Thuyết trình: Đồng nhân dân tệ: Sự lựa chọn giữa tỷ giá hối đoái cố định và tỷ giá hối đoái thả nổ
Trang 1Sự lựa chọn giữa tỷ giá hối
đoái cố định và thả nổiNhóm 9 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 2www.themegallery.com Company Logo
Danh sách Nhóm 5
1 Ngô Thị Phượng
2 Nguyễn Châu Hà
3 Ôn Ngọc Minh Trí
4 Lê Thị Thanh Loan
5 Đoàn Viết Bửu Phương
6 Nguyễn Thị Bích Hạnh
7 Nguyễn Hoàng Lan Hương
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 4www.themegallery.com Company Logo
Sự thay đổi chính sách TGHĐ của Trung Quốc
từ những năm 80 đến nay
Đầu những năm 1980, Trung Quốc ấn định mức
tỷ giá cố định là 2,4 NDT/USD xuất khẩu kém, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, lạm phát.
Đầu những năm 1990, TQ nâng tỷ giá đồng NDT lên 5,8 - 5,9 NDT/USD cải thiện XK, giảm thâm hụt cán cân TM.
Từ năm 1994, TQ chuyển tỷ giá lên 8,7 NDT/USD, sau đó trải qua nhiều lần điều chỉnh, TGHĐ dừng lại ở mức 8,2 - 8,3 NDT/USD nhanh chóng đẩy mạnh xuất khẩu, giảm rủi ro hối đoái, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài.
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 51 Dẫn nhập
Dự trữ ngoại hối là một tấm chắn bảo vệ hữu ích đối với khủng hoảng tiền tệ nhưng hiện nay mức dự trữ của TQ hầu như đã khá đầy
đủ, và các tín phiếu kho bạc Mỹ không mang lại thu nhập cao cho TQ
Ngày càng khó khăn để hạn chế dòng tiền vào theo thời gian
Các tranh luận về quan điểm cho rằng việc neo
đồng tiền đang mang lại lợi ích cho TQ
Trang 6www.themegallery.com Company Logo
1 Dẫn nhập
Cân bằng bên ngoài có thể đạt được bằng cách cắt giảm chi tiêu, tăng lãi suất, duy trì chính sách hai mục tiêu (cân bằng nội và cân bằng ngoại) Điều này thường đòi hỏi sử dụng hai công cụ tài chính độc lập (tỷ giá hối đoái thực
và lãi suất)
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 71 Dẫn nhập
Một nền kinh tế lớn như TQ có thể điều chỉnh tỷ giá hối đoái thực thông qua tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái danh nghĩa bằng việc thả nổi giá cả
Kinh nghiệm của các thị trường mới nổi khác: nên thoát khỏi việc neo đồng tiền vào thời điểm thuận lợi và đồng tiền đang mạnh, hơn là chờ đến khi thời điểm xấu và đồng tiền dễ bị tấn công (suy yếu)
Trang 8www.themegallery.com Company Logo
1 Dẫn nhập
Trong viễn cảnh dài hạn, giá cả hàng hoá và dịch vụ của TQ không chỉ là thấp so với Mỹ (0.23), mà còn thấp theo tiêu chuẩn mà hiệu ứng Samuelson-Balassa
đã đo lường qua nhiều quốc gia (ước khoảng 0.36)
Năm 2000 đồng Nhân dân tệ đã được đánh giá thấp hơn 35%, và hiện nay ở mức thấp nhất có thể
Sự cách biệt này đã được điều chỉnh nhưng không triệt để qua các thập kỷ sau đó Tháng 7/2005 TQ đã ban hành chính sách mới nhưng vẫn chưa dẫn đến kết quả cuối cùng trong việc hủy bỏ cơ chế neo vào đồng đô la.
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 91 Dẫn nhập
Đã đến thời điểm đồng Nhân dân tệ
nên được định giá cao.
Bài v
iết cho
rằn g:
Trang 10www.themegallery.com Company Logo
1 Dẫn nhập
Thứ nhất: Các phép toán dựa trên hiệu ứng Balassa –
Samuelson cho rằng giá trị thực của đồng Nhân dân tệ
được đánh giá thấp trong một thời gian – không chỉ thấp
khi so sánh với đồng đô la Mỹ hoặc những nước giàu khác,
mà còn thấp hơn giá trị cân bằng đối với một quốc gia đạt
mức phát triển như TQ
Nhận định này được đưa ra bởi 4
nguyên nhân chính
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 111 Dẫn nhập
Thứ hai
Mức độ cán cân thanh toán hiện nay của TQ luôn thặng dư và lượng dự trữ đã rất cao trong nhiều năm, để quốc gia có thể bỏ ra mua ngay lập tức tín phiếu kho bạc Mỹ bằng số tiền
mang lại từ đầu tư nội địa
Trang 12www.themegallery.com Company Logo
1 Dẫn nhập
Thứ ba Vào năm 2002 trong khi các nhà chức trách thành công một cách đáng chú ý khi ngăn chặn dòng tiền vào, và sự de doạ của tình trạng quá nóng tồn tại vào năm 2004 dường như biến mất vào năm 2006, người ta nghi ngờ rằng họ hoàn toàn có thể duy trì sự
ngăn chặn trên quy mô này vô thời hạn.
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 131 Dẫn nhập
Thứ tư
Kinh nghiệm của các thị trường mới nổi cho thấy rằng thoát ra khỏi việc neo đồng tiền khi thời điểm thuận lợi và lúc đồng tiền mạnh thì tốt hơn là chờ đợi cho đến khi thời điểm xấu
đi và đồng tiền đang bị tấn công
Trang 14www.themegallery.com Company Logo
1 Dẫn nhập
Bài viết trình bày các lập luận về sự linh hoạt của
tỷ giá trong một bối cảnh chung Sự tự do định giá thấp khi cán cân thanh toán thâm hụt, hoặc sản
lượng đã giảm dưới tiềm năng, cũng quan trọng như sự tự do định giá cao trong các trường hợp ngược lại Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh cụ thể tình hình kinh tế vĩ mô của TQ, đặc biệt là các đặc điểm về thặng dư thanh toán và sự tăng trưởng
nhanh chóng
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 152 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Một số quan điểm cho rằng những thay đổi trong
TG hối đoái là không cần thiết hoặc không
đủ để điều chỉnh cán cân thương mại Trong một chừng mực nào đó, quan điểm này đúng, nhưng không phải khi nào nó cũng chính xác
Sự thật là còn có những chính sách khác tác động, chẳng hạn mức độ chi tiêu Bởi vì:
+ Chi tiêu > Thu nhập => Thâm hụt thương mại + Chi tiêu < Thu nhập => Thặng dư thương mại
Sự cần thiết của của 2 công cụ chính sách:
TG hối đoái và chi tiêu
Trang 16www.themegallery.com Company Logo
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
=> Những thay đổi trong chi tiêu có tác động đến cán cân thương mại Nhưng điều này không có nghĩa rằng thay đổi trong TG hối đoái cũng không quan trọng - đặc biệt là đối với những quốc gia lớn và có nền kinh tế năng động như Trung Quốc
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 17Lập luận cho rằng việc điều chỉnh TG hối đoái là không quan trọng bắt nguồn từ 2 quan điểm thương mại mâu thuẫn nhau:
+ Một bên cho rằng độ co giãn của thương mại (sự phản ứng của XK và NK) trong mối quan hệ với giá
cả, là rất thấp nên nó ít tác động đến sự điều chỉnh cán cân thương mại
+ Quan điểm ngược lại cho rằng độ co giãn của thương mại là rất cao – cao đến mức mà các DN buộc phải điều chỉnh toàn bộ giá cả ngay lập tức để phản ứng lại sự dao động của TG hối đoái, nếu
không sẽ mất toàn bộ khách hàng
=> Bài viết dựa trên giả định: Mức giá cả sẽ điều chỉnh
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Trang 18www.themegallery.com Company Logo
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Tác giả bài viết xem xét sự tác động của TG hối đoái và chi tiêu đối với trường hợp của TQ như sau
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5 Hình 1: Cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài
Trang 192 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Hình 1 thể hiện hai công cụ chính sách trên hai trục (trục tung biểu diễn E, trục hoành biểu diễn i) Xem xét mục tiêu đầu tiên, cán cân
thương mại là một tiêu chuẩn cho sự cân bằng bên ngoài Để cho đơn giản, chúng ta xem như
mục tiêu cán cân thương mại là con số không
Xét điểm giao nhau của hai đường EB (cân bằng bên ngoài) & IB (cân bằng bên trong) -> chúng ta sẽ quan sát khi điểm giao nhau này dịch chuyển dần dần theo thời gian
Trang 20www.themegallery.com Company Logo
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Giả định cụ thể đối với Ngân hàng nhân dân Trung Hoa, ta thấy Ngân hàng nhân dân Trung Hoa có thể tùy ý sử dụng cả hai công cụ chính sách: tỉ giá hối đoái (E) và lãi suất (i)
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 212 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Có nhiều cách kết hợp khác nhau giữa
TG hối đoái thực (E) và LS thực (i) phù hợp với cán cân thương mại là con số không, và chúng được biễu diễn bởi đường thẳng EB dốc xuống như trong hình 1
Để thấy rằng đường EB dốc xuống, hãy xem xét một sự thâm hụt quốc gia tại điểm D
Tại điểm D, các quốc gia có thể loại bỏ thâm hụt thương mại bằng cách hoặc là nâng giá trị thực (tăng E), một sự dịch chuyển lên trên - hoặc là bằng cách cắt giảm chi tiêu (tức tăng i), một sự dịch chuyển về bên phải
Trang 22www.themegallery.com Company Logo
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Bây giờ hãy tưởng tượng rằng một quốc gia nhận thấy rằng nó đang có thặng dư thương mại rất lớn, tức nó đang đứng tại điểm C Nó có thể quay trở lại điểm cân bằng bằng cách giảm TG hối đoái thực (E) hoặc là bằng cách giảm LS (i).
Giảm TG hối đoái thực có thể đạt được hoặc là bằng việc định giá cao đồng tiền hoặc là cho phép giá cả hàng hóa gia tăng => hàng hoá trong nước mất khả năng cạnh tranh trên thị trường
thế giới => xuất khẩu giảm => thu từ ngoại tệ giảm => mục tiêu giảm cán cân thương mại lại tiếp tục đạt được
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 232 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
Như vậy, Chính phủ có thể hoặc là hạ thấp LS (i) hoặc là hạ thấp TG hối đoái (E); tức là tăng cái này thì phải giảm cái kia => mới đạt được cân bằng bên ngoài
Vấn đề đặt ra: Cách nào để đạt được sự thay đổi trong TG hối đoái thực thì được ưa thích hơn, giảm trong TG hối đoái danh nghĩa hay là gia tăng trong mức giá?
Trang 24www.themegallery.com Company Logo
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương mại
TQ là một quốc gia có thị trường nội địa lớn, điều đó chỉ ra rằng sự điều chỉnh thông qua
TG hối đoái có sự hấp dẫn đầu tư hơn
Nếu cân bằng thương mại là mục tiêu duy nhất, khi đó có lẽ sẽ không cần phải điều chỉnh
TG hối đoái thực Có nghĩa sẽ không cần phải trải qua bất cứ sự thay đổi nào trong mức
giá khác Sự điều chỉnh có thể xảy ra trong mức chi tiêu, hơn là thông qua sự dịch chuyển chi tiêu Trong điều kiện của các công cụ
chính sách của NHTW, CS tiền tệ có thể thực hiện tất cả những việc trên
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 252.1 Lộ trình cân bằng bên trong
Do cân bằng thương mại không phải là mục tiêu duy nhất vì CPhủ còn phải thực hiện những mục tiêu vĩ mô khác -> Cái chúng ta cần quan tâm bây giờ là cân bằng bên trong
Bởi vì một quốc gia luôn có hơn một mục tiêu chính sách, cho nên sẽ cần nhiều hơn một loại công cụ chính sách để đạt được những mục tiêu đó Chỉ có LS thôi thì chưa đủ
Mục tiêu cân bằng bên trong có thể được xác định khi sản lượng đầu ra bằng với sản lượng đầu ra tiềm năng, hoặc khi việc làm bằng với
tỷ lệ việc làm tự nhiên, hoặc khi LP ở mức mục tiêu hoặc không có áp lực LP
Trang 26www.themegallery.com Company Logo
2.1 Lộ trình cân bằng bên trong
Năm 2002, có một sự tranh cãi cho rằng TQ ở trạng thái Y = Y-, tại điểm C2002, trong vùng thặng dư cung hàng hóa -> một số CS tiền tệ để giảm bớt sự thặng
dư được đặt ra, nhằm gia tăng tiêu dùng và trở lại điểm cân bằng bên trong
Tuy nhiên năm 2004, TQ đã có sự dịch chuyển đến phía khác của đường thẳng, đến tại điểm C2004 (tăng trưởng nóng) Kết quả là một sự kết hợp nhằm gia tăng LS (tăng i) hoặc nâng giá trị thực (giảm E) được đưa ra => Năm 2006, hiểm họa do tăng trưởng nóng
đã dịu bớt, TQ đã quay trở lại sát với đường cân bằng bên trong.
=> Chỉ có một điểm duy nhất trên đồ thị tại đó đạt được cả hai mục tiêu đòi hỏi (cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài), đó là điểm giao nhau của hai đường EB & IB.
Trang 272.1 Lộ trình cân bằng bên trong
Kinh tế TQ hiện nằm ở vị trí góc phần tư phía trên của đồ thị: đó là sự kết hợp giữa thặng dư thương mại và dư thừa trong cầu hàng hóa
Không có thông tin chính xác hơn thì không thể biết chiều hướng di chuyển của LS được hình thành bởi sự kết hợp tối ưu của 2 công cụ điều chỉnh sẽ như thế nào Nó tùy thuộc vào
TQ đang nằm ở góc nào của đồ thị Nhưng có thể biết được chiều hướng di chuyển của TG hối đoái thực: hướng xuống, tức là có sự nâng giá đồng tiền
Trang 28www.themegallery.com Company Logo
2.2 Mục tiêu cho cán cân thanh toán tổng thể
3
Dù các dòng vốn đầu tư vào vẫn bị hạn chế bởi CP
TQ, nhưng các dòng vốn này vẫn đang tìm cách vào bằng đường này hay đường khác.
2
Các nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là đáng kể
Trang 292.2 Mục tiêu cho cán cân thanh toán tổng thể
Trang 30www.themegallery.com Company Logo
2.2 Mục tiêu cho cán cân thanh toán tổng thể
Đối với bất kỳ quốc gia nào, sự bất lợi của thâm hụt cán cân thanh toán là NHTW phải tiến hành giảm lượng tiền dự trữ Nếu quy trình này
cứ tiếp tục diễn ra, rốt cuộc NHTW sẽ phải điểu chỉnh hướng đi.
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 312.2 Mục tiêu cho cán cân thanh toán tổng thể
Tóm lại, bản phân tích này cho rằng mục tiêu của cán cân thanh toán tổng thể là
bằng KHÔNG
Trang 32www.themegallery.com Company Logo
2.2 Mục tiêu cho cán cân thanh toán tổng thể
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Hình 1: Cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài
Trang 332.3 Tiến trình cân bằng cán cân thanh toán
Chúng ta thấy rằng TG hối đoái thực và LS có tác động cùng chiều lên cán cân thương mại, vì vậy nếu một cái tăng lên, cái kia phải giảm xuống để duy trì sự cân bằng
Ngoài ra, chúng hầu như cũng có tác động cùng chiều lên TK vốn: một sự tăng trong LS sẽ tác động lên dòng vốn vào (những cái khác không thay đổi) trong khi một
sự tăng trong TG hối đoái cũng làm cho tài sản trong nước hấp dẫn hơn (rẻ hơn) đối với người nước ngoài Một lần nữa, nếu một thứ tăng lên thứ khác phải giảm xuống, nếu tài khoản vốn vẫn giữ nguyên ở một con số
cụ thể nào đó.
Trang 34www.themegallery.com Company Logo
2.4 Sự hạn chế
Trong một nền kinh tế đang gặp nguy cơ vì nới lỏng tiền
tệ quá mức, NHTW có thể cắt giảm những dòng tiền vào, để làm chậm lại sự tăng nguồn cung tiền Sự cắt giảm có thể được xác định rõ ràng, như NHTW giảm tài sản nội địa ròng, bằng cách bán trái phiếu, để giữ cho đồng tiền cơ sở không tăng lên Hoặc sự cắt giảm có thể thực hiện bằng cách hệ thống NH giảm tín dụng trong nước hoặc tăng dự trữ bắt buộc đối với các NH, để giữ cho M1 không tăng
Sự cắt giảm có thể là một phản ứng tốt đối với dòng vốn vào, trong một giai đoạn nhất định Nó có thể giúp đất nước duy trì mục tiêu TG hối đoái mà không từ bỏ mục tiêu về cung tiền hoặc LS
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 352.4 V ô hiệu hóa bằng chính sách tiền tệ
Một vấn đề tiềm ẩn khác là thâm hụt tài chính:
nếu NHTW phải trả LS cao cho những người tự nguyện trong nước để mua “trái phiếu”
(sterilization bonds), trong khi NH nhận được LS thấp trên những chứng khoán kho bạc Mỹ, điều
đó làm cho thâm hụt Chính phủ đang cố gắng đạt được thành công bằng cách ép những
sterilization bonds này xuống NH mà không phải trả LS thị trường - một hình thức kiềm chế tài
chính – điều này làm yếu đi bảng cân đối của các
NH và tạo thêm một cú đánh vào cuộc khủng hoảng NH.
Trang 36www.themegallery.com Company Logo
2.5 Phòng ngừa khủng hoảng tiền tệ
Các nước Châu Á hiện cố gắng để tránh các cuộc khủng hoảng như đã từng xảy ra và gây nhiều thiệt hại như trong những năm 1997 – 1998 Một số quyết định được đưa ra để giảm thiểu khả năng xảy ra
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5
Trang 372.5 Phòng ngừa khủng hoảng tiền tệ
Mặc dù có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề về
cơ chế điều hành TG hối đoái, nhưng đến nay vẫn chưa có KL cuối cùng Cuối thập niên 1990, đã có nhiều sự đồng thuận cao với quan điểm “Lý thuyết góc”: cố định hay thả nổi tỷ giá, theo cơ chế nào thì phù hợp hơn? TQ là một thị trường quá lớn không thể đô la hóa hoặc chấp nhận 1 hệ thống tiền tệ chung, nhưng có lẽ vẫn chưa sẵn sàng cho việc chấp nhận cơ chế điều hành TG thả nổi Điều này dẫn đến 1 cơ chế mới phù hợp hơn:
Hoặc là TG cố định có thể thay đổi, hoặc là lựa chọn đồng tiền chuẩn là đồng đô la hoặc 1 đồng tiền chung nào đó
Trang 38www.themegallery.com Company Logo
2.5 Phòng ngừa khủng hoảng tiền tệ
Châu Á hiện đang thiếu 1 loại tiền tệ đóng vai trò chuẩn mực cho tất cả các quốc gia trong khu vực
+ TQ hiện vẫn chưa có thị trường tài chính mở
và phát triển đủ mức cần thiết để biến đồng Nhân dân tệ thành đồng tiền tiêu chuẩn trong khu vực
+ Đồng Yên của Nhật bản thì không ổn định
so với đồng Đô la hoặc Euro
Nhóm 5 – Cao học K18 Đêm 5