• Năm 1820 thời Minh Mạng Tam nội viện đổi thành Văn Thư Phòng là cơ quan độc lập quan trọng cơ mật của nhà nước, có con dấu riêng gọi là Ấn quan phòng, “Văn Thư Phòng là nơi khu mật c
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
Môn học:
Lịch sử hành chính
Nhà nước Việt Nam
ThS Nguyễn Xuân Tiến
Tel: 0913 968 965
Email:xtiennapa@yahoo.com
Trang 2Chương 5
Hành chính Nhà nước giai đoạn
từ 1802 đến 1858
Trang 3I Đôi nét về bối cảnh lịch sử - Nguyễn Ánh
lên ngôi, xác lập triều đại nhà Nguyễn
II Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính ở
Trung ương
III Phương thức (cách thức) điều hành
triều chính của nhà Nguyễn
Trang 4IV Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính địa
phương các cấp thời Nguyễn
V Cơ cấu tổ chức hành chính cấp cơ sở
thời Nguyễn
VI Các chính sách quản lý hành chính của
nhà Nguyễn
Trang 5Chỉ có tính chân thực và sự công bằng mới
tạo nên sự hấp dẫn của sử học.
Không có nó, những tri thức lịch sử sẽ trở
thành một thứ khổ sai trí nhớ.
Dương Trung Quốc
Sự hiểu biết và thông tuệ lịch sử giúp ích
mạnh mẽ cho hành động chính trị.
Francois Mitterrand Cựu Tổng thống Pháp
Trang 6LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Cách thức tổ chức và vận hành
nói chung
Trang 7LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Cách thức tổ chức
và vận hành của bộ máy cai trị (QLNN)
nói chung
Cách thức tổ chức
và vận hành của bộ máy cai trị (QLNN)
nói chung
Trang 8Tổ chức bộ máy hành
chính (các cấp)
Cách phân chia và sắp xếp các đơn vị hành chính ở Trung ương và
địa phương
Tổ chức bộ máy hành
chính (các cấp)
Cách phân chia và sắp xếp các đơn vị hành chính ở Trung ương và
địa phương
LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trang 9Sự phân vùng lãnh thổ, dân số học
(Cương vực,phân giới, địa giới hành
chính)
Sự phân vùng lãnh thổ , dân số học
(Cương vực,phân giới, địa giới hành
chính)
LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trang 11Các chính sách cai trị của Nhà nước qua từng thời kỳ lịch
sử, đặc biệt là các diễn biến
cải cách, thay đổi hành chính
trong từng thời đại.
LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trang 12Chương V Hành chính nhà nước giai
đoạn từ 1802 đến 1858
Trang 13Từ năm 1802 Đến năm 1858
Triều đình nhà Nguyễn Triều đình nhà Nguyễn
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN TỪ
1802 ĐẾN 1858
CN
Trang 15I Đôi nét về bối cảnh lịch sử - Nguyễn Ánh
lên ngôi, xác lập triều đại nhà Nguyễn
II Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính ở
Trung ương
III Phương thức (cách thức) điều hành
triều chính của nhà Nguyễn
Trang 16Gia Long
(1762 - 1820)
Nguyên
Huê: Patrimoine Culturel de
l'Humanité
Trang 17Le Prince Nguyên Phuc Anh
L'Empereur
Gia Long
Trang 18Tombeau del'Empereur Gia Long
Interior of the
ancestral temple
Trang 23II.Cơ cấu tổ chức bộ máy ở Trung ương
Trang 24“Tứ bất"
Ngay từ ngày đầu thiết triều, Hoàng đế
Gia Long đã chủ trương không ghi
thành văn nhưng duy trì "tứ bất" đó là:
• Không phong lập Hoàng Hậu, chỉ lập
vua mất, Tự Quân lên ngôi mới phong
mẹ làm Hoàng Thái Hậu
Trang 26Từ thời Minh Mạng mới đặt Nội các để đứng đầu các bộ , giúp vua trông coi triều chính Người có công trạng lớn được ban chức tước cũng chỉ đến chức tước Công, không phong đến tước Hầu Không
ai được phong Vương khi còn đang sống.
Trang 27• Thi cử không lấy ngôi vị Trạng nguyên Trạng nguyên là học vị cao nhất trong trường thi thời phong kiến Việt Nam Người thi đỗ Trạng nguyên sẽ trở thành bậc thầy của thiên hạ, được quyền bất khả xâm phạm Với đặc quyền đó, Trạng nguyên sẽ chi phối xã hội bằng giáo dục, văn hoá, tư tưởng và quan niệm chính trị
• Do vậy thời Nguyễn không công nhận
Trang 28• Quan Thái giám trong nội cung không được can dự việc triều chính, nhất là các quan thừa bút thái giám giúp vua viết các lời vua ban, giúp vua xem xét biểu tấu, giấy tờ
Trang 29Đội ngũ quan thái giám là trung gian giữa vua và các quan đại thần cho nên
họ có thể quyền biến vạn hoá, có khi tạo nên sự hỗn loạn, phe phái bè cánh trong cung đình
Triều Nguyễn thấy rõ nguy cơ của các giám quan nên đã cấm thái giám sử dụng văn bút lợi dụng lời lẽ của Hoàng đế
Trang 30Vua Gia Long
• Cho tham khảo luật Hồng Đức đặt
ra 15 điều khoản để xét các vụ kiện rồi cử Nguyễn Văn Thành làm tổng tài trông coi việc biên soạn bộ luật
Hoàng Triều luật lệ còn gọi là luật
Gia Long gồm 398 điều và ban hành vào năm 1815
Trang 31• Hoàng đế nắm quyền tối cao về Lập pháp, Hành pháp và Tư
Trang 32• Đặc biệt dưới thời Minh Mạng
Trang 33• ở triều đình, dưới thời Gia
Long đến đầu thời Minh Mạng
giữ nguyên hệ thống cơ quan
nắm mọi quyền hành một cách độc đoán.
Trang 34• Giúp vua việc giải quyết giấy
tờ, văn thư và ghi chép có Thị thư viện (thời Gia Long), sang thời Minh Mạng đổi gọi là Văn thư phòng và năm 1829 thì
chuyển thành Nội các
Trang 35Tứ trụ đại thần
• Về việc quân quốc trọng sự thì
có Tứ trụ đại thần (4 vị Điện đại học sĩ) sau chính thức hóa
thành Viện Cơ mật (1834).
• Ngoài ra đặt thêm Tôn nhân
phủ - phụ trách các việc của
Hoàng gia.
Trang 36Tứ trụ đại thần
• Bên dưới 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ,
Binh, Hình, Công) chịu trách
nhiệm chỉ đạo các công việc
chung của nhà nước và Ngũ quân đô thống phụ trách quân đội (xem thêm 222).
Trang 37II.1.Tam nội viện và Cơ mật viện
• Tam nội viện có 3 cơ quan: Thị Thư Viện, Thị Hàn Viện, Nội Hàn Viện là các cơ quan trông coi và đảm trách việc soạn thảo, bảo quản các văn thư, chiếu dụ, các thư từ và ngự chế của Hoàng đế.
• Năm 1820 thời Minh Mạng Tam nội viện đổi thành Văn Thư Phòng là cơ quan độc lập
quan trọng cơ mật của nhà nước, có con
dấu riêng gọi là Ấn quan phòng, “Văn Thư Phòng là nơi khu mật của nhà nước nước, không phải người có nhiệm vụ, cấm không
Trang 38II.1.Tam nội viện và Cơ mật viện
• Năm 1822 vua Minh Mạng lập thêm Hàn Lâm Viện trong Văn Thư Phòng để giúp Văn Thư Phòng chuyên trách việc soạn thảo văn bản.
• Đến năm 1829 vua Minh Mạng đã cải tổ Văn Thư Phòng đổi thành Nội Các để
củng cố và nâng cao chức năng quản lý điều hành của cơ quan đầu não Trung ương đối với nền hành chính quốc gia.
Trang 39II.1.Tam nội viện và Cơ mật viện
• Tam nội viện = Nội Các có vai trò rất quan trọng nhưng chức phận của các quan về
cấp bậc thấp hơn so với lục Bộ.
• Nhiệm vụ Nội Các đảm trách công việc
nghiệp vụ hành chính của triều đình, giám sát và khống chế công việc của các Bộ và các cơ quan của triều đình.
• Quan chức cao nhất của Nội Các chỉ ở hàm Tam phẩm, thấp hơn hàm của Thượng thư đứng đầu các Bộ.
Trang 40Tam nội viện = Nội Các
• Tam nội viện = Nội Các: là tập hợp công
vụ của 4 cơ quan gồm: Thượng Bửu Tào,
Ký Chú Tào, Đồ Thư Tào, Biểu Bộ Tào (về nhiệm vụ xem GT 224-225).
Trang 41II.1.Tam nội viện và Cơ mật viện
• Cơ mật viện: Để đảm trách giải
quyết những công việc quan trọng trong tình hình mới, tháng 12 năm
1834, vua Minh Mạng thành lập
Viện Cơ Mật
Trang 42Viện Cơ Mật
• Có nhiệm vụ dự bàn những việc cơ mưu trọng yếu của quốc gia với Hoàng đế.
• Viện Cơ Mật là cơ quan tham mưu, là
hội đồng tư vấn tối cao cho hoàng đế,
hoạch định chiến lược, quân cơ, nội an, bang giao và cả phát triển kinh tế, dân
sinh, chịu trách nhiệm trước hoàng đế
về tình hình an ninh chính trị ở trong
nước.
Trang 43Viện Cơ Mật
• Viện Cơ Mật cũng là cơ quan giám sát công việc của triều đình, bảo
quản các tài liệu tối mật, quốc bảo
và quốc cấm Vì vậy, Cơ Mật Viện được coi là cơ quan có quyền thế cao nhất, giữ vai trò trọng trách
trong bộ máy nhà nước triều
Nguyễn
Trang 44Viện Cơ Mật
• Nhân viên Viện Cơ Mật được chia làm hai cấp: Cơ mật đại thần và Cơ mật hành tẩu
• Viện Cơ Mật chia làm hai kinh: Nam
Chương Kinh và Bắc Chương Kinh đến
năm 1837 đổi thành Nam Ty và Bắc ty giữ nguyên về sau này (tham khảo GT 228- 229).
Trang 45Nhà nước TW Nội Các – Viện Cơ Mật
BỘ HÌNH
BỘ HỘ
BỘ LẠI
BỘ
BINH
BỘ LỄ
BỘ CÔNG
II.2 Các Bộ ở triều đình
Trang 46Các Bộ ở triều đình
• Năm 1804, vua cho đúc ấn triện của 6 Bộ,
ấn của Bộ đường có khắc tên của Bộ với
4 chữ Bộ đường chi ấn; (Lại Bộ đường chi
ấn, Hộ Bộ đường chi ấn…)
• Năm 1809 mới chính thức đặt Thượng thư đứng đầu 6 Bộ.
• Chức năng, nhiệm vụ của các Bộ được
quy định như sau:
Trang 47II.2 Các Bộ ở triều đình
• Bộ Binh: Trông coi việc tuyển mộ binh lính, huấn luyện binh sĩ, thuyên bổ
quan võ, điều quân, lập đồn tra xét
công tội, lập sổ quân bạ;
• Bộ Hình: phụ trách về pháp luật, hình
án, xét xử các trọng tội, phúc thẩm nghi
án, chế độ lao tù;
Trang 48BỘ BINH
Vũ Tuyển Ty
Trực Tỉnh Ty
Kinh
Kỳ
Ty
Khảo Công Ty
Trong các Bộ thành lập từ 4-6 Thanh Lại Ty chuyên trách để theo dõi công việc của Bộ
Kiểm Duyệt Ty
Trang 49BỘ HÌNH
Nam Hiến Ty
Trực Cơ Ty
Kinh
Chương
Ty
Bắc Hiến Ty
Trong các Bộ thành lập từ 4-6 Thanh Lại Ty chuyên trách để theo dõi công việc của Bộ
Trang 50II.2 Các Bộ ở triều đình
• Bộ Công: Trông coi việc kiến thiết, xây
dựng công sở, thành trì, lâu đâì, cầu cống, tàu thuyền, công xưởng thủ công;
• Bộ Lại: Trông coi việc bổ dụng thuyên
chuyển các quan văn, kỷ lục công tranh,
thăng thưởng phẩm trật và quan hàm, thăng quan tước, trao ấn và phong tặng, thảo
những chiếu, sắc, cáo, mệnh để tuyên bố
ngọc âm (lời của vua) làm sổ ghi rõ các
ngạch của quan chức;
Trang 51Tranh vẽ Bộ Công thời nhà Nguyễn
Trang 52Tranh vẽ Bộ Lại thời nhà Nguyễn
Trang 53BỘ CÔNG
Tu Tạo Ty
Doanh Thiện Ty
Quy Chế
Ty
Trong các Bộ thành lập từ 4-6 Thanh Lại Ty chuyên trách để theo dõi công việc của Bộ
Trang 54BỘ LẠI
Trừng
Tự Ty
Văn Tuyển Ty
Kiểm
Biên Ty
Phong Điển ty
Trong các Bộ thành lập từ 4-6 Thanh Lại Ty chuyên trách để theo dõi công việc của Bộ
Trang 55II.2 Các Bộ ở triều đình
• Bộ Lễ: phụ trách về triều hội, tế lễ,
khánh hạ, tôn phong, việc tuần được của vua, bang giao, phủ dụ các nước nhỏ, giáo dục và khoa cử…
• Bộ Hộ: Trông coi đình đền, thuế khóa, giá cả, tiền tệ, hàng hóa, kho tàng, cấp phát, điều tiết kinh tế…
Trang 56Tranh vẽ Bộ Lễ thời nhà Nguyễn
Trang 57Tranh vẽ Bộ Hộ thời nhà Nguyễn
Trang 59BỘ HỘ
Lưỡng Cơ Ty
Thưởng Lộc
Ty
Nam Kỳ Ty
Kinh
Trực
Ty
Bắc Kỳ Ty
Thuế Hạng Ty
Trang 60II.3 Các cơ quan chuyên trách của
triều đình (các Nha)
Triều đình nguyễn còn lập các Nha gồm:
• Phủ, Tự, Viện, Giám, Ty, Cục là những
cơ quan chuyên trách các hoạt động
thuộc về hành pháp, tư pháp, giám sát
ở triều đình hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau:
Trang 61II.3 Các cơ quan chuyên trách của
Trang 62II.3 Các cơ quan chuyên trách của
Trang 63II.3 Các cơ quan chuyên trách của
Trang 64II.3 Các cơ quan chuyên trách của
• Các cơ quan có chức năng tư pháp
và giám sát khác như đô sát viện, đại
lý tự…
Trang 65Tổ chức hành chính ĐP nhà Nguyễn – Gia Long
Triều đình
Phủ
Trấn dinh Gia định thành Bắc thành
Tổng
Phủ
Tổng
Trang 66Trung ương
Gia Định thành Bắc thành
Trấn
Tổ chức CQĐP nhà Nguyễn 1802-1832 [GT,251]
Trang 67Hộ tào
(Kiêm Công)
Binh tào (Kiêm Lại)
Hình tào (Kiêm Lễ)
Tổng trấn
Tham hiệp
Hiệp trấn
Tổ chức BMHC cấp Thành [GT, 252]
Trang 68Trấn thủ Hàm nhị phẩm (võ ban) Hiệp Trấn Tham Hiệp Chánh Tam Phẩm-Chánh tứ Phẩm
(văn ban) (văn ban)
Câu kê (Chánh Thất Phẩm)
Lại
phòng
Binh phòng
Hình phòng
Hộ phòng
Lễ phòng
Công phòng
Trang 70Trấn - Dinh
Cấp hành chính Phủ, Huyện, Châu ở Nam Hà (Quảng bình trở vào)[Gt, 258]
Huyện
Trang 71Vua Minh Mạng (1820-1840)
Trang 72Minh Mạng (1791 - 1840)
• Niên hiệu Minh Mạng
• Năm sanh, năm mất 1791-1840
Trang 73Minh Mạng (1791 - 1840)
• Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Ðảm, sanh năm Tân Hợi (1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Ðịnh, con thứ
tư của vua Gia Long và bà Thuận
Thiên Trần Hoàng hậu Khi Hoàng
tử Cảnh mất thì Ngài được lập làm Thái tử, khi vua Gia Long băng hà, theo di chiếu Ngài lên nối ngôi, lúc nầy đã 30 tuổi và đổi niên hiệu là
Trang 74Minh Mạng (1791 - 1840)
• Ngài tiếp tục việc tu sửa lại kinh thành Huế, công trình kiến trúc quan trọng nhất dưới thời Minh Mạng là cửa Ngọ Môn Các
sách đều khen ông là một nhà vua văn võ kiêm toàn (!) Minh Mạng bắt đầu một cuộc cải
cách từ nội trị đến ngoại giao.
Trang 75• Về mặt nội trị, nhà vua bỏ hầu hết các dinh, các trấn mà thành lập
các tỉnh (31 tỉnh), thành lập Nội
các và Cơ mật viện để cùng với
vua bàn chuyện nước (tới thời Bảo Ðại mới bị giải tán)
Trang 76• Lập Quốc Tử Giám Bắt đầu mở
các khóa thi Hội, thi Ðình để lấy
tiến sĩ (tới thời Khải Ðịnh mới bị giải tán) Lập Quốc sử quán để góp
nhặt những chuyện làm quốc sử
Phát thưởng cho những ai tìm
được sách củ hay làm ra sách mới v.v
Trang 77• Các nước láng giềng xa gần
đều gởi sứ thần đến thông
hiếu và vua cũng cử nhiều
phái đoàn đến các nước đó để ban giao Năm Mậu Tuất
(1838) vua Minh Mạng đổi tên nước là Ðại Nam.
Trang 78• Ngài không thích đạo Thiên Chúa nên không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước, Ngài có ra dụ (sắc lệnh) nói rằng : "Ðạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy
hoại phong tục, cho nên phải nghiêm
cấm để khiến người ta phải theo chính đạo" Lúc bấy giờ không phải là một
mình vua ghét đạo Thiên Chúa mà
thôi, phần nhiều những quan lại cũng đều một ý cả, cho nên sự cấm đạo lại càng nghiệt thêm
Trang 79• Nhưng mà dẫu cấm thế nào mặc lòng, vẫn có người đi giảng đạo Thiên Chúa, nhà vua lấy điều đó làm trái phép nên ra dụ lần nữa
nói rằng ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì được thưởng Năm ấy ở Huế có một người giáo sĩ phải xử giảo, và các nơi cũng rối loạn vì
sự bắt đạo và giết đạo Việc cấm đạo nầy cứ dai-đẳng mãi đến khi nước Pháp sang bảo hộ mới thôi
Trang 80• Cũng vì việc cấm đạo Thiên Chúa cho nên
sự buôn bán với người nước ngoài cũng bị cản trở vì Triều đình thấy thỉnh thoảng khi
có chiếc tàu buôn lại thì lại có một vài
người giáo sĩ Thiên Chúa giáo trên đó nên càng lạnh nhạt với người nước ngoài Vua
từ chối không tiếp một tàu ngoại quốc nào
cả ngay cả tàu Pháp Hai ông quan người Pháp (Chaigneau và Vannier) làm trong
triều đình từ thời Gia Long thấy vua Minh Mạng có vẻ không thích người ngoại quốc nên cũng xin từ chức rồi đem gia đình trở
về Pháp.
Trang 81• Sau nầy vua Pháp có gởi sứ giả
sang xin ban giao với Việt Nam
nhưng vua Minh Mạng không tiếp, nước ta coi như bế quan tỏa cảng
từ đó
• Vua Minh Mạng mất năm Canh Tí (1840), thọ 50 tuổi, trị vì được 21 năm
Trang 82Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam
• Ngày 26/6/1988 Ðức Giáo
Hoàng Gioan Phaolo II đã
phong thánh cho 117 Thánh
của giáo hội Việt Nam trong đó
có 96 vị người Việt Nam gồm
37 linh mục và 59 giáo dân
Trang 83Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam
• Lịch sử Giáo Hội Việt Nam ghi nhớ tất cả 53 sắc chỉ chính
thức do các chúa hai dòng họ Trịnh Nguyễn, nhà Tây Sơn,
và các vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức ban hành nhằm
khai trừ và tiêu diệt đạo Thiên Chúa
Trang 84Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam
• Có trên 100.000 người bị
giết, và khoảng 500.000
người khác chết trong rừng thiêng nước độc vì bị phân tán.
• Trong số 96 vị thì qúa nửa
đã bị chết dưới triều Minh
Mạng
Trang 85Tổng đốc hoặc Tuần phủ
Kiêm hạt liên tỉnh
Án sát Bố
chánh
Lãnh binh
Đốc học
Án sát sứ ty (Niết ty)
Bố chánh sứ ty (Phiên ty)
Giáo dục Quân sự
Trang 86Về mô hình Trung ương tản
quyền thời nhà Nguyễn
Trang 87Về mô hình trung ương tản
quyền thời nhà Nguyễn
Trang 88Về mô hình trung ương tản
quyền thời nhà Nguyễn
• Minh Mạng:
–Bãi bỏ chức Tổng trấn
–Nhưng vẫn thiết lập một số quan Tổng đốc liên tỉnh có quyền đại diện triều đình để cai trị 2-3 tỉnh
Trang 89Về mô hình Trung ương tản
quyền thời nhà Nguyễn –2
• Thí dụ:
–Sơn Hưng Tuyên Tổng đốc (Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang)
–Nam Ngãi Tổng đốc (Quảng
Nam, Quảng Ngãi)
Trang 90Về mô hình Trung ương tản quyền thời nhà Nguyễn –2
• Các quan Tổng trấn hoặc Tổng đốc liên tỉnh vẫn bị kiểm soát bởi các
quan Khâm sai đại thần hay Khâm Mạng là các vị quan thân tín, cao
cấp của Vua, được Vua phái đi kinh
lý các địa phương, có quyền đàn
hặc những sai trái, lộng quyền của quan lại địa phương [7,126]
Trang 91Về mô hình trung ương tản quyền thời nhà Nguyễn –2
• Khâm mạng > Khâm sai > Khâm
phái:[8,355]
–Đại thần trong triều được đặc phái ra ngoài để làm việc nội chính hoặc
ngoại giao, xong việc lại bỏ
–Xem xét việc thi hànnh lệnh đã ban của vua Khâm mạng có quyền thay vua quyết định tại chỗ