1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

03 những thay đổi của bà mẹ khi mang thai

9 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những thay đổi cơ thể người mẹ khi có thai
Trường học Trường Đại Học Y Dược
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 93,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG THAY ĐỔI CƠ THỂ NGƯỜI MẸ KHI CÓ THAI NHỮNG THAY ĐỔI CƠ THỂ NGƯỜI MẸ KHI CÓ THAI MỤC TIÊU HỌC TẬP 1 Kể được những biến đổi về nội tiết trong cơ thể người có thai 2 Trình bày được những biến đổi b[.]

Trang 1

NHỮNG THAY ĐỔI CƠ THỂ NGƯỜI MẸ KHI CÓ THAI

MỤC TIÊU HỌC TẬP

1- Kể được những biến đổi về nội tiết trong cơ thể người có thai

2- Trình bày được những biến đổi bộ phận sinh dục của người có thai 3- Nêu được những biến đổi cơ bản khác của các bộ phận ngoài sinh dục khi người phụ nữ có thai

4- Áp dụng những kiến thức mới học để có thể giải thích cho thai phụ và hướng dẫn tự chăm sóc thai nghén

Khi có thai, cơ thể người phụ nữ nhiều biến đổi về giải phẫu, sinh lý và cả

về chuyển hóa trong tất cả các bộ phận trong cơ thể, đặc biệt có những biến đổi quan trọng tại bộ phận sinh dục là cơ quan chịu trách nhiệm về thai nghén và sinh đẻ

1 SỰ THAY ĐỔI NỘI TIẾT

1.1 Nội tiết hoc thai kỳ

Các hormon steroid

- Vai trò hoàng thể thai nghén:

Khi thụ tinh, hoàng thể của buồng trứng sẽ tồn tại chứ không teo đi như trong các vòng kinh không thụ tinh để trở thành hoàng thể thai nghén và tồn tại đến 3 tháng sau mới teo dần Do đó lượng progesteron và estrogen tiếp tục được duy trì và tăng lên đảm bảo cho thai nghén thuận lợi

- Vai trò đơn vị nhau thai:

Sau 3 tháng, chức năng hoàng thể đã hết, đơn vị nhau thai sẽ thay thế để tiết ra các hormon steroid Khác với hoàng thể, nhau thai không phải là một đơn vị nội tiết hoàn chỉnh nên không thể một mình sản xuất các hormon steroid

từ tiền chất là cholesterol, cũng không thể chuyển đổi progesterone thành androgen và estrogen Muốn hoàn chỉnh quá trình này, nhau cần các tuyến nội tiết của thai nhi và mẹ

Progesterone được tổng hợp từ cholesterol có nguồn gốc máu mẹ được chuyển tới nhau Ba phần tư lượng Progesterone tổng hợp sẽ được chuyển tới

mẹ, được chuyển hoá và đào thải dưới dạng pregnandiol, lượng còn lại sẽ chuyển tới thai nhi Progesterone có vai trò quan trọng trong việc giữ thai Tuy nhiên hàm lượng progesterone thay đổi rất nhiều theo thời gian nên việc định lượng nó không có ý nghĩa tiên lượng cũng như chẩn đoán

Estrogen có vai trò quan trọng trong việc giữ thai và phát triển thai Estrone và estradiol được tổng hợp bởi nhau từ dehydroepiandrosterone sulfate

có nguồn gốc từ cả mẹ và thai Estriol có nguồn gốc từ nhau, được tổng hợp từ 16-hydroxyandrostenedione mà phần lớn tổng hợp từ gan và thượng thận thai nhi Hàm lượng estriol trong máu và nước tiểu phản ánh hoạt động đơn vị nhau thai, có ý nghĩa trong khảo sát sức khoẻ thai Tuy nhiên sự biến động lớn của estradiol làm cho việc định lượng đơn đôc estriol không có ý nghĩa lâm sàng

Các hormon polypeptide:

- Human chorionic gonadotrophin (HCG):

HCG được sản xuất từ tế bào nuôi, cấu tạo là glycoprotein tạo thành từ 2 chuỗi anpha và beta Chuỗi anpha giống chuỗi anpha của TSH và LH Chuỗi

Trang 2

beta đặc trưng cho HCG, là cơ sở định lượng HCG Việc định lượng chính xác HCG với độ nhạy cao cho phép chẩn đoán sớm thai nghén sớm khi chưa có dấu trể kinh

Nồng độ HCG gia tăng nhanh chóng trong nước tiểu và huyết thanh của thai phụ, tối đa vào khoảng 2,5 tháng, sau đó giảm dần, đạt mức ổn định vào tháng thứ 4 thai kỳ

Vai trò sinh lý của HCG chưa hiểu biết rõ ràng:

+ Trong đầu thai kỳ, duy trì hoàng thể và biến chúng thành hoàng thể thai kỳ

+ Biệt hoá giới tính nam của thai nhi

+ Kích thích hoạt động tuyến giáp

+ Tăng phóng thích relaxin từ hoàng thể, vì thế làm giản các mạch máu

ở tử cung và giảm co thắt cơ tử cung

- Human placenta lactogen (HPL)

HPL được tiết bởi tế bào nuôi, hàm lượng tăng lên đều đặn cùng với sự phát triển của bánh nhau, tối đa tuần 36, sau đó giảm dần Các tác dụng chuyển hóa bao gồm tăng ly giải mỡ, làm tăng axit béo tự do trong máu cung cấp năng lượng cho quá trình trao đổi chất ở mẹ và dinh dưởng của thai HPL cũng có tác dụng kháng Insulin làm tăng insulin máu tạo điều kiện tổng hợp protein và cung cấp axitamin vận chuyển tới thai HPL tham gia vào quá trình tạo sữa nhưng kém hơn prolactin

1.2 Các hocmon của các tuyến nội tiết khác

Trong cơ thể thai phụ (tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp , tuyến thượng thận, tuyến yên) cũng có nhiều thay đổi

Tuyến yên: tăng kích thước trong thai kỳ, tăng thêm khoảng 35% so

với khi không có thai Tuyến yên không có vai trò trong duy trì thai kỳ

Hormon tăng trưởng trong 3 tháng đầu của thai kỳ được tiết ra từ tuyến yên của mẹ, nồng độ trong máu và nước ối vào khoảng 0,5-7,5ng/ml giống như khi không có thai.Vào tuần thứ 8, hormon tăng trưởng được phát hiện tiết ra từ bánh nhau, khi 17 tuần thì bánh nhau là nguồn gốc chính tiết

ra hormon này Nồng độ trong huyết thanh tăng chậm khoảng 3,5 ng/ml lúc

10 tuần, đến 14ng/ml lúc thai 28 tuần và sau đó không đổi Hormon tăng trưởng trong nước ối đạt tối đa vào tuần 14-15, sau đó giảm dần về giá trị bình thường sau 36 tuần

Prolactin tăng cao trong thai kỳ, gấp 10 lần, khoảng 150ng/ml khi thai đủ tháng so với người phụ nữ không mang thai Ngay sau sanh, nồng

độ prolactin trong huyết thanh giảm và tiết ra theo nhịp độ cho con bú Vai trò của prolactin là đảm bảo sự tiết sửa

Tuyến giáp: to lên khi mang thai do tăng sinh mạch máu và tăng

sản tuyến Chuyển hóa cơ bản tăng

Tuyến cận giáp: Nồng độ hormon tuyến cận giáp giảm trong 3

tháng đầu, sau đó tăng từ từ lên Nội tiết tố cận giáp giúp kiểm soát sự phân

bố can xi Trong thai kỳ thường có tình trạng hạ canxi máu do canxi được huy động cho thai

Tuyến thượng thận:

Trang 3

Trong thai kỳ hình dạng tuyến thượng thận ít thay đổi Tốc độ tiết cortisol không đổi nhưng do thời gian bán hủy tăng ở thai phụ nên nồng độ cortisol tăng đáng kể, phần lớn gắn với globulin dưới dạng transcortin do đó ít

có tác dụng toàn thân Tuyến thượng thận là nguồn duy nhất tiết ra cortisol khi mới có thai, về sau người ta cho rằng banh nhau có tiết ra khoảng 25mg mỗi ngày Tác dụng làm tăng đường huyết, làm thay đổi hoạt động của kháng thể Aldosteron cũng do tuyến thượng thận mẹ tiết ra, khi có thai, nội tiết này tăng nhiều gây tình trạng ứ đọng nước và muối trong cơ thể

1.3 Bản thân các tuyến nội tiết của thai nhi: cũng đưa vào cơ thể mẹ

một số chất nội tiết của nó như nội tiết tuyến thượng thận

2 NHỮNG THAY ĐỔI VỀ GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ Ở BỘ PHẬN SINH DỤC

2.1 Thay đổi tại tử cung

- Vị trí: Tử cung lớn dần theo tuổi thai, 3 tháng đầu tử cung nằm trong

tiểu khung, sau đó nằm trong vùng bụng

- Dung tích: tử cung lúc bình thường chỉ khoảng 5-10 ml, đến khi thai

đủ tháng, dung tích này trung bình lên tới 5 lít

- Kích thước: Khi không có thai nắn ngoài thành bụng không thấy đáy tử cung Thai được 2 tháng chiều cao đo được trên xương mu là 4 cm và mỗi tháng sau tử cung cũng to lên trung bình 4 cm Khi thai đủ tháng chiều cao của

tử cung từ xương mu đến đáy trung bình 30-32 cm Người ta có thể từ chiều cao tử cung đo được để tính ra tuổi thai theo công thức sau:

+ 1

Để tính tuổi thai từ “tháng” ra “tuần” lấy số tháng nhân với 4 rồi cộng thêm 1 tuần cho mỗi ba tháng

- Trọng lượng; tử cung khi chưa có thai chỉ khoảng 50-60 gam, sau khi

đẻ thai và nhau, trọng lượng của nó trên dưới 1000 gam (tăng hơn 20 lần) Các yếu tố dẫn tới tăng trọng lượng tử cung do phì đại sợi cơ tử cung, tăng giữ nước

cơ tử cung, mạch máu nuôi dưỡng tử cung cũng tăng sinh kể cả động mạch, tĩnh mạch và mao mạch

- Hình thể: Trong ba tháng đầu tiên, tử cung to nhanh về đường kính trước sau hơn là đường kính ngang khiến nó có hình cầu, khi khám âm đạo, ngón tay đặt ở túi cùng bên sẽ dễ dàng chạm đến thân tử cung (dấu hiệu Noble) Sau 3 tháng tử cung có hình trứng, cực trên (đáy tử cung) to hơn cực dưới (eo tử cung) Ba tháng cuối hình dáng tử cung phụ thuộc vào tư thế thai nhi nằm bên trong

- Về mặt cấu tạo: tử cung có gồm 3 phần: thân- eo- cổ tử cung Thành tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: phúc mạc- cơ- niêm mạc

Lớp phúc mạc bao phủ thân tử cung dính chặt vào lớp cơ, không thể bóc được và cũng lớn lên, rộng ra bao bọc tử cung khi nó tăng thể tích Phúc mạc phủ từ eo trở xuống là loại bóc được Khi tử cung lớn lên đoạn eo cũng dài

ra và đến khi gần đẻ thì trở thành đoạn dưới tử cung (mặt trước đoạn dưới có

Tuổi thai (tháng) Chiều cao tử cung

4

=

Trang 4

thể dài tới 10 cm so với eo tử cung trước đây chỉ 0,5cm) Phúc mạc đoạn dưới cũng bóc được

Cơ tử cung cấu tạo 3 lớp, trong là cơ vòng, ngoài là cơ doc, ở giữa là lớp cơ chéo Đoạn dưới chỉ có hai lớp cơ dọc và cơ vòng, không có lớp cơ chéo

ở giữa nên mỏng hơn ở thân tử cung Cơ ở thân tử cung đặc biệt phát triển mạnh ở lớp giữa có các sợi đan chéo nhau Nhờ có lớp cơ này sau khi đẻ, cơ tử cung co lại, các mạch máu bị các sợi cơ đan chéo như các gọng kim bóp nghẹt lại, tránh được băng huyết cho sản phụ

Niêm mạc tử cung khi có thai biến dần thành ngoại sản mạc

- Tại cổ tử cung: Cổ tử cung khi không có thai là một khối hình trụ có ống cổ tử cung, thông với buồng tử cung qua lỗ trong và thông với âm đạo qua

lỗ ngoài Khi có thai, hình dáng cổ tử cung ít thay đổi, chỉ to thêm ra và mềm hơn Ở người con rạ, cổ tử cung mềm sớm hơn ở người con so Do các mạch máu tăng sinh nên cổ tử cung thường mầu tím Về hướng, cổ tử cung thường quay ra sau trong những tháng cuối do mặt trước đoạn dưới tử cung phát triển nhiều hơn mặt sau Các tuyến trong ống cổ tử cung đặc lại, bịt kín ống gọi là nút nhầy cổ tử cung Nhờ nút này buồng ối có thai nhi trong tử cung được cách

ly với âm đạo người mẹ, hạn chế nhiễm khuẩn ngược dòng từ âm đạo lên Khi chuyển dạ cổ tử cung sẽ mở dần lỗ trong (gọi là xóa) làm ống cổ tử cung rộng dần ra và ngắn lại Khi xóa hết, lỗ ngoài cổ tử cung mới bắt đầu dãn ra (gọi là mở) Khi mở trọn lỗ ngoài này rộng đến 10 cm để cho thai đẻ ra ngoài Khi cổ

tử cung xóa, mở, nút nhầy cổ tử cung lỏng ra và chảy ra âm đạo kèm chút máu gọi là “ra nhớt hồng” báo hiệu bắt đầu chuyển dạ

2.2 Thay đổi tại buồng trứng và ống dẫn trứng

- Khi có thai buồng trứng cũng xung huyết, to ra và nặng hơn trước, có nhiều mạch máu tân sinh

- Hoàng thể thai nghén to hơn hoàng thể trong các vòng kinh bình thường, chỉ teo đi sau 3 tháng Các nang noãn không phát triển và chín theo chu

kỳ như trước Buồng trứng không phóng noãn và thai phụ cũng không có kinh trong suốt thời gian thai nghén

- Khi tử cung to lên, ống dẫn trứng cùng buồng trứng cũng được đẩy lên cao theo vị trí của đáy tử cung

2.3 Thay đổi tại âm hộ, âm đạo

- Khi có thai, do hiện tượng xung huyết, các mạch máu ở âm hộ dãn ra,

có thể nhìn thấy dãn tĩnh mạch ở vùng môi lớn Các mô liên kết vùng âm hộ ứ nước dầy lên mềm ra Âm vật và vùng tiền đình cũng hơi tím lại

- Âm đạo khi mới có thai, niêm mạc màu tím do xung huyết và tăng sinh mạch máu Thành âm đạo dày lên, các mô liên kết ngấm nước lỏng lẻo, các cơ trơn âm đạo phì đại giống như cơ tử cung Những biến đổi này làm cho âm đạo mềm, dài ra và có khả năng dãn rộng cho thai nhi chui ra khi sanh

Khi có thai dịch âm đạo tăng nhiều hơn, có màu trắng đục và độ PH toan hơn do các vi khuẩn cộng sinh trong âm đạo (vi khuẩn Doderlin) phát triển hơn

để biến glycogen trong biểu mô âm đạo thành axit lactic

Trang 5

3 NHỮNG THAY ĐỔI VỀ GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ CÁC CƠ QUAN NGOÀI BỘ PHẬN SINH DỤC

3.1 Thay đổi tại vú

Sau khi thụ tinh, vú luôn luôn căng và mỗi ngày một to ra do các tuyến sữa và các ống dẫn sữa phát triển Quầng vú, núm vú thẫm màu Tại quầng vú nổi các hạt như hạt kê Các mạch máu ở vú cũng tăng sinh, dãn rộng nên xuất hiện lưới tĩnh mạch nổi lên dưới da ngực Gần đến ngày đẻ trong vú đã có sữa non Vú là cơ quan duy nhất còn tiếp tục biến đổi và hoạt động sau khi sinh

3.2 Thay đổi ở da, cân, cơ và xương khớp

Khi có thai thường thấy xuất hiện các vết xạm trên mặt ở vùng trán, gò

má, cổ Trên bụng từ nửa sau của thai kỳ xuất hiện các vết rạn mầu tím đen, hình vòng cung chung quanh rốn, có khi lan xuống đến đùi Đặc điểm này nhiều và rõ ở người con so Sau khi đẻ các vết xạm và rạn da mất mầu đi nhưng

di tích của vết rạn trên thành bụng có màu xà cừ thì tồn tại suốt đời Đường nối giữa rốn và mu cũng biến màu, trở nên nâu đen

Các cơ nhất là cơ thành bụng cũng mềm và dãn ra Cân giữa hai cơ thẳng to của thành bụng cũng dãn rộng, có khi gây nên thoát vị thành bụng Hệ thống cân và các dây chằng giữa các khớp xương cũng ngấm nước, mềm và có khả năng dãn ra tốt hơn làm cho các khớp bất động và bán động của khung xương chậu có khả năng hoạt động hơn tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sinh

nở sau này

Hệ thống xương cũng bị ngấm nước nên hơi mềm ra Có thể gặp tình trạng loãng xương do lượng canxi được huy động ra nhiều để tạo xương cho thai nhi Cột xương sống khi có thai cũng có nhiều biến dạng: đoạn cổ và thắt lưng thì ưỡn ra trước; đoạn ngực và cùng – cụt sẽ cong ra sau nhiều hơn Những tháng cuối của thai nghén có thể gặp hiện tượng đau, tê bì, mỏi yếu của các chi

3.3 Thay đổi về huyết học

Khi có thai thể tích máu tăng lên đáng kể, có thể tới 50%, thể tích máu tăng nhằm đáp ứng cho sự lớn lên của tử cung và các mạch máu phì đại, bảo vệ

mẹ và thai với hiện tượng giảm hồi lưu của hệ tĩnh mạch ở tư thế nằm ngữa và đứng, bảo vệ mẹ khi mất máu do cuộc sanh Trong số lượng máu tăng lên đó, mức tăng về huyết cầu thường thấp hơn mức tăng về huyết tương nên máu như

là bị loãng và dễ bị thiếu máu Lượng huyết cầu tố bình thường khi không có thai ở phụ nữ là 12 g/ 100 ml máu hoặc hơn (12 g%) nhưng ở người có thai lượng huyết cầu tố trung bình chỉ là 11g% Dưới mức này thai phụ bị coi là thiếu máu

Các thành phần khác trong máu có thứ tăng như bạch cầu (9000 đến 10.000, thậm chí 12.000) nhưng công thức bạch cầu thì như cũ, tiểu cầu (300.000 đến 400.000), các yếu tố đông máu nói chung cũng tăng, có lẽ nhằm tránh nguy cơ chảy máu ở giai đoạn sổ nhau, fibrinogen tăng từ 2,6g/l tăng đến 4g/l Cũng có thành phần trong máu giảm hơn lúc chưa có thai như lượng proitid huyết thanh, canxi và sắt huyết thanh, dự trữ kiềm

3.4 Thay đổi ở bộ máy tuần hoàn

Tim người có thai phải làm việc nhiều hơn: Cung lượng tim tăng 50%

do nhu cầu oxy tăng, thể tích máu tăng, diện tích tưới máu tăng Nhịp tim tăng

Trang 6

thêm 10-15 nhịp/phút Nếu đa thai hoặc đa ối nhịp tim có thể tăng thêm 25-30 nhịp/phút Những thay đổi đó khiến người bị bệnh tim rất dễ bị suy tim

Các mạch máu tăng sinh, mềm, dài ra và dãn to, vì thế tuy cung lượng tim tăng, nhịp tim tăng nhưng huyết áp động mạch khi có thai vẫn giữ mức bình thường Tuy nhiên huyết áp tĩnh mạch, nhất là ở các chi dưới tăng hơn do

tử cung to đè vào tĩnh mạch chủ dưới, vì thế dễ có tình trạng dãn tĩnh mạch, trĩ

và sưng phù bàn chân

Hội chứng tụt huyết áp do nằm ngữa: ở những tháng cuối thai kỳ, tử cung đè vào tĩnh mạch chậu dẫn đến tuần hoàn tĩnh mạch về tim bi giảm, làm giảm cung lượng tim thứ phát, gây ra hội chứng tụt huyết áp đáng kể ở khoảng 10% thai phụ

3.5 Thay đổi ở bộ máy hô hấp

Thể tích không khí lưu thông qua phối tăng từ 7,25 lít/phút lên tới 10,5 lít/phút

Nhịp thở của thai phụ cũng tăng hơn Khi hô hấp, mức di động của cơ hoành tăng lên và rộng hơn Các khoảng gian sườn dãn rộng hơn để cung cấp

đủ oxy và thải trừ carbonic cho cả mẹ và thai Cơ hoành đẩy lên cao nên thể tích khí cặn giảm

3.6 Thay đổi ở bộ máy tiết niệu

Thận hơi to ra Tốc độ lọc máu qua thận tăng 50% Lưu lượng máu qua thận cũng tăng từ 200 ml/phút lên 250 ml/phút Nước tiểu thai phụ có thể có ít đường do độ lọc máu qua cầu thận tăng nhưng độ tái hấp thụ ở thận không tốt Hồng cầu và prôtêin không được có trong nước tiểu

Tại bàng quang, khi mới bắt đầu thai nghén, tử cung còn nằm trong tiểu khung, to len, đè vào nên dễ gây đái rắt Đến gần tháng đẻ, ngôi thai xuống thấp lại đè vào bàng quang cũng gây đái rắt

Cả bàng quang, bể thận và niệu quản mềm ra, giảm co bóp do chèn ép của tử cung và tác động của Progesterone nên dễ ứ đọng nước tiểu gây hiện tượng trào ngược từ bàng quang lên niệu quản dễ dẫn đến nhiễm khuẩn niệu quản-bàng quang-bể thận

3.7 Thay đổi ở bộ máy tiêu hóa

Khi mới có thai, do ảnh hưởng của nội tiết thai nghén, thai phụ thường

có tình trạng tiết nước bọt, lợm giọng buồn nôn hoặc nôn mửa gọi là “tình trạng nghén” Giai đoạn này thường ăn uống kém nhưng lại hay ăn vặt và “ăn gở” các thức ăn chua, chát hay những thứ linh tinh khác

Khi thai đã lớn, tình trạng nghén hết thì thai phụ ăn trở lại bình thường Lúc này thai phụ thường ăn khỏe hơn vì nhu cầu dinh dưỡng tăng lên cho cả

mẹ và thai Dạ dày bị tử cung to đẩy lên, nằm ngang ra nên hay ợ hơi hoặc ợ chua do trào ngược dịch vị lên thực quản

Ruột trong ổ bụng có thể thay đổi vị trí Ruột thừa có thể bị tử cung đẩy lên cao đến dưới gan Ruột non ruột già đều giảm nhu động nên dễ táo bón Dễ

bị trĩ do dãn các búi tĩnh mạch hậu môn và tăng áp lực tĩnh mạch

Răng dễ bị sâu do tình trạng thiếu canxi từ đó dễ viêm lợi, miệng

Chức năng gan ít biến đổi trong lúc có thai Túi mật giảm co thắt, mật ứ đọng kết hợp tăng cholesterol dễ tạo sỏi

Trang 7

3.8 Thay đổi ở bộ máy thần kinh

Về tâm lý và cảm xúc, khi có thai người phụ nữ có thể có các biến đổi thể hiện bằng sự thay đổi tính tình, giảm sút trí nhớ, dễ giận hờn, cáu gắt, có khi khóc lóc Nhiều người bị rối loạn giấc ngủ: ban ngày thì ngủ gà ngủ gật nhưng đêm đến có khi lại không nhắm mắt được

Cuộc sống trong gia đình, trạng thái tình cảm, tinh thần của thai phụ ảnh hưởng đến thai nghén và sự phát triển của thai nhi

3.9 Những thay đổi khác ở toàn thân

Thay đổi về chuyển hóa: quan trọng nhất của là tình trạng lưu giữ nước trong cơ thể ngoài tế bào Lượng nước tăng lên trong máu, trong tử cung và vú

là 3 lít; lượng nước tăng ở thai nhi, nước ối, bánh nhau khoảng 3,5 lít Như vậy tổng số nước tăng lên đến khi thai đủ tháng là 6,5 lít

Về các muối khoáng: Nhu cầu về chất sắt thường vượt quá nguồn sắt thai phụ có sẵn Nồng độ canxi trong máu giảm có thể dẫn đến chứng co giật

do thiếu canxi Magiê cũng giảm hơn lúc chưa có thai

Chuyển hóa các chất đường bột (glucid), mỡ (lipid), đạm (protid) đều tăng hơn lúc chưa có thai Nhu cầu năng lượng khoảng 2500cal/ ngày Thai nghén bình thường có một số đặc điểm chuyển hóa sau, giảm đường huyết trung bình khi nhịn ăn, tăng đường huyết sau ăn và tăng insulin huyết Những đặc điểm này đảm bảo cung cấp glucose liên tục tới thai nhi Nếu tuyến tụy không cung cấp đủ Insulin có thể dẫn tới tiểu đường thai kỳ

Sự tăng trọng lượng cơ thể Trong suốt thời kỳ thai nghén thai phụ bình thường sẽ tăng cân chừng 11 đến 12 kg, trong đó ba tháng đầu tăng ít, chỉ khoảng 0,5 đến 1 kg, thậm chí có khi không tăng cân nếu tình trạng nghén kéo dài khiến thai phụ ăn uống kém Ba tháng giữa, cân nặng tăng chừng 5 kg, ba tháng cuối tăng 5-6 kg Nếu tăng cân ít, dưới 9 kg thì mẹ và thai có thể bị suy dinh dưỡng, nếu tăng quá nhiều, trên 14 kg thì có khả năng bị phù hoặc do một bệnh lý nào khác Theo khuyến cáo Viên Y hoc Hoa kỳ , tăng cân trong quá trình mang thai dựa vào chỉ số khối cơ thể(BMI)

BMI trước khi mang thai Chỉ số tăng cân theo khuyến cáo

19,8-26( bình thường) 11,5-16 kg

Thân nhiệt: trong vòng kinh có phóng noãn, thân nhiệt của người phụ nữ sau khi phóng noãn sẽ ở mức cao hơn cho đến ngày bắt đầu một vòng kinh mới Trường hợp đã thụ thai thì thân nhiệt trong ba tháng đầu vẫn tiếp tục ở mức cao do tồn tại hoàng thể thai nghén Từ tháng thứ tư trở đi, thân nhiệt trở lại mức bình thường

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Sản Phụ khoa(2007), Bộ môn Phụ Sản, Trường ĐHY Dược Thành phố

Hồ Chí Minh

3.Charles R.B Beckmann and al(2010), Maternal-fetal physiology, Obstetrics and Gynecology, p.43-55

2.F Gary Cunningham and al.(2010), Maternal physiology, Williams Obstetrics, chap.5

LƯỢNG GIÁ

1 Vào cuối thai kỳ, trọng lượng trung bình của tử cung là:

A 400-500g

B 600-700g

C 800-900g

D 1000-1100g

E 1500g

2 Trong lúc mang thai, cung lượng tim tăng do

A Nhu cầu oxy tăng

B Thể tích máu tăng

C Kích thước mạch máu tăng

D A, B C đúng

E A, B đúng

3 Trong thai kỳ, nồng độ progesterone tăng làm giảm trương lực cơ trơn gây ra:

A Dãn niệu quản

B Dễ trào ngược thực quản

C Dễ gây sỏi mật

D A,B,C đúng

E B,C đúng

4 Bất thường nào thường gặp nhất trong thời kỳ mang thai:

A Đái tháo đường

B.Tiền sản giật

C Bệnh tim

D Nhiễm trùng đường tiểu

E Thiếu máu thiếu sắt

5 Trong những tháng cuối thai kỳ, người mẹ có thể bị tụt huyết áp khi nằm ngữa, chon câu đúng nhất cho thái độ xử trí trong trường hợp này:

A Truyền dịch, thở oxy

B Trợ tim, thở oxy

C Nằm nghiêng trái

D Nằm nghiêng phải

E A,D đúng

ĐÁP ÁN

1D 2D 3D 4E 5C

Ngày đăng: 12/04/2023, 03:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w