Nghiên cứu mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-*** -
TR ẦN THỊ ÁNH
TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn có nguồn gốc Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà n ội, ngày 28 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận án
Trần Thị Ánh
i
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nghiêm Sĩ Thương và TS Nguyễn Đại Thắng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận án để tác giả có thể hoàn thành luận án này
Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo sau Đại học của Trường Đại học Bách Khoa Hà nội, các thầy cô ở Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Tài chính và các thầy cô ở các trường khác đã tận tình góp ý và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận án
Xin được bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ quý báu của các cô, chú và anh chị tại Bộ Khoa học và Công nghệ, các anh chị tại Tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu khoa học, tạp chí Tài chính và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tác giả trong bản luận án
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và các bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện luận án
Tác gi ả: Trần Thị Ánh
ii
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN ii
DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU vii
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH M ỤC CÁC BẢNG xi
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ xiii
M Ở ĐẦU xiv
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI xiv
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU xv
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU xvi
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU xvi
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN xvii
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN xviii
CHƯƠNG 1 1
T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 1
1.1.1 Mô hình tăng trưởng của Solow [81] 1
1.1.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Romer [77][78][79] 3
1.1.3 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Bencivenga và Smith [30] 5
1.1.4 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Jones [56][57], Ivo De Loo và Luc Soete [54] 8
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 10
1.2.1 Giáo sư Trần Thọ Đạt - Vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [18][19][20] 10
1.2.2 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam [21][22] 14
iii
Trang 51.2.3 Nguyễn Đức Kiên – Mô hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ở giai đoạn
thu nhập trung bình thấp (2012-2020) [9] 16
1.3 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 18
1.3.1 Một số tồn tại từ các mô hình nghiên cứu trước 18
1.3.2 Định hướng nghiên cứu 21
TÓM T ẮT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 25
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN C ỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 25
2.1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 25
2.1.1 Khái niệm và vai trò của tăng trưởng kinh tế 25
2.1.2 Vai trò của tăng trưởng kinh tế 27
2.1.3 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế 29
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 30
2.2 TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 31
2.2.1 Tổng quan về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển 31
2.2.2 Việc tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng 42
2.2.3 Mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng và tăng trưởng kinh tế 47
TÓM T ẮT CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO HO ẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN B ẤT CÂN X ỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 56
3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH 56
iv
Trang 63.1.1 Thị trường tín dụng và vấn đề thông tin bất cân xứng ở thị trường tín dụng 56 3.1.2 Hoạt động nghiên cứu và phát triển (hệ thống bằng phát minh sáng chế) và
tăng trưởng kinh tế 58
3.2 XÂY DỰNG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CHO MÔ HÌNH 61
3.2.1 Mô tả môi trường kinh tế của mô hình 61
3.2.2 Việc sản xuất hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian 65
3.3 THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG VÀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG GIỮA NGƯỜI ĐI VAY VÀ NGƯỜI CHO VAY 72
3.3.1 Thị trường tín dụng 72
3.3.2 Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng 76
3.4 SỰ CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG 79
3.4.1 Các trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng ở điều kiện thông tin bất cân xứng 79
3.4.2 Mô tả trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng 80
3.4.3 Tác động của xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp đến tăng trưởng kinh tế 89
3.5 KIỂM ĐỊNH CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA MÔ HÌNH 95
3.5.1 Kiểm định điều kiện tham gia thị trường của các chủ thể trong mô hình 95
3.5.2 Kiểm định sự tồn tại của trạng thái cân bằng ở thị trường tín dụng 98
TÓM T ẮT CHƯƠNG 3 102
CHƯƠNG 4 104
V ẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN C ỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 104
4.1 QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH CÁC THAM SỐ VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG MÔ HÌNH 104 4.1.1 Quy trình xác định các tham số của mô hình 104
4.1.2 Phạm vi ứng dụng mô hình 110
v
Trang 74.2 THUẬT TOÁN VẬN DỤNG MÔ HÌNH 111
4.3 KẾT QUẢ VẬN DỤNG MÔ HÌNH VÀO MỘT SỐ NƯỚC 111
4.3.1 Phân nhóm và lựa chọn các nước vận dụng mô hình 111
4.3.2 Tổng quan về việc tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển và một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của các nước vận dụng mô hình 113
4.3.3 Kết quả vận dụng mô hình tại Việt Nam 118
4.3.4 Kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ 132
TÓM T ẮT CHƯƠNG 4 144
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 145
5.1 KẾT QUẢ 145
5.1.1 Kết quả về mặt lý luận 145
5.1.2 Kết quả về mặt thực tiễn 147
5.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 149
5.2.1 Kiến nghị về việc tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng 150
5.2.2 Một số kiến nghị về việc giảm sự bất cân xứng về thông tin ở thị trường tài chính 151
5.3 BÀN LUẬN 153
K ẾT LUẬN .1555
DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 1577
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1588
PH Ụ LỤC……… ……… 163
vi
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
người đi vay (1 − 𝜆𝜆) Tỷ trọng nhóm người đi vay có mức độ rủi ro thấp trong số
những người đi vay
Trang 9người cho vay
Lt
người cho vay
2 1 1
viii
Trang 10DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Dự án R&D Dự án nghiên cứu và phát triển
FFRDC Trung tâm nghiên cứu và phát triển được tài trợ bởi chính phủ liên bang
ix
Trang 11OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TFPG* Tốc độ gia tăng của năng suất nhân tố tổng hợp loại bỏ yếu tố chu kỳ
kinh doanh Tốc độ TTKT Tốc độ tăng trưởng kinh tế
x
Trang 12DANH M ỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 1.2: Tỷ trọng đầu tư hoạt động R&D của khối doanh nghiệp so
4 Bảng 2.2: Phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và
nghiên cứu phát triển
28
6 Bảng 2.4: Các nước dẫn đầu thế giới phân theo các lĩnh vực khác
8 Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của Mỹ giai đoạn 2005-2013 114
9 Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn
2005-2013
118
11 Bảng 4.4: Xác suất tài trợ để thực hiện hoạt động R&D tại Việt Nam 120
12 Bảng 4.5: Bảng xác định giá trị lớn nhất của tham số λtại Việt Nam 120
14 Bảng 4.7: Xác suất thành công của cả hai nhóm người đi vay tại Việt
Trang 1317 Bảng 4.10: Biện luận sự biến động của tham số 𝜋𝜋𝐿𝐿𝑡𝑡 ở Việt Nam năm
2013
125
20 Bảng 4.13: Bảng tổng hợp kết quả vận dụng mô hình tại Việt Nam
giai đoạn 2005-2013
131
22 Bảng 4.15: Xác suất tài trợ để thực hiện hoạt động R&D tại Mỹ 133
23 Bảng 4.16: Bảng xác định giá trị lớn nhất của tham số λtại Mỹ 133
25 Bảng 4.18: Xác suất thành công của cả hai nhóm người đi vay tại Mỹ 135
26 Bảng 4.19: Biện luận sự biến động của tham số 𝑝𝑝𝐻𝐻 ở Mỹ năm 2013 136
27 Bảng 4.20: Biện luận sự biến động của tham số 𝑝𝑝𝐿𝐿ở Mỹ năm 2013 137
28 Bảng 4.21: Biện luận sự biến động của tham số 𝜋𝜋𝐿𝐿𝑡𝑡ở Mỹ năm 2013 138
31 Bảng 4.24: Bảng tổng hợp kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ giai
đoạn 2005-2013
143
xii
Trang 14DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
3 Hình 1.2: Tăng trưởng GDP, K, L và TFP đã loại bỏ yếu tố chu kỳ kinh doanh,
1991-2009
11
6 Hình 2.2.: Mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng
và nghiên cứu phát triển
34
8 Hình 2.4: Nguồn nhân lực cho hoạt động R&D được phân theo lĩnh vực
hoạt động và trình độ chuyên môn
37
18 Hình 3.9: Tác động của xác suất được tài trợ tín dụng của những người
đi vay có mức độ rủi ro thấp tới tăng trưởng kinh tế
90
xiii
Trang 15M Ở ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dân Theo các tài liệu [85][86][87], từ thế
kỷ 19 trở lại đây, tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những cải thiện đáng kể đối với mức sống của người dân Thu nhập bình quân đầu người của thế giới năm 2013 là 10.236 USD, năm 2000 là 6.735 USD, năm 1990 là 5.209 USD, năm 1970 là 3.269 USD và năm 1950 là 1.596 USD Như vậy thu nhập bình quân đầu người của thế giới năm 2013 gấp 1,5 lần so với năm 2000, gấp gần 2 lần năm 1990, gấp 3,1 lần năm 1970 và gấp 6,4 lần năm 1950
Để có sự tăng trưởng kinh tế, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
(còn g ọi là hoạt động nghiên cứu và phát triển - hoạt động R&D) là yếu tố quan trọng hàng đầu
trong việc tăng năng suất lao động, chế tạo sản phẩm mới và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ Những nghiên cứu gần đây cho thấy bốn yếu tố chủ yếu tác động tới tăng trưởng kinh tế
gồm: tài nguyên thiên nhiên, vốn (bao gồm cả cơ sở hạ tầng), con người (bao gồm cả giáo dục và đào tạo) và việc đầu tư vào khoa học công nghệ (gồm việc đầu tư cho hoạt động R&D và tạo ra những công nghệ mới) Trong bốn yếu tố này, theo Romer (1990) – một trong những nhà kinh tế
hàng đầu nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế: “Tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quan trọng của tăng
trưởng kinh tế, trong đó hoạt động R&D lại là nhân tố hàng đầu của sự cải tiến về mặt kỹ thuật”
[77]
Hoạt động R&D không thể thành công nếu không có sự tài trợ về vốn Mặc dù không phải tất cả các hoạt động tài trợ đều mang lại kết quả như mong muốn, song đến nay các quốc gia vẫn không ngừng nâng cao tỷ trọng tài trợ cho hoạt động R&D, đồng thời cũng không ngừng khuyến khích các doanh nghiệp, các trường đại học cũng như các viện nghiên cứu tích cực tham gia đối với hoạt động này Tổng đầu tư cho hoạt động R&D năm 2011 trên toàn thế giới đạt 1333,4 tỷ USD, năm 2012 đạt 1402,6 tỷ USD và năm 2013 đạt 1473,5 tỷ USD [74]
Thị trường tài trợ cho hoạt động R&D cũng giống như bất kỳ thị trường nào, tức cũng có bên cung và bên cầu Quan hệ giữa bên cung và bên cầu xảy ra hai trường hợp:
- Th ị trường cạnh tranh hoàn hảo: là một mô hình kinh tế thị trường lý tưởng, ở đó
không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế được thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả Ở thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tất cả người bán và người mua đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi Thị trường cạnh tranh hoàn hảo tạo nên cung cầu phù hợp nhất, mức tiêu dùng và mức cung đều được tối đa hoá nên việc sử dụng nguồn lực được hiệu quả nhất Do vậy, mô hình thị trường cạnh tranh hoàn
hảo được xem là một mô hình kinh tế lý tưởng
- Th ị trường cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh khi các điều kiện cần
thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn Ở thị trường này, lợi ích của người tiêu dùng không được tối đa hóa và các nguồn lực trong xã hội cũng không được sử dụng hiệu quả
xiv
Trang 16Thị trường tài trợ cho hoạt động R&D ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Một trong các lý do dẫn đến việc cạnh tranh không hoàn hảo
là s ự bất cân xứng về thông tin giữa người mua và người bán Theo F.Mishkin [41], “Sự không công b ằng về mặt thông tin mà mỗi bên có được được gọi là hiện tượng thông tin bất cân xứng”
Vấn đề thông tin bất cân xứng, mà hệ quả của nó là sự lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức, khiến việc tài trợ cho hoạt động R&D được không đúng người đúng mục đích, từ đó ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Để phản ánh hệ quả này, các mô hình của Jones (1995a) [57], Ivo De Loo và Luc Soete (1999) [54], Madsen [65] đã đề cập đến nghịch lý về mối quan hệ giữa việc tài
tr ợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế: “Ở một số quốc gia, lượng tiền đầu tư cho hoạt động R&D liên tục tăng trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lại có xu hướng giảm dần trong nhi ều năm liên tiếp” Nghịch lý này đã xảy ra ở Mỹ giai đoạn 1989-1991, ở một số quốc gia như
Mỹ, Nhật Bản, Anh … giai đoạn 2000-2003 và gần đây là giai đoạn 2007-2010 [39]
Các nghiên cứu khác cho đến nay cũng đưa ra nhiều luận giải cho nghịch lý này như bài viết của Jones (1995) [57], Ivo De Loo và Luc Soete (1999) [54], Madsen [65] Jones (1995) cho
rằng những nhân tố đột biến bất thường đã tác động ngược chiều và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; theo Ivo De Loo và Luc Soete (1999), hoạt động R&D về sau đã tập trung vào sự khác
biệt hóa sản phẩm nhiều hơn là sự đổi mới về mặt kỹ thuật công nghệ, điều này góp phần tăng lợi ích của người tiêu dùng nhưng không tác động mạnh đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, những giải thích này vẫn chưa nhận được nhiều sự đồng thuận và đang còn gây nhiều tranh luận giữa các nhà kinh tế
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy không phải trong mọi trường hợp việc tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D đều góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Vậy trong trường
hợp nào thì nên tiếp tục tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D, trong trường hợp nào thì không nên tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D và nên sử dụng nguồn lực đó cho các lĩnh vực ưu tiên khác?
Những phân tích trên cho thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu để luận giải cho nghịch lý về
mối quan hệ giữa việc tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông tin
bất cân xứng ở thị trường tài chính Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình đánh
giá tác động của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ của mình
M ục tiêu khoa học:
• Xây dựng mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế trong điều kiện thông tin bất cân xứng
xv
Trang 17• Đưa ra luận giải đối với nghịch lý về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế và xem xét trường hợp nào việc tài trợ cho hoạt động R&D còn hiệu
quả đối với tăng trưởng kinh tế và ngược lại
M ục tiêu thực tiễn:
• Ứng dụng kết quả của mô hình vào hai quốc gia là Việt Nam và Mỹ nhằm đánh giá tác động của việc tài trợ cho hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi nước
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề tăng trưởng kinh tế; vấn đề tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân xứng; mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân xứng và tăng trưởng kinh tế
• Thời gian độc quyền của bằng phát minh là vĩnh viễn
• Việc vận dụng mô hình được xem xét riêng với giai đoạn nền kinh tế chịu ảnh hưởng của các nhân tố gây ảnh hưởng đột biến tới tăng trưởng kinh tế
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tập hợp các lý luận kinh tế học và tài chính có liên quan, kinh nghiệm thực
tiễn trong và ngoài nước, đề tài đã thiết lập một mô hình tổng quát đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế Ngoài việc sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp mô hình hóa, xây dựng bài toán tối
ưu, luận án còn sử dụng phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực trạng để
xây dựng mô hình kinh tế và được mô tả chi tiết ở hình 0-1 sau:
xvi
Trang 18Hình 0.1: Phương pháp nghiên cứu của luận án
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
• Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về mặt lý luận và tìm hiểu các mô hình kinh tế
trong và ngoài nước có liên quan, đề tài lựa chọn, phát triển và xây dựng một mô hình
kinh t ế có thể áp dụng được để đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế
• Điểm mạnh của mô hình là ở chỗ xuất phát từ những điểm khác biệt trong cách tiếp cận
của mô hình với các nghiên cứu trước đây, mô hình đã chỉ ra:
- Sự tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới lượng sản phẩm trung gian mới 𝑁𝑁�𝑡𝑡, tới tổng lượng sản phẩm trung gian của nền kinh tế 𝑁𝑁𝑡𝑡 và tới lực lượng lao
động sản xuất sản phẩm cuối cùng 𝐿𝐿𝑡𝑡
- Tài trợ cho hoạt động R&D có hiệu quả đối với tăng trưởng kinh tế khi tổng hợp
ảnh hưởng của các tham số này phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc được miêu tả
ở công thức (3-45)
- Kết quả của đề tài góp phần đưa ra một luận giải đối với nghịch lý về mối quan hệ
gi ữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế còn đang được tranh luận
giữa các nhà kinh tế
• Đề tài vận dụng mô hình nghiên cứu tại hai quốc gia là Việt Nam và Mỹ trong giai đoạn 2005-2013, từ đó xem xét tính hiệu quả của việc tài trợ cho hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông tin bất cân xứng ở mỗi quốc gia
• Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất dải xác suất được tài trợ có hiệu quả cho năm tiếp theo ở Việt Nam và Mỹ
Nghiên cứu lý thuyết
- Thấy được những tồn tại
của các nghiên cứu trước
- Xây dựng tổng quan cơ sở
lý luận của đề tài
Nghiên cứu thực trạng
Thu thập thông tin về thực trạng tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế của thế giới và Việt nam
Xây dựng mô hình;
Phân tích, đánh giá trên
cơ sở đối chiếu lý luận
Trang 196 B Ố CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung của luận án được kết cấu bao gồm 5 chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TÀI TRỢ CHO HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN
Chương 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chương 4: VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN
Chương 5: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Sau đây là nội dung chi tiết của luận án:
xviii
Trang 20CHƯƠNG 1
Tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (Research and Development R&D) và tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà kinh tế khác nhau Chương này trình bày một số nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, từ
đó rút ra những đóng góp cũng như những tồn tại của các nghiên cứu này và đề xuất hướng nghiên cứu mới của luận án
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
1.1 1 Mô hình tăng trưởng của Solow [81]
Solow là một trong những nhà kinh tế đầu tiên đã đưa ra những mô hình nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Ông là nhà kinh tế học thuộc trường phái Tân cổ điển, những mô hình kinh
tế mà ông đưa ra được xem là những mô hình tăng trưởng điển hình của trường phái Tân cổ điển (Neoclassical Growth Model) Sau đây là một số đặc điểm về mô hình của Solow:
- Mô hình tăng trưởng của Solow là mô hình về sự tích lũy vốn trong nền kinh tế đóng: không có chính phủ, không có chính sách thuế hay các khoản trợ cấp, không có thương mại, không có tiền tệ và vì vậy cũng không có thị trường tài chính
- Ông giả định trong mô hình của mình là người lao động luôn sử dụng một tỷ lệ cố định trong thu nhập của mình cho tiết kiệm và tiêu dùng Ngoài ra dân số tăng trưởng với một tỷ lệ
nhất định, do vậy mô hình mà ông đưa ra còn được gọi là mô hình Blue Lagoon
- Nền kinh tế gồm những người tiêu dùng và các doanh nghiệp Tất cả những người tiêu dùng đều sở hữu doanh nghiệp sản xuất riêng, và chủ doanh nghiệp sở hữu toàn bộ doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong mô hình của Solow, s là tỷ lệ tiết kiệm, n là tốc độ tăng dân số, i là tỷ lệ đầu tư, c
là tỷ lệ tiêu dùng, d là tỷ lệ khấu hao, L là lực lực lượng lao động, K là lượng tư bản, A là trình độ
khoa học công nghệ Ông đã xây dựng mối quan hệ giữa các tham số trong mô hình như sau:
Công thức xác định tăng dân số như sau:
Trang 21M ột số kết luận được rút ra từ mô hình kinh tế của Solow như sau:
Th ứ nhất: Tích lũy vốn của nền kinh tế tính theo giá trị tuyệt đối là dương, tức là năm sau
cao hơn năm trước, tuy nhiên tính theo giá trị tương đối thì nó giảm dần và tiến đến không trong
dài hạn Từ đó, tăng trưởng của nền kinh tế là dương, tuy nhiên tốc độ tăng cũng giảm dần do tốc
độ giảm dần của tích lũy vốn trong nền kinh tế, lý do là
g = %∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 =𝑘𝑘𝑡𝑡+1 −𝑘𝑘 𝑡𝑡
𝑘𝑘𝑡𝑡 = − �𝑛𝑛+𝑑𝑑1+𝑛𝑛� +1+𝑛𝑛𝑠𝑠𝑠𝑠 𝑘𝑘1
𝑡𝑡1−𝛼𝛼 (1-3)
Vì �𝑛𝑛+𝑑𝑑𝑠𝑠𝑠𝑠�1�1−𝛼𝛼 > 𝑘𝑘𝑡𝑡 nên %∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 > 0 Vì vậy, Solow đã nhận định rằng tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế là luôn dương Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa %∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 và 𝑘𝑘𝑡𝑡, việc
tính đạo hàm biểu thức (1-3) theo 𝑘𝑘𝑡𝑡 thu được kết quả sau:
𝑑𝑑%∆𝑘𝑘 𝑡𝑡+1
𝑑𝑑𝑘𝑘𝑡𝑡 = −𝑘𝑘1−𝛼𝛼2−𝛼𝛼 (1-4) Tuy nhiên, biểu thức (1-4) đã chứng minh cho kết luận của Solow rằng tích lũy vốn trong
nền kinh tế tăng theo giá trị tuyệt đối, nhưng giảm dần theo giá trị tương đối, và sẽ tiến đến
không trong dài hạn
Th ứ 2: Mô hình đã đưa ra dự báo về những nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế
như sau:
- Tốc độ tăng dân số (n): Hai quốc gia có các điều kiện còn lại là giống nhau, ngoại trừ tốc
độ tăng dân số là khác nhau, quốc gia nào có tốc độ tăng dân số cao hơn dẫn đến tốc độ
tăng của tích lũy vốn chậm hơn và tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn
2
Trang 22- Tỷ lệ tiết kiệm (s): Hai quốc gia có các điều kiện còn lại là giống nhau, ngoại trừ tỷ lệ tiết kiệm khác nhau, quốc gia nào có tỷ lệ tiết kiệm lớn hơn sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn hơn
- Sự phát triển của khoa học công nghệ: Ông chỉ ra rằng hai quốc gia có các điều kiện khác như nhau, quốc gia nào có trình độ khoa học công nghệ tốt hơn sẽ tác động đến tích lũy vốn
và tăng trưởng kinh tế mạnh hơn
Như vậy, trong mô hình này Solow đã nghiên cứu và đưa ra 3 nhân tố ảnh hưởng tới tích lũy vốn của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế, đó là tốc độ tăng dân số,
tỷ lệ tiết kiệm và sự phát triển của khoa học công nghê Trong đó, việc tăng tiết kiệm hay sự phát triển khoa học công nghệ có tác động thuận chiều với tăng trưởng kinh tế, còn tốc độ tăng dân số
có tác động ngược chiều Song trong mô hình của mình, Solow cũng chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Hơn nữa, ông xem khoa học công nghệ là biến ngoại sinh, tức là nó luôn cố định, không có sự thay đổi trong mô hình Một quốc gia xuất phát với nhân tố A như thế nào thì sẽ duy trì liên tục trong các năm tiếp theo Đây có lẽ là một trong những hạn chế lớn nhất
của Solow Thực tế cho thấy nhân tố này liên tục thay đổi và sẽ tác động không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng kinh tế
Để khắc phục hạn chế trong mô hình của Solow, Romer là một trong những nhà kinh tế đầu tiên đã đưa nhân tố khoa học công nghệ thành biến nội sinh, tức là nó liên tục thay đổi cùng những nhân tố khác trong mô hình Romer đã rất thành công và có đóng góp vĩ đại vào kho tàng kinh tế khi ông nghiên cứu và chỉ ra mối quan hệ sâu sắc giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật Phần tiếp theo xin được giới thiệu khái quát về mô hình kinh tế của Romer
1.1.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Romer [77][78][79]
M ột số giả định trong mô hình:
- Không có sự gia tăng dân số, lực lượng lao động trong mô hình được cố định ở L
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bị tác động bởi 2 nhân tố là sự tích lũy về vốn trong nền kinh
tế (như mô hình Solow) và sự phát triển của khoa học công nghệ (điểm mới so với mô hình Solow), điều này đồng nghĩa với việc ông đã đưa nhân tố khoa học công nghệ thành biến nội sinh trong mô hình của mình
Khái quát n ội dung của mô hình
- Các doanh nghi ệp: Mô hình đã chia nền kinh tế thành 3 khu vực: khu vực sản xuất hàng
hóa cuối cùng (final output sector), khu vực sản xuất hàng hóa trung gian (intermediate goods sector) và khu vực nghiên cứu phát triển công nghệ (R&D sector)
Khu v ực sản xuất hàng hóa cuối cùng: Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa cuối cùng
thực hiện việc sản xuất một khối lượng hàng hóa lớn cho nền kinh tế Lượng hàng hóa cuối cùng này được sử dụng để tiêu dùng hoặc là đầu vào cho việc sản xuất hàng hóa trung gian Thị
3
Trang 23trường sản xuất hàng hóa cuối cùng là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Hàm sản xuất được giả định là hàm số không đổi theo quy mô (constant return to scale SCR) và có dạng biểu diễn như sau:
𝑌𝑌 = (𝐴𝐴𝐿𝐿𝑌𝑌)1−𝛼𝛼𝐾𝐾𝛼𝛼 (1-5)
𝑠𝑠̇
𝑠𝑠= 𝛿𝛿𝐿𝐿𝑠𝑠 (1-6)
Trong đó: Y là sản phẩm cuối cùng của nền kinh tế, A là nhân tố khoa học công nghệ, 𝐿𝐿 là
lực lượng lao động trong xã hội, và lực lượng lao động trong xã hội có thể được sử dụng vào sản
xuất hàng hóa cuối cùng (𝐿𝐿𝑌𝑌) hoặc để nghiên cứu khoa học (𝐿𝐿𝑠𝑠), K là hàng hóa trung gian hay
hàng hóa vốn, 𝛿𝛿 phản ánh năng suất của hoạt động R&D
Khu v ực sản xuất hàng hóa trung gian: Khu vực này thực hiện việc sản xuất các hàng
hóa trung gian khác nhau Việc sản xuất hàng hóa trung gian ở khu vực này so với việc sản xuất hàng hóa cuối cùng có sự khác biệt Để sản xuất được hàng hóa trung gian, người sản xuất phải tham gia vào thị trường công nghệ để mua được một thẻ xanh (bằng phát minh sáng chế về việc độc quyền sản xuất một loại hàng hóa trung gian nào đó) Mô hình cũng giả định rằng hàng hóa trung gian được sản xuất từ hàng hóa cuối cùng theo tỷ lệ 1:1, có nghĩa là 1 đơn vị hàng hóa cuối cùng được sử dụng để sản xuất 1 đơn vị hàng hóa trung gian
Khu vực nghiên cứu và phát triển R&D: Các doanh nghiệp hay các viện nghiên cứu ở
khu vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chuyên thực hiện các hoạt động R&D, ví
dụ họ thực hiện việc nghiên cứu và đưa ra những ý tưởng về công nghệ hay sản phẩm mới, hoặc đưa ra các mô hình phát triển mới… Những kết quả nghiên cứu thành công sẽ được nhà nước công nhận bằng một tấm thẻ xanh và họ có thể bán tấm thẻ xanh hay bằng phát minh sáng chế đó cho các doanh nghiệp để tiến hành sản xuất ra một loại hàng hóa trung gian mới cho xã hội Thị trường đối với các bằng phát minh sáng chế này là cạnh tranh hoàn hảo, điều này góp phần khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và đưa ra được ngày càng nhiều các sáng kiến mới cho xã hội
Các h ộ gia đình: Cũng giống như ở mô hình kinh tế của trường phái tân cổ điển, các hộ
gia đình thực hiện việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp và họ sẽ nhận được tiền lương
từ các doanh nghiệp Họ sẽ sử dụng một phần số tiền lương đó để tiêu dùng, phần còn lại là để tiết kiệm Việc tiêu dùng của họ được tính toán trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng trong điều kiện ngân sách của họ
Tăng trưởng kinh tế ở trạng thái cân bằng (Balanced Growth Path BGP): Ở trạng thái
cân bằng, tất cả các biến số của mô hình đều tăng trưởng với một tỷ lệ cố định, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế được chứng minh bằng tốc độ tăng của yếu tố khoa học, bằng tốc độ tăng của tiêu dùng và bằng tốc độ tăng của sản phẩm trung gian, cụ thể như sau:
𝑔𝑔𝑌𝑌∗ = 𝑔𝑔𝐾𝐾∗ = 𝑔𝑔𝐶𝐶∗ = 𝑔𝑔𝑠𝑠∗ = 𝑔𝑔∗ = 𝛿𝛿𝑠𝑠∗𝐿𝐿 (1-7)
4
Trang 24Trong đó, 𝑠𝑠∗ là tỷ trọng lao động tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ �= 𝐿𝐿𝑠𝑠
𝐿𝐿
� � ở trạng thái cân bằng của nền kinh tế
Ý nghĩa của mô hình:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn bị ảnh hưởng bởi yếu tố khoa học công nghệ, năng suất hoạt động R&D và tỷ trọng người lao động tham gia vào hoạt động R&D
Kết quả mô tả ở công thức (1-7) cho thấy: Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế được tính
toán dựa trên việc tối đa hóa lợi ích của cả các hộ gia đình và các doanh nghiệp Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trung gian phải bỏ chi phí để mua bằng phát minh sáng chế, từ đó họ sẽ
có được độc quyền trong việc sản xuất một loại hàng hóa trung gian nhất định Các hộ gia đình bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp và thu được tiền lương Việc tối đa hóa lợi ích của cả các doanh nghiệp và hộ gia đình nhằm đảm bảo điều kiện tham gia thị trường của cả 2
khối này Thứ hai, sự xuất hiện của chỉ số 𝛿𝛿 cho thấy một sự gia tăng đối với năng suất của hoạt
động R&D (hoặc một sự giảm trong chi phí của hoạt động R&D) sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Vì vậy, nếu chính phủ tài trợ hoặc đưa ra các chính sách hỗ trợ cho hoạt động R&D thì sẽ kích thích tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn Đây là điểm khác so với mô hình của Solow được nghiên cứu trước đây
- Những phân tích và cách tiếp cận của mô hình để đưa ra được tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế theo kết luận ở công thức (1-7) dựa trên những tác động của thị trường và việc tối đa hóa lợi ích của các thành viên tham gia thị trường Vì vậy, kết luận ở công thức này là kết quả mang tính thị trường Tuy nhiên, kết quả này chưa phản ánh hết được việc tối ưu hóa về mặt xã hội vì sự tồn tại của nhiều thất bại của thị trường (ví dụ vấn đề độc quyền)
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn thể hiện hiệu ứng theo quy mô Công
thức (1-7) cho thấy một nền kinh tế càng lớn (tức là quy mô lực lượng lao động L càng lớn) thì
sẽ tăng trưởng càng nhanh Romer cũng lý giải từ công thức (1-7) rằng giả sử tham số 𝑠𝑠∗ không
thay đổi, nếu tổng lực lượng lao động của nền kinh tế tăng gấp đôi thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tính theo đầu người cũng tăng gấp đôi Lý giải cho vấn đề này, Romer đã lập luận rằng quy mô lực lượng lao động của một quốc gia càng lớn thì lượng lao động làm việc trong lĩnh vực R&D càng nhiều, và kết quả là điều này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (𝑔𝑔 = 𝛿𝛿𝐿𝐿𝑠𝑠)
- Công thức (1-7) cũng cho thấy, để có tốc độ tăng trưởng kinh tế dương thì 𝛿𝛿𝑠𝑠∗𝐿𝐿 > 0 Điều này có nghĩa là một nền kinh tế phải đủ lớn mới tạo điều kiện cho tăng trưởng, ngược lại
một nền kinh tế quá nhỏ bé thì lực lượng lao động làm việc cho lĩnh vực R&D (𝐿𝐿𝑠𝑠) sẽ tiến dần đến không (𝐿𝐿𝑠𝑠 = 0) và kết quả là g=0
1.1 3 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Bencivenga và Smith [30]
Bencivenga và Smith là hai nhà nghiên cứu kinh tế ở Trường Đại học Cornell, NewYork, Mỹ Hai ông đã dành nhiều tâm huyết của mình để nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế
và các nhân tố tác động tới nó Hai ông cũng thống nhất với các nghiên cứu trước của Solow hay
5
Trang 25Romer về vai trò của hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế Vì vậy, trong hầu hết các nghiên cứu của mình, Bencivenga và Smith đã đưa yếu tố khoa học công nghệ là biến nội sinh Tuy nhiên, khác các nghiên cứu trước, mô hình của Bencivenga và Smith đã chỉ ra vai trò to lớn
của thị trường tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế Thực tế cho thấy, kể cả những nước kinh tế phát triển hay đang phát triển, nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp được tài trợ phần lớn bởi các khoản vay Vì vậy, cần nghiên cứu để những nguồn vốn này được luân chuyển hiệu quả từ những người cung vốn tới những người cầu vốn Trong mô hình của mình, Bencivenga và Smith đã nghiên cứu hoạt động R&D trong mối quan hệ với thị trường tín dụng,
từ đó xem xét ảnh hưởng tổng thể tới tăng trưởng kinh tế Sau đây là một số điểm chính trong mô hình nghiên cứu của hai ông
- L ực lượng lao động: Lực lượng lao động trong mô hình được chia làm 2 nhóm bằng
nhau: người đi vay và người cho vay Trong đó, những người cho vay có thể bán sức lao động
của họ cho các doanh nghiệp và nhận được mức lương thực tế là 𝑤𝑤𝑡𝑡, mức lương này được sử
dụng để tiêu dùng hoặc để cho vay Những người đi vay có hai sự lựa chon: một là đi vay tiền (từ phía những người cho vay) để thực hiện dự án nghiên cứu và phát triển, nếu vay được tiền và dự
án thành công họ sẽ trở thành một chủ doanh nghiệp trong nền kinh tế Hai là, nếu không vay được tiền để thực hiện dự án R&D, họ sẽ bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp và hưởng mức tiền lương thực tế 𝑤𝑤𝑡𝑡 Người đi vay được chia làm 2 nhóm, nhóm có mức độ rủi ro thấp và nhóm có mức độ rủi ro cao
- Doanh nghi ệp: Các doanh nghiệp có hàm sản xuất như sau:
𝑎𝑎𝑡𝑡= 𝑘𝑘𝑡𝑡𝛿𝛿𝑘𝑘𝑡𝑡𝜃𝜃𝐿𝐿1−𝜃𝜃𝑡𝑡 𝜃𝜃 ∈ (0,1) (1-8)
Trong đó, kt là lượng vốn của mỗi doanh nghiệp tại thời kỳ t, Lt là lượng lao động của
doanh nghiệp tại thời kỳ t, 𝑎𝑎𝑡𝑡 là sản lượng của doanh nghiệp tại thời kỳ t, 𝑘𝑘𝑡𝑡là tích lũy vốn trung bình cho mỗi doanh nghiệp
- Th ị trường công nghệ: Mô hình đã xem xét nền kinh tế trong đó thị trường công nghệ
được chia làm 2 nhóm, đó là nhóm công nghệ ở trình độ cao và nhóm công nghệ ở trình độ thấp
Những công nghệ này được sử dụng để chuyển hóa những yếu tố đầu vào thành hàng hóa vốn
Mô hình nghiên cứu sự cải tiến trong mỗi nhóm công nghệ trên sẽ tác động tới tăng trưởng kinh
tế như thế nào?
- Th ị trường tín dụng: Mô hình xem xét mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay
trong sự tồn tại của vấn đề thông tin bất cân xứng Vấn đề thông tin bất cân xứng nhiều khi dẫn đến sự lựa chọn ngược, có nghĩa là người cho vay đã không lựa chọn đúng đối tượng để cho vay Trong mô hình, người đi vay muốn vay được vốn để thực hiện dự án nghiên cứu và phát triển, và
do vậy họ có cơ hội trở thành ông chủ doanh nghiệp Do vậy, họ luôn nỗ lực hết sức để được vay
vốn Tuy nhiên, người cho vay do sự tồn tại của vấn đề thông tin bất cân xứng nên đã không thể đánh giá được đúng về những thông tin có liên quan đến người đi vay (tức không thể đánh giá
6
Trang 26được khả năng thành công của dự án R&D, điều này chỉ bản thân những người đi vay biết rõ) Kết quả là họ có thể lựa chọn không đúng những người có khả năng thành công cao để cho vay
- Quy ết định của các bên tham gia thị trường: Thị trường tín dụng thể hiện mối quan hệ
giữa người đi vay và người cho vay Hai bên tham gia thị trường đều dựa trên cơ sở tối đa hóa
lợi ích của mình
Đối với người đi vay: Giả định rằng lợi ích kỳ vọng từ việc thực hiện dự án R&D luôn lớn hơn so với khi không thực hiện dự án, do vậy người đi vay luôn tìm cách nỗ lực để vay được vốn Nếu họ vay được vốn họ sẽ thực hiện dự án nghiên cứu và phát triển, nếu dự án này thành công họ sẽ trở thành chủ doanh nghiệp sản xuất và thu được lợi nhuận Nếu họ thất bại trong việc vay vốn, họ sẽ bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp sản xuất và thu về mức lương
thực tế wt
Đối với người cho vay: Người cho vay sẽ tham gia thị trường khi lợi ích từ việc cho vay lớn hơn so với việc không cho vay, tức là họ phải thu được về lượng tiền lớn hơn mức lương
thực tế 𝑤𝑤𝑡𝑡
Trên cơ sở tham gia thị trường của các bên, mô hình đã xác lập được điều kiện cân bằng
c ủa thị trường và đưa ra một số kết luận sau:
Thứ nhất: Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bằng với tốc độ tăng về tích lũy vốn bình
quân của các doanh nghiệp và được xác định như sau:
𝑌𝑌𝑡𝑡+1
𝑌𝑌𝑡𝑡 = 𝑦𝑦𝑡𝑡+1
𝑦𝑦𝑡𝑡 =𝑘𝑘𝑡𝑡+1
𝑘𝑘 = 𝑄𝑄(1 − 𝜃𝜃)(𝜌𝜌 𝜃𝜃� )−𝜃𝜃 (1−𝜃𝜃)� (1-9)
Trong đó, Q là lượng vốn vay để thực hiện dự án R&D, 𝜌𝜌 là tỷ lệ sinh lời của dự án tính
trên một đồng vốn vay, 𝜃𝜃 là tham số của mô hình được đề cập trong hàm sản xuất của doanh nghiệp Như vậy, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế là do tác động của hai nhân tố, đó là lượng vốn đầu tư cho hoạt động R&D và khả năng sinh lời của hoạt động này 𝜌𝜌 Nếu lượng vốn đầu tư cho hoat động R&D tăng, khả năng sinh lời của hoạt động R&D tăng thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng tăng
Th ứ hai: Khả năng sinh lời của hoạt động R&D phụ thuộc vào xác suất được tài trợ của
người đi vay, nói cách khác nó là hàm số về xác suất được tài trợ của người đi vay có mức độ rủi
ro thấp (𝜋𝜋𝐿𝐿) Đạo hàm công thức (1-9) theo 𝜋𝜋𝐿𝐿 được kết quả như sau:
𝜕𝜕ln (𝑘𝑘 𝑡𝑡+1 /𝑘𝑘 𝑡𝑡 )
𝜕𝜕𝜋𝜋𝐿𝐿 = 1+(1−𝜆𝜆)(1−𝜋𝜋𝜃𝜃(1−𝜆𝜆)
𝐿𝐿 )+ 𝜃𝜃(1−𝜆𝜆)𝑝𝑝𝐿𝐿 𝜆𝜆𝑝𝑝𝐻𝐻+(1−𝜆𝜆)𝜋𝜋𝐿𝐿𝑝𝑝𝐿𝐿>0 (1-10)
Công th ức (1-10) cho thấy khi tăng xác suất được tài trợ đối với nhóm người có mức độ
r ủi ro thấp, tức là giảm mức độ thông tin bất cân xứng ở thị trường tín dụng hay giảm sự lựa
ch ọn ngược, sẽ góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
7
Trang 27Th ứ ba: Ý nghĩa đối với chính sách can thiệp của chính phủ
Mô hình cho thấy vai trò của hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế không có sự tồn tại của vấn đề thông tin bất cân xứng (tức là không có sự lựa chọn ngược) thì bất
kể hoạt động gì làm tăng lượng vốn và tỷ lệ thành công của hoạt động R&D đều góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, khi nền kinh tế có sự tồn tại của vấn đề thông tin bất cân xứng thì kết luận trên không phải lúc nào cũng đúng Việc nâng cao tỷ lệ tài trợ cho nhóm người
có mức độ rủi ro cao sẽ góp phần làm gia tăng sự lựa chọn đối nghịch, kết quả là điều này sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế Song nếu tỷ lệ tài trợ cho nhóm người đi vay có mức độ rủi ro
thấp được gia tăng sẽ góp phần cải thiện tốc độ tăng trưởng Trên cơ sở đó, Bencivenga và Smith
đã đề xuất một số giải pháp giúp chính phủ trong việc tài trợ cho các hoạt động R&D sao cho
hiệu quả nhất
1.1.4 Mô hình t ăng trưởng kinh tế của Jones [56][57], Ivo De Loo và Luc Soete [54]
Jones, Ivo De Loo và Luc Soete đều đánh giá cao các mô hình kinh tế của Romer và một
số nhà kinh tế khác cùng theo quan điểm với Romer như Grossman – Helpman, Aghion – Howitt, Bencivenga - Smith Về cơ bản Jones, Ivo De Loo và Luc Soete đều thừa nhận tầm quan
trọng của hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế, và xem các mô hình này là nền tảng kinh
tế đối với các nghiên cứu sau này Song các nhà kinh tế này đã bày tỏ một số quan điểm về những tồn tại trong mô hình của Romer, Grossman – Helpman, Aghion – Howitt, Bencivenga - Smith và tìm cách khắc phục giải thích cho các tồn tại đó để các mô hình trên có thể tiếp tục đóng vai trò nền tảng đối với các nghiên cứu sau này
Theo quan điểm của Jones, hàm ý “hiệu ứng theo quy mô” trong mô hình của Romer không phù hợp với thực tế tăng trưởng kinh tế ở một số nước mà ông kiểm định trong kết quả nghiên cứu của mình Jones đã phân tích rằng, hiệu ứng theo quy mô trong mô hình của Romer cho thấy một sự gia tăng liên tục trong lực lượng lao động sẽ dẫn đến xu hướng gia tăng liên tục của tốc độ tăng trưởng tính theo đầu người Ngoài ra, cũng theo Romer được mô tả ở công thức (1-6), tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỷ lệ thuận với tốc độ tăng của lượng người tham gia vào hoạt động R&D (𝐿𝐿𝑠𝑠)
Jones đã tiến hành nghiên cứu và minh họa lượng người tham gia vào hoạt động R&D tại Pháp, Đức, Nhật Bản và Mỹ trong giai đoạn 1965-1990 và tốc độ tăng trưởng kinh tế của các
quốc gia trong giai đoạn này Kết quả nghiên cứu của Jones cho thấy lượng người tham gia vào
hoạt động R&D ở các quốc gia này đều có xu hướng tăng song tốc độ tăng trưởng kinh tế lại có
xu hướng giảm dần Như vậy kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã không phù hợp với kết quả nghiên cứu về mặt lý luận về hiệu ứng theo quy mô trong mô hình của Romer
Ngoài ra, để kết quả nghiên cứu của mình được thuyết phục hơn, Jones đã tiến hành mở
rộng nghiên cứu tại nhóm các nước OECD Kết quả nghiên cứu mở rộng tại nhóm các nước OECD này cũng cho kết quả tương tự như ông đã nghiên cứu tại Pháp, Đức, Nhật Bản và Mỹ
8
Trang 28Sau này Ivo De Loo và Luc Soete cũng thực hiện nghiên cứu tại nhóm nước G7 và một số nước châu Âu, châu Á khác và cũng cho kết quả tương tự như nghiên cứu của Jones
Từ những phân tích nói trên, Jones và các đồng nghiệp cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu
để khắc phục những tồn tại trong mô hình của Romer, Grossman – Helpman, Aghion – Howitt, Bencivenga – Smith, từ đó góp phần tiếp tục duy trì vị trí nền tảng của các mô hình này trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Mô hình của Jones: Tiếp tục phát triển từ mô hình của Romer, Jones cũng gọi A là tham
số phản ánh sự tích lũy về khoa học công nghệ trong nền kinh tế Tuy nhiên, sự thay đổi của khoa học công nghệ (tham số 𝐴𝐴̇) được xác định theo công thức sau:
𝐴𝐴̇ = 𝜃𝜃𝐿𝐿𝑠𝑠 (1-11)
Trong đó, tham số 𝜃𝜃 được hiểu là tỷ lệ thành công của hoạt động R&D và tham số này được xác định như sau:
𝜃𝜃 = 𝛿𝛿𝐴𝐴𝜙𝜙 (1-12)
Ở công thức (1-12), tham số 𝜙𝜙 có thể xảy ra ba trường hợp sau: Thứ nhất, 𝜙𝜙 < 0 có
nghĩa là tỷ lệ thành công của hoạt động R&D và trình độ khoa học công nghệ có quan hệ ngược chiều với nhau; Thứ hai, 𝜙𝜙 > 0 thể hiện mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ thành công của hoạt động R&D và trình độ công nghệ của quốc gia; Thứ ba, 𝜙𝜙 = 0 cho thấy tính chất không đổi theo
quy mô, nghĩa là tỷ lệ thành công của hoạt động R&D độc lập với trình độ công nghệ của quốc gia Tất cả những ảnh hưởng này đều được Jones xem xét dưới góc độ là biến ngoại sinh Khi
𝜙𝜙 = 1, mô hình của Jones lại trở về giống mô hình của Romer và như vậy không giải thích được các nghiên cứu thực nghiệm mà Jones đã đặt ra Do vậy, trong nghiên cứu của mình Jones đã tập trung vào phân tích trường hợp 0 < 𝜙𝜙 < 1
độ tăng trưởng của đầu tư cũng như tiêu dùng và được xác định theo công thức (1-14) sau:
𝑔𝑔𝑌𝑌 = 𝑔𝑔𝑠𝑠 = 𝑔𝑔𝐾𝐾 = 𝑔𝑔𝐶𝐶 = 𝑔𝑔 =1−𝜙𝜙𝑛𝑛 (1-14)
9
Trang 29Trong đó, n là tốc độ gia tăng dân số Công thức (1-14) cho thấy trong trường hợp 𝜙𝜙 = 1 thì trạng thái cân bằng của nền kinh tế sẽ không tồn tại Tuy nhiên, trong trường hợp 𝜙𝜙 < 1 thì
hiệu ứng theo quy mô của nền kinh tế được loại bỏ và được thay thế bằng tốc độ gia tăng dân số Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng kết quả tính toán của công thức (1-14) sẽ phù hợp với số liệu
thực nghiệm hơn là cách giải thích về hiệu ứng theo quy mô theo mô hình của Romer
Các mô hình của Romer và Jones vẫn đang được tiếp tục tranh luận trong giới kinh tế Sau này Ivo De Loo và Luc Soete cũng đưa ra một luận giải khác về mối quan hệ giữa hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế Ivo De Loo và Luc Soete cho rằng những nỗ lực của hoạt động R&D ngày nay trở nên ngày càng quan tâm tới sự khác biệt hóa về sản phẩm hơn là sự đổi mới
về quy trình công nghệ Trong đó, sự đổi mới về quy trình công nghệ mới tạo động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, còn sự khác biệt hóa sản phẩm chủ yếu chỉ góp phần tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng và ít tạo nên sự tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Giáo sư Trần Thọ Đạt - Vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [18][19][20]
Giáo sư Trần Thọ Đạt là nhà kinh tế học và cũng là giảng viên của trường Đại học Kinh
tế quốc dân Hà nội Tại Diễn đàn năng suất chất lượng lần thứ 16 tại Hà nội, ông đã trình bày nghiên cứu của mình về vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Ông cho rằng lý thuyết của Solow khẳng định tăng vốn có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, còn tăng TFP mới là nguồn gốc tăng trưởng trong dài hạn Bài viết của ông phân tích đóng góp của TFP đối với tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế, các nhân tố tác động đến TFP trong
thời gian qua ở nước ta, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách
Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế: Sử dụng cách tiếp cận hạch toán tăng
trưởng, hình 1.1 mô tả đóng góp của vốn, lao động và TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-2009 Có thể thấy một số nhận định sau về xu hướng tăng trưởng của GDP (Y) và các yếu tố vốn (K), lao động (L), TFP ở nước ta như sau:
10
Trang 30Hình 1.1: Tăng trưởng GDP, vốn, lao động và TFP, 1991-2009 [20]
Trước hết, tốc độ tăng trưởng của vốn ngày càng cao, điều này hoàn toàn phù hợp với số
liệu về đầu tư và tích lũy tài sản của nước ta hiện nay và các nhận định về tăng trưởng dựa nhiều vào vốn của nền kinh tế trong thời gian gần đây Theo quy luật năng suất cận biên giảm dần, sự gia tăng của vốn vật chất cuối cùng sẽ làm giảm năng suất cận biên của vốn Tuy nhiên, nếu so sánh thêm với các số liệu về năng suất lao động ở Việt Nam thì tỷ lệ vốn/lao động tăng lên có thể làm tăng năng suất lao động: năng suất lao động xã hội (theo giá so sánh) đã tăng từ 4,6 triệu VNĐ/người năm 1991 lên 10,8 triệu VNĐ/người năm 2009, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 4,9%/năm
Th ứ hai, tăng trưởng TFP tính được có xu thế biến động rất giống GDP (mặc dù khoảng
cách giữa hai đường tăng trưởng này dường như ngày càng xa nhau) Cũng giống tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng TFP có thể được chia thành bốn thời kỳ 1991-1995, 1996-2000, 2001-2005, 2006-2009 Điều này chứng tỏ tăng trưởng TFP chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh Để đánh giá được chính xác hơn vai trò của TFP đối với tăng trưởng kinh tế, cần loại bỏ tác động của chu kỳ kinh doanh ra khỏi tăng trưởng TFP bằng phương pháp Wharton
Hình 1.2: Tăng trưởng GDP, K, L và TFP đã loại bỏ yếu tố chu kỳ kinh doanh, 1991-2009 [20]
11
Trang 31Ước lượng tốc độ gia tăng của năng suất tổng hợp các yếu tố (TFPG) sau khi loại bỏ yếu
tố chu kỳ kinh doanh (TFPG*) thấy rõ 4 giai đoạn của TFPG* trong thời kỳ 1991-2009 như sau:
- Giai đoạn 1991-1996: TFPG* tiến bộ vượt bậc (từ -2,3 lên 3,3), thể hiện sự thành công bước đầu của quá trình đổi mới, với việc nền kinh tế mở cửa ra thế giới, xuất khẩu và FDI tăng trưởng nhanh chóng và đất nước bắt đầu được nhận ODA Điều này góp phần khẳng định vai trò tích cực của thương mại và đầu tư nước ngoài đối với hiệu quả kỹ thuật – công nghệ, thành phần quan trọng của TFP
- Giai đoạn 1997-2000: TFPG* vẫn ở mức tương đối cao, nhưng có chiều hướng giảm (từ 3,27 xuống 2,21) Đây cũng là giai đoạn tăng trưởng kinh tế giảm sút do cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ của khu vực
- Giai đoạn 2001-2007: TFPG* có xu hướng tăng nhẹ (từ 2,39 lên 3,69), cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế, cả về tốc độ tăng trưởng cũng như hiệu quả kinh tế
- Giai đoạn 2008-2009: TFPG* của Việt Nam giảm (từ 3,06 xuống 2,57) cùng cuộc suy thoái kinh tế thế giới trong thời gian gần đây
Tác động của các nhân tố tới tăng trưởng TFP
Sau khi nghiên cứu ảnh hưởng của TFP tới tăng trưởng kinh tế, Giáo sư Trần Thọ Đạt đã nghiên cứu và chỉ ra những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới TFP gồm cơ cấu kinh tế, xuất nhập
khẩu (XNK) và hoạt động R&D Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này được thống kê ở bảng 1.1
B ảng 1.1: Đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng TFP [20]
Đơn vị: %
Kết quả của nghiên cứu này khẳng định sự thay đổi cơ cấu kinh tế và hoạt động nghiên
cứu khoa học – công nghệ có tác động tích cực đến tăng TFP Nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều
quốc gia khẳng định vai trò của chi tiêu cho R&D đối với hiệu quả công nghệ rất quan trọng Phân tích này lấy số bằng phát minh sáng chế được cấp mới làm đại diện cho mức R&D (với giả định là số bằng phát minh sáng chế tỷ lệ với hoạt động R&D) Số liệu từ Cục Sở hữu trí tuệ (2010) cho thấy việc cấp số bằng độc quyền sáng chế, số bằng độc quyền giải pháp hữu ích, số
12
Trang 32bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu mặc dù ngày càng cao, tuy nhiên vẫn còn rất khiêm tốn Xét về đầu tư, chi tiêu chính phủ cho sự nghiệp khoa học
và công nghệ môi trường trong 20 năm qua chưa từng đạt đến 2% tổng chi tiêu (cao nhất vào khoảng 1,9% trong giai đoạn 1996-2000) Số lượng bằng phát minh sáng chế được cấp trong thời
kỳ 1991-2009 cũng chỉ tập trung cho đối tượng người nước ngoài (chiếm 95,2%)
Tuy vậy, hệ số tương quan giữa số bằng độc quyền sáng chế và tăng trưởng TFP bằng 47,7%, điều này khẳng định cải tiến công nghệ có tác động tốt đến hiệu quả kỹ thuật của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1991-2009 Bảng 1.1 trình bày kết quả nghiên cứu của Tổng
cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (2010) về đóng góp của các yếu tố như thay đổi cơ cấu lao động, xuất nhập khẩu và khoa học công nghệ vào TFP trong các năm 2006-2008
Có thể thấy, các hệ số tương quan tính toán ở trên chưa thể hiện hết mối quan hệ giữa TFPG với các nhân tố, và một mô hình hồi quy sau này là cần thiết để giúp loại trừ những ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa chính các nhân tố có tác động tới TFPG
Ý nghĩa chính sách
Từ những phân tích trên đây về TFP trong giai đoạn 1991-2010, có thể rút ra một số kết
luận sau:
- Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Kết quả phân tích cho thấy hiệu ứng tích cực
của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với hiệu quả công nghệ Tuy nhiên, sự phân bổ lại lực lượng lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp vẫn còn khiêm tốn, qua đó hạn chế việc nâng cao năng suất lao động Đến nay, tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực nông thôn vẫn chiếm tới hơn 50% toàn bộ lực lượng lao động Khu vực này hiện có lao động trình độ không cao (mức vốn con người thấp), cũng không khuyến khích nhiều hoạt động R&D, không thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và mức độ đóng góp cho xuất khẩu cũng hạn chế Bởi vậy, giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng TFP phải tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động, đi kèm với đầu tư cao hơn vào giáo dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển
- Chính sách đầu tư: Phân tích tác động của đầu tư trong nước đối với hiệu quả công nghệ cho thấy đầu tư tư nhân đóng vai trò quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả công nghệ Trong khi FDI (ngoại lực) thực sự có hiệu ứng dương với tăng trưởng TFP thì đối với vốn trong nước,
cần xem xét lại vấn đề hiệu quả đầu tư ở khu vực nhà nước
- Chính sách thương mại: các kết quả phân tích tương quan cho thấy thương mại quốc tế
có tác động tích cực đến hiệu quả kỹ thuật, tuy nhiên hiệu ứng này giảm theo thời gian, thể hiện
cơ cấu xuất nhập khẩu chưa bền vững (xuất khẩu sản phẩm thô trong khi nhập khẩu sản phẩm đã qua chế biến) Việt Nam cần xác định lợi thế cạnh tranh dài hạn trong thương mại quốc tế và có
những chính sách đúng đắn để thay đổi cơ cấu xuất nhập khẩu
- Chính sách về khoa học và công nghệ: Rõ ràng R&D có tác động tích cực đến tăng trưởng TFP, nhưng chi tiêu ngân sách cho khoa học – công nghệ ở Việt Nam còn quá thấp
13
Trang 33Trong bối cảnh nguồn lực nhà nước còn hạn chế, thì việc khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào hoạt động này cần được đẩy mạnh, đặc biệt thông qua các mối liên kết giữa trường đại học
Nguyên nhân phải thay đổi mô hình tăng trưởng
- Những tác động của thế giới tới yêu cầu thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế ngày càng gia tăng, sự phụ thuộc của mỗi quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực ngày càng cao và chặt chẽ hơn Bất cứ sự bất ổn nào của thị trường tài chính, lao động, thương mại thế giới đều mang tính lan truyền, ảnh hưởng đến tất
cả các nền kinh tế Kinh tế Việt Nam chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế thế giới nên không nằm ngoài ảnh hưởng của xu hướng này
- Những yếu tố trong nước dẫn tới yêu cầu thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: mô hình phát triển thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế cơ bản, đáng chú ý là: Việt Nam dừng quá lâu ở phát triển theo chiều rộng, chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa quyết định của chất lượng phát triển, thiếu quyết tâm và biện pháp thiết thực chuyển mạnh sang ưu tiên phát triển chiều sâu; Tư tưởng thành tích, bệnh chạy theo tốc độ và số lượng một cách thái quá diễn ra
phổ biến; Trong triết lý phát triển, thiếu tầm nhìn toàn diện và dài hạn, bị hút quá nhiều vào từng
mặt và trước mắt; Khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo suy thoái kéo dài, không chấn hưng,
cải cách được; Cơ cấu kinh tế theo ngành và theo thành phần kinh tế chuyển dịch chậm, mất cân đối lớn và còn nhiều lạc hậu; Thế chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đồng
bộ và còn khá nhiều méo mó; Xã hội nhiều tiêu cực, tệ nạn; Môi trường bị ô nhiễm và phá hoại nặng nề Những hạn chế và méo mó trên đòi hỏi Việt Nam phải gấp rút tìm ra một mô hình tăng trưởng mới nhằm khôi phục sự ổn định của nền kinh tế và tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định trong dài hạn
M ục đích thay đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
Trong những năm đổi mới, mô hình phát triển theo chiều rộng đã góp phần mang lại nhiều thành tưu quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam; Tuy nhiên, việc duy trì
mô hình phát triển này quá lâu đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và bền vững trong tương lai Vì vậy, việc thay đổi mô hình phát triển là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách đặt ra đối với Việt Nam hiện nay Đây là một yêu
cầu thay đổi nội tại nền kinh tế, nội tại xã hội, đồng thời cũng là yêu cầu thay đổi khi tham gia
hội nhập, toàn cầu hóa để có thể phát triển bền vững mang tính dài hạn Nó phù hợp với xu thế
14
Trang 34chung của thế giới, khi nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới đã và đang tích cực xúc tiến
sự thay đổi để thích nghi với bối cảnh kinh tế thế giới mới sau khủng hoảng
Nhận thức được điều đó, Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Chuyển đổi mô hình tăng
trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, v ừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”[3]
Đồng thời, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của 5 năm
2011 – 2015 là: “Phát tri ển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ
c ấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh”[4]
Như vậy, mục tiêu của việc thay đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam là: Khôi phục ổn định kinh tế vĩ mô; Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; Duy trì tăng trưởng cao
một cách bền vững để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình
N ội dung và biện pháp thay đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
- N ội dung của thay đổi mô hình tăng trưởng tại Việt Nam: Nội dung cụ thể của việc thay
đổi mô hình tăng trưởng kinh tế nhằm tiến tới một mô hình mới ở đó nền kinh tế đạt được các
nội dung như sau:
M ột là, mô hình tăng trưởng có sự kết hợp hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu, trong đó
lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư
nâng cao trình độ khoa học và công nghệ quốc gia, đầu tư nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ Vai trò của khoa học và công nghệ trong tăng trưởng phải được coi là chìa khoá để có thể sớm thay đổi mô hình tăng trưởng với tiêu hao đầu vào (vốn, đất đai, năng lượng, ) ở mức
thấp hơn nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng, tiến tới tăng trưởng cao hơn
Hai là, mô hình tăng trưởng mới hướng tới việc nâng cao chất lượng, chú trọng đến năng
suất, hiệu quả của tăng trưởng, kể cả hiệu quả của sự tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu:
Ba là, mô hình tăng trưởng hướng tới các mục tiêu dài hạn
B ốn là, mô hình tăng trưởng bền vững hướng tới mục tiêu thân thiện môi trường và vì
con người
- Phương pháp thay đổi mô hình tăng trưởng
Th ứ nhất, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế: gồm tái cấu trúc kinh tế theo ngành, nghề; tái
cấu trúc theo thành phần kinh tế; tái cấu trúc kinh tế theo lãnh thổ; tái cấu trúc đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Th ứ hai, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: gồm cải thiện môi trường kinh
doanh; đẩy mạnh phòng và chống tệ nạn tham nhũng; thúc đẩy đổi mới công nghệ; thúc đẩy
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong đó, hoạt động thúc đẩy đổi mới công
nghệ được quan tâm hơn cả vì trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, trình độ công nghệ được xem như là một yếu tố cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Đo đó, cần phải có
giải pháp đồng bộ tăng cường tiềm lực khoa học – công nghệ cho nền kinh tế
15
Trang 35Th ứ ba, tăng cường đầu tư theo chiều sâu đối với các yếu tố nguồn lực làm nền tảng cho
tăng trưởng bền vững trong dài hạn Để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững trong dài hạn,
Nhà nước cần đặc biệt quan tâm tăng cường đầu tư cho khoa học - công nghệ: Cần xây dựng
chiến lược dài hạn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ, đầu tư có trọng tâm,
trọng điểm để tạo bước bứt phá về một số công nghệ cao có tác động tích cực đến nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, tận dụng lợi thế của nước đi sau Cần thay đổi tư duy trong phát triển hệ thống khoa học - công nghệ Nhà nước cần xác định rõ nhiệm vụ hỗ trợ trực tiếp trong giới hạn và phạm vi
nhất định, chuyển mạnh sang cơ chế quản lý bằng chính sách nhằm kích thích đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp và tăng hợp tác hai chiều giữa tổ chức nghiên cứu triển khai và các doanh nghiệp
Nhanh chóng hình thành thị trường sản phẩm công nghệ và hỗ trợ thị trường này phát triển mạnh Theo đó, khuyến khích các tổ chức khoa học - công nghệ tham gia thực hiện các giao dịch chính thức trên thị trường khoa học - công nghệ; đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và triển khai theo hướng xóa bỏ dần cơ chế bao cấp, quản lý hành chính, chuyển sang
vận hành theo cơ chế thị trường
Một việc vừa mang tính chiến lược vừa là giải pháp tác nghiệp cho việc tăng cường đầu
tư đổi mới công nghệ là chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI FDI phải nhằm mục tiêu nâng cấp công nghệ và nâng cấp nền kinh tế Do đó, phải quan tâm đến đầu tư hấp thụ công nghệ và kỹ năng hơn là đầu tư về tư liệu máy móc hay các nhà máy Để thực hiện điều này cần chú trọng hai vấn đề then chốt: cần phải lựa chọn nhà đầu tư và các dự án đầu tư phù hợp; tạo sự
hấp dẫn và vững tin hơn cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào Việt Nam
Th ứ tư, cải cách thể chế: Hình thành thể chế kinh tế, thể chế chính trị hoàn chỉnh, đồng
bộ, có lợi cho phát triển kinh tế và có lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Nhà nước cần
ban hành khung cơ chế minh bạch, kịp thời để thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế đem lại
hiệu quả cao
1.2.3 Nguyễn Đức Kiên – Mô hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ở giai đoạn thu nhập trung bình thấp (2012-2020) [9]
Ngoài mô hình tăng trưởng kinh tế được đưa ra bởi Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Chủ nhiệm ủy ban kinh tế của Quốc hội khóa XIII- cũng đã nghiên cứu và đề xuất mô hình mô hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn thu nhập trung bình thấp (2012-2020) với các nội dung cơ bản như sau:
Khái quát các mô hình t ăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn 1986-2006
- Giai đoạn 1986 - 1997:
Mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn này là khắc phục khủng hoảng của mô hình kế
hoạch hóa tập trung Trong thời kỳ này, mục tiêu của mô hình tăng trưởng kinh tế là: đáp ứng
16
Trang 36các yêu cầu ổn định đời sống nhân dân, ổn định kinh tế, ổn định chính trị đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng
- Giai đoạn 1998 -2006:
Mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn này là: tận dụng thời cơ hướng tới xuất khẩu Mục tiêu của mô hình tận dụng thời cơ hướng tới xuất khẩu là tận dụng mọi lợi thế so sánh và điều kiện mở của thị trường Mỹ để phát triển nuôi trồng thủy sản, các ngành công nghiệp chế biến thu hút nhiều lao động với yêu cầu tay nghề thấp Ngoại lực là quan trọng, nội lực là quyết định
Quan điểm xây dựng mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2012-2020
Để mô hình có thể tạo ra một bước đột phá trong phát triển kinh tế xã hội thì cần được xây dựng trên những vấn đề cơ bản như sau:
- Huy động được tổng lực mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế - bảo vệ môi trường - ổn định xã hội
- Tận dụng được các lợi thế của đất nước trong 10 năm tới là ổn định chính trị, giá nhân công hợp lý (lương thấp cộng chi phí đào tạo thấp)
- Tận dụng được bối cảnh quốc tế: các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương khủng
hoảng kéo dài; kinh tế khu vực và thế giới vẫn bị ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính năm 2008
và khủng khoảng nợ công ở châu Âu từ năm 2011
- Sử dụng mô hình tam giác phát triển: kinh tế - bảo vệ môi trường - đảm bảo an sinh xã hội để xây dựng mục tiêu ngắn và trung hạn nhằm tăng cường thông tin 2 chiều giữa vĩ mô và vi
mô, tạo sự đồng thuận trong xã hội và công tác đánh giá hiệu quả của cơ quan điều hành vĩ mô
- Bám sát Cương lĩnh xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa năm 2011 đã được Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua
- Tăng cường hợp tác quốc tế để tận dụng được sự giúp đỡ của các đối tác quốc tế vào phát triển kinh tế Việt Nam
Phác th ảo mô hình tăng trưởng giai đoạn 2012-2020
Tên gọi: Tận dụng thời cơ, đưa kinh tế Việt Nam trở thành một bộ phận, một khâu trong
chuỗi giá trị của các sản phẩm được bán ra trên thị trường thế giới
M ục tiêu: Mục tiêu cao nhất là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại
B ốn nhóm vấn đề cơ bản cần tập trung giải quyết theo mục tiêu phân kỳ 5 năm và hàng năm
- Một là, tạo sự đồng thuận trong nhận thức phát triển bền vững
Xác định dùng lý thuyết tam giác phát triển làm thước đo độ tương thích của mô hình tăng trưởng kinh tế với các yếu tố xã hội, môi trường Đồng thời sử dụng lý thuyết này làm cơ sở
17
Trang 37cho việc xây dựng lộ trình tác động của kinh tế đối với hai lĩnh vực môi trường và an sinh xã hội, cũng như tương tác giữa các lĩnh vực với nhau Lý thuyết phát triển trước hết là một sản phẩm
của nghiên cứu khoa học nên phải gắn với một điều kiện lịch sử cụ thể Ngoài ra, số liệu và kết
quả công bố là sản phẩm của một thời điểm nghiên cứu cụ thể với các yếu tố đầu vào là bất biến, theo đó mới xác định được các tác động của yếu tố kinh tế phát triển đối với vấn đề bảo vệ môi trường và thực hiện an sinh xã hội
Hai là, tạo sự đồng thuận trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trong nền kinh tế hiện nay, không có một quốc gia nào, không một vùng lãnh thổ nào có
lợi thế tuyệt đối Do đó, không một quốc gia nào có thể đóng cửa để sản xuất một sản phẩm hoàn
chỉnh có khả năng cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, cần xác định rõ độc lập tự do thể hiện trong kinh tế ở thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế phải được hiểu là nền kinh tế Việt Nam hay doanh nghiệp Việt Nam tham gia bình đẳng trong việc hình thành một sản phẩm hoàn chỉnh thương hiệu quốc tế nào đó Chỉ có trên nhận thức chung như vậy chúng ta mới giải thích, tạo được sự đồng thuận xã hội khi phải bán than ở miền Bắc và nhập than ở miền Nam và phát huy được hiệu
quả kinh tế khi sử dụng lợi thế so sánh
Ba là, tạo sự đồng thuận trong việc hình thành quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng
sản xuất trong bối cảnh mới: xã hội tin học
Với thực trạng của nền kinh tế nước ta hiện nay, việc kỳ vọng cao và tập trung quá nhiều nguồn lực vào đầu tư phát triển khoa học cơ bản có thể là một sai lầm, gây lãng phí nguồn lực hạn hẹp của đất nước Nhìn từ khía cạnh lý thuyết kinh tế, tăng trưởng kinh tế là phần giá trị gia tăng của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đầu tư vào phát triển khoa học cơ bản để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao là đúng đắn và cần thiết Tuy nhiên, nếu nhìn nhận thẳng
thắn vào điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc quá coi trọng đầu tư vào lĩnh vực này cần được cân nhắc kỹ lưỡng Đầu tư vào lĩnh vực này đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, thêm vào đó là lực lượng lao động có tay nghề cao, liệu sau đó sản phẩm từ lĩnh vực này có thể bù đắp được chi phí lớn như vậy không? Hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng với tỷ lệ dân số trong độ
tuổi lao động cao, cộng thêm các điều kiện về vốn và nhân lực còn hạn chế, có thể nói rằng chúng ta vẫn nên coi trọng những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động để tận dụng lực lượng lao động dồi dào hiện có Nên coi việc ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ ở nước ta là
trọng tâm, là một đặc thù, theo đó các nhà nghiên cứu khi có các ý tưởng mới, sáng kiến mới được áp dụng vào sản xuất cũng phải được đãi ngộ như người có vốn, có sức lao động
Bốn là, tạo sự đồng thuận về chuyển đổi bộ máy quản lý nhà nước từ chính quyền đến địa
phương
1.3.1 M ột số tồn tại từ các mô hình nghiên cứu trước
18
Trang 38Các mô hình nghiên cứu cho đến nay đều thừa nhận vai trò to lớn của hoạt động R&D nói riêng và hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên,
thực tế cũng cho thấy còn tồn tại một số vấn đề sau:
- Các mô hình nghiên c ứu về mối quan hệ giữa hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế đã không thành công trong vi ệc giải thích một nghịch lý về tăng trưởng kinh tế gần đây ở một số
qu ốc gia: những nỗ lực về hoạt động R&D liên tục tăng trong những năm gần đây ở những nước
có n ền kinh tế phát triển trong khi tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng kinh tế
phẩm, từ đó nâng cao lợi ích của người tiêu dùng Tỷ trọng đầu tư hoạt động R&D ở những nước đang phát triển chủ yếu vẫn thuộc về ngân sách Nhà nước và kết quả là tập trung chủ yếu vào
việc đổi mới quy trình Vậy phải chăng đây là những lý do khiến tốc độ tăng trưởng ở những nước phát triển không cao như những nước đang phát triển mặc dù họ vẫn không ngừng nỗ lực tập trung cho hoạt động R&D ở trong nước Bảng 1.2 mô tả tỷ trọng đầu tư hoạt động R&D của khối doanh nghiệp so với các bộ phận còn lại ở một số nước trên thế giới
Bảng 1.2: Tỷ trọng đầu tư hoạt động R&D của khối doanh nghiệp so với các bộ phận còn lại [74]
19
Trang 39động này có mức độ tác động khác nhau tới tăng trưởng kinh tế và tạo ra nghịch lý về tăng trưởng ở một số nước trong những năm gần đây
- S ự tác động của tốc độ tăng dân số và quy mô dân số của một quốc gia tới hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế
Theo kết quả nghiên cứu trong mô hình của Romer [77][78], ông khẳng định rằng quy
mô dân số có quan hệ thuận chiều với hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế Mô hình đã lý giải rằng, một quốc gia có quy mô dân số càng lớn thì lượng người có khả năng làm việc cho hoạt động R&D càng cao, do vậy quốc gia càng có điều kiện để tăng trưởng kinh tế Mô hình gọi đây
là “hiệu ứng theo quy mô” Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều quốc gia có lực lượng lao động
dồi dào (ví dụ Ấn Độ, Trung Quốc…) nhưng không được xếp vào những quốc gia phát triển trên
thế giới Mặc dù những năm gần đây hai quốc gia Ấn Độ và Trung Quốc đã đạt được những tốc
độ tăng trưởng kinh tế tương đối tốt, nhưng rất nhiều thập niên qua hai quốc gia này đã trải qua nhiều khó khăn về kinh tế và hiện nay hai quốc gia vẫn chỉ được xếp vào nhóm những quốc gia đang phát triển
Vậy quy mô dân số có vai trò như thế nào đối với hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế
Một quốc gia có quy mô dân số quá bé cũng khó có điều kiện tăng trưởng tốt, song một quốc gia
có quy mô dân số rất đông cũng không thể khẳng định là có kết quả tốt đối với hoạt động R&D
và tăng trưởng kinh tế Phải chăng quy mô dân số phải ở một mức độ nhất định thì quốc gia mới
có điều kiện để mở rộng hoạt động R&D và kích thích tăng trưởng kinh tế
- Mô hình c ủa Bencivenga và Smith cho thấy vấn đề thông tin bất cân xứng ở thị trường tín d ụng đã tạo ra hệ quả là sự lựa chọn ngược, những người đi vay có mức độ rủi ro thấp lại bị
t ừ chối cho vay, trong khi đó những người cho vay có mức độ rủi ro cao lại là những người luôn tích c ực tìm vay, kết quả họ là những người được lựa chọn để cho vay Điều này đã gây ảnh hưởng không tốt đối với thị trường tín dụng và kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế
Vậy khi nguồn vốn tài trợ cho hoạt động được thực hiện qua thị trường tín dụng, ví dụ các doanh nghiệp vay tiền để tiến hành hoạt động R&D, Nhà nước lựa chọn dự án R&D khả thi
để tài trợ, thì sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng sẽ tác động như thế nào? Chính phủ nên đưa ra các chính sách để quản lý thị trường tín dụng cũng như nguồn tài trợ cho hoạt động R&D như thế nào đề có hiệu quả nhất trong bối cảnh từng nền kinh tế
- Jones, Ivo De Loo và Luc Soete đã tập hợp các số liệu thực tế của một số quốc gia trên thế giới và chỉ ra sự không phù hợp giữa kết quả về mặt lý luận trong một số nghiên cứu trước như mô hình của Romer, Grossman – Helpman, Aghion – Howitt, Bencivenga – Smith với số
liệu thực nghiệm Đồng thời Jones, Ivo De Loo và Luc Soete cũng xây dựng mô hình để đưa ra các luận giải giải khác nhau về sự không phù hợp này Tuy nhiên, các luận giải này vẫn chưa
nhận được sự đồng thuận và còn đang được tiếp tục tranh luận trong giới kinh tế
20
Trang 40- Các mô hình và kết quả nghiên cứu của Trần Thọ Đạt, Nguyễn Đức Kiên, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cũng cho thấy tầm quan trọng của hoạt động R&D đối với tăng năng suất lao động nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa chỉ ra được ngưỡng tài trợ hiệu quả và không hiệu quả của hoạt động R&D và chưa luận
giải được nghịch lý về tăng trưởng kinh tế đang xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới
1.3.2 Định hướng nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây cho thấy vai trò to lớn của hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế và chỉ ra rằng việc tăng đầu tư đối với hoạt động R&D sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, những năm gần đây kết quả nghiên cứu này nảy sinh một số tồn tại khi một
số quốc gia có tỷ lệ đầu tư cho hoạt động R&D vẫn liên tục gia tăng, trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế lại giảm dần Một số lý giải có thể đưa ra cho vấn đề này, ví dụ vấn đề thông tín bất cân xứng ở thị trường tín dụng, vấn đề quy mô dân số và tốc độ tăng dân số, vấn đề chất
lượng của hoạt động R&D…Do vậy, tác giả định hướng nghiên cứu mô hình đánh giá tác động
của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối
v ới tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở đó xem xét những nhân tố tác động thuận chiều, những nhân
tố tác động ngược chiều và xem xét những điều kiện nên mở rộng hoạt động R&D, những điều
kiện không nên mở rộng hoạt động này
So với mô hình của Solow, điểm khác biệt của mô hình nghiên cứu là hoạt động R&D được xem xét dưới góc độ biến nội sinh Mô hình của Solow đã xem xét yếu tố khoa học công nghệ nói chung, hoạt động R&D nói riêng dưới góc độ biến ngoại sinh, vì vậy chưa thấy được
hết tầm quan trọng của hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh tế Trong mô hình nghiên cứu
của luận án, việc đánh giá hoạt động R&D là biến nội sinh sẽ góp phần đánh giá được đúng hơn vai trò của hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh tế
So với mô hình của Romer, mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế và sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng là những điểm khác biệt cơ bản Trong mô hình nghiên cứu, các chủ thể trong nền kinh tế được chia thành những người đi vay và người cho vay, trong
đó những người đi vay lại được chia thành những người đi vay có mức độ rủi ro cao và những người đi vay có mức độ rủi ro thấp Chính bởi sự khác biệt về cách tiếp cận của các chủ thể trong
nền kinh tến này đã dẫn đến điểm khác biệt tiếp theo là mô hình đã nghiên cứu chi tiết hơn ở khả năng được tài trợ (xác suất được tài trợ) để thực hiện hoạt động R&D và khả năng nghiên cứu thành công (xác suất nghiên cứu thành công) của hoạt động này đối với từng nhóm người đi vay
có mức độ rủi ro cao và rủi ro thấp Ngoài ra, sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng đã khiến thông tin về mức độ rủi ro cao hay thấp là thông tin riêng của từng người và vì vậy đã tác động tới xác suất được tài trợ tín dụng để thực hiện hoạt động R&D
So với mô hình của Bencivenga và Smith, sản phẩm trong nền kinh tế được chia thành 2 nhóm là sản phẩm cuối cùng và sản phẩm trung gian Mô hình nghiên cứu nền kinh tế với sự mở rộng của lượng sản phẩm trung gian theo đó mỗi sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế là kết quả của một dự án R&D được nghiên cứu thành công Sự mở rộng sản phẩm trung gian này
21