1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN

107 979 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khả Năng Tiếp Cận Thị Trường Của Người Dân Về Việc Quản Lý, Bảo Vệ Rừng Mẫu Sơn Tỉnh Lạng Sơn
Trường học Trường Đại Học Lạng Sơn
Chuyên ngành Quản lý và Bảo vệ Rừng
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 314,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 17/01/2007 là cơ hội mở ra cho sự phát triển kinh tế nước ta, tuy nhiên đã có không ít khó khăn và thách thức mà chúng ta gặp phải, đặc biệt trong nông lâm nghiệp nông thôn. Hàng nông sản kém sức cạnh tranh do chất lượng thấp, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, chi phí sản xuất quá cao...và nhiều vấn đề khác. Trong bối cảnh hội nhập, nông dân Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: sự hạn chế trong khả năng tiếp cận thị trường, không tận dụng được lợi ích do quá trình hội nhập mang lại; áp lực cuộc sống dưới tác động của sự tăng giá mạnh, những hậu quả có thể của tình trạng biến đổi khí hậu, áp lực gia tăng dân số và nhu cầu nhiều mặt của con người như: phát nương làm rẫy, nhu cầu trồng cây công nghiệp, nông nghiệp phục vụ đời sống, nhu cầu xây dựng các công trình, đường sá giao thông. Những nhu cầu về cuộc sống của người dân trong xã đã gây áp lực lớn đến cả hệ sinh thái rừng như nhu cầu gỗ làm nhà, chất đốt, tiền mặt, lương thực, nhu cầu về củi gỗ lâm sản… Để kiếm kế sinh nhai người dân đã tác động đến rừng: phá rừng làm rẫy, khai thác các loại gỗ quý hiếm và săn bắt động vật hoang dã...nhằm mục đích giải quyết một số nhu cầu trong cuộc sống để tồn tại. Điều đó, dẫn đến việc quản lý rừng ở Mẫu sơn gặp nhiều khó khăn, diện tích rừng và chất lượng rừng ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng, làm mất đi tính bền vững của các hệ sinh thái rừng. Bên cạnh đó, kinh tế thị trường đòi hỏi người nông dân phải có những kiến thức nhất định, nhận thức đúng đắn trong thời kỳ mới để không bị tụt hậu.Thông tin thị trường đối với người nông dân là một yếu tố quan trọng, thế nhưng theo Bộ NN& PTNT mới chỉ có khoảng 25% nông dân tiếp cận được với thông tin thị trường. Lực lượng lao động nông thôn chiếm phần đông trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp (Lê Thị Quý, 2008), thời gian dành cho lĩnh vực hoạt động sản xuất nhiều nên họ ít được tiếp cận với các nguồn lực, không có thời gian để tham gia vào hoạt động của cộng đồng, trao đổi thông tin điều đó càng làm cho khả năng tham gia vào thị trường, nắm bắt thông tin thay đổi từng ngày là rất hạn chế. Nhưng với kiến thức thị trường hạn chế và nhiều nguyên nhân khác có thể làm cho những quyết định trong tham gia thị trường không được chính xác hoặc lúng túng, và họ chính là những người chịu thiệt thòi trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển. Huyện Cao Lộc là một huyện có vị trí địa lý rất gần với Thành phố Lạng sơn, ở đây có nền sản xuất nông sản phát triển khá toàn diện như nông nghiệp, TM-DV, trồng trọt, chăn nuôi. Vì vậy những người dân nơi đây đã rất quen thuộc với công việc buôn bán và trao đổi trong điều kiện sản xuất hàng hoá hiện nay. Tuy nhiên họ vẫn là những người nông dân chất phác,chịu thương chịu khó,chịu ảnh hưởng của nền kinh tế nhỏ lẻ nên khả năng tiếp cận và thích nghi với nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hoá vẫn chưa được phát huy có hiệu quả. Vậy tính cấp thiết của đề tài này là đi tìm hiểu và trả lời câu hỏi: Người dân họ đang cần gì khi tham gia vào thị trường?người dân ở nơi đây họ đang tham gia vào thị trường ở mức độ nào? Những người dân ở vùng sâu vùng xa thì khả năng tiếp cận thị trường của họ có gì khác so với người dân ở gần trung tâm? Mức độ thu nhập, cơ hội tìm việc làm như thế nào? Hiệu quả ra sao? khả năng tham gia vào thị trường của họ là đến đâu và họ chịu những tác động nào? Và chúng ta cần làm gì để giúp họ tham gia tốt vào thị trường? Đứng trước những yêu cầu cần được giải đáp nêu trên nhằm góp phần giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng tiếp cận thị trường của người dân về việc quản lý, bảo vệ rừng Mẫu Sơn Tỉnh Lạng sơn”. Với mong muốn tìm hiểu, đánh giá, phân tích những tập quán canh tác, phương thức sản xuất và phát triển kinh tế hộ gia đình cùng một số nét văn hóa đời sống, văn hóa sản xuất của đa số bộ phận người dân ở Huyện Cao Lộc. Từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho người dân trong xã là điều rất cần thiết.

Trang 1

MỤC LỤCTrang phụ bìa

Lời cam đoan

BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng

Bộ NN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thônCNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóaPCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

SPSS Statistical Package For Social Sciences

Trang 2

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 2.23: Nhận thức về các hoạt động gây ô nhiễm 92

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Ở ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thươngmại thế giới WTO ngày 17/01/2007 là cơ hội mở ra cho sự phát triển kinh tếnước ta, tuy nhiên đã có không ít khó khăn và thách thức mà chúng ta gặpphải, đặc biệt trong nông lâm nghiệp nông thôn Hàng nông sản kém sức cạnhtranh do chất lượng thấp, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, chi phí sản xuấtquá cao và nhiều vấn đề khác

Trong bối cảnh hội nhập, nông dân Việt Nam đang phải đối mặt vớinhiều thách thức: sự hạn chế trong khả năng tiếp cận thị trường, không tậndụng được lợi ích do quá trình hội nhập mang lại; áp lực cuộc sống dưới tácđộng của sự tăng giá mạnh, những hậu quả có thể của tình trạng biến đổi khíhậu, áp lực gia tăng dân số và nhu cầu nhiều mặt của con người như: phátnương làm rẫy, nhu cầu trồng cây công nghiệp, nông nghiệp phục vụ đờisống, nhu cầu xây dựng các công trình, đường sá giao thông Những nhu cầu

về cuộc sống của người dân trong xã đã gây áp lực lớn đến cả hệ sinh tháirừng như nhu cầu gỗ làm nhà, chất đốt, tiền mặt, lương thực, nhu cầu về củi

Trang 3

gỗ lâm sản… Để kiếm kế sinh nhai người dân đã tác động đến rừng: phá rừnglàm rẫy, khai thác các loại gỗ quý hiếm và săn bắt động vật hoang dã nhằmmục đích giải quyết một số nhu cầu trong cuộc sống để tồn tại Điều đó, dẫnđến việc quản lý rừng ở Mẫu sơn gặp nhiều khó khăn, diện tích rừng và chấtlượng rừng ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng, làm mất đi tính bền vững củacác hệ sinh thái rừng Bên cạnh đó, kinh tế thị trường đòi hỏi người nông dânphải có những kiến thức nhất định, nhận thức đúng đắn trong thời kỳ mới đểkhông bị tụt hậu.

Thông tin thị trường đối với người nông dân là một yếu tố quan trọng,thế nhưng theo Bộ NN& PTNT mới chỉ có khoảng 25% nông dân tiếp cậnđược với thông tin thị trường Lực lượng lao động nông thôn chiếm phầnđông trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp (Lê Thị Quý, 2008), thời giandành cho lĩnh vực hoạt động sản xuất nhiều nên họ ít được tiếp cận với cácnguồn lực, không có thời gian để tham gia vào hoạt động của cộng đồng, traođổi thông tin điều đó càng làm cho khả năng tham gia vào thị trường, nắm bắtthông tin thay đổi từng ngày là rất hạn chế

Nhưng với kiến thức thị trường hạn chế và nhiều nguyên nhân khác cóthể làm cho những quyết định trong tham gia thị trường không được chínhxác hoặc lúng túng, và họ chính là những người chịu thiệt thòi trong nền kinh

tế thị trường ngày càng phát triển Huyện Cao Lộc là một huyện có vị trí địa

lý rất gần với Thành phố Lạng sơn, ở đây có nền sản xuất nông sản phát triểnkhá toàn diện như nông nghiệp, TM-DV, trồng trọt, chăn nuôi Vì vậy nhữngngười dân nơi đây đã rất quen thuộc với công việc buôn bán và trao đổi trongđiều kiện sản xuất hàng hoá hiện nay Tuy nhiên họ vẫn là những người nôngdân chất phác,chịu thương chịu khó,chịu ảnh hưởng của nền kinh tế nhỏ lẻnên khả năng tiếp cận và thích nghi với nền kinh tế thị trường sản xuất hàng

Trang 4

hoá vẫn chưa được phát huy có hiệu quả Vậy tính cấp thiết của đề tài này là

đi tìm hiểu và trả lời câu hỏi: Người dân họ đang cần gì khi tham gia vào thịtrường?người dân ở nơi đây họ đang tham gia vào thị trường ở mức độ nào?Những người dân ở vùng sâu vùng xa thì khả năng tiếp cận thị trường của họ

có gì khác so với người dân ở gần trung tâm? Mức độ thu nhập, cơ hội tìmviệc làm như thế nào? Hiệu quả ra sao? khả năng tham gia vào thị trường của

họ là đến đâu và họ chịu những tác động nào? Và chúng ta cần làm gì để giúp

họ tham gia tốt vào thị trường? Đứng trước những yêu cầu cần được giải đápnêu trên nhằm góp phần giải quyết mục tiêu nghiên cứu Tác giả quyết định

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng tiếp cận thị trường của người dân về việc quản lý, bảo vệ rừng Mẫu Sơn Tỉnh Lạng sơn” Với mong muốn tìm

hiểu, đánh giá, phân tích những tập quán canh tác, phương thức sản xuất vàphát triển kinh tế hộ gia đình cùng một số nét văn hóa đời sống, văn hóa sảnxuất của đa số bộ phận người dân ở Huyện Cao Lộc Từ đó đưa ra những giảipháp, đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chongười dân trong xã là điều rất cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng khả năng tiếp cận thị trường của người dân vềquản lý, bảo vệ rừng hiện nay và những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận đócủa người dân xã Công Sơn, xã Hải Yến, xã Hợp Thành huyện Cao Lộc, TỉnhLạng sơn Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường năng lực tiếpcận thị trường trong việc quản lý, bảo vệ rừng cho hộ nông dân trên địa bàn

xã Công Sơn, xã Hải Yến, xã Hợp Thành huyện Cao Lộc, Tỉnh Lạng sơn 2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 5

• Đánh giá khả năng tiếp cận của người dân với thị trường.

• Đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng

• Mức độ tham gia, phụ thuộc của người dân tới các hoạt động từ rừng và cácsản phẩm từ rừng

• Phân tích thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức tới tiếp cận thị trường

• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng khả năng tiếp cận thị trường của

hộ về việc quản lý, bảo vệ rừng bền vững

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

• Các hộ dân sinh sống trong khu vực xã Công sơn Tỉnh Lạng sơn

• Môi trường tự nhiên và xã hội thuộc khu vực xã Công sơn Lạng sơn

• Các nguồn lực tại khu vực xã Công sơn Lạng sơn

• Các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhóm hộ nghiên cứu

• Nghiên cứu năng lực tiếp cận thị trường trong việc quản lý, bảo vệ rừng củahọ

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi là 3 xã: Xã Công sơn, Hải Yến,Hợp Thành thuộc huyện Cao Lộc Tỉnh Lạng sơn

Về thời gian: Nghiên cứu từ ngày 01/08/2009 đến ngày 30/08/2010

4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng tiếp cận thị trường của người dân về quản lý, bảo

vệ rừng và những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận đó của người dân xãCông Sơn

Xem xét khả năng duy trì và phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tựnhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất,nguồn lực tài chính của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu Từ việc

Trang 6

nghiên cứu đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng khả năng tiếp cậnthị trường của hộ về việc quản lý, bảo vệ rừng bền vững.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn đượcchia thành 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng quản lý, bảo vệ rừng và tiếp cận thị trường của người dân

Chương 3:Những giải pháp chủ yếu nhằm khai thác tốt mối quan hệ tiếp cận thị trường và quản lý, bảo vệ rừng Mẫu sơn.

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở khoa học về đề tài

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài

* Khái niệm về Thị trường: Thị trường ra đời và phát triển gắn với sựphát triển của nền sản xuất hàng hoá Từ đó đến nay, nền sản xuất hàng hoá

đã phát triển và trải qua nhiều thế kỷ, có nhiều thay đổi mang tính hiện đại và

có những lưu giữ mang tính truyền thống Việc tiêu thụ sản phẩm của ngườisản xuất, thực hiện các dịch vụ của các doanh nghiệp dịch vụ cũng như bánhàng của các danh nghiệp thương mại đều diễn ra trên thị trường Trong khi

đó, cạnh tranh lại đòi hỏi người sản xuất phải ra sức cố gắng giành vị thế caotrên thị trường Dựa trên cơ sở chi phí kinh doanh tính trên một đơn vị sản

Trang 7

phẩm sản xuất ra, người sản xuất có thể xác định được mức giá sản phẩm màngười sản xuất có thể chấp nhận được và phải nhất thiết tiêu thụ trên thịtrường vì các lý do.

Hoạt động trong nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần, nềnkinh tế thị trường, mỗi người sản xuất là một đơn vị sản xuất hàng hoá vớimục đích là để bán và kiếm được nhiều lợi nhuận

Muốn duy trì và phát triển hàng hoá trong nền kinh tế thị trường, mỗingười sản xuất phải thực hiện cho được vấn đề tái sản xuất mở rộng với bốnkhâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Vì vậy bốn khâu này vậnđộng một cách thông suốt thì sản phẩm hàng hoá của người sản xuất nhất thiếtphải được tiêu thụ trên thị trường

Mỗi người sản xuất khi tiến hành xây dựng và thực hiện chiến lược, kếhoạch sản xuất kinh doanh và phản ánh sản phẩm của mình phải quán triệtphương châm:

Những luận cứ nêu trên là hoàn toàn đúng đắn, vừa có cơ sở khoa học,vừa có thực tiễn sâu sắc Thị trường phát triển đa dạng và phong phú ở nhiềulĩnh vực khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau

Trang 8

Thị trường là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá và được nhiều nhàkinh tế định nghĩa khác nhau.

- Thứ nhất: Thị trường là tổng hợp các lực lượng và điều kiện trong đóngười mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá dịch vụ từngười bán sang người mua

+ Theo Davi begg: “thị trường là tổng hợp các sự thoả thuận mà thông qua

đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá dịch vụ”.Một định nghĩa khác cho biết: Thị trường là nơi mua bán hàng hoá, làquá trình trong đó người mua và bán một thứ hàng hoá tác động qua lại nhau

để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, là nơi diễn ra các hoạt động mua bánbằng tiền trong một khoảng thời gian không gian nhất định Theo Ngân hàngphát triển châu Á: Thị trường là một thể chế (hay là tập hợp các nguyên tắc)tồn tại để phục vụ việc trao đổi: đó là chúng tồn tại để giảm giá thành của việcthực hiện giao dịch Một thị trường vận động tốt sẽ giảm giá giao dịch giữangười mua và người bán đến mức thấp nhất Một thị trường làm việc gồm có

+ Người tiêu dùng là những người muốn mua sản phẩm và dịch vụ và cótiền để làm việc đó

Trang 9

+ Người sản xuất là người cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong thịtrường: Mặc dù cơ cấu thị trường và số lượng quy mô, loại hình tổ chức đadạng trong các lĩnh vực thị trường dựa vào lịch sử, giai đoạn tăng trưởng vàcác rào cản để đi vào lĩnh vực đó.

- Theo Cramer, 1997: Thị trường gồm người mua và người bán vớinhững điều kiện đảm bảo có thể giao tiếp được với nhau Thị trường là khôngnhất thiết phải có một địa điểm cụ thể, cho dù một số người hiểu thị trườngtheo khía cạnh này, nghĩa là phải có thị trường hàng hoá Thị trường có thể là

ở tầm địa phương, khu vực, quốc gia hay quốc tế Một yêu cầu duy nhất về sựtồn tại của thị trường là phải có luồng cung cầu để xác định giá thị trườngthông qua giao tiếp giữa người mua và người bán ->Như vậy, thị trường kháiquát 3 yếu tố:

+ Có chủ thể tham gia: Người mua, người bán

+ Có đối tượng trao đổi: Hàng hoá, dịch vụ

+ Có điều kiện để thực hiện quá trình trao đổi: Khả năng thanh toán củangười mua, thời gian, không gian, pháp luật,

Tuỳ theo các cách tiếp cận về thời gian, không gian, địa lý, có thể nhữngđịnh nghĩa khác nhau nhưng dù đứng ở góc độ nào thì để tồn tại thị trườngluôn cần sự có mặt của các yếu tố sau đây:

Thứ nhất: khách hàng được xem là yếu tố kiên quyết của thị trường, thịtrường phải có khách hàng không nhất thiết phải gắn với địa điểm cố định.Thứ hai: khách hàng không phải có nhu cầu chưa được thoả mãn Đâyđược xem là động lực thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ

Trang 10

Thứ ba: để việc mua bán hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thì yếu tốquan trọng là khách hàng phải có khả năng thanh toán.

* Phân loại thị trường:

Căn cứ vào công cụ của hàng hoá ta chia ra:

+ Thị trường các yếu tố đầu vào: Đó là những sản phẩm dùng để sảnxuất, là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hoáchất, dụng cụ,…Trong sản xuất nông nghiệp như: Phân bón, giống, thức ăn,thuốc, nguồn vốn,…

+ Thị trường các yếu tố đầu ra: là sản phẩm dùng cho tiêu dùng cá nhâncủa con người như: Lương thực, thực phẩm, quần áo,…

Căn cứ vào nguồn gốc sản xuất ra hàng hoá:

+ Thị trường hàng công nghiệp: Là các loại sản phẩm do xí nghiệp côngnghiệp khai thác, chế biến sản xuất ra

+ Thị trường hàng nông nghiệp (nông, lâm, thuỷ sản): Là các hàng hoá

có nguồn gốc từ sinh vật

* Tiếp cận thị trường: Tiếp cận thị trường cho hàng hoá được

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) định nghĩa là các điều kiện về thuếquan và các biện pháp phi thuế quan, theo sự thoả thuận của các thành viêncủa tổ chức cho sự xâm nhập của một loại hàng hóa cụ thể vào thị trườngcủa họ

Tiếp cận thị trường nông sản phẩm là việc người nông dân có đầy đủthông tin, tiềm lực xã hội, tài chính, vật chất để mua vật tư đầu vào và bán sản

Trang 11

phẩm nông nghiệp làm ra ở các khu vực có lợi cho họ Nghĩa là người nôngdân có đủ nguồn lực để có thể giao thiệp với người bán vật tư đầu vào phục

vụ cho quá trình sản xuất của nông hộ, đồng thời họ cũng có đủ khả năng đểtiếp cận và đàm phán với các nhà cơ sở thu mua để bán sản phẩm họ làm ra ởmột mức có lợi (Kleih, 1999) Điều này cho thấy điều kiện cơ bản nhất để tiếpcận thị trường nông nghiệp là có sự tồn tại của cầu cho các loại sản phẩm tiềmnăng từ khu vực nông thôn Quy luật tự nhiên của sản phẩm đầu vào và đầu

ra, phương thức tiếp cận thị trường của người dân và những yêu cầu phảiđược thực hiện nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường

Tiếp cận thị trường không thể thực hiện như một lĩnh vực riêng lẻ Tiếpcận thị trường phải được nhìn nhận như một phần đầy đủ, trọn vẹn, không thểthiếu của hệ thống hàng hoá Một mặt, người nông dân phải biết đâu là nơi họbán sản phẩm trước khi hoạt động sản xuất Mặt khác, nguồn cung cấp đầy

đủ, thích hợp và thoả đáng các khía cạnh vật chất chất lượng và số lượng làyêu cầu đầu tiên, tiên quyết cho một hệ thống thị trường hiệu quả

Luồng cung cấp thị trường và cầu hàng hoá được trao đổi bằng các hợpđồng bao tiêu sản phẩm hoặc dịch vụ ăn khớp với khách hàng giữa người mua

và người bán thông qua thị trường

Nâng cao sự liên kết giữa các mắt xích của hệ thống thị trường (chuỗisản xuất), ở đây là người nông dân nói chung và người kinh doanh nói riêng,

là một vấn đề cực kỳ quan trọng của tiếp cận thị trường Bên cạnh đó, cảithiện hệ thống giao thông, luồng thông tin về sản phẩm, về thị trường là cácyếu tố không thể thiếu nhằm có được sự liên kết hiệu quả và bền vững Đó làquy luật lưu thông của đầu vào và đầu ra trong nông nghiệp với sự tham giacủa nông dân

Trang 12

Theo Robert W.Bly “ Hướng dẫn hoàn hảo phương pháp tiếp cận thịtrương” Tiếp cận thị trường là một quá trình tìm kiếm, phát hiện và đánh giánhững nhu cầu của thị trường từ đó lên kế hoạch sản xuất kinh doanh, lựachọn thị trường mục tiêu xâm nhập thị trường, tiếp cận khách hàng để đạtmục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh là tiêu thụ sản phẩm.

Thu thập thông tin: Hệ thống thông tin là một hệ thống liên hệ qua lạigiữa người, thiết bị và phương pháp hoạt động thường xuyên để thu thậpthông tin, phân loại, phân tích, đánh giá và phổ biến thông tin chính xác, hiệnđại và cấp thiết để người sử dụng lập kế hoạch thực hiện và kiểm tra việc thựchiện các biện pháp Marketing ( Phiplip kotler, 2007)

Hệ thống thông tin thu thập thường ngày ở bên ngoài là tập hợp cácnguồn lực và phương pháp mà thông qua đó các hộ nông dân nhận đượcthông tin thường ngày về các sự kiện xảy ra trong môi trường thương mại

1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường

a Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật và vốn đầu tư

+Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật: Theo thông báo củaliên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn khoảng 1200 triệu người mù chữ.Còn ở Việt nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động không qua đào tạo rấtcao ( chiếm gần 80% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước); nữchiếm 0,63% công nhân kỹ thuật, nam chiếm là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ cótrình độ trên đại học 0,016%, tỷ lệ này của nam là 0,077% ( Bùi Đình Hoà,1998) Vì trình độ học vấn tương đối thấp nên bị hạn chế về kỹ thuật, chuyênmôn sự hiểu biết nên gặp khó khăn về tiếp nhận thông tin và kết quả là tiến bộkhoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất còn yếu kém dẫn đến hiệu quả năngsuất thu nhập kém, thấp

Trang 13

+ Vốn đầu tư:Vốn cho sản xuất ảnh hưởng rất nhiều đến vai trò của chủ

hộ trong phát triển kinh tế Nhìn chung người dân muốn đầu tư cho sản xuất,kinh doanh đều gặp phải khó khăn về vốn Vốn tích luỹ trong các hộ gia đìnhthường không nhiều nên họ phải vay vốn từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài Ởnước ta thị trường vốn, nhất là nông thôn vùng sâu, vùng xa, thủ tục vay vốncòn khó khăn và rườm rà Do đó người dân nông thôn đặc biệt là các hộnghèo không có điều kiện mở rộng sản xuất phát triển kinh tế

b Yếu tố về thời gian và kinh phí

+ Thời gian: Do đặc thù ở các vùng nông thôn thời gian lao động tạo thunhập của họ chiếm thời gian rất nhiều Do vậy, đều đó ảnh hưởng xấu đến sứckhoẻ và gia đình họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí tham gia các hoạt động

xã hội cộng đồng cũng như các cơ hội tham gia đảm nhận các vị trí quản lý vàlãnh đạo, có rất ít thời gian để tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng nângcao trình độ, kỹ năng và sự tự tin Thời gian là điều kiện bắt buộc để họ tiếnhành các hoạt động nâng cao trình độ của mình, có nhiều thời gian thì họ mới

có điều kiện tham gia các hoạt động, các lớp bồi dưỡng kiến thức như: đi tậphuấn học các lớp bồi dưỡng, đi khảo sát xung quanh để có thông tin về cầu vàgiá để tiếp cận thị trường tốt hơn Vậy thời gian cũng là yếu tố quan trọng tạonên kinh nghiệm cũng như năng lực tiếp cận thị truờng tốt hơn

+ Kinh phí: Là điều kiện trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹthuật không muốn mất chi phí cơ hội mà họ đã bỏ qua các khoá đào tạo đểnâng cao kiến thức

c Yếu tố về không gian và thông tin

Hai nhà kinh tế học Jeffrey Frankel và Andrew Rose đã công bố mộtnghiên cứu ước tính tác động của các yếu tố khác nhau tới giao dịch thươngmại của một nước Các yếu tố kinh tế truyền thống như qui mô nền kinh tế và

Trang 14

mức giàu có của một quốc gia vẫn có tác động lớn; tính trung bình sự tăng lên của một hoặc hai yếu tố đó làm tăng giao dịch thương mại lên 8%

Tuy nhiên những yếu tố khoảng cách khác thậm chí còn tác động lớn

hơn thế nhiều Nếu ảnh hưởng của khoảng cách 5.000 dặm giữa hai nước làm

giảm khối lượng các giao dịch thương mại chỉ còn 20% so với một khoảng cách là 1.000 dặm thì ảnh hưởng của khoảng cách về văn hoá, chính trị còn lớn hơn thế rất nhiều

Các nhà kinh tế học thường dựa vào lý thuyết “lực hấp dẫn” trong phân tích thương mại Thuyết này cho rằng dòng thương mại có quan hệ tỷ lệ thuận với qui mô nền kinh tế và tỷ lệ nghịch với khoảng cách Các mô hình dựa trên thuyết này giải thích tới 2/3 những thay đổi trong khối lượng thương mại giữa hai nước

Sử dụng một trong những mô hình trên, hai nhà kinh tế Frankel và Rose

đã ước lượng về tác động của các yếu tố khác biệt nhất định đến thương mại

Yếu tố Thay đổi trong thương mại quốc tế (%)

Mức thu nhập: GDP bình quân đầu người (tăng 1%) +0,7 Qui mô nền kinh tế: GDP (tăng 1%) +0,8 Khác biệt về tự nhiên (tăng 1%) -1,1 Khoảng cách tự nhiên (tăng 1%)* -0,2 Gần biển * +50

Có biên giới chung +80

Sử dụng một ngôn ngữ chung +200

Cùng trong một khối thương mại +330

Có quan hệ thực dân - thuộc địa trong quá khứ +900

Cùng là nước thực dân trong quá khứ +190

Trang 15

Có thể chế chính trị giống nhau +300

Sử dụng một đồng tiền chung +340

Nguồn: “Dự báo tác động của liên minh tiền tệ đối với tăng trưởng”,

bản thảo chưa công bố, tháng 5/2000, tác giả Jeffrey Frankel vàAndrew Rose.

Như vậy có thể thấy khoảng cách là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởnglớn đến khả năng tiếp cận thị trường, vận dụng vào thực tiễn những khu vựcgần các trung tâm đô thị có khoảng cách gần, giao thông thuận tiện dẫn đếnchi phí vận chuyển thấp, thói quen và sở thích cơ bản giống nhau, thông tintrao đổi nhanh … do vậy khi có sản phẩm người ta dễ giao dịch trao đổi hơn.Uche M Nwankwo và Bokelmann Wolfgang trong báo cáo “The Effect

of Information and Market Access on Adopters’ Income Level” chỉ ra rằngkhi thông tin được cung cấp đầy đủ sẽ làm tăng khả năng tiếp cận thị trường

và qua đó giúp tăng thu nhập cho người dân

1.1.3 Những vấn đề sản xuất nông lâm nghiệp của hộ nông dân

a Dịch vụ khuyến nông

Mặc dù khuyến nông giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ,kiến thức cho nông dân, tăng hiệu quả sản xuất tuy nhiên vẫn còn một số hộnông dân vẫn chưa tiếp cận được hoặc khó tiếp cận khuyến nông

Tiếp cận các dịch vụ khuyến nông hay gọi tắt là tiếp cận khuyến nông làquá trình hoạt động trong hệ thống khuyến nông được diễn ra từ hai phíangược chiều, một là các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông, hai là hộnông dân - người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khuyến nông Vì vậy, một

số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nôngcủa nông dân như:

- Điều kiện kinh tế của hộ: Người nghèo khó tiếp cận khuyến nông Hiệnnay, công tác khuyến nông mới chỉ “phủ sóng” đến những người có điều kiện,

Trang 16

còn người nghèo, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa vẫn khó tiếp cận (

TS Tống Khiêm, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quốcgia) Nguyên nhân là do cơ chế tài chính, bởi khuyến nông hoạt động theohình thức Nhà nước và nông dân cùng đóng góp Chẳng hạn, mức hỗ trợ bìnhquân của Nhà nước cho khu vực đồng bằng là 30%, trung du miền núi là50%, vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, hải đảo là 80% Muốn làm mô hình,

bà con phải đóng góp, vì thế người nghèo ít có cơ hội hưởng lợi

- Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng điến việc tiếp cận với dịch vụ khuyếnnông của nông dân là sự quan tâm của chính quyền các cấp đến công tác này

và trình độ cũng như tính yêu nghề của cán bộ khuyến nông viên cơ sở Chínhquyền các cấp quan tâm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận của hộnông dân với dịch vụ khuyến nông Cán bộ khuyến nông viên cơ sở có trình

độ và yêu nghề sẽ tạo cho nông dân lòng tin và họ sẽ dễ dàng tiếp cận hơn.Trình độ của cán bộ khuyến nông thể hiện qua sự hiểu biết về kiến thức; kỹnăng giao tiếp và hành vi ứng xử của họ với người dân Cán bộ khuyến nông

có hiểu biết rộng không chỉ về kỹ thuật, về thị trường, về chính sách, môitrường, xã hội… lại nhiệt tình và thân thiện với nông dân thì khả năng tiếpcận của nông dân với dịch vụ khuyến nông sẽ thuận lợi hơn

- Trình độ văn hóa của người nông dân cũng là một yếu tố quan trọng cóảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ khuyến nông Trình độ của chủ hộ và cácthành viên trong hộ thể hiện về nhận thức, khoa học kỹ thuật, về kiến thứckinh tế, thị trường, xã hội môi trường do khuyến nông cung cấp Họ sẵn sàngtham gia hỗ trợ và giúp đỡ nông dân khác Khi người nông dân có trình độvăn hóa càng cao thì nhận thức về việc tiếp cận với các phương thức sản xuấtmới, giống mới… sẽ cao hơn, cũng có nghĩa là tính bảo thủ của họ sẽ giảm

Từ đó, họ sẽ nhận thấy được những mặt có lợi mà dịch vụ khuyến nông manglại (như quyết định áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới…) Ngược lại, với

Trang 17

những hộ nông dân còn hạn chế về trình độ văn hóa thì họ sẽ khó khăn trongviệc tiếp cận dịch vụ khuyến nông chính vì tính bảo thủ của mình, sợ vàkhông muốn tiếp cận với những cái mới Ngoài ra, các hộ có trình độ văn hóathấp thường không tự tin, không dám mạo hiểm đầu tư sản xuất, họ sợ rủi ro(rủi ro thời tiết, giá cả…).

- Giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng phần nào đến tiếp cận dịch vụkhuyến nông Nhìn chung, những chủ hộ là nam giới thì thường mạnh dạnhơn những hộ là nữ, nam giới thường quyết đoán và mạo hiểm hơn, dám làm,dám chịu… Nữ giới thường thận trọng hơn, không dám mạo hiểm Như vậy,chủ hộ là nữ thường khó khăn trong việc tiếp cận khuyến nông, đặc biệt làviệc áp dụng các mô hình sản xuất mới

- Nội dung và chất lượng của các dịch vụ khuyến nông Các chươngtrình, dự án, hoạt động khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu của nông dân,phù hợp với khả năng của họ, các nguồn hỗ trợ tuy ít nhưng có chất lượngmới đảm bảo uy tín và khích lệ nông dân tham gia

- Cơ chế chính sách: Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô, ngoàicác chính sách về khuyến nông thì các chính sách khác có liên quan như,chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế cũng có những tácđộng ảnh hưởng đến họat động khuyến nông [VUFO – Trung tâm tư liệuNGO (11/2004), các vấn đề về giới và dân tộc thiểu số trong khuyến nông.NXB Hà Nội]

- Điều kiện tự nhiên: Các vùng miền núi, trung du do điều kiện địa hìnhkhó khăn, nông dân ở đây trình độ thấp, khả năng tiếp cận thấp hơn ở cácvùng đồng bằng Điều kiện tự nhiên là yếu tố mang tình chất khách quan, cáchoạt động sản xuất nông nghiệp đều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện thờitiết, khí hậu, do đó các chương trình dự án khuyến nông có đạt hiệu quả caohay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết tốt hay xấu

Trang 18

- Phong tục tập quán: Đây là một yếu tố mang tính truyền thống ở cácđịa phương, nếu một chương trình dự án khuyến nông triển khai không phùhợp với phong tục tập quán và điều kiện sản xuất của địa phương thì sẽ rất dễ

bị thất bại Các phong tục tập quán cần chú ý là tập quán canh tác, chăn nuôi,tập quán tổ chức sản xuất, sử dụng các yếu tố như đất đai, lao động, quản lýtrong hộ

- Nguồn vốn cho hoạt động khuyến nông:Vốn là nhân tố rất quan trọngcần thiết cho sản xuất, các chương trình được triển khai cũng cần có đủ vốn

để thực hiện, đặc biệt với người nông dân họ rất cần vốn để đưa tiến bộ kỹthuật mới vào sản xuất

Thứ hai, điều kiện địa hình: Địa hình cao quá hay thấp quá thì nông dânkhó có thể có cơ hội tiếp cận được với dịch vụ thủy lợi vì nước không thể lênđến những nơi cao hoặc nếu có lên đến những nơi có thì những người córuộng ở trũng sẽ bị ngập lụt Do vậy địa hình cũng gây khó khăn cho khảnăng tiếp cận dịch vụ thủy lợi của hộ nông dân

Thứ ba, cơ sở vật chất tại địa phương: Cơ sở vật chất ở đây bao gồm hệthống máy bơm, hệ thống mương máng và những trang thiết bị khác phục

vụ cho việc cấp nước và thoát nước tại địa phương Cơ sở vật chất tốt sẽ đảm

Trang 19

bảo chất lượng dịch vụ được tốt hơn, người dân sẽ được tiếp cận với dịch vụthủy lợi dễ dàng hơn Ngược lại nếu cơ sở vật chất kém, máy bơm công suấtkém, hệ thống mương máng chưa được bê tông hóa… sẽ làm cho chất lượngdịch vụ kém hiệu quả, người dân không được cấp đủ và thoát nước khôngđúng lúc gây ảnh hưởng đến việc sản xuất của người dân.

c Dịch vụ cung cấp thông tin

Khả năng tiếp cận thông tin của hộ nông dân là mức độ nông dân có thể

có những khả năng nào hay cách nào để đến gần nắm bắt và luận giải cácthông tin đó Hiện nay nông dân có rất nhiều khả năng để tiếp cận thông tinthông qua các dịch vụ cung cấp thông tin như: Tiếp cận qua báo chí, tiếp cậnqua các kênh truyền thanh, truyền hình, qua Internet…Tuy nhiên, không phải

hộ nông dân nào cũng tiếp cận được với các dịch vụ cung cấp thông tin và sửdụng những thông tin có hiệu quả nhất Sau đây là một số yếu tố ảnh hưởngđến khả năng tiếp cận dịch vụ cung cấp thông tin của hộ nông dân:

- Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn: Đây là yếu tố rất quan trọngđánh giá trình độ của nông dân và mức độ tiếp cận cũng như xử lý các thôngtin Thông thường những người có trình độ học vấn cao thường sẽ quan tâmnhiều hơn đến các hệ thống thông tin hơn là những người có trình độ thấp.Những người có trình độ học vấn cao sẽ có cơ hội tiếp cận được với cácnguồn thông tin từ sách báo, đài, ti vi…và các kênh thông tin khác

Đặc biệt những người có trình độ chuyên môn cao thì thường có xuhướng sản xuất lớn theo hướng hàng hóa Có thể họ sản xuất trang trại hoặckinh doanh lớn Những người này thường có xu hướng tìm hiểu về thông tinthị trường sản phẩm của mình hơn những người khác Họ có điều kiện tiếpxúc về trình độ chuyên môn cùng với thông tin thị trường mà họ tìm hiểu giúp

họ có những quyết định đúng đắn trước, trong và sau quá trình sản xuất sảnphẩm

Trang 20

- Cơ sở vật chất và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và gia đình:Một địa phương có điều kiện kinh tế xã hội phát triển và hệ thống cơ sởvật chất đầy đủ, đó là địa phương có thể cung cấp các dịch vụ như truyềnthanh, bưu điện, lắp đặt internet, xây dựng thư viện, đầu tư cho công táckhuyến nông khuyến lâm, xây dựng đường giao thông… Một khi cơ sở hạtầng đầy đủ thì nông dân sẽ có khả năng cao hơn trong việc tiếp cận với hệthống thông tin.

Điều kiện kinh tế gia đình đảm bảo, tức là gia đình có thể mua sắm cáctrang thiết bị phục vụ nghe nhìn trong gia đình cũng như tiếp cận với sách báo

và các nguồn thông tin khác Với điều kiện như thế, những người trong giađình có điều kiện và khả năng nhiều hơn trong tiếp cận các thông tin

- Hệ thống kênh thông tin và chất lượng truyền bá thông tin thị trườngcho nông dân trong địa phương:

Nếu chính quyền địa phương quan tâm đến hệ thống thông tin cho nôngdân, trang bị đầy đủ hệ thống kênh thông tin cho nông dân thì người nông dân

có khả năng tiếp cận thông tin cao hơn Bên cạnh đó, hệ thống thông tin cungcấp cho nông dân có chất lượng cao, thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thờicho nông dân thì sẽ thúc đẩy họ tìm đến thông tin nhiều hơn, họ sẽ có khảnăng tiếp cận đến dịch vụ cung cấp thông tin cao hơn

- Nhận thức của bản thân nông dân về vấn đề sản xuất và tiêu thụ nông sản:Sản xuất là khâu cốt lõi của quá trình sản xuất, một yếu tố quan trọng

đó là nhận định của bản thân nông dân về vấn đề này Khi nông dân chorằng sản xuất là để bán thì họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến các thông tin về kỹthuật sản xuất, thông tin về đầu vào cũng như thông tin về thị trường đầu ra.Nếu nông dân sản xuất để tiêu dùng trong gia đình thì họ ít quan tâm đến thịtrường đầu ra mà chỉ quan tâm đến vấn đề thông tin thị trường đầu vào và kỹ

Trang 21

thông tin về kỹ thuật sản xuất Và khi đó khả năng tiếp cận thông tin của họcũng bị ảnh hưởng.

Tiêu thụ là khâu quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh Tuynhiên, đối với nông dân nói chung thì khâu này không đạt lợi ích tối ưu nhất.Người nông dân thông thường sản xuất nhỏ lẻ, thường chỉ sản xuất những sảnphẩm mà gia đình cần cho tiêu dùng, nếu thừa mới đem bán Nếu sản xuấthàng hóa thì cũng chỉ là sản xuất theo nhau hoặc theo chỉ đạo của Hợp tác xã

mà không có sự chủ động Chính cách sản xuất này của nông dân đã dẫn đếntình trạng tiêu thụ ồ ạt theo mùa vụ, không có người mua, giá cả thấp, bán chothương lái, gặp mua thì bán rất ít có hợp đồng, bị ép giá… Chính vì vậy, việcnâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho nông dân là việc rất quan trọng, nó

có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân

d Bảo vệ và quản lý rừng

Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộcsống cho các cộng đồng dân cư thôn bản Công tác bảo vệ rừng phải được tiếnhành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thunhập cho cộng đồng dân cư thôn bản trên địa bàn Mấu chốt của vấn đề bảo

vệ rừng vừa là bảo vệ tài nguyên rừng vùa giải quyết tốt vấn đề nâng cao chấtlượng cuộc sống cho cộng đồng

Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cưthôn bản thì sẽ không thành công Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng caotrách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn bản trong bảo vệrừng là rất cần thiết Để công tác bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao thì phải cóchính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cưthôn, bản

Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạonên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài

Trang 22

nguyên thiên nhiên Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng đểquản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyềnthống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bềnvững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [14].

Khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nôngnghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên nhiều tác giả đã khẳng định tầmquan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [20].Chính những cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất vềtài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mốiquan hệ kinh tế - xã hội trong cộng đồng của họ Họ biết, phát triển nhữngloài cây trồng, vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinhthái của địa phương

Ngày nay ở Việt Nam, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã đượcnhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyênthiên nhiên vùng cao Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đềuđược tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyênnhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương chobảo vệ, phát triển và sự dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sựphồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng

Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tàinguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau Nó phụ thuộc vàođặc điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước,vào những quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ýthức tôn giáo, nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dânv.v Trong nhiều trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làmsáng tỏ đầy đủ Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải phápquản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi nhóm dân

Trang 23

tộc cùng toàn bộ phức hệ các điều kiện tồn tại của họ vẫn đang được đặt ranhư một trong những nhiệm vụ cấp bách ở Việt Nam.

Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 [7][13] cả nước có 10.006 cộng đồngdân cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đangquản lý và sử dụng 2.792.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đấtlâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất córừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%) Diệntích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đấtquy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tíchđất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừngcủa cả nước (12.873.815 ha) Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộngđồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%,rừng trồng chỉ chiếm có 4% Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặcdụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29% Cộng đồng quản lý và sử dụng đấtlâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau:

- Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn địnhlâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sauđây gọi tắt là giao) với diện tích 1.643.251,2 ha tương đương 58,8% diện tíchđất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng

- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu

đời nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợppháp nào, gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9%

Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấplâm sản truyền thống cho cộng đồng

- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng

Trang 24

hộ…) được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo

hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích902.662,7 ha tương đương 32,3%

Ngoài ra, hiện nay còn có một hình thức hình thành rừng và đất rừngcộng đồng ở Việt Nam khác nữa đó là các hộ gia đình trong một thôn tựnguyện góp rừng và đất lâm nghiệp đã được giao của hộ gia đình trở thànhrừng và đất rừng dưới hình thức quản lý của cộng đồng nhằm thực hiện các

dự án do chính phủ hoặc nước ngoài hỗ trợ Hình thức này ban đầu cũng đượccoi là hình thức quản lý rừng cộng đồng nhưng cộng đồng ở đây bao gồmnhững thành viên có rừng và đất rừng tham gia đóng góp tự nguyện

e.Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo vệ và quản lý rừng

+ Ý thức: Về nhận thức và ý thức của người dân cho rằng tài nguyên

rừng còn nhiều, việc khai thác cứ tự do chẳng ai có thể cấm được người dânkhai thác để phục vụ nhu cầu của gia đình Họ cho rằng cây rừng, con thútrong rừng tự nhiêm mà có, không ai trồng mà cũng chẳng ai nuôi do đó họ cóthể khai thác Trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2003 khi thực hiệnchính sách giao khoán bảo vệ rừng tới các hộ dân và tăng cường công táctuyên truyền thì nhận thứ và ý thứ của người dân đối với rừng thay đổi nhưngchủ yếu là các hộ nhận khoán bảo vệ rừng, còn các hộ không nhận khoán bảo

vệ rừng vẫn săn bắt động vật rừng, khai thác rừng mặc dù lực lượng kiểm lâmtruy quét mạnh Khi các tổ bảo vệ rừng được thành lập và hoạt động rừngđược thực hiện, thì đã tăng cường công tác tuyên truyền tới mọi người dân vềcông tác bảo vệ rừng và đất rừng, bảo tồn đa dạng sinh học thì phần lớn các

hộ dân đều có sự thay đổi căn bản về ý thức và nhận thức về rừng

Hiện nay họ cho rằng tài nguyên rừng dù nhiều đến mấy mà khai tháckhông bền vững, khai thác nhiều cây to cũng chẳng kịp khi mà người dânngày một đông, nhu cầu lớn, khai thác rừng theo kiểu hàng hóa như thế thì chỉ

Trang 25

có làm cho tài nguyên rừng suy giảm nhanh chóng nên họ ý thức cho việc bảo

vệ rừng, họ khai thác rừng ít hơn Tuy nhiên, nhiều người do điều kiện hoàncảnh kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nhận thức thì có nhưng ý thứckhông được tốt, vẫn khai thác lén lút gây ảnh hưởng không nhỏ tới công tácbảo vệ

+ Kinh tế: Hỗ trợ về vốn là không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động

phát triển kinh tế nào trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là đối với các hộgia đình ở vùng núi Kết quả cho thấy đa số các hộ dân đều mong muốn đượcNhà nước hỗ trợ vốn để sản xuất nông - lâm nghiệp Hiện nay nhiều gia đìnhtrong xã có đất đai và mong muốn phát triển một số loại cây trồng, vật nuôi

có hiệu quả kinh tế cao như trồng cây hồi, cây ăn quả nhưng do thiếu vốnnên không thực hiện được Để góp phần khắc phục tình trạng thiếu việc làmdẫn đến gia tăng các hoạt động xâm hại đến tài nguyên rừng, cần hỗ trợ vốncho người dân phát triển kinh tế xã hội như: mở rộng mức tín dụng, tăng vốnvay trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn cho nhân dân trong phát triểnnông - lâm nghiệp; nâng mức đầu tư cho các hoạt động về các lĩnh vực trồngrừng khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng nhằm nâng cao mức thu nhập chongười lao động lâm nghiệp, khuyến khích người dân tích cực tham gia vàocác hoạt động phát triển lâm nghiệp

Lồng ghép công tác bảo tồn với các hoạt động phát triển kinh tế Hiệnnay Rừng Mẫu sơn mới chỉ tập trung vào quản lý bảo vệ rừng chưa chú ý đếnkhai thác tiềm năng du lịch để cải thiện đời sống người dân

Đối với xây dựng cơ sở hạ tầng, ngoài vốn hỗ tợ của Nhà nước, xã cần

có các hoạt động nhằm tại ra các nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng,trước mắt ưu tiên phát triển giao thông và thông tin liên lạc

Trang 26

+ Xã hội: Theo Luật Đất đai mới năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được

Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tưcách là người sử dụng đất

Luật BV&PTR mới năm 2004 có một mục riêng quy định về giao rừngcho cộng đồng dân cư thôn; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thônđược giao rừng

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ

về thi hành Luật đất đai (Nghị định 181) quy định cộng đồng dân cư thônđược giao đất rừng phòng hộ với các quyền chung như hộ gia đình và cá nhânđược giao đất lâm nghiệp nhưng cộng đồng dân cư thôn không được chuyểnđổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thếchấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Luật Dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộngđồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản đượchình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp

và cùng quản lý, sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng

Các Quyết định, Nghị định và thông tư của Bộ NN&PTNT:

Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cưthôn Trong đó có hướng dẫn cụ thể về các căn cứ, điều kiện và trình tự thủtục giao rừng cho cộng đồng (chương II), quyền lợi và nghĩa vụ của cộngđồng được Nhà nước giao rừng (chương V), việc lập kế hoạch quản lý rừngcộng đồng, xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, xây dựngquỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, tổ chức quản lý và giám sát đánh giáviệc thực hiện (Chương III,IV,VI,VII)

Thông tư số 38/2007/TT -BNN ngày 24/5/2007 của Bộ trưởng Bộ nôngnghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho

Trang 27

thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồngdân cư thôn Cụ thể là ở mục II phần 5 có hướng dẫn trình tự, thủ tục giaorừng cho cộng đồng dân cư thôn Cộng đồng dân cư thôn tiến hành họp thôn

để thông qua và thống nhất đơn đề nghị Nhà nước giao rừng cho cộng đồng,thông qua kế hoạch quản lý khu rừng sau khi được Nhà nước giao rừng Cộngđồng dân cư thôn nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân xã saukhi nhận được hồ sơ của cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm thẩm tra điềukiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, kiểm tra thực địa khu rừng dự kiệngiao, xác nhận đơn của cộng đồng dân cư thôn và chuyển lên cơ quan chứcnăng cấp huyện Cơ quan cấp huyện sau khi nhận được hồ sơ từ xã chuyển lên

có trách nhiệm xác định đặc điểm khu rừng, lập tờ trình trình Ủy ban nhândân huyện về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Ủy ban nhân dân cấphuyện xem xét và quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Ủy bannhân dân cấp xã và cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm thực hiện quyếtđịnh giao rừng

Công văn số 2324/ BNN – LN ngày 21/8/2007 của Cục Lâm nghiệp vềhướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng

Quyết định số 434/QĐ –QLR ngày 11/4/2007 của Cục trưởng Cục Lâmnghiệp ban hành bản hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triểnrừng cấp xã và Hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho cộngđồng dân cư thôn Trong đó nêu rõ nguyên tắc giao rừng cho cộng đồng; căn

cứ vào điều kiện giao rừng cho cộng đồng; khu rừng và loại rừng giao chocộng đồng, trình tự và thủ tục giao rừng cho cộng đồng

Như vậy, đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bảncho quản lý rừng cộng đồng, được thể hiện trong 2 bộ luật lớn, đó là Luật Đấtđai năm 2003, Luật BV&PTR năm 2004 và các văn bản chính sách khác.Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn bản sau đây:

Trang 28

- Thứ nhất, cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư

cách pháp nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗicộng đồng và đối tượng rừng được giao hay nhận khoán

- Thứ hai, cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán

rừng lâu dài khi đáp ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hànhnhư: Khu rừng hiện cộng đồng dân cư thôn đang quản lý sử dụng có hiệu quả;Khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho lợi ích chung của cộng đồng;Khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không thể giao cho tổ chức, hộgia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi íchcủa cộng đồng

- Thứ ba, cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng

theo quy định của pháp luật như: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổnđịnh, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản

và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thànhviên trong cộng đồng; Được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp, ngư nghiệpkết hợp; Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừngđược giao; Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách củanhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các côngtrình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; Được bồi thường thành quả laođộng, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi nhà nước có quyết địnhthu hồi rừng

- Thứ tư, cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo

quy định của pháp luật như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng; Tổchức bảo vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩmquyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng;Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của phápluật; Giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời

Trang 29

hạn giao rừng; Không được phân chia rừng cho các thành viên trong cộngđồng dân cư thôn; Không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, chothuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừngđược giao.

Nhìn chung các cơ sở pháp lý trên đây đã thể hiện sự quan tâm của Nhànước đối với việc quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Các cơ sở pháp lýtrên đã góp phần rất tích cực trong việc hỗ trợ và tạo ra một hành lang pháp lýđảm bảo cho các hoạt động quản lý rừng cộng đồng

Hiện nay, ở đây vẫn còn một bộ phận người dân coi “ rừng là nguồn tàinguyên vô tận” và còn có tư tưởng cho rằng “ bảo vệ rừng là của kiểm lâm”hay trách nhiệm là của tổ bảo vệ rừng và Chủ tích xã” Để nâng cao nhậnthức của người dân về vai trò quan trọng của rừng và về quản lý rừng thì mộttrong những giải pháp quan trọng là tăng cường tuyên truyền, giáo dục chonhân dân, bằng cách mở các đợt tuyên truyền thường xuyên, liên tục, sâu rộngtới mọi tổ chức, thôn bản và hộ gia đình, cá nhân về tác dụng của rừng, luậtbảo vệ và phát triển rừng, pháp lệnh hành chính để nâng cao nhận thức vềquản lý bảo vệ tài nguyên rừng của mọi người dân

Nhìn chung, quản lý bảo vệ rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng làmột vấn đề tổng hợp mà phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sáchvào điều kiện thực tế của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy không thểsao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiênviệc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học thành công hay thất bại cảtrong nước và nước ngoài là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâmnghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý là phải cónhững nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xâydựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng

+ Khả năng tiếp cận thị trường:

Trang 30

Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế, yêu cầu đặt ra đối vớingười dân nói chung và người dân nông thôn nói riêng là cần phải nắm vữngnhững kiến thức về thị trường và cách tiếp cận thị trường, đặc biệt là thịtrường nông lâm sản Vì thế cán bộ khuyến nông xã cần được trang bị nhữngkiến thức sau: Thứ nhất, các kỹ năng, nhất là kỹ năng đánh giá nhu cầu củanông dân về KN Thứ hai, phương pháp và nội dung truyền đạt làm sao đểgiúp nông dân hiểu được không chỉ về tiến bộ KHKT mà cả về kiến thứckinh tế - xã hội và thị trường Thứ ba, cách xây dựng và lập kế hoạch pháttriển kinh tế hộ nông dân Thứ tư, kỹ năng quản lý nhóm và tổ chức cộngđồng Để làm được điều này cần thực hiện các nội dung: Phương phápkhuyến nông có sự tham gia; Cách lập kế hoạch xây dựng và phát triển kinh

tế hộ nông dân; Tiếp cận thông tin thị trường; Quản lý kinh doanh trongtrang trại và hộ sản xuất

Thị trường là một trong những yếu tố quan trọng cơ bản trong chiến lượcsinh kế của hầu hết các hộ nông dân.Thị trường là nơi người sản xuất nóichung và người nông dân nói riêng mua các loại vật tư đầu vào và bán sảnphẩm đầu ra (cây trồng vật nuôi) họ sản xuất được Thị trường cũng là nơi màngười mua tiêu dùng mua lương thực, thực phẩm thiết yếu và các loại hànghoá thiết yếu cho sinh hoạt gia đình Riêng trong nông nghiệp, mục tiêu củasản phẩm nông sản được sản xuất là được đến tay người tiêu dùng thông quathương mại hoá Và như vậy, thị trường được coi là một bước trung gian, đểchuyển tải hàng hoá từ nhà sản xuất đến tiêu dùng Rất nhiều phụ người dânnhận ra rằng nguyên nhân làm cho họ khó có thể cải thiện nâng cao đời sốngcủa gia đình mình đó là tiếp cận thị trường Hậu quả đem lại vịêc thiếu khảnăng tiếp cận thị trường là lượng sản phẩm giao dịch mua vào bán ra thấp,không đúng đối tượng mà họ cần mua hoặc bán từ đó dẫn đến:

- Năng suất và sản lượng cây trồng vật nuôi thấp

Trang 31

vi rộng.

Trước những bối cảnh và yêu cầu như trên thì việc nâng cao năng lựctiếp cận thị trường cho người dân nông thôn là một việc làm cần thiết và quantrọng Hiểu biết càng nhiều về thị trường thì người người dân nông thôn càng

có nhiều cơ hội giảm giá đầu vào, tăng giá bán đầu ra góp phần cải thiện cuộcsống cho chính gia đình họ và tăng trưởng kinh tế của nước nhà ngày cànggiàu mạnh văn minh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển về năng lực tiếp cận thị trường trong phát triển kinh tế xã hội cho người nông dân

Hiện nay, toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ, bởi vậy việc học tập

và áp dụng theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển là một yêu cầu cầnphải thực hiện ngay Dưới đây là một bài báo nói về kinh nghiệm nâng caonăng lực tiếp cận thị trường cho người dân Uganda Đây là một nước nằm ởđông phi với diện tích: 236.040 km2, dân số 30,2 triệu người( 2006) Nôngnghiệp là lĩnh vực quan trọng của đất nước, thu hút trên 80% lực lượng lao

Trang 32

động Sản phẩm chính trong nông nghiệp là cafê, chè, ngô, chuối, đường.Ngoài ra Uganda còn có thế mạnh về chăn nuôi gia súc và đánh bắt cá Đây làmột nước trước kia là thuộc địa của anh và có nền kinh tế kém phát triển Phụ

nữ nơi đây trước cũng phải chịu nhiều phong tục và luật lệ hà khắc truyềnthống Tuy nhiên hiện nay đất nước này đang có nhiều thay đổi đáng kể đểphát triển đất nước, điển hình là việc đưa công nghệ cao về với người nôngthôn Với công nghệ cao mà người dân được tiếp cận thì việc áp dụng vào sảnxuất đã giúp họ đạt được những kết qủa đáng khích lệ và cải thiện đời sốngnâng cao trình độ và mức sống của họ

Từ thông tin này ta có thể thấy đây là kinh nghiệm rất hay và có triểnvọng nhất là trong thời đại thông tin ngày càng phát triển như hiện nay

Trung tâm Nakáeke Telecentre, trụ sở nằm cách thủ đô Kampla củaUganda 50 km về phía Bắc, vừa ra mắt CD- ROM tương tác dành cho phụ nữ

ở nông thôn Giờ đây nhiều chị em nông dân đã giỏi nhờ sử dụng CD này.Điều phối viên của Telecentre, bà Rita Mijumbi cho biết: “Trên Internetkhông có nhiều thông tin liên quan đến đời sống và tình hình sản xuất của nhànông Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi cho ra đời CD-ROM này” Đĩa CD đãđưa ra lời khuyên thực tế dành cho chị em nông dân về biện pháp tăng sảnlượng thu hoạch và quản lý tổ công việc chăn nuôi Nó còn nêu ra những ýtưởng về việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mới, cách hợp tác là việc với bạn

bè hay hàng xóm để có được nhiều thứ hơn ngoài những mảnh ruộng nhỏ.Theo bà Mijumbi, đa số nông dân Uganda có trình độ học vấn hạn chế, thậmchí có người không biết đọc Vì thế CD-ROM này có cả lời, giúp họ ngheđược Khi lần đầu sử dụng máy tính, nhiều chị em sợ làm hỏng máy nên mộtthời gian khá dài họ mới làm quen được Và đến nay nhiều người đã là kháchhàng thường xuyên của Telecentre và tỏ ra thích thú khi được biết nhiều nghềnông Kể từ khi được giới thiệu, CD này đã đem lại thành công lớn và cải

Trang 33

thiện đáng kể mức sống của những người sử dụng nó Ngoài ra Telecentrecòn hướng dẫn nông dân cách định giá từ những lái buôn Nay tại trung tâmnày họ có thể theo dõi thông tin ở Kampala để từ đó xác định giá bán mộtcách phù hợp.

Từ thông tin trên ta thấy được một thực tế đó là người nông dân ViệtNam có nhiều đặc điểm giống với người nông dân Uganda như trình độ họcvấn chưa cao, chịu nhiều thiệt thòi do sống một thủ tục lạc hậu, tham gia sảnxuất nông nghiệp chủ yếu Do vậy cách đưa thông tin về giá cả thời tiết cáchtăng sản lượng thu hoạch qua những đĩa CD- ROM có cả hình và lời là mộtsáng kiến độc đáo và hiệu quả cho phụ nữ nông thôn Kinh nghiệm này có thểnói là rất phù hợp và nên được áp dụng ở nông thôn Việt Nam

1.2.2 Tiếp cận thị trường và phát triển kinh tế xã hội cho người dân nông thôn ở nước ta

Khu vực nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam có vai trò quan trọng trongnền kinh tế đất nước Đây là khu vực trọng điểm, quan trọng trong chiến lượcgiảm đói nghèo của quốc gia Phát triển nông nghiệp đồng nghĩa với việcnâng cao đời sống người dân trong khu vực nông thôn Trước kia khái niệmtiếp cận thị trường còn khá mới mẻ đối với nông dân nước ta Tuy nhiên trongnhững năm gần đây đặc biệt là từ khi hội nhập kinh tế quốc tế thì kiến thức vềthị trường cho người nông dân được chú trọng Thực tế nước ta cũng có rấtnhiều bài học thất bại từ việc thiếu hiểu biết về thị trường của nông dân nhưviệc bị kiện của Mĩ về bán phá giá cá Ba Sa, bán phá giá cà phê, cà phê trungnguyên bị nước khác đăng ký bản quyền…vv Những vấn đề đó khiến chonông dân nước ta bị thiệt hại nặng nề Nhận thấy được tầm quan trọng củaviệc tiếp cận thị trường nên mấy năm qua nước ta có nhiều hoạt động cụ thể

đã diễn ra nhằm nâng cao khả năng cũng như năng lực tiếp cận thị trường cho

Trang 34

mọi đối tượng người dân Việt Nam nói chung và người dân nông thôn nóiriêng đặc biệt chú ý và bồi dưỡng đối tượng người nghèo vv.

Cụ thể chính phủ Việt Nam đã ban hành quyết định số 80/2002/QD-TTngày 24/6/2002 về chính sách tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợpđồng Thông qua quyết định này, chính quyền địa phương ở các tỉnh đã chútrọng thúc đẩy sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân như đề ra chínhsách liên kết bốn nhà, xây dựng và triển khai các đề án và tổ chức lại sản xuất,gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ Tuy nhiên phương thức sản xuất theohợp đồng nhìn chung vẫn còn chưa phổ biến với đa số nông dân nước ta.Năm 2007 Bộ NN và PTNT và chương trình PT liên hợp quốc(UNDP)

đã khởi sướng một kế hoạch nhằm phổ biến những thông tin về giá cả nôngsản, thời tiết, các thông tin về thị trường nông sản trong nước và thế giới cóthể tham khảo thông tin khoa học và công nghệ nông nghiệp tiên tiến trên thếgiới Để biết được thông tin này nông dân sẽ phải đến các trung tâm thông tin

cơ sở

Dự án gắn kết người nông dân sản xuất nhỏ với thị trường do quỹASIAN tài trợ được triển khai tại Philipine, Campuchia, Việt Nam nhằm nângcao kiến thức, kỹ năng cho lãnh đạo, cán bộ và nông dân của tổ chức nôngdân trong tiếp cận thị trường

Tất cả những hoạt động trên đã và đang được áp dụng ở Việt Nam vàcần phải được mở rộng hơn nữa để nông dân, người nghèo có thể tăng thunhập cho gia đình, cải thiện cuộc sống, hướng tới một nền sản xuất hàng hoárộng lớn và phát triển hơn

Tóm lại việc nâng cao khả năng tiếp cận và khả năng nhận thức về thịtrường cho phụ nữ hiện nay đã và đang đạt được những thành tựu và kết quảđàng khích lệ Tuy nhiên nó vẫn chưa thực sự là chìa khoá mở ra con đường pháttriển cho xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta

Trang 35

phải làm sao biến việc nâng cao năng lực tiếp cận thị trường để là bước đột phá

để họ có thể làm giàu cho mình và cho xã hội phát triển một cách bền vững đểcho họ có khả năng phát triển đa diện Nói vậy nhưng việc làm này là khó nêncần được sự giúp đỡ của Đảng chính phủ Việt Nam đồng thời cần sự giúp đỡ củabạn bè thế giới họ đã có kinh nghiệm để giúp người dân nông thôn Việt Nam có

đủ trình độ để tiếp thu những kiến thức mới và tiên tiến

1.3.Phương pháp nghiên cứu và đánh giá

1.3.1 Các vấn đề mà đề tài cần giải quyết

Việc nâng cao năng lực tiếp cận tiếp cận thị trường hộ nông dân có ýnghĩa rất quan trọng với phát triển sinh kế và CNH – HĐH nông nghiệp, nôngthôn vì tham gia tiếp cận và sử dụng một cách tốt nhất các dịch vụ công này,tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng như hiểubiết hơn về thông tin thị trường, giúp sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao.Mục tiêu là nhằm đánh giá đúng thực trạng về tiếp cận thị trường của hộ nôngdân, những yếu tố vị trí và khoảng cách địa lý, đặc điểm sinh sống của ngườidân có gì khác nhau? Để có những căn cứ đánh giá tác động của việc nghiêncứu ảnh hưởng đến người dân thì các vấn đề mà tác giả cần tập trung giảiquyết là:

1.Kết quả của việc nghiên cứu có tác dụng gì đến sinh kế của người dântrong khu vực rừng?

2.Thu nhập của nhóm hộ ở vùng lõi và nhóm hộ vùng ven rừng có gìkhác biệt không?

3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài nguyên rừng?

4 Đánh giá những tác động và áp lực của người dân vào việc khai tháctài nguyên rừng

5 Đánh giá hiệu quả của các hình thức quản lý rừng tại địa phương?

Trang 36

6 Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm thu hút người dân tham giaquản lý bảo vệ tài nguyên rừng.

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

a. Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng đểthu thập các thông tin nhằm hệ thống hoá và tóm tắt về cơ sở lý luận và cơ sởthực tiễn có liên quan đến đề tài này Ngoài ra tác giả còn thu thập số liệu thứcấp tại phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Tài nguyên và môi trường, phòngthống kê và các phòng ban khác ở huyện Cao Lộc, Ban quản lý rừng Mẫu sơn

để sử dụng trong phân tích Nguồn gốc của các tài liệu này đều được chú thích

rõ ràng sau mỗi biểu số liệu

Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Chọn mẫu điều tra trong khu vựcnghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Phỏng vấn trực tiếp chủ

hộ bằng các câu hỏi đã được chuẩn bị trước và in sẵn Thu thập các thông tin sơcấp tại 105 hộ nông dân trên địa bàn xã Công sơn, xã Hải Yến, xã Hợp thành

để làm đối chứng

* Mục tiêu chọn mẫu điều tra

Mục tiêu của hoạt động điều tra thực địa nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện

và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, các hoạt động sản xuất kinh doanh, tư tưởng, ý thức của các hộ trong việc trồng và bảo vệ rừng thuộcđịa bàn nghiên cứu để từ đó có thể chỉ ra những tác động, thay đổi và đề xuấtmột số giải pháp nhằm cải thiện đời sống cho người dân, thu hút người dântham gia vào quản lý bảo vệ rừng bền vững

-* Cơ sở chọn mẫu điều tra

Lựa chọn xã Công sơn (vùng lõi), xã Hải Yến, xã Hợp thành ( vùngven), để tác giả so sánh mức độ phụ thuộc vào rừng để cải thiện đời sống.Hơn nữa, việc lựa chọn 3 xã gần nhau để tránh hiện tượng sai khác về địa lý

Trang 37

Mặt khác các nguồn lực kinh tế, xã hội, con người ở các xã là tương đồngnhau nên có ý nghĩa trong việc đánh giá kết quả nghiên cứu.

Khả năng tiếp cận thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quantrọng đối với khu vực miền núi đó là khoảng cách địa lý vì thế đề tài lựa chọn

3 xã theo lát cát dọc từ khu vực trung tâm (xã Hợp Thành) khu vực giữa (xãHải Yến) và khu vực xa trung tâm (xã Công Sơn) để đại diện cho các khảnăng tiếp cận thị trường khác nhau

Số liệu điều tra sơ cấp được tác giả thu thập trên thực địa thông qua cácphương pháp sau:

* Phương pháp phỏng vấn cấu trúc:

Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đãđiều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếpmột thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình Điều này đảm bảolượng thông tin có tính đại diện và chính xác Chúng tôi phỏng vấn thử 10 hộtheo bộ mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước Sau đó xem xét bổ sung phầncòn thiếu và loại bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi Câu hỏi đượcsoạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏiphục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:

1 Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình

2 Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ

3 Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên khác của hộ

4 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập của hộ

5 Nhóm thông tin về hiện trạng sử dụng các nguồn lực tự nhiên từ rừng quốcgia, rừng trồng của hộ

* Phương pháp quan sát trực tiếp

Trang 38

Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế Tác giả có thêm các thôngtin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông quaghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan.

b. Phương pháp xử lý thông tin

Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật

và tính toán tùy theo mục đích nghiên cứu, phân tích của đề tài trên chươngtrình Excel 2007 của Microsoft

Sử dụng phần mềm xử lý thống kê xã hội SPSS 15.0 (Statistical Package For Social Sciences) để xử lý thống kê và xem xét mối tương quan

giữa các chỉ tiêu nghiên cứu đồng thời kiểm định các giả thiết thống kê địnhlượng, định tính trong mô hình phân tích

c. Phương pháp phân tích đánh giá

Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiệntượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng pháttriển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phươngpháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếuđiều tra hộ

Phương pháp phân tích so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu sốtương đối nhằm chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu.Phương pháp này dùng để so sánh sự sự khác nhau về thu nhập từ các ngànhnghề khác nhau, cơ cấu thu nhập giữa các hộ

Phương pháp phân tổ thống kê: Mục tiêu của việc phân tổ trong nghiêncứu là làm cho sự đồng nhất trong cùng một nhóm và sự khác biệt giữa cácnhóm tăng lên Tác giả đã phân tổ các hộ điều tra theo tiêu chí: tiến hành phântích đánh giá xem có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêunghiên cứu giữa các hộ như: Đất đai, thu nhập bình quân, tuổi bình quân củachủ hộ Ngoài ra, tác giả còn phân tổ số liệu theo các tiêu chí định tính:

Trang 39

Trình độ văn hoá đánh giá mức độ các hoạt động gây ô nhiễm tại địaphương của chủ hộ để phân tích đánh giá các yếu tố theo đa chiều [18].Phương pháp dự báo: Dự báo xu thế biến động của các hiện tượng kinh

tế xã hội cho tương lai Đó là dự báo về thu nhập từ rừng và thu nhập từ cácnguồn thu khác do đặc thù của từng xã

d. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Tham vấn ý kiến của các bên liên quan, đặc biệt ý kiến của các chuyêngia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực duy trì và phát triển bền vững tài nguyênthiên nhiên, chuyên môn về kinh tế - xã hội để xây dựng phương pháp và tổchức điều tra đạt kết quả cao

e. Một số công cụ sử dụng trong nghiên cứu

Sử dụng các chỉ số (Indicators) để đánh giá, so sánh sự biến động củađối tượng nghiên cứu trong cùng một khu vực giữa và trong cùng một thờiđiểm giữa các hộ

Sử dụng phần mềm SPSS 15 để xử lý số liệu thống kê, tính toán các chỉtiêu như: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai và để kiểm định cácchỉ tiêu phân tích định tính và định lượng trong đề tài nghiên cứu

f Hệ thống chỉ tiêu phân tích đánh giá

- Đánh giá về thu nhập

 Tính toán thu nhập năm2010 của các hộ từ các nguồn khác nhau:

• Nông nghiệp: Thu nhập từ các hoạt động trồng trọt bao gồm: Lúa, hoa màu,cây ăn quả, cây hồi và thu nhập từ các hoạt động chăn nuôi như: Gia súc, giacầm, thủy sản

• Ngành nghề tự do: nấu rượu, sửa chữa xe máy

• Thu nhập từ công việc không thường xuyên: Thợ xây, gánh gạch, khai thácnhựa thông, thương mại, dịch vụ…

Trang 40

• Thu nhập từ nghề làm công ăn lương: Công nhân, giáo viên, công chức nhànước

• Thu nhập từ rừng: Gỗ, củi đốt, nhựa thông, các lâm sản ngoài gỗ như nấm,măng, tre, nứa, song, dược liệu, rau rừng, mật ong …vv

 Thông qua việc nghiên cứu các nguồn thu nhập giữa các hộ, tác giả phân tích

để thấy được sự khác biệt trong cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ với cùngđiều kiện nguồn lực như nhau Với mục tiêu chính là phát triển kinh tế hộ giađình kết hợp với việc nâng cao nhận thức bảo vệ và phát triển rừng, dần loại

bỏ sự phụ thuộc vào việc khai thác các tài nguyên rừng phục vụ cho cuộcsống hàng ngày

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rừng

+Mức độ hiểu biết, sự tham gia quản lý rừng của người dân

+ Mức độ phụ thuộc, quan tâm của người dân tới các hoạt động từ rừng

và các sản phẩm từ rừng

+ Hiểu biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừngđối với cuộc sống hiện tại và cho các thế hệ con cháu mai sau

- Hệ thống chỉ tiêu xem xét tác động đến đời sống của các hộ.

1) Nguồn lực tự nhiên: Đất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, …

2) Nguồn lực con người:

- Kiến thức, kỹ năng trong quản lý và sản xuất, sức khỏe, khả năng laođộng, số lượng lao động của hộ

- Khả năng tạo thu nhập mới từ việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp của các hộ

3) Nguồn lực xã hội:

+ Sự tôn trọng các quy định về mối quan hệ trong làng xã, các mạng lưới

và tổ chức xã hội, các đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiếnbinh, đoàn thanh niên

Ngày đăng: 12/05/2014, 23:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Quản lý rừng bền vững, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bềnvững
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
3.Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban Châu Âu ( 2003): Sổ tay hướng dẫn công tác quản lý rừng dựa trên cơ sở cộng đồng, Trung tâm đào tạo lâm nghiệp x.ã hội – Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổtay hướng dẫn công tác quản lý rừng dựa trên cơ sở cộng đồng
5.Cục lâm nghiệp (2007), Văn bản pháp quy về lâm nghiệp cộng đồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp quy về lâm nghiệp cộng đồng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
6.Chính phủ Việt Nam (1991): Luật bảo vệ phát triển rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ phát triển rừng
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 1991
8.Đoàn Diễm (1997), “ Suy nghĩ về công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp”, Tạp chí Lâm nghiệp, (Số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về công tác quy hoạch sử dụng đất vàgiao đất lâm nghiệp”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Đoàn Diễm
Năm: 1997
13.Ủy ban nhân dân Tỉnh Lạng sơn ( 2001): Địa chí Lạng sơn ( phần Bản đồ), NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban nhân dân Tỉnh Lạng sơn ( 2001): "Địa chí Lạng sơn ( phầnBản đồ)
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
14.Ủy ban nhân dân Tỉnh Lạng sơn ( 1999): Địa chí Lạng sơn, NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Lạng sơn
Nhà XB: NXBchính trị quốc gia
15.Phạm Thị Đam (2009) “ Nghiên cứu năng lực tiếp cận thị trường nông sản của phụ nữ xã Thắng Lợi huyện Văn Giang- tỉnh Hưng Yên ”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu năng lực tiếp cận thị trườngnông sản của phụ nữ xã Thắng Lợi huyện Văn Giang- tỉnh Hưng Yên
16.Phạm Trung Thủy ( 2010):Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên, luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH Kinh tế & QTKD Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của dự án duy trì và phát triểnbền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khuvực Thái Nguyên
17.Cục khuyến nông, khuyến lâm ( 1998): Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia ( PRA) trọng hoạt động khuyến nông, khuyến lâm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá nhanhnông thôn có người dân tham gia ( PRA) trọng hoạt động khuyến nông,khuyến lâm
1.Báo cáo tổng hợp thông tin thị trường và phát triển( 2007). Ngân hàng phát triển Châu Á Khác
4.Chi cục phát triển lâm nghiệp Lạng sơn: Báo cáo Tổng kết thực hiện dự án 661 Huyện Cao Lộc Khác
7.Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( 1998): Quyết định số 661/2001/QĐ-TTg 29/7/1998 về mục tiêu nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng 5 triệu ha rừng, Hà Nội Khác
9.Nguyễn Thị Lan Anh: Nghiên cứu đề xuất 1 số giải pháp bảo vệ rừng dựa trên cơ sở cộng đồng ở Huyện Bắc Yên – Sơn La Khác
10.Những quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng (2003), NXB chính trị quốc gia Hà Nội Khác
11.Niên giám thống kê Tỉnh Lạng sơn ( 2008 , 2009) Khác
12.Hạt Kiểm Lâm Huyện Cao Lộc: Báo cáo điều tra tài nguyên rừng xã Mẫu Sơn, Xã Công sơn Huyện Cao Lộc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Cao Lộc từ năm 2008 -2009 - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Cao Lộc từ năm 2008 -2009 (Trang 45)
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Công sơn - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Công sơn (Trang 48)
Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hợp Thành - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hợp Thành (Trang 52)
Bảng 2.5: Dân số và lao động của huyện Cao Lộc - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.5 Dân số và lao động của huyện Cao Lộc (Trang 54)
Bảng 2.6:  Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Cao Lộc - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Cao Lộc (Trang 55)
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của huyện Cao Lộc - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của huyện Cao Lộc (Trang 56)
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của huyện Cao Lộc T - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.8 Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của huyện Cao Lộc T (Trang 57)
Bảng 2.9: Thông tin cơ bản về chủ hộ - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.9 Thông tin cơ bản về chủ hộ (Trang 58)
Bảng 2.11: Diện tích đất bình quân của hai nhóm hộ điều tra Loại đất (m 2 ) Vựng lừi Vùng ven Khác biệt theo - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.11 Diện tích đất bình quân của hai nhóm hộ điều tra Loại đất (m 2 ) Vựng lừi Vùng ven Khác biệt theo (Trang 62)
Bảng 2.12: Số lượng và quy mô các khoản vay  Mục đích vay vốn - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.12 Số lượng và quy mô các khoản vay Mục đích vay vốn (Trang 65)
Bảng 2.12: Số liệu các vụ vi phạm theo các năm của rừng Mẫu Sơn từ năm 2005 – 2010 - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.12 Số liệu các vụ vi phạm theo các năm của rừng Mẫu Sơn từ năm 2005 – 2010 (Trang 71)
Bảng 2.14: Thực trạng sử dụng tài nguyên rừng Mẫu Sơn qua các năm - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.14 Thực trạng sử dụng tài nguyên rừng Mẫu Sơn qua các năm (Trang 74)
Bảng 2.15: Khả năng tiếp cận thị trường đối với hai nhóm hộ nghiên cứu - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.15 Khả năng tiếp cận thị trường đối với hai nhóm hộ nghiên cứu (Trang 77)
Bảng 2.17: Mức độ quan tâm của người dân tới các sản phẩm lâm sản chủ yếu - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.17 Mức độ quan tâm của người dân tới các sản phẩm lâm sản chủ yếu (Trang 84)
Bảng 2.18: Mức độ quan tâm của người dân tới các sản phẩm - KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG MẪU SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Bảng 2.18 Mức độ quan tâm của người dân tới các sản phẩm (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w