hiểu là “tập hợp những người cùng chung sức phục vụ lợi ích quốc gia trên cơ sở một nguyên tắc mà tất cả chấp nhận” hoặc “tập đoàn những người cùng chính kiến sử dụng đảng để đảm bảo hiệu quả tác động vào các công việc chính trị” (Burke, Jorge Xifra) Chủ nghĩa Mác - Lênin coi đảng chính trị, đặc biệt là đảng của giai cấp vô sản, là đội tiền phong của giai cấp, được tổ chức dựa trên một hệ tư tưởng nhất định, hoạt động theo điều lệ, cương lĩnh, đường lối và chiến đấu vì các mục tiêu, lý tưởng xác định.

Đảng chính trị được định nghĩa là tổ chức thể hiện lợi ích của một giai cấp hay tầng lớp trong xã hội, liên kết những đại diện tích cực nhất để đạt được mục đích và lý tưởng nhất định Theo Đại từ điển tiếng Việt, đảng là nhóm người hoạt động với những mục đích cụ thể, đại diện và đấu tranh cho quyền lợi của một giai cấp hay tầng lớp xã hội, đồng thời hoạt động đối lập với những nhóm có chính kiến khác.

Đảng chính trị là một tổ chức có cấu trúc, bao gồm những cá nhân đại diện cho giai cấp hoặc tầng lớp xã hội có chung lợi ích và lý tưởng Được hình thành từ cuộc đấu tranh giai cấp, đảng chính trị đóng vai trò đại diện cho lợi ích của giai cấp hoặc tầng lớp xã hội mà nó phục vụ.

1.2 Chức năng của đảng chính trị Đảng chính trị luôn luôn là một tổ chức có bộ máy chặt chẽ bao gồm các cơ quan ban hành đường lối, cương lĩnh, nghị quyết như đại hội, hội nghị; các cơ quan điều hành như ban chấp hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư; các cơ quan quyền lực cơ sở như đảng uỷ các cấp.

Mỗi đảng chính trị thường có đội ngũ đảng viên đa dạng về nhiều khía cạnh như tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo, chủng tộc, giai cấp và quốc tịch Do đó, đảng cần thiết lập điều lệ quy định tiêu chuẩn kết nạp đảng viên và phân loại đảng viên thành các nhóm khác nhau.

- Đội ngũ đảng viên là lãnh tụ hoặc cán bộ lãnh đạo đảng

-Đội ngũ đảng viên tích cực, thường trực (militante)

- Đội ngũ đảng viên ủng hộ, bỏ phiếu cho đảng, hoặc có cảm tình với đảng.

Sự tồn tại và phát triển của các đảng chính trị luôn gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp và tầng lớp xã hội, thể hiện qua việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Các đảng chính trị được thành lập như công cụ để đấu tranh giành quyền lực và khi nắm quyền, chúng sử dụng nó để thực hiện mục tiêu và lý tưởng của mình Tùy thuộc vào hoàn cảnh và tương quan lực lượng trong chính trị quốc gia, mỗi đảng thực hiện các chức năng đa dạng, nhưng có thể khái quát các chức năng phổ biến của đảng chính trị.

1) Đại diện quyền lợi cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội.

2) Định hướng về tư tưởng và chính trị cho giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đó trong cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp.

3).Tổ chức, lãnh đạo giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đấu tranh thực hiện lợi ích, mục tiêu, lý tưởng của mình

4) Thuyết phục, động viên, tập hợp các lực lượng xã hội khác ủng hộ đảng, hoặc hành động một cách có lợi cho đảng.

Tham gia vào các cơ cấu quyền lực và quá trình hoạch định chính sách là việc thực hiện các chủ trương, đường lối và quan điểm của đảng thông qua đội ngũ đảng viên trong các cơ cấu này.

6) Đào tạo, huấn luyện nhân sự cho các cơ cấu quyền lực

7) Thực hiện giám sát, phản biện đối với việc thực thi quyền lực chính trị trong nước và quốc tế.

Phân loại đảng chính trị

Các đảng chính trị được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó có cơ sở giai cấp, bao gồm đảng tư sản, đảng vô sản (công nhân) và đảng nông dân.

- Căn cứ vào ý thức hệ, có đảng tư sản, đảng cộng sản, đảng dân chủ - xã hội

Các đảng chính trị được phân loại dựa trên đường lối chính trị thành nhiều nhóm như đảng cánh tả, cánh hữu, bảo thủ, tự do, trung tả, trung hữu, cực tả, cực hữu, cùng với các đảng khác như đảng phát xít (Đảng Quốc xã), đảng phản động (Đảng 3 K) và đảng hoạt động vì môi trường (Đảng Xanh).

Dựa vào mối quan hệ với quyền lực nhà nước, có thể phân loại các đảng chính trị thành đảng cầm quyền, các đảng tham chính, các đảng liên minh với đảng cầm quyền, và các đảng trên toàn thế giới.

Đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền

Đảng lãnh đạo đóng vai trò tiên phong trong cuộc đấu tranh chính trị và giai cấp, có nhiệm vụ tập hợp, tổ chức và dẫn dắt các lực lượng chính trị - xã hội khác Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo trên nhiều quy mô khác nhau, từ toàn quốc đến từng vùng, lĩnh vực, và trong các hoàn cảnh đa dạng như chưa có chính quyền hay có chính quyền Nội dung và phương thức lãnh đạo cần được điều chỉnh phù hợp với từng hoàn cảnh và quy mô hoạt động cụ thể.

Trong bối cảnh có chính quyền, đảng cầm quyền là đảng nắm giữ quyền lực nhà nước, bao gồm quốc hội, tổng thống và thủ tướng Tư cách cầm quyền có thể là tuyệt đối khi chỉ có một đảng duy nhất, hoặc toàn diện khi đảng thắng lợi ở cả bầu cử quốc hội và tổng thống Đảng cầm quyền thể hiện quyền lực qua vai trò lãnh đạo đối với bộ máy quyền lực nhà nước và các thiết chế chính trị khác Quyền lực của đảng cầm quyền được thể chế hoá trong hiến pháp và các đạo luật cơ bản, với đội ngũ đảng viên đông đảo giữ các vị trí cao trong bộ máy nhà nước và có điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động của đảng.

Hoạt động lãnh đạo và cầm quyền của đảng chính trị có nhiều điểm chung nhưng cũng có sự khác biệt Cả hai đều nhằm tác động đến các lực lượng chính trị xã hội khác để thực hiện mục tiêu đã đề ra, đồng thời phải tuân thủ cương lĩnh và pháp luật Khái niệm lãnh đạo rộng hơn, trong khi cầm quyền thể hiện vai trò lãnh đạo của đảng khi nắm chính quyền Hoạt động lãnh đạo diễn ra qua cương lĩnh, nghị quyết, và sự tham gia của đảng viên, trong khi cầm quyền được thực thi qua pháp luật và chính sách bắt buộc.

Vị trí của Đảng cộng sản Việt Nam trong các bản Hiến pháp

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, khẳng định vai trò là một đảng cách mạng chân chính Từ khi xuất hiện trên chính trường, Đảng đã thể hiện sức mạnh hội tụ lớn nhất của dân tộc và giai cấp, trở thành đội tiên phong trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.

Có thể nói, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là do thời đại, do giai cấp và dân tộc quy định.

Trong tác phẩm "Đường Cách mệnh", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ ba loại cách mạng quan trọng: cách mạng tư bản, cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp.

Ba cuộc cách mạng có tính chất, mục tiêu và phương pháp khác nhau, không tiến hành đồng thời ở các nước dân tộc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, mỗi cuộc cách mạng đều do một giai cấp lãnh đạo Tại Việt Nam, cả ba cuộc cách mạng đều thuộc phạm trù cách mạng vô sản Sự kiện Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng và hoạt động cách mạng của Người, khẳng định rằng "Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" Để đạt được mục tiêu này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thành lập Đảng Cách mệnh để tổ chức và vận động quần chúng, đồng thời liên lạc với các dân tộc bị áp bức Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò lãnh đạo nhân dân, thực hiện đồng thời các nhiệm vụ tư sản cách mạng, dân tộc cách mạng và giai cấp cách mạng, thể hiện đặc điểm lớn nhất của cách mạng vô sản tại Việt Nam.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định qua các tài liệu quan trọng như Chính cương vắn tắt và Lời kêu gọi của Đảng Ông nhấn mạnh chủ trương thực hiện cách mạng dân quyền và cách mạng ruộng đất nhằm tiến tới xã hội cộng sản, đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, giành độc lập cho Việt Nam, giải phóng công nhân và nông dân khỏi ách tư bản, phát triển công nghiệp và nông nghiệp, cũng như mang lại quyền lợi tự do cho nhân dân.

Sau gần 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình 15 năm sau khi thành lập, Đảng lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945, đánh đuổi thực dân và phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập và chủ nghĩa xã hội Khi thực dân Pháp trở lại, toàn dân Việt Nam đã theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ, kháng chiến giành thắng lợi lớn, lập lại hòa bình ở miền Bắc Trong bối cảnh đất nước chia làm hai miền, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành hai cuộc cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam Khi Mỹ xâm lược miền Nam và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân hai miền "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào", giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc vào năm 1975, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Với những thắng lợi vĩ đại từ các cuộc cách mạng như Tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã trở thành một trong những dân tộc đầu tiên thành công trong việc giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới, mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ-La tinh.

Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân năm 1975, Việt Nam thống nhất và Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng XHCN, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong bối cảnh đất nước gặp khó khăn về kinh tế và đời sống nhân dân thiếu thốn, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986) thành công Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh và quan hệ quốc tế, khẳng định tính đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam Từ một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh và thiên tai, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định chính trị, củng cố lòng tin của quần chúng đối với Đảng, và nâng cao vị thế quốc tế.

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, trở thành một trong những quốc gia tiên phong thực hiện đổi mới thành công theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhân dân và dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam.

Người lãnh đạo là người đầy tớ trung thành của nhân dân Từ thắng lợi của công cuộc đổi mới, có thể khẳng định rằng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và tin tưởng từ các tầng lớp nhân dân Đảng có đủ bản lĩnh và trí tuệ để lãnh đạo nhân dân Việt Nam không chỉ trong đấu tranh giành và giữ chính quyền, mà còn trong xây dựng và phát triển kinh tế, hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh".

Gần 90 năm thực hiện sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, quãng thời gian chưa dài nhưng những gì mà giai cấp, dân tộc đã thực hiện được quả là phi thường Nếu không phải là một đảng Mác xít-Lêninnít chân chính như Đảng Cộng sản Việt Nam, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc thì chưa hẳn đạt được nhiều kỳ tích đến như vậy.

Đảng Cộng sản Việt Nam, với sự khiêm tốn của mình, xứng đáng được công nhận là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp và dân tộc Đảng là chính đảng cách mạng duy nhất được giao phó sứ mệnh lịch sử bởi giai cấp và dân tộc Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ điều này.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc Với chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Đảng luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, đồng thời chịu sự giám sát và trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

- Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”

Trong Hiến pháp năm 1946, không có điều khoản riêng về sự lãnh đạo của Đảng, nhưng qua vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng đã được thực hiện thành công Hiến pháp năm 1959 đã khẳng định quyền lãnh đạo của Đảng trong Lời nói đầu Hiến pháp năm 1980 thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng qua Lời nói đầu và Điều 4, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng.” Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001, tiếp tục ghi nhận rõ ràng vai trò lãnh đạo của Đảng tại Điều 4.

Hiến pháp năm 2013 khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, bổ sung và phát triển các quy định quan trọng Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, đồng thời là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng có trách nhiệm gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, và chịu sự giám sát cũng như trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình Các tổ chức và đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm thấy con đường cứu nước qua chủ nghĩa Mác - Lênin, xác định đúng đắn đường lối cách mạng, đưa dân tộc vào kỷ nguyên độc lập gắn với chủ nghĩa xã hội Trước năm 1930, đất nước ta chịu ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến, dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh giành độc lập thất bại do thiếu đường lối chính trị đúng đắn Các phong trào đấu tranh như "Cần Vương" và của giai cấp tư sản dân tộc đã bộc lộ sự yếu kém trước nhiệm vụ lịch sử Chỉ có phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, liên minh với nông dân và các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mới giành được thắng lợi vẻ vang, với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua gắn liền với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Người đã nhận ra rằng chủ nghĩa Lênin là học thuyết cách mạng và khoa học nhất cho con đường giải phóng giai cấp và dân tộc Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định rằng "không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" Qua thực tiễn và hoạt động cách mạng, Người kết luận chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới mang lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân loại Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bám sát thực tiễn, phân tích sâu sắc thời cuộc và xác định đúng đắn nhiệm vụ chiến lược của cách mạng.

Việt Nam, một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến, đã phải chịu đựng chính sách áp bức và bóc lột tàn bạo từ thực dân Pháp, dẫn đến những mâu thuẫn sâu sắc giữa toàn thể dân tộc và thực dân cùng bè lũ tay sai Những mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết thông qua cách mạng bạo lực và thực hành cách mạng liên tục Ngay từ khi thành lập, Đảng đã xác định rõ mối quan hệ giữa các nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, bao gồm độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Trong Chánh cương vắn tắt, Đảng khẳng định "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản" và "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp cùng bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập."

Kể từ khi có Đảng lãnh đạo, cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn đấu tranh kiên cường và đạt được những thắng lợi vĩ đại, mang lại độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt.

Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và quần chúng nhân dân, là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng Việt Nam Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng lớn lao, trong khi các đảng phái khác bị cô lập Đảng luôn nhạy bén với tình hình thời cuộc, xác định nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp để đưa đất nước tiến lên Hội nghị Trung ương lần thứ tám (10/5 - 19/5/1941) đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống phát-xít Sau khi phát-xít Đức, Ý bại trận, Hồ Chí Minh nhận định thời cơ cách mạng đang đến gần và nhắc nhở rằng phải kiên quyết giành độc lập, dù phải hy sinh lớn lao.

Ngay sau khi giành độc lập vào ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, trong đó xây dựng là điều kiện tiên quyết cho bảo vệ Trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã đề ra đường lối kháng chiến sáng tạo, "Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, lấy sức mình là chính", kết hợp kháng chiến với kiến quốc để đạt được thắng lợi Qua đó, thế trận được chuyển hoá, tương quan lực lượng dần thay đổi có lợi cho cách mạng, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, trong khi miền Nam vẫn bị Mỹ và ngụy chiếm đóng Đảng và Hồ Chí Minh xác định hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, nhằm hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc và đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội Cả hai cuộc cách mạng này có mối quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng nhiệm vụ xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc cho việc thống nhất đất nước Đảng luôn nắm vững bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để có đường lối đổi mới sáng tạo, dẫn đến những bước ngoặt lớn trong cách mạng Việt Nam Sự nghiệp đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn sau 25 năm, khẳng định lý tưởng cộng sản và sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội Mặc dù gặp phải khuyết tật và sai lầm trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa, Đảng đã dũng cảm sửa chữa và rút ra bài học từ những thành công cũng như thất bại, kiên trì theo đuổi sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt 25 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức cao đẹp, không ngừng đổi mới và tự chỉnh đốn, tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Mô hình và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được làm rõ và hoàn thiện Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng thắng lợi là điều chắc chắn, vì đây là lựa chọn đúng đắn của cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử Đường lối đổi mới của Đảng không giống như những tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù, cho rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa là "sản phẩm ngoại nhập, không có tương lai" Những sai lầm trong cải cách ở Đông Âu và Liên Xô đã không làm suy yếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, mà ngược lại, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã chứng minh sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.

25 năm qua của dân tộc ta đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc xằng bậy đó của kẻ thù.

Đảng ta kiên định nguyên tắc độc lập, sáng tạo và trung thành với lợi ích của nhân dân, xác định đường lối, chính sách đúng đắn để hướng dẫn hoạt động cách mạng Đổi mới tư duy, đặc biệt là đổi mới kinh tế, là khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới, kết hợp với đổi mới chính trị để xây dựng xã hội "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã xác định 8 phương hướng cơ bản cho sự nghiệp đổi mới, bao gồm: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm quốc phòng và an ninh; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội

Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thể hiện rõ ràng trong cương lĩnh chính trị của Đảng, đồng thời được bổ sung và cụ thể hóa qua các nghị quyết đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ và các nghị quyết chuyên đề Những nội dung này bao gồm các mặt cơ bản sau:

– Đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn để định hướng cho sự phát triển của Nhà nước và xã hội trong từng thời kỳ cụ thể;

Xác định các phương hướng và nguyên tắc cơ bản là nền tảng cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và pháp luật, nhằm củng cố và phát triển hệ thống chính trị Điều này cũng góp phần thiết lập chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Đề ra quan điểm và chính sách về công tác cán bộ nhằm phát hiện, lựa chọn và bồi dưỡng những đảng viên ưu tú cùng với những người ngoài Đảng có phẩm chất và năng lực Qua cơ chế bầu cử và tuyển chọn, những cá nhân này sẽ được giới thiệu đến các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội để bố trí vào làm việc.

Đảng lãnh đạo thông qua các đảng viên và tổ chức Đảng bằng cách giáo dục họ về vai trò tiên phong và gương mẫu Điều này giúp tập hợp, giáo dục và động viên quần chúng tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội, đồng thời ủng hộ và thực hiện tích cực các đường lối, chính sách của Đảng, cũng như tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật của Nhà nước.

Đảng thực hiện kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện các đường lối, chính sách, nghị quyết đối với đảng viên, tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội Qua đó, Đảng phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai lầm, lệch lạc Đồng thời, Đảng tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để liên tục bổ sung và hoàn thiện các đường lối, chính sách trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Mối quan hệ mật thiết giữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội mang tính định hướng chính trị, tạo điều kiện cho Nhà nước và các tổ chức chính trị chủ động sáng tạo trong hoạt động Phương pháp lãnh đạo của Đảng bao gồm dân chủ, giáo dục, thuyết phục, và dựa vào uy tín của đảng viên Đặc trưng của Đảng Cộng sản Việt Nam là quyền lãnh đạo được ghi nhận trong Hiến pháp, sự thừa nhận rộng rãi từ các tổ chức chính trị – xã hội, và đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Do đó, các chủ trương và quan điểm của Đảng luôn thu hút sự quan tâm và tham gia góp ý từ mọi tầng lớp nhân dân.

Trong những năm gần đây, Đảng đã có nhiều đổi mới trong phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, tạo điều kiện cho việc kiện toàn và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng, với phương thức đổi mới còn chậm và một số hạn chế trong công tác tổ chức cán bộ Tình trạng Đảng can thiệp sâu vào công việc của Nhà nước vẫn diễn ra, chưa phát huy hết khả năng của các tổ chức chính trị – xã hội và quyền làm chủ của nhân dân Để khắc phục những vấn đề này, Đảng đã quyết tâm tự đổi mới và nâng cao năng lực tổ chức, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới.

Đổi mới việc ra nghị quyết, xác định đúng và trúng nhiệm vụ

Lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chỉ thị vẫn là phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, chưa có phương thức nào thay thế Các đảng tham chính trên thế giới đều đưa ra chương trình hành động cụ thể nhằm tuyên truyền và cổ động trong Đảng và xã hội Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện qua cách thức lãnh đạo này, tuy nhiên, yêu cầu mới là về chất lượng, tầm nhìn, tính khoa học và tính khả thi của các chủ trương, nghị quyết Chất lượng và giá trị của các nghị quyết phụ thuộc vào việc xác định đúng yêu cầu, nhiệm vụ và con đường phát triển của đất nước Đảng cần đề ra đường lối sát hợp với thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân, đồng thời nghị quyết phải có cơ sở khoa học, đánh giá đúng tình hình và đưa ra giải pháp khả thi Nghị quyết cần tạo niềm vui, sự phấn khởi và động lực cho cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và nhân dân.

Đảng lãnh đạo và chỉ đạo các cơ quan nhà nước cần xây dựng nghị quyết theo quy trình khoa học, tránh bị chi phối bởi tư duy nhiệm kỳ và chủ nghĩa độc đoán Việc này đòi hỏi phát huy dân chủ, trí tuệ và sáng kiến của tập thể, bao gồm cán bộ, đảng viên, chuyên gia và toàn dân Quá trình xây dựng nghị quyết cần dựa trên lý luận, tổng kết thực tiễn và nắm bắt nhu cầu của nhân dân Ngoài ra, nghị quyết cần phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và dễ vận dụng.

Đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến,

Chủ trương và nghị quyết của Đảng chỉ có thể phát huy hiệu quả khi các cơ quan lãnh đạo và tổ chức đảng nắm vững, hiểu sâu và có trách nhiệm cao trong việc quán triệt và thực hiện Nhận thức đúng đắn và đầy đủ là cơ sở cho hành động, giúp nghị quyết trở thành thực tiễn sinh động trong đời sống xã hội Việc tổ chức thực hiện nghị quyết là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên, công chức Mỗi cá nhân cần ý thức rằng việc đưa nghị quyết vào cuộc sống không chỉ là trách nhiệm mà còn là tiêu chí đánh giá năng lực thực hiện của các cấp ủy và tổ chức đảng.

3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ quan của Đảng, Nhà nước, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp

Yếu tố con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Để đổi mới phương thức lãnh đạo, đội ngũ cán bộ cần có số lượng và cơ cấu hợp lý, bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ và phẩm chất nổi trội, cùng với quyết tâm đổi mới sáng tạo vì một Việt Nam hùng cường Đặc biệt, cán bộ lãnh đạo và quản lý phải có tầm nhìn, khát vọng cống hiến, dám nghĩ, dám làm và chịu trách nhiệm, đồng thời phải đối mặt với khó khăn và thử thách Họ cần tinh thông nghề nghiệp, có tác phong làm việc khoa học và chuyên nghiệp, luôn sẵn sàng cụ thể hóa và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

Trong những năm gần đây, Đảng đã có nhiều đổi mới trong phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, tạo điều kiện cho việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng, với phương thức đổi mới còn chậm và một số vấn đề trong kiện toàn bộ máy chính trị và công tác tổ chức cán bộ chưa được giải quyết triệt để Tình trạng Đảng can thiệp sâu vào công việc của Nhà nước vẫn diễn ra, dẫn đến việc chưa phát huy hết khả năng của các tổ chức chính trị – xã hội Để khắc phục những hạn chế này, Đảng đã quyết tâm tự đổi mới và nâng cao năng lực tổ chức, chỉ đạo, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới.

Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã tổ chức và dẫn dắt mọi thành công Đảng và Bác Hồ đã kịp thời xác định đường lối, chiến lược phù hợp để đưa cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Lịch sử cho thấy vị trí lãnh đạo của Đảng không chỉ được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh mà còn được ghi nhận trong các Hiến pháp Việt Nam, qua đó xác lập tính pháp lý cho những thành quả to lớn mà Đảng đã đạt được.

Ngày đăng: 12/04/2023, 11:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 2 Khác
2. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr 203 Khác
3. Võ Thị Hoa, (2014), đề tài khoa học cơ sở Quyền lực chính trị và quyền lực, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Khoa Chính trị học, Hà Nội Khác
4. Lịch sử Việt Nam, t.II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989, tr.113-350 Khác
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 314 Khác
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr9 Khác
7. Lui Mácty (Louis Marty): Tân Việt Cách mạng Đảng. Tài liệu dịch của Nguyễn Ngọc Cư, Phông tư liệu Viện Hồ Chí Minh, ký hiệu: NC/19, tr.142 Khác
8. Viện Sử học Việt Nam: Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991, tr.63-64 Khác
9. Hoàng Cơ Thụy: Việt sử khảo luận, Nxb Nam Á, 2002, tr.1780 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w