GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN ĐĂNG THUẬN
GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN ĐĂNG THUẬN
GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ ĐẠI VIỆT
Hà Nội – 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các tư liệu sử dụng trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này
Hà Nội, tháng 03 năm 2023
Tác giả Luận án
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận án Giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm
1592, nghiên cứu sinh đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban lãnh
đạo Viện Sử học qua các thời kỳ; các quý Thầy Cô ở Hội đồng các cấp; các đồng nghiệp và đồng môn Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả những người đã ủng hộ, giúp đỡ về tư liệu, góp ý cụ thể và cả cổ vũ tinh thần giúp nghiên cứu sinh hoàn thành luận án
Trân trọng cảm ơn PGS.TS Vũ Duy Mền, GS.TS Đinh Khắc Thuân, hai giáo viên hướng dẫn đã chỉ bảo, đóng góp ý kiến và khích lệ nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án Nghiên cứu sinh xin được bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc
Trân trọng cảm ơn PGS.TS Đinh Quang Hải đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh Nghiên cứu sinh xin được bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc
Hà Nội, tháng 04 năm 2023
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài:……… …1
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án:……… … 2
2.1 Mục đích nghiên cứu:……… ……….2
2.2 Nhiệm vụ của luận án:……….………2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:……….….3
3.1 Đối tượng:……… 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu:……… 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:……… …….4
5 Đóng góp của luận án:……… …… 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án:……….……… 6
7 Bố cục của luận án:……… ………7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGUỒN TƯ LIỆU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:……….……… … 8
1.1 Nguồn tư liệu:……… ……… 8
1.1.1 Nguồn tư liệu trong nước:……… ……… 8
1.1.2 Nguồn tư liệu Trung Quốc:……… …… 15
1.2 Tình hình nghiên cứu:……… …… 16
1.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước:……… …………16
1.2.1.1 Những sách chuyên khảo về giáo dục khoa cử:……… … 16
1.2.1.2 Những tham luận nghiên cứu về giáo dục, khoa cử công bố trên tạp chí, hội thảo :……… 23
1.2.1.3 Những luận văn, luận án nghiên cứu về giáo dục khoa cử: ……….27
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:……… ………30
1.2.3 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu……… 33
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC NHO HỌC ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592:………35
Trang 72.1 Bối cảnh xã hội Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592………… ………… 35
2.2 Chính sách giáo dục Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592:………….… 40
2.2.1 Đề cao Nho giáo và Nho học:……….…….40
2.2.2 Chú trọng khoa cử:……… ………43
2.3 Hệ thống giáo dục trường công:……….………46
2.3.1 Trường ở Trung ương:……….……… 46
2.3.2 Trường ở địa phương:……….……….52
2.4 Giáo dục tư nhân:……… ……… 53
2.4.1 Lớp học của các thầy Đồ làng:……… ……… 53
2.4.2 Trường của các thầy danh tiếng:……… ……… 56
2.4.2.1 Trường của thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm: 56
2.4.2.2.Trường của thầy Trần Bảo: 60
2.4.2.3 Trường của thầy Dương Phúc Tư:……… ………60
2.4.2.4 Trường của thầy Nguyễn Khắc Kính:……… ……… 60
2.4.2.5 Trường của thầy Nguyễn Sư Lộ: 61
2.4.2.6 Trường của thầy Phùng Khắc Khoan: 61
2.5 Tài liệu học tập:……….……… ……… 63
Tiểu kết chương 2:……….……… 71
CHƯƠNG 3: KHOA CỬ NHO HỌC ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592: 72
3.1 Thể lệ và điều kiện thi:……….……… 72
3.2 Khoa cử triều Mạc:……… ………73
3.2.1 Thi Hương:……… ………73
3.2.2 Thi Tiến sĩ:……… 80
3.2.2.1 Thi Hội:……… ………… 80
3.2.2.2 Thi Đình:……… …………82
3.2.2.3 Tiến sĩ đỗ dưới triều Mạc :……… … 84
3.2.3 Thi Đông các:……… ………94
3.2.4 Chính sách đãi ngộ và sử dụng đại khoa:……… ……… 96
Trang 83.3 Khoa cử triều Lê Trung hưng:……….………… 97
3.3.1 Thi Hương:……… ………97
3.3.2 Thi Tiến sĩ:……… ………… 98
3.3.3 Chính sách đãi ngộ dành cho người đỗ đạt:……… 105
Tiểu kết chương 3:……… ……… 111
CHƯƠNG 4: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA GIÁO DỤC KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ NĂM 1527 ĐẾN NĂM 1592:……….………112
4.1 Thành tựu của giáo dục khoa cử Đại việt từ năm 1527 đến năm 1592:……… 112
4.1.1 Đào tạo được một đội ngũ trí thức Nho học:……… 112
4.1.1.1 Bổ dụng các vị đại khoa vào bộ máy chính quyền:………112
4.1.1.2 Đóng góp của các vị đại khoa tiêu biểu:……….116
4.1.2 Duy trì truyền thống hiếu học:……… ………135
4.1.2.1 Một số dòng họ khoa bảng:……… ………….135
4.1.2.2 Một số làng khoa bảng……… 138
4.2 Một số hạn chế:……… ……142
Tiểu kết chương 4:……….……144
KẾT LUẬN:……… …….146
TÀI LIỆU THAM KHẢO………150 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Thống kê Tiến sĩ đỗ dưới triều Mạc qua một số nguồn sử liệu:……… 85
Bảng 3.2: Các khoa thi do triều Mạc tổ chức và số Tiến sĩ đỗ dưới triều Mạc: ……… ….88
Bảng 3.3: Số Tiến sĩ triều Mạc phân bố theo địa bàn:……….…….93
Bảng 3.4: Các Tiến sĩ Lê Trung hưng phân bố theo địa bàn:……….…103
Bảng 3.5: Thống kê khoa thi và hạng đỗ triều Lê Trung hưng (1554 -1592): … 104
Bảng 3.6: Bổ dụng chức quan đối với Tiến sĩ Chế khoa: 107
Bảng 3.7: Bổ dụng chức quan đối với Tiến sĩ xuất thân: 109
Bảng 4.1 Bổ dụng chức quan cho các Tiến sĩ triều Mạc: 112
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thứ hạng đỗ Tiến sĩ thời Mạc 91
Biểu đồ 4.2 Bổ dụng chức quan cho các Tiến sĩ triều Lê Trung hưng: 115
Sơ đồ trường thi Hương thời quân chủ 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, các triều đại quân chủ Việt Nam luôn chú trọng tới giáo dục và tổ chức khoa cử để tuyển chọn nhân tài phục vụ triều đình Nói về vai trò của trí thức Việt Nam ngày xưa, Thân Nhân Trung đã tổng kết trong bài văn bia của khoa thi năm 1442 dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng
Long như sau: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn” [166, tr.136]
Lịch sử Việt Nam từ năm 1527 đến năm 1592 là một thời kỳ tương đối đặc biệt, đây là giai đoạn cùng tồn tại song song hai chính quyền đối lập nhau là nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng Để xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền, hai thế lực đều ra sức tranh giành kẻ sĩ, thu phục hiền tài
Sau khi thay thế nhà Lê sơ, bên cạnh việc sử dụng một số quan lại cũ của nhà
Lê sơ, nhà Mạc đã cho củng cố hệ thống giáo dục, tổ chức khoa cử tuyển chọn người tài phục vụ triều đình Trong 65 năm trị vì ở Thăng Long, nhà Mạc đã tổ chức được 22 khoa thi, lấy đỗ 483 Tiến sĩ, trong đó có nhiều danh nhân như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng nguyên Giáp Hải, Bùi Vịnh…
Về phía nhà Lê Trung hưng cũng đã tổ chức được 7 khoa thi, trong đó có 3 kỳ thi Chế khoa, lấy đỗ 45 Tiến sĩ Trong đó có thể kể đến những cá nhân kiệt xuất như: Đinh Bạt Tụy, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Văn Giai
Giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 là bức tranh tổng thể gồm giáo dục, khoa cử nhà Mạc và giáo dục, khoa cử nhà Lê Trung hưng Đối với giáo dục, khoa cử nhà Mạc, mặc dù nội dung này ít nhiều đã được quan tâm, đề cập đến khi nghiên cứu về triều Mạc, về giáo dục Nho học, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu riêng nào về giáo dục, khoa cử nhà Mạc Mặt khác, về giáo dục, khoa cử nhà Lê Trung hưng, hiện vẫn còn nhiều “khoảng trống” chưa được xem xét
và nhắc đến Do đó, nghiên cứu về giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến
Trang 11năm 1592 sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể, toàn diện hơn về giáo dục và khoa cử thời kỳ này
Giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 là một thời kỳ quan trọng của lịch sử giáo dục khoa cử Việt Nam Trong đó, giáo dục khoa cử của nhà Mạc có thể xem là mốc son trong lịch sử giáo dục khoa cử quân chủ Bên cạnh đó, giáo dục khoa cử nhà Lê Trung hưng cũng đạt được những thành tựu nhất định, góp phần xây dựng và củng cố chính quyền buổi đầu trung hưng Vì vậy, nghiên cứu về giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 cũng sẽ góp phần hiểu thêm
về lịch sử nước ta giai đoạn 1527-1592
Để tìm những bài học kinh nghiệm từ quá khứ cho hiện tại thì “Giáo dục và
khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592” là một đề tài giàu tính thực tiễn mà
nghiên cứu sinh lựa chọn làm đề tài cho luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về giáo dục và khoa cử của nhà Mạc cũng như nhà Lê Trung hưng, luận án sẽ làm rõ tình hình tổ chức giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 Từ đó thấy được đóng góp của giáo dục và khoa cử Nho học thời kỳ này trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt mục đích trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích tình hình, bối cảnh lịch sử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 ảnh hưởng như thế nào đến giáo dục, khoa cử thời kỳ này
- Trình bày khái quát mục tiêu của giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 Tìm hiểu về chính sách giáo dục cũng như hệ thống trường lớp từ Trung ương đến địa phương, chương trình học tập, chế độ khoa cử của cả nhà Mạc
và nhà Lê Trung hưng để làm rõ sự tương đồng cũng như khác biệt trong hệ thống
tổ chức giáo dục khoa cử của hai chính quyền
- Trình bày, phân tích tình hình khoa cử Nho học của nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng thông qua việc tìm hiểu về thể lệ thi cử, quá trình tổ chức các khoa thi
Trang 12Từ đó góp phần làm rõ đặc điểm khoa cử Nho học của mỗi chính quyền
- Phân tích những thành tựu, hạn chế của giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 Thông qua đó, chúng ta thấy được vai trò và ảnh hưởng của tầng lớp trí thức Nho học được tuyển chọn qua khoa cử đối với sự phát triển xã hội trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị, văn hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Giáo dục và khoa cử Đại Việt giai đoạn
từ năm 1527 đến năm 1592, thực trạng và đóng góp của giáo dục khoa cử đối với xã hội Đại Việt thời kỳ này
Trong luận án, chúng tôi khảo sát tình hình giáo dục, khoa cử Đại Việt trên những nội dung cụ thể như: hệ thống trường lớp từ trung ương đến địa phương; Nội dung giáo dục và thi cử; tình hình các khoa thi; Các tấm gương thầy trò tiêu biểu
Từ đó, rút ra đặc điểm của giáo dục, khoa cử giai đoạn này cũng như những đóng góp của tầng lớp Nho sĩ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao và văn hoá
Để có một cái nhìn khách quan, tổng quát, có thể đặt giáo dục khoa cử Đại Việt, giai đoạn 1527 đến năm 1592, trong mối quan hệ với giáo dục, khoa cử trước
đó, tức là giai đoạn Lê sơ, để thấy được sự kế thừa và phát triển của nền giáo dục từ thời Lê sơ Đồng thời chỉ ra những đặc điểm và đóng góp của giáo dục khoa cử Nho học với Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 nói riêng, với lịch sử Việt Nam nói chung
Luận án nghiên cứu giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592, chúng tôi chỉ tập trung đề cập về giáo dục khoa cử Nho học mà không bàn đến vấn
đề võ cử Trong lịch sử giáo dục khoa cử Việt Nam, Nhà nước quân chủ có tổ chức các kỳ thi võ Vấn đề võ cử chúng tôi xin phép được nói đến trong một dịp khác
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án từ năm 1527 đến năm
1592, tức là từ khi triều Mạc được thiết lập cho đến năm 1592, khi nhà Mạc rút khỏi Thăng Long, đồng thời kết thúc cục diện Nam – Bắc triều, cũng kết thúc sự nghiệp
Trang 13khoa cử của nhà Mạc tại Thăng Long (1592)
Không gian: Đề tài nghiên cứu về giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt bao
gồm cả vùng đất kiểm soát của nhà Mạc lẫn nhà Lê Trung hưng
Vùng đất kiểm soát của nhà Mạc được phân định từ Ninh Bình trở ra Bắc, tuy nhiên ở Tuyên Quang có anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật không theo nhà Mạc
mà trung thành với nhà Lê Tại Tuyên Quang cũng có những hoạt động giáo dục Nho học, do hạn chế về tư liệu nên tác giả luận án chưa tìm hiểu hoạt động giáo dục
ở đây
Vùng đất kiểm soát của nhà Lê Trung hưng được xác định từ Thanh Hóa trở vào khi năm 1543, Nguyễn Kim chiếm được Thanh Hóa Tuy nhiên vùng đất Thuận Quảng lúc này vẫn thuộc quyền kiểm soát của nhà Mạc Năm 1558, vua Lê sai Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa nhưng thường xuyên bị quân Mạc tiến đánh Năm 1572, sau khi đánh bại cuộc tấn công của quân Mạc do Lập Quận công chỉ huy thì nhà Lê Trung hưng dần nắm quyền kiểm soát được vùng đất này Như vậy, từ năm 1558 đến năm 1592, vùng Thuận – Quảng thuộc sự kiểm soát của nhà
Lê Trung hưng nên giáo dục, khoa cử Nho học của vùng này vẫn nằm trong giáo dục, khoa cử Nho học của nhà Lê Trung hưng
Đất nước thời kỳ này tuy phân chia Nam – Bắc triều nhưng sự phân chia này không rõ ràng Cả Nam triều lẫn Bắc triều đều lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống của mình Người dân ở vùng kiểm soát Nam triều vẫn có thể đến học tập, tham gia thi cử, buôn bán ở vùng đất kiểm soát của Bắc triều và ngược lại
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận:
Để giải quyết những vấn đề khoa học được đặt ra, tác giả luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Tác giả luận án cũng đứng trên quan điểm lập trường sử học Macxit cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học
Phương pháp duy vật biện chứng để làm rõ mỗi quan hệ biện chứng giữa bối
Trang 14cảnh xã hội Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 cũng như nhu cầu tuyển chọn nhân tài của Bắc triều lẫn Nam triều thông qua khoa cử từ đó sẽ tác động đến giáo dục Nho học cũng như đóng góp của kẻ sĩ đối với xã hội đương thời Đây là cơ sở để tác giả luận án đánh giá thành tựu, hạn chế của giáo dục, khoa cử Nho học thời kỳ này Phương pháp duy vật lịch sử được sử dụng trong luận án nhằm làm rõ quá trình vận động, phát triển của giáo dục, khoa cử Nho học Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 là sự kế thừa những thành quả của giáo dục, khoa cử Nho học trước đó Đồng thời thông qua so sánh giáo dục, khoa cử giữa Bắc triều và Nam triều để thấy được sự tương đồng, khác biệt
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm đạt được mục tiêu đề tài đặt ra, tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cơ bản sau:
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: là hai phương pháp chủ yếu được
tác giả sử dụng để làm rõ nội dung của luận án Phương pháp lịch sử nhằm đặt các
sự kiện lịch sử theo thứ tự thời gian để trình bày, mô tả mục đích của giáo dục cũng như chính sách, cách thức tổ chức khoa cử ở Bắc triều và Nam triều Sử dụng phương pháp lịch sử cũng nhằm thấy được quá trình ra đời, sự thay đổi của Quốc
Tử Giám, chế độ tuyển chọn giáo quan, tài liệu học tập, cũng như chính sách đãi ngộ đối với các Giám sinh… Trong cái nhìn đồng đại, tác giả luận án đặt mối quan
hệ so sánh giữa giáo dục khoa cử của nhà Mạc với nhà Lê Trung hưng để nhìn thấy được sự tương đồng cũng như khác biệt về tổ chức giáo dục, khoa cử của hai triều đại
Phương pháp logic: sẽ giúp tác giả luận án lý giải phân tích những tác động
bối cảnh xã hội sẽ dẫn đến chính sách giáo dục, khoa cử của Bắc triều lẫn Nam triều cũng như việc bổ nhiệm, sử dụng các bậc đại khoa của Nhà nước, đóng góp của các nhà khoa bảng đối với lịch sử dân tộc
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh để thiết lập các bảng biểu minh họa cũng như rút ra được những nhận xét, đánh giá trong luận
án được khách quan và chính xác
Trang 15Để thu thập được những tài liệu có giá trị, phục vụ cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa… Qua những chuyến đi này, chúng tôi đã phát hiện và thu thập được nhiều tư liệu quan trọng từ những nguồn khác nhau để có sự đối chiếu, so sánh và đánh giá khách quan về các vấn đề đưa ra trong luận án Ngoài ra trong luận án, tác giả còn sử dụng phương pháp giám định văn bản học, sử dụng phương pháp chuyên gia… để hỗ trợ trong quá trình làm luận
Luận án đã làm rõ được những thành tựu của khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592 cũng như đóng góp của các vị đại khoa thời kỳ này đối với đất nước Luận án sẽ bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về tổ chức giáo dục, khoa cử của nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng buổi đầu ở Thanh Hóa, Nghệ An cũng như lịch sử Việt Nam từ năm 1527 đến năm 1592
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học và nguồn tài liệu tin cậy, luận án cung cấp những kết quả nghiên cứu về thực trạng, đặc điểm của giáo dục, khoa cử Nho học Đại Việt 1527 - 1592, góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử giáo dục Nho học Việt Nam
Luận án “Giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592” cho thấy
mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục, khoa cử với nhu cầu phát triển xã hội, giữa tổ chức khoa cử với chính sách của Nhà nước Mối quan hệ đó thể hiện ở góc độ bối cảnh xã hội là nhân tố quan trọng đặt ra nhu cầu giáo dục, thi cử để đào tạo nhân tài
Trang 16tham gia bộ máy Nhà nước; Ngược lại, chính đội ngũ trí thức Nho học được Nhà nước trọng dụng, bổ dụng vào các vị trí khác nhau, bằng tài năng và tâm huyết đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển quốc gia, dân tộc trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục, xã hội
Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực, thì vai trò của giáo dục trong sự nghiệp đào tạo nhân tài cho đất nước tiếp tục được khẳng định Luận án ít nhiều đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc lựa chọn phương thức giáo dục, đào tạo phù hợp cùng chính sách đãi ngộ đối với nhân tài, một trong chính sách đó là bổ dụng đội ngũ trí thức vào những cương vị phù hợp trong bộ máy Nhà nước Đồng thời, luận án sẽ cung cấp hệ thống tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử giáo dục Nho học thời quân chủ nói chung, nghiên cứu các vấn đề lịch sử cụ thể từ năm 1527 đến năm 1592 nói riêng
7 Bố cục của luận án
Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục sẽ cấu trúc thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu
Chương 2: Giáo dục Nho học Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592
Chương 3: Khoa cử Nho học Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592
Chương 4: Thành tựu và hạn chế của giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592
Trang 17Chương 1: TỔNG QUAN NGUỒN TƯ LIỆU VÀ
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án là những nguồn thư tịch cổ của Việt Nam, thư tịch cổ của Trung Quốc; văn bia có niên đại Mạc và văn bia của nhà Lê Trung hưng có liên quan đến giáo dục khoa cử từ năm 1527 đến năm 1592, gia phả dòng họ của các vị đỗ đại khoa thời kỳ này
1.1.1 Nguồn tư liệu trong nước
Nguồn sử liệu sử dụng trong luận án bao gồm các thư tịch cổ cũng như văn bia, gia phả, sắc phong của một số vị đỗ đại khoa thời kỳ này
Trước hết là các sách Đăng khoa lục (登 科 錄) ghi chép về những người đỗ đạt trong các khoa thi do triều đình tổ chức Đây là sản phẩm của nền giáo dục
Nho học “Đến bản triều (Lê) mới có ghi chép, nên không những học trò hiển đạt, bầy tôi danh vọng truyền tụng ở bia miệng, mở sách ra có thể biết được, mà người không có tiếng tăm và sự nghiệp cũng được lưu tên tuổi đến đời sau Do đấy, người ta có thể biết xã nào, huyện nào từng phát đạt người khoa bảng, để tự cố sức học tập” [44, tr.100] Tuy nhiên chúng ta chưa tìm thấy bộ Đăng khoa lục thời
Lê sơ mà chủ yếu là những bộ sách đăng khoa lục được biên soạn dưới thời Lê
Trung hưng như: Lịch đại đại khoa lục (歷 代 大 科 錄), Đăng khoa lục (登 科
錄), Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (大 越 歷 朝 登 科 錄), Đăng khoa lục sưu giảng (登 科 錄 搜 講)… Những bộ Đăng khoa lục này do các sử quan ghi chép về
quê quán cũng như năm đỗ của các bậc đại khoa Tuy nhiên, các tác giả lại lý giải
do tổ tiên các vị đại khoa ăn ở có đức nên tìm được đất đặt mộ phát về đường khoa bảng mà không chỉ ra được khổ công học tập và nỗ lực phấn đấu của họ
Thiên Nam lịch triều liệt huyện đăng khoa lục bị khảo (天 南 歷 朝 列 縣 登
Trang 18科 錄 备 考) gọi tắt là Liệt huyện Đăng khoa lục (列 縣 登 科 錄), do Phan Huy
Ôn soạn, sau được Phan Huy Sảng “tuân đính, tăng bổ sự tích” Đây là cuốn sách đăng khoa lục đầu tiên xếp theo địa phương, theo thứ tự đỗ trước sau cùng với lý lịch của người thi đỗ Hiện nay, sách còn được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 6 bản đều là bản chép tay, ký hiệu: A.485/1-5, A.2176, A.1335/1-2, VHv.1299, VHv.1289, VHv.2713/1-5
Cùng với những sách Đăng khoa lục do các sử quan ghi chép thì ở mỗi địa
phương các nhà Nho cũng sưu tập tư liệu biên soạn về thân thế, hành trạng các vị
đỗ đạt của quê hương như: Thu tỷ đề danh ký (秋 比 題 名 記1), ghi chép về những
người đỗ ở trường thi Thanh Hóa trong mấy chục khoa thi ở triều Lê và đầu triều Nguyễn Cuốn sách gồm 64 tờ (128 trang) khổ 25x13cm, chữ viết chân phương dễ đọc Tác giả của cuốn sách là tập thể của Văn hội hay còn gọi là Hội Tư văn Tuy
có một số nhầm lẫn về can chi hoặc thứ tự năm của niên hiệu như Canh Ngọ Tự Đức thứ 23 thành Tự Đức thứ 20; Quý Dậu Tự Đức thứ 26 thành Tự Đức thứ 23…
Quảng Bình khoa lục (廣 平 科 錄)2, sách in chữ Hán khổ 28x16 cm, dày 48
tờ Sách do nhóm soạn giả: Hoàng Miễn Trai giám định, Hoàng Đấu Tường nhuận chính, Nguyễn Hành Chi tham đính, Lưu Ký Hữu biên tập Sách được Quốc sử quán thư cục in vào năm Duy Tân thứ 5 (1911) Sách ghi tên tuổi, quê quán của những người thi đỗ từ khoa thi Hương năm Gia Long thứ 12 (1813) đến khoa thi Hội năm Duy Tân thứ 4 (1910) của tỉnh Quảng Bình
Từ Liêm huyện đăng khoa chí (慈 廉 縣 登 科 誌) là sách do Cử nhân Bùi
Xuân Nghi biên soạn vào năm Tự Đức 32 (1879), ghi chép họ tên của các nhà khoa bảng quê huyện Từ Liêm từ thời Lý đến thời Nguyễn Hiện nay ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 2 bản Bản ký hiệu A.507 gồm 142 tờ, khổ 22x32cm Bản ký hiệu A.2869, gồm 54 tờ, mỗi tờ 2 mặt, khổ 15x28cm
1 Hiện còn 1 bản duy nhất lưu tại Thư viện Quốc gia, ký hiệu R.132
2 Hiện còn 2 bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHV.1272 và VHV.291
Trang 19Phượng Dực đăng khoa lục (鳳 翼 登 科 錄), sách chép tay, khổ 18x29cm
do Đinh Danh Bá biên soạn và viết bài Tựa vào năm Cảnh Hưng 7 (1746)3 Cuốn sách được chia làm 2 phần: phần 1 ghi về những người đỗ Tam trường thi Hội, Hương cống, Sinh đồ thời Lê, phần 2 ghi họ tên Giám sinh, Cử nhân, Tú tài thời Nguyễn
Đại Đồng tổng lịch triều hương hội khoa lục (大 同 總 歷 朝 鄉 會 科 錄) do
Nguyễn Thế Cát biên soạn, hoàn thành vào năm Khải Định thứ 9 (1924)4 Sách viết tay bằng chữ Hán chân phương, đẹp, dày 87 trang, khổ 15 x 27cm Đây là cuốn sách ghi chép về tiểu sử, năm đỗ của những người đỗ của tổng Đại Đồng (nay thuộc huyện Thanh Chương – Nghệ An) Cuốn sách mở đầu bằng việc ghi về khoa danh cũng như sự nghiệp của “Binh bộ Thượng thư Thái phó Tấn Quốc Công
vậy theo các sách về đăng khoa lục cũng như Văn bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám không thấy ghi tên Nguyễn Cảnh Hoan6
Đông Yên nhị huyện khoa lục phổ (東 安 二 縣 科 錄 譜), được biên soạn
vào năm Khải Định thứ 10 (1925)7 Cuốn sách ghi chép về khoa bảng của huyện Diễn Châu và Yên Thành (Nghệ An) cũng như hành trạng của các nhà khoa bảng Cuốn sách cũng là một nguồn tư liệu bổ sung cho chúng tôi khi làm luận án
Ngoài những tư liệu đã nói ở trên, chúng ta còn có thể kể đến: Từ Liêm đại khoa lục (慈 廉大科 錄), Từ Liêm huyện đăng khoa chí (慈 廉 縣 登 科 志) 8 Hà Tĩnh nhân vật chí (河 靜 人 物 志), Hà Tĩnh tập biên (河 靜 集 編) 9 , Thanh
3 Sách được PGS.TS Nguyễn Tá Nhí sưu tầm và dịch, Nxb Khoa học Xã hội, 1999
4 Tư liệu của chúng tôi do ông Đào Tam Tỉnh – nguyên Giám đốc Thư viện Nghệ An cung cấp
5 Chính Trị là niên hiệu của vua Lê Anh Tông từ năm 1558 đến năm 1571
6 Nguyễn Cảnh Hoan sau được ban họ Trịnh – Trịnh Mô
7 Bản gốc hiện đang được lưu giữ tại dòng họ Trần xã Công Thành, Yên Thành Tư liệu của chúng tôi do ông Đào Tam Tỉnh – nguyên Giám đốc Thư viện Nghệ An cung cấp.
8 Sách hiện lưu giữa tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2869
9 Sách hiện lưu giữa tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.3118
Trang 20Chương huyện chí (清 漳 縣 志) 10 … Đây là những sách có ghi chép về hành trạng
của các nhà khoa bảng
Ô Châu cận lục (烏 州 近 錄) của Dương Văn An biên soạn vào niên hiệu
Cảnh Lịch (1548 - 1553), đời vua Mạc Tuyên Tông Đây là tập sách ghi chép về vùng Thuận Hóa Cuốn sách cũng cung cấp tư liệu về một số vị khoa bảng của vùng đất này
Để thực hiện luận án, tác giả có sử dụng tư liệu của một số bộ biên niên sử
như: Đại Việt sử ký toàn thư (大 越 史 記 全 書) của Ngô Sĩ Liên và sử thần triều
Lê, Đại Việt thông sử (大 越 通 史) của Lê Quý Đôn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (欽 定 越 史 通 鑑 綱 目) của Quốc sử quán triều Nguyễn… Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử có giá trị được khắc in lần đầu tiên vào năm
Chính Hòa thứ 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông Bộ sử này là kết quả của một quá trình biên soạn, tu bổ qua nhiều đời như: Lê Văn Hưu đời Trần, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ đến Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung
hưng Đại Việt sử ký toàn thư gồm quyển thủ và 24 quyển ghi chép từ lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng đến năm 1675 Đại Việt sử ký toàn thư đã thu thập tư liệu và
trình bày theo lối biên niên Đây không chỉ là nguồn tư liệu gốc của sử học mà còn
là tư liệu cho nhiều ngành khoa học xã hội Những sự kiện liên quan về giáo dục, khoa cử từ năm 1527 đến năm 1592 cũng được ghi chép khi nhắc đến các khoa thi
Đại Việt thông sử hay còn gọi là Lê triều thông sử là bộ sử của Lê Quý Đôn,
không chỉ ghi chép các vị vua triều Lê sơ từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng mà ghi chép khá đầy đủ các vị vua của triều Mạc từ Mạc Thái Tổ đến Mạc Mục Tông Đây là sách sử học đầu tiên của nước ta được ghi chép theo lối kỷ truyện Khi viết cuốn sử này, Lê Quý Đôn sử dụng tư liệu gia phả của một số dòng họ lớn cùng với
bi ký về các công thần, vì thế những sự kiện mà ông ghi chép có độ tin cậy cao
10 Sách hiện lưu giữa tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv.2557
Trang 21Cùng ghi chép về những sự kiện liên quan đến nhà Mạc cũng như nhà Lê
Trung hưng thời kỳ ở Thanh Hóa nói chung và khoa cử nói riêng, nếu như Đại Việt
sử ký toàn thư còn có sự nhầm lẫn ở một số kiện và có phần định kiến với nhà Mạc thì Đại Việt thông sử lại ghi chép về nhà Mạc khá khách quan
Khâm định Việt sử thông giám cương mục (gọi tắt là Cương mục) của Quốc
sử quán triều Nguyễn làm từ năm Tự Đức thứ 9 (1856) đến năm Tự Đức thứ 34
(1881), in xong năm Kiến Phúc thứ nhất (1884) Bộ Cương mục với 52 quyển
được chia làm hai phần: Tiền biên và Chính biên Tiền biên ghi chép từ thời Hùng Vương đến Mười hai Sứ quân; Chính biên ghi chép từ thời Đinh Tiên Hoàng đến
Lê Mẫn Đế (1786-1789)11 Cương mục cũng cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin
về giáo dục, khoa cử nước ta từ năm 1527 đến năm 1592
Việt sử diễn âm (越 史 演 音) là một tác phẩm viết theo thể diễn ca về lịch sử
nước ta từ thời vua Hùng cho đến thời Mạc Sách chép tay khổ 32x22cm, 114 trang, được lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.110 Tuy sách không ghi niên đại cũng như tên tác giả nhưng dựa vào quan điểm cũng như
ngôn ngữ văn tự, chúng ta có thể đoán định tác giả Việt sử diễn âm là người thời
Mạc [117, tr.13] Quan điểm của tác giả khá khách quan tôn trọng sự thật lịch sử khi dành hẳn 370 câu để ca ngợi công lao của nhà Lê sơ đối với lịch dân tộc, đặc
biệt là công lao của Lê Thái Tổ trong khởi nghĩa Lam Sơn… Việt sử diễn âm là
một nguồn tư liệu quý giúp chúng ta tìm hiểu đánh giá về vương triều Mạc
Một số tác phẩm ghi chép tổng hợp như: Kiến văn tiểu lục (見 聞 小 錄) của
Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí (歷 朝 獻 彰 類 誌) của Phan Huy
Chú cũng là một nguồn tư liệu quan trọng để tác giả có một cái nhìn so sánh đối
chiếu về bức tranh của giáo dục khoa cử Đại Việt (1527 - 1592) Trong Lịch triều hiến chương loại chí ở phần Khoa mục chí, Phan Huy Chú đã khảo về cách thức tổ
11 Lê Mẫn Đế ( 黎 愍 帝) : là vị vua thứ 16 của triều Lê Trung hưng Ông có tên là Lê Duy Khiêm
(黎維 謙), sau khi lên ngôi đổi tên là Lê Duy Kỳ (黎 維 祁), giữ ngôi từ tháng 8 năm 1786 đến tháng 2 năm 1789
Trang 22chức khoa cử Nho học từ đời Lý đến đời Lê Trung hưng cũng như thể lệ thi
Hương, thi Hội, thi Đình, ban yến, vinh quy… cũng như số người đỗ đạt trong các
khoa thi Khoa mục chí đã cung cấp cho tác giả luận án nhiều tư liệu về chế độ
khoa cử, những người thi đỗ Tiến sĩ từ triều Lê Trung hưng trở về trước
Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm, Địa phương chí tỉnh Hải
Dương qua tư liệu Hán Nôm cũng nêu lên hành trạng và đóng góp của các nhà
khoa bảng ở Hải Dương, ở Bắc Ninh thời Nam – Bắc triều Đây là một nguồn tư
liệu quan trọng mà tác giả sử dụng khi thực hiện luận án
Gia phả cũng là nguồn tư liệu được tác giả sử dụng trong luận án Hiện nay một số dòng họ còn lưu giữ được gia phả có ghi chép về hành trạng của
của các bậc đỗ đại khoa trong dòng họ như gia phả của dòng họ Dương ở Lạc Đạo,
Văn Lâm, Hưng Yên Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ ba cuốn
gia phả ghi chép bằng chữ Hán của dòng họ Dương ở xã Lạc Đạo Quyển thứ nhất
có tên là: Đại Nam Kinh Bắc trấn Dương Thị thế phả (大 南 京 北 鎮 楊 氏 世
譜), ký hiệu A.1000 với dung lượng 364 trang; Quyển thứ hai có tên là Dương tộc
gia phả (楊 族 家 譜), ký hiệu A.1008 có dung lượng 222 trang; Quyển thứ ba có
tên là Dương tộc gia phả (楊 族 家 譜), ký hiệu A.1657 với dung lượng 203 trang
Cả ba quyển này đều ghi chép về gia phả họ Dương ở xã Lạc Đạo mà Trạng
nguyên Dương Phúc Tư là thủy tổ Trong các cuốn phả này có ghi chi tiết về tiểu
sử và hành trạng của Trạng nguyên Dương Phúc Tư và bài Văn sách đình đối của
ông
Mạc sử diễn âm (莫 史 演 音), sách chép tay, 23 trang, khổ 25x16, sách viết
bằng chữ Nôm, được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.558 Đây
là cuốn sách diễn âm lịch sử của họ Mạc từ Mạc Thái Tổ đến Mạc Mục Tông Tuy
cuốn sách không ghi rõ niên đại nhưng dựa vào nội dung sách thì chúng ta có thể
đoán định sách được viết khoảng sau năm 1831 Trong sách có nhắc đến đơn vị
hành chính cấp tỉnh là tỉnh Hải Dương Đơn vị hành chính cấp tỉnh chỉ xuất hiện
Trang 23sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh vào năm 1831 Tác giả cuốn sách đứng trên quan điểm của sử gia Lê Trịnh khi viết về nhà Mạc, nên giữ thái độ phê phán rất gay gắt việc nhà Mạc soán ngôi nhà Lê sơ
Gia phả dòng họ Bùi ở Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có chép biểu tấu của Tiến sĩ Bùi Hoằng dâng lên Mạc Thái Tổ (1527 – 1529) và Mạc Thái Tông (1530 – 1540) bày kế sách đối phó với nhà Minh
Gia phả họ Đinh ở Hưng Trung, Hưng Nguyên, Nghệ An do Cử nhân Đinh Bạt Như biên soạn vào năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) Gia phả họ Đinh có ghi chép về hành trạng của Đinh Bạt Tụy cũng như sắc phong của Đinh Bạt Tụy - đỗ Chế khoa năm 1554, là người có công lao trong sự nghiệp trung hưng của nhà Lê
Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích (武 族 世 係 事 跡)12 của nhóm tác giả Vũ Phương Lan13, Vũ Thế Nho, Vũ Tông Hải, Vũ Huy Đĩnh Dựa trên những tư liệu ghi chép của tổ tiên cũng như gia phả trước đó mà nhóm tác giả Vũ Phương Lan,
Vũ Thế Nho, Vũ Tông Hải, Vũ Huy Đĩnh đã xây dựng thành một bộ gia phả có dẫn giải tường tận thế thế thứ, sự tích của các nhân vật họ Vũ
Lê thị gia phả sự tích ký (黎 氏 家 譜 事 跡 記) sách chép tay được lưu giữ
tại Thư viện Quốc gia, ký hiệu R.2442 gồm 60 trang, khổ 31 x 21cm Tuy sách không đề tên tác giả, niên đại nhưng nội dung của sách cung cấp nhiều chi tiết về
sự tích dòng họ, hành trạng của một số vị đại khoa của dòng họ Lê ở Mộ Trạch – Hải Dương
Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng gia phả của một số dòng họ khác để đối chiếu và làm rõ về đóng góp của một số nhà khoa bảng tiêu biểu thời kỳ 1527-
1592 như gia phả họ Ngô ở Tam Sơn, Bắc Ninh; Gia phả dòng họ Lưu ở xã Thái Hưng, huyện Thái Thụy, Thái Bình…
Một số văn bia Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long được dịch
Trang 24thuật cũng là một nguồn tư liệu quan trọng khi thực hiện luận án, đặc biệt là văn bia Khoa thi năm Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529) của triều Mạc và bảy văn bia: Chế khoa thi năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554), Chế khoa thi năm Ất Sửu niên hiệu Chính Trị thứ 8 (1565), Chế khoa thi năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577), Khoa thi năm Canh Thìn niên hiệu Quang Hưng thứ 3 (1580), Khoa thi năm Quý Mùi niên hiệu Quang Hưng 6 (1583), Khoa thi năm Kỷ Sửu niên hiệu Quang Hưng thứ 12 (1589), Khoa thi năm Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hưng thứ 15 (1592) nói về khoa thi của nhà Lê Trung hưng tổ chức ở Thanh Hóa… Đây được coi là nguồn tư liệu gốc, cung cấp đầy đủ về số người đỗ đạt, tên tuổi, quê quán của các vị đại khoa
Ngoài 8 văn bia ở Quốc Tử Giám Thăng Long, nay còn có 184 văn bia mang niên đại Mạc14, cũng như văn bia có liên quan đến Nguyễn Văn Giai, Đinh Bạt Tụy, Phùng Khắc Khoan… cung cấp thêm những thông tin trực tiếp về các nhà khoa bảng này
Sắc phong được xem là nguồn tư liệu gốc, gắn với hành trạng, công trạng của các nhà khoa bảng Sắc phong bao gồm sắc phong chức tước và sắc phong thần Sắc phong chức tước là loại sắc do nhà vua dùng để ban chức tước cho quan lại, quý tộc, những người có công… Sắc phong này chủ yếu do các gia đình, dòng họ lưu giữ Sắc phong thần là loại sắc phong do các triều đại quân chủ ban tặng và xếp hạng các vị thần Bởi vậy, trong quá trình đi điền dã, sưu tập tư liệu, tác giả luận án cũng tiếp cận được với nhiều sắc phong liên quan đến các nhà khoa bảng
đỗ đạt từ năm 1527 đến năm 1592 như: Đinh Bạt Tụy, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Hoàng Từ… Bởi vậy sắc phong cũng là một nguồn tư liệu quan trọng được tác giả
sử dụng trong luận án
1.1.2 Nguồn tư liệu Trung Quốc
Cùng với nguồn sử liệu Việt Nam là những thư tịch cổ của Trung Quốc liên
quan đến Đại Việt (1527 – 1592) Trước tiên là Minh thực lục (明 實 錄), bộ biên
14GS.TS Đinh Khắc Thuân trong Văn khắc Hán Nôm thời Mạc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội –
2017 đã sưu tầm được 182 Văn bia mang niên đại Mạc Gần đây, tác giả luận án phát hiện thêm 2 tấm bia mang niên đại Mạc
Trang 25niên sử của nhà Minh ghi chép nhiều sự kiện về quan hệ giữa nhà Minh với nhà Mạc và nhà Lê Năm 2010, Nhà xuất bản Hà Nội đã lựa chọn những sự kiện ghi
chép có liên quan đến Việt Nam tập hợp thành bộ sách Minh thực lục - Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ XIV - XVII
Tiếp đến là Minh sử (明 史), bộ chính sử về thời Minh ghi chép nhiều sự kiện
liên quan đến Việt Nam thế kỷ XVI Bộ sử này khá quen thuộc với những nhà nghiên cứu trong nước
Thù vực chu tư lục (殊 域 周 咨 錄) của Nghiêm Tòng Giản, đời Minh, cũng
cho ta biết rõ hơn về quan hệ giữa nhà Minh với nhà Mạc, nhà Minh với nhà Lê ở
thế kỷ XVI Nhà bác học Lê Quý Đôn nhận xét: “Xem tập Thù vực chu tư lục (Nghiêm Tòng Giản nhà Minh biên soạn), thì về nghi lễ sai sứ thần đi sính vấn của đời trước, về gốc ngọn việc nhà nguỵ Mạc xin hàng, về sự khó khăn trong khi gây dựng cơ nghiệp trung hưng, về lòng thành khẩn tố cáo của di thần triều trước - ý nói việc các cựu thần nhà Lê sang Trung Quốc cầu viện binh đánh nhà Mạc - và đại cương quan chế, binh chế nước ta, đều có thể biết rõ được”
Việt kiệu thư (粵 嶠 書) của Lý Văn Phượng15 được biên soạn vào năm 1540, trên cơ sở thu thập tư liệu về địa lý, phong tục, sản vật… mà ghi chép lại thành
Việt kiệu thư Đây là một nguồn tư liệu để nghiên cứu về lịch sử nước ta thời quân
chủ tuy nhiên đối với nguồn gốc của họ Mạc, Lý Văn Phượng có sự nhầm lẫn khi viết tổ tiên của Mạc Thái Tổ vốn là người Đản ở huyện Đông Hoản, Quảng Châu
Ngoài ra chúng ta cũng có thể kể đến một số tư liệu khác như Hoàng Minh chiếu lệnh (皇 明 詔 令), An Nam lai uy đồ sách (安 南 來 威 图 册), Đông Tây dương khảo (東 西 洋 考), Mạc Mậu Hợp liệt truyện (莫 戊 合 列 傳) 16… cũng là những nguồn tư liệu mà chúng tôi sử dụng khi thực hiện luận án
15 Lý Văn Phượng tự Đình Nghi, tự Nguyệt Sơn Tử, đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn niên hiệu Gia Tĩnh thứ 11 (1532), làm Đình úy Đại lý bình sự, đổi Thiếu khanh, rồi lại ra làm Thiêm sự các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam
16 Tư liệu của tác giả
Trang 261.2 Tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1.1 Những sách chuyên khảo về giáo dục khoa cử
Giáo dục khoa cử là một đề tài quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam Nhiều cuốn sách chuyên khảo về giáo dục và khoa cử đã được xuất bản như:
Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945 của Vũ Ngọc Khánh, nhà xuất
bản Giáo Dục, Hà Nội, 1985 Tác giả đã nêu bức tranh khái quát nền giáo dục Nho học trong lịch sử quân chủ nước ta, từ thời Lý, Trần, Lê đến thời Nguyễn Nửa cuối thế kỷ XIX, nền giáo dục trong nước bắt đầu có sự thay đổi với sự du nhập của chữ La tinh Giáo dục Nho học dần bị thay thế theo mô hình phương Tây và bị xóa bỏ hoàn toàn vào năm 1919
Cuốn Lịch sử văn hóa Việt Nam sinh hoạt trí thức kỷ nguyên 1427 - 1802 của
Đàm Văn Chí, nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1992 Cuốn sách nghiên cứu về các nhà khoa bảng thông qua các dòng họ cũng như những thăng trầm của giới trí thức trong từng giai đoạn lịch sử và rút ra truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
Cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919) do Ngô Đức Thọ (chủ
biên), nhà xuất bản Văn học in lần đầu 1993, tái bản có bổ sung và chỉnh lý 2006
là một công cụ tra cứu cung cấp những thông tin cần thiết về các vị đỗ đại khoa trong giáo dục khoa cử Nho học nước ta từ thời Lý đến thời Nguyễn
Cuốn Nho học ở Việt Nam - giáo dục và thi cử, nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội, 1995 của Nguyễn Thế Long Cuốn sách cung cấp những nét tổng quan về giáo dục Nho học ở Việt Nam cũng như cung cấp những tư liệu cụ thể về giáo dục
và thi cử Nho học Tác giả đã hệ thống các vấn đề đồng thời đưa ra những phân tích, đánh giá giúp bạn đọc hiểu rõ về giáo dục và thi cử Nho học Tuy nhiên trong
cuốn sách, tác giả có sự nhầm lẫn khi viết: “Các tiến sĩ xuất thân và đồng tiến sĩ xuất thân được bổ vào Hàn lâm viện, ăn lương đọc sách trong ba năm” [92,
tr.159]
Cuốn Quốc Tử Giám và trí tuệ Việt của Đỗ Văn Ninh, nhà xuất bản Thanh
Trang 27Niên, Hà Nội, 1995, giới thiệu về kiến trúc quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, cũng như giá trị của bia Tiến sĩ ở đây Trong cuốn sách, tác giả cũng giới
thiệu nội dung 20 bia tiêu biểu của từng thời kỳ Năm 2000, trên cơ sở cuốn sách Quốc Tử Giám và trí tuệ Việt, tác giả Đỗ Văn Ninh phối hợp với nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản sách Văn bia Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội. Tác giả
Đỗ Văn Ninh giới thiệu lịch sử xây dựng Văn Miếu cũng như dịch toàn bộ 82 bia Tiến sĩ ở đây
Cuốn Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin,
Hà Nội, 1999 có nhắc đến một số nhà khoa bảng thời kỳ này nhưng mang tính chất giai thoại, chuyện kể, tính xác thực không cao và không có sự kiểm chứng
Cuốn Chuyện kể các nhà khoa bảng Việt Nam của Việt Anh - Cao - Thu
Hương, nhà xuất bản Thanh Niên, 2005 Chuyện viết về cuộc đời và sự nghiệp của một số nhà khoa bảng tiêu biểu, những chi tiết, giai thoại liên quan đến các nhà khoa bảng đó Sách không nhắc đến về giáo dục khoa cử thời Nam, Bắc triều mà chỉ nhắc đến giai thoại về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Văn Giai…
Giáo dục và khoa cử Việt Nam của Nguyễn Q.Thắng, nhà xuất bản Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, cũng đã khái quát được nền giáo dục nước ta từ năm 1075 đến năm 1975 Tác giả Nguyễn Q.Thắng đã giới thiệu với bạn đọc về nguồn gốc, sơ lược cũng như hệ thống giáo dục Nho học, nội dung, cách thức thi
cử Tuy nhiên khi phân tích về giáo dục khoa cử Nho học, tác giả tập trung chủ yếu vào giáo dục khoa cử triều Nguyễn Hơn nữa bản thân tác giả còn mâu thuẫn với chính mình khi đưa ra nhận định: “Tên Hoàng giáp để gọi người đỗ đầu về Đệ nhị giáp bắt đầu có từ đây” (158, tr.40) “giáp thứ hai là Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân là Hoàng giáp” (158, tr.41)
Cuốn Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm
của tác giả Đinh Khắc Thuân, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009 Cuốn sách giới thiệu khái quát về lịch sử giáo dục và khoa cử Nho học ở Việt Nam, đồng thời đi vào phân tích, hệ thống một số khía cạnh về giáo dục và khoa cử Nho học
Trang 28thời Lê, như thể chế, tổ chức trường học, cũng như nội dung học tập, thi cử, nội dung bài thi, người đỗ đạt và truyền thống khoa bảng, truyền thống hiếu học Sách
đã cung cấp cho chúng ta nội dung bài văn sách đình đối của các danh Nho thời Lê
sơ, Lê Trung hưng cũng như thời Mạc Với nguồn tài liệu Hán Nôm phong phú, cuốn sách là một tư liệu tham khảo cần thiết khi nghiên cứu về giáo dục khoa cử
Cuốn Mộ Trạch làng khoa bảng, làng cổ văn hóa do Vũ Huy Thuận (chủ
biên), Vũ Hiệp, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009 Cuốn sách thống
kê tiểu sử, hành trạng của các nhà khoa bảng làng Mộ Trạch trong đó có các Tiến
sĩ đỗ dưới triều Mạc
Cuốn Văn bia Tiến sĩ Văn miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long, Ngô Đức Thọ
(chủ biên), nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội, 2010 Cuốn sách đã giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của Văn miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long cũng như giới thiệu, dịch, chú giải 82 văn bia còn lưu giữ tại Văn miếu – Quốc Tử Giám trong đó
có văn bia khắc tên các Tiến sĩ đỗ dưới thời Mạc và thời Lê Trung hưng ở Thanh Hóa (sau khi về Thăng Long, nhà Lê đã cho dựng bia đá 7 khoa thi tổ chức ở Hành cung Vạn Lại, Thanh Hóa)
Giáo dục Thăng Long - Hà Nội quá trình, kinh nghiệm lịch sử và định hướng phát triển, Nguyễn Hải Kế (chủ biên), nhà xuất bản Hà Nội, 2010 không có mục
nào nói về khoa cử thời Mạc (1572 - 1592) mà chỉ nêu sơ lược và ghép chung thời Mạc, Lê - Trịnh, Tây Sơn (1527 - 1802)
Cuốn Văn chương khoa cử Việt Nam của Tạ Đức Tú, nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội, 2011 Tác giả cũng chỉ sơ lược một số vấn đề về khoa cử phong kiến Việt Nam như giới thiệu tài liệu giáo khoa cơ bản, hình thức thi, chấm thi, cũng như nội dung các bài văn
Cuốn Chế độ đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê sơ (1428 - 1527) của
Đặng Kim Ngọc, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, 2011 Tác giả đã hệ thống hóa chế độ đào tạo, tuyển dụng quan chức của thời Lê sơ cũng như vai trò và tác dụng của nó đối với sự tồn tại của nhà
Lê sơ
Trang 29Cuốn Nghiên cứu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
của Nguyễn Thị Hường, nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 2013 Sách được xuất bản dựa trên luận án Tiến sĩ cùng tên tác giả Đây là một công trình khoa học công phu với nhiều dẫn chứng có sức thuyết phục cao Cuốn sách đã phác họa một cái nhìn chung về tình hình biên soạn giảng dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm thời trung đại Tác giả đã lựa chọn một số văn bản đáng tin cậy để dịch thuật nhằm tiếp cận những bài học kinh nghiệm quý báu của cha ông để lại Tuy nhiên, những cuốn sách mà tác giả giới thiệu chủ yếu được biên soạn dưới triều Lê -Trịnh và triều Nguyễn, tác giả chưa nêu được một cuốn sách nào được biên soạn ở thời Nam – Bắc triều
Cuốn Thi cử học vị học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam của
Đinh Văn Niêm, nhà xuất bản Lao Động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông
Tây, Hà Nội, 2014 Cuốn sách mặc dù có tên “thi cử học hàm học vị” nhưng tác
giả chưa làm nổi bật được học vị học hàm cũng như nội dung thi cử mà chủ yếu đi vào thống kê các nhà khoa bảng Trong phương thức để bổ dụng quan lại tác giả cho rằng có 3 con đường là tiến cử, sát hạch, thi cử mà không đề cập đến nhiệm tử (dùng con của các quan), đây cũng là một hình thức bổ dụng được sử dụng dưới thời quân chủ
Thi Hương thời Nguyễn (qua hai trường thi Hà Nội và Nam Định) của Đỗ
Thị Hương Thảo, nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2016, được xuất bản trên cơ sở luận án Tiến sĩ của tác giả Từ việc phân tích cụ thể về nội dung thi Hương, cách thức chấm thi, cách thức tuyển lựa quan trường, tỉ lệ đỗ Cử nhân theo độ tuổi, tác giả đã rút ra một số đặc điểm của thi Hương thời Nguyễn
Cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858 do PGS.TS Vũ
Duy Mền (chủ biên), PGS.TS Trần Thị Vinh, TS Nguyễn Hữu Tâm, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2020, cũng trình bày một cách trung thực và có hệ thống
về tổ chức giáo dục, khoa cử, việc lựa chọn, sử dụng và đãi ngộ các vị đại khoa hiền tài của các triều đại quân chủ Việt Nam, cùng những đóng góp cống hiến quan trọng của họ với các vương triều và đất nước, những tấm gương điển hình
Trang 30của thầy và trò từ thế kỷ X đến năm 1858, nêu gương sáng cho hậu thế ngưỡng vọng, học tập [100, tr.13) Các tác giả cũng đã cập nhật được những kết quả nghiên cứu của giới sử học trong và ngoài nước có liên quan đến giáo dục, khoa
cử Tập thể tác giả cũng nêu khái quát về vai trò của Phật giáo đối với giáo dục trong buổi đầu mới giành được độc lập sau hơn 1000 năm Bắc thuộc Tuy nhiên liên quan đến giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592, các tác giả còn trình bày một cách khái lược
Năm 2019, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội cho xuất bản bộ sách
Khoa cử Việt Nam 17 do Nguyễn Thúy Nga làm chủ biên, gồm 4 cuốn: 1 Hương cống triều Lê; 2 Sinh đồ triều Lê, Thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn; 3 Cử nhân triều Nguyễn; 4 Tú tài triều Nguyễn Với nguồn tư liệu Hán Nôm phong phú
“khoảng 40.000 thác bản văn bia để tìm được hơn hai nghìn văn bản và lọc trong
số hàng nghìn cuốn sách để tìm ra gần 200 cuốn có thông tin”.(100, tr.6) Công
trình đã cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin về tên, tuổi của những Hương công (Cử nhân), Sinh đồ (Tú tài) của các triều đại Do còn hạn chế về mặt tư liệu nên tên của những người đỗ thi Hương thời Mạc gần như không được trình bày trong công trình này
Văn chương khoa cử triều Nguyễn (thi Hội, thi Đình) 18 của Đinh Thanh Hiếu, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021 Trong công trình, tác giả đã tổng quan được lịch sử nghiên cứu về văn chương khoa cử trong lịch sử nước ta nói chung, triều Nguyễn nói riêng cũng như làm rõ về hệ thống văn bài thi Hội, thi Đình triều Nguyễn, bao gồm tổng quan tình hình văn bản văn bài thi Hội, thi Đình triều Nguyễn, đánh giá sơ bộ và bước đầu thống kê trữ lượng văn bài thi Hội, thi Đình triều Nguyễn hiện còn lưu trữ; khái quát về thể chế và văn thể thi Hội, thi Đình triều Nguyễn, gắn với các tiêu chí tuyển chọn nhân tài Đinh Thanh Hiếu cũng giúp người đọc hiểu được “tứ trường văn thể” (kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, “tứ lục”)
17 Đây vốn là đề tài khoa học do Quỹ Nafosted tài trợ kinh phí nghiên cứu
18Sách được xuất bản dựa trên luận án Tiến sĩ Hán Nôm: Văn chương khoa cử trong thi Hội, thi
Đình triều Nguyễn
Trang 31trong thi Hội, thi Đình triều Nguyễn với: hệ thống đề thi, thể thức, sự rèn tập thể tài trong giáo dục khoa cử, công dụng của các trường thi đó… qua đó làm rõ các thể tài văn chương khoa cử triều Nguyễn trong mối quan hệ với yêu cầu tuyển chọn quan chức, chuẩn mực kiểm tra – đánh giá…, đặt trong diễn trình văn chương khoa cử Việt Nam và khu vực
Ngoài ra, có thể kể đến Tiến sĩ Nho học Hải Dương (1075 - 1919) của Tăng
Bá Hoành (chủ biên), 1999; Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Tĩnh, 2004; Các nhà khoa bảng Nghệ An của Đào Tam Tỉnh, nhà xuất bản Nghệ An, 2005; Khoa cử Việt Nam của Nguyễn Thị Chân Quỳnh, nhà xuất Văn học, 2007; Trạng nguyên Giáp Hải của Lâm Giang, nhà xuất Khoa học xã hội, 2009; Các nhà khoa bảng đất Thăng Long - Hà Nội của Trần Hồng Đức (chủ biên), nhà xuất Chính trị Quốc gia, 2010; Trạng nghè ở Thái Bình của Phạm Hóa - Vũ Mạnh Quang - Nguyễn Thanh; Những ông Nghè đất cảng do
Ngô Đăng Lợi biên soạn;… Trong các cuốn sách này, tiểu sử, sự nghiệp, nhất là sự nghiệp giáo dục cùng trước tác của các nhà khoa bảng đã được đề cập khá chi tiết Ngoài ra còn có những cuốn sách, công trình nghiên cứu lịch sử viết về giai đoạn 1527-1592, ít nhiều đề cập đến giáo dục khoa cử thời kỳ này, có thể kể đến ở đây một số cuốn sách, công trình tiêu biểu như:
Cuốn Vương triều Mạc (1527 - 1592) của Viện Sử học, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996 có bài viết Trí thức thời Mạc của Lê Văn Lan, Vài nét về tình hình giáo dục thi cử thời Mạc của Nguyễn Hữu Tâm Các tác giả đã nêu ra
đứng trước những biến động của xã hội đương thời, đòi hỏi người trí thức cần phải lựa chọn được cho mình một đường đi riêng nhưng vẫn cống hiến được tài năng của mình với dân tộc
Cuốn Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia của Đinh Khắc Thuân, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2012 với tên gọi Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam) Đây vốn là luận án Tiến sĩ của tác giả
được bảo vệ tại Trường Cao học Khoa học xã hội Pháp năm 2000 Trong công trình của mình, tác giả không nói đến giáo dục khoa cử thời Mạc nhưng ông có
Trang 32dành một trang về Quốc Tử giám thời Mạc
Vương triều Mạc với sự nghiệp canh tân đất nước, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015 Sách là kỷ yếu của Hội thảo khoa học Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam tổ chức vào tháng 9 năm 2010, giáo dục khoa cử thời Mạc
cũng nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu với một số tham
luận: Những đóng góp của Vương triều Mạc trong sự nghiệp phát triển văn hoá - giáo dục dân tộc của Đặng Kim Ngọc; Nét đặc sắc của giáo dục và văn hoá nhà Mạc của Phạm Hùng; Giáo dục Nho học và thi cử ở Đông Kinh thời Mạc của Minh Thuận; Mấy suy nghĩ về chính sách giáo dục của nhà Mạc của Mạc Văn Trang; Khoa cử và tâm thái của các nhà Nho thời Mạc của Nguyễn Quang Hà Hầu hết
các bài viết này cũng mới chỉ nêu được các khoa thi của triều Mạc và một phần chính sách trọng dụng nhân tài của triều Mạc
Giáo dục khoa cử thời kì này cũng được đề cập ít nhiều trong một số sách
thông sử như: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, của Trương Hữu Quýnh (chủ
biên) - Phan Đại Doãn - Nguyễn Cảnh Minh, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1998;
Lịch sử Việt Nam tập 2 từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX của nhóm tác giả
Phan Huy Lê (chủ biên) - Nguyễn Thừa Hỷ - Nguyễn Quang Ngọc - Nguyễn Hải
Kế - Vũ Văn Quân, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2012; Lịch sử Việt Nam tập 3 từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI của nhóm tác giả Tạ Ngọc Liễn (chủ biên),
Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Đức Nhuệ, Nguyễn Minh Tường, Vũ Duy Mền, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2013…
Bên cạnh đó địa chí của các địa phương như Địa chí Hải Dương tập 2, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2008; Kiến Thụy xưa và nay, nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 2009; Địa chí Ninh Bình, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2010; Địa chí Vĩnh Phúc, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 2012; cũng đề
cập đến các nhà khoa bảng của quê hương mình nhưng chỉ dừng ở mức độ khái quát về hành trạng và đóng góp của các nhà khoa bảng
1.2.1.2 Những tham luận nghiên cứu về giáo dục khoa cử công bố trên tạp chí, hội thảo
Trang 33Bước sang thế kỷ XX cùng với sự suy tàn của chế độ giáo dục khoa cử Nho
học thì một số tác giả trong những bài viết trên các báo như Tri Tân, Nam Phong
có nói đến giáo dục và khoa cử Nho học ở nước ta như: Khảo cứu về sự thi cử ở nước ta của Dương Bá Trạc, Tạp chí Nam Phong số 23 năm 1919; Lược khảo về khoa cử Việt Nam của Trần Văn Giáp,… Những bài viết này bao quát về khoa cử
từ nhà Lý, khai khoa đến nhà Nguyễn, bãi bỏ khoa cử, trong đó chủ yếu tập trung vào giáo dục khoa cử Nho học thời Nguyễn
Tình hình giáo dục thi cử thời Mạc của Nguyễn Hữu Tâm, (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6 năm 1991), đã khái quát về giáo dục khoa cử thời Mạc nhưng lại
mâu thuẫn về số liệu số khi tác giả đưa ra số Tiến sĩ thời Mạc là 499 tuy nhiên khi liệt kê số Tiến sĩ đỗ thì cộng lại được 489 Tiến sĩ
Giáo dục khoa cử từ năm 1527 đến năm 1592 đã từng được đề cập đến trong
một số Tạp chí khoa học chuyên ngành và trong Kỷ yếu của các hội thảo khoa học,
tại hội thảo khoa học Vương triều Mạc được tổ chức năm 1994, giáo dục khoa cử cũng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu với các tham luận: Mấy vấn
đề về trí thức thời Mạc của Lê Văn Lan; Vài nét về thế ứng xử của trí thức thời Mạc qua một số tư liệu mới của Nguyễn Đức Nhuệ; Bài văn sách đình đối khoa thi Tiến sĩ năm Quý Mùi 1583 triều Mạc của Nguyễn Tuấn Thịnh; Suy nghĩ về đời sống tư tưởng triều Mạc của Nguyễn Minh Tường Các bài viết chủ yếu tập trung
đi vào khai thác sự chọn đường của các trí thức thời Mạc trong bối cảnh xã hội đương thời
Giáo dục Nho học và thi cử ở Đông Kinh dưới thời Mạc của Đinh Khắc
Thuân, Tạp chí Hán Nôm, số 6(79), 2008 Tác giả khái quát được một số thành tựu của giáo dục và thi cử Nho học thời Mạc và nội dung bài viết cũng điểm qua những nét chính về thể lệ thi cử và tổ chức trường lớp dưới thời Mạc Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bài tạp chí, nội dung tác giả đưa ra chỉ mang tính chất gợi mở chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu về chính sách giáo dục khoa cử thời Mạc
Chính sách giáo dục của nhà Mạc trong Hồng Đức thiện chính thư của Tô Ngọc Hằng, Tạp chí Xưa - Nay số 385 tháng 8 năm 2011 Tác giả dành một nửa
Trang 34nội dung bài viết chứng minh Hồng Đức thiện chính thư là bộ luật thời Mạc, còn lại về chính sách giáo dục của nhà Mạc quy định như thế nào trong Hồng Đức thiện chính thư, tác giả mới chỉ nêu khái quát các nội dung như: quy định về bổn
phận của học trò, tư cách đạo đức thí sinh và chính sách đãi ngộ Bài viết mới chỉ nêu được vấn đề, nội dung phân tích chưa sâu và chưa làm rõ được chính sách giáo dục của nhà Mạc
Giáo dục khoa cử cũng được đề cập đến trong một số Tạp chí khoa học
chuyên ngành như các bài viết về: Sự truyền bá hệ tư tưởng Nho giáo thông qua hệ thống giáo dục – khoa cử thời Lê Thánh Tông của Phạm Thị Quỳnh (Tạp chí Khoa học Xã hội số 3(151)-2011, Chính sách sử dụng người tài, xây dựng đội ngũ quan lại trong sạch, vững mạnh thời Lê Thánh Tông của Nguyễn Hoài Văn, Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội, số 3/2013; Tư tưởng Nho giáo về giáo dục ở Việt Nam
của Nguyễn Hiền Lương (Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam số 7(92)-2015,
Từ việc khảo sát các hệ văn bản Tứ thư Ngũ kinh đại toàn ở Việt Nam bàn về
vị trí của Đại toàn trong giáo dục khoa cử truyền thống của Nguyễn Phúc Anh, Tạp chí Hán Nôm số1 (110) 2012 Trong bài viết này sau khi khảo sát các tư liệu
sử học cũng như các văn bản sách Đại toàn, tác giả nhận định “dường như chính quyền Lê - Nguyễn (Việt Nam) và Nguyên - Minh - Thanh (Trung Quốc) chưa bao giờ quy định một bộ sách giáo khoa chuẩn, bắt buộc cho hoạt động giáo dục và khoa cử nho học ở các trường học thông thường, mà chỉ quy định hệ thống chú giải tiêu chuẩn cho kinh sách Nho học Những quy định này có tính mở, định hướng cho hoạt động giáo học và khoa cử”
Trần Thị Vinh trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử có 3 bài viết về giáo dục khoa
cử thời Mạc và Lê Trung hưng: Khoa cử và tuyển dụng quan lại vào làm việc trong chính quyền nhà nước thời Mạc số 1(465) năm 2015), Khoa cử và tuyển dụng quan lại vào làm việc trong chính quyền nhà nước thời Lê Trung hưng từ năm 1554 đến năm 1787 (số 12(476) năm 2015), Khoa cử Nho học triều Mạc (1527 - 1592) (số 9(521) năm 2019) Trong các bài viết, tác giả sử dụng số liệu thống kê và tư liệu của Ngô Đức Thọ (chủ biên) trong cuốn Các nhà khoa bảng
Trang 35Việt Nam để ra các bảng tổng hợp số liệu về hạng đỗ, bổ dụng chức quan với các
vị đỗ đại khoa cũng như tính ra tỉnh lệ (%) nhưng từ những số liệu này, tác giả
chưa có một nhận xét gì Đó là chưa kể bài: Khoa cử và tuyển dụng quan lại vào làm việc trong chính quyền nhà nước thời Mạc và bài Khoa cử Nho học triều Mạc (1527 - 1592) có nhiều nội dung cũng như bảng số liệu trùng lặp nhau
Gần đây nhất Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam số 10(107)/2016 có bài viết
Chính sách khoa cử của triều Mạc và vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm của tác giả
Nguyễn Hữu Tâm Trong khuôn khổ một bài tạp chí, tác giả mới chỉ giới thiệu sơ lược và điểm qua một vài nét về giáo dục khoa cử triều Mạc và đi vào phân tích một nhân vật cụ thể là Nguyễn Bỉnh Khiêm
Vài nét về Giám sinh trường Quốc Tử Giám (Từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) của Trịnh Thị Hà, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3 năm 2018 Trong bài viết
của mình, tác giả Trịnh Thị Hà đã khái quát về Giám sinh trường Quốc Tử Giám
tuy nhiên trong bài viết tác giả cho rằng “Dưới thời quân chủ, việc học tập được chia thành thứ bậc cụ thể: 8 tuổi vào trường tiểu học, 15 tuổi vào trường đại học”
như vậy là chưa chính xác vì dưới thời quân chủ việc phân chia giữa hai bậc học không rõ ràng mà phụ thuộc vào năng lực của người học
Năm 2019, Hội thảo khoa học Quốc tế “Nghiên cứu giá trị di sản Hán Nôm thế kỷ XVII - XX của dòng họ Nguyễn Huy, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” được tổ chức tại Hà Tĩnh Tại hội thảo, tác giả Phan Đăng Thuận có tham luận Tìm hiểu về giáo dục và Khoa cử Nho học qua di sản Hán Nôm của dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu Trong bài tham luận này, tác giả đã đi sâu vào phân tích những giá trị
của di sản văn hóa dòng họ Nguyễn Huy đối với viêc nghiên cứu giáo dục khoa cử Nho học Việt Nam thời quân chủ
Tại Hội thảo khoa học Quốc tế “Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 1919)
-100 năm nhìn lại” được tổ chức tháng 8 năm 2019 ở Hà Nội đã thu hút được sự
tham gia của 62 nhà khoa học trong và ngoài nước với 57 tham luận, đi sâu vào phân tích quá trình hình thành cũng như đóng góp của chế độ khoa cử nước ta thời
quân chủ như: Việc lựa chọn các vị quan chấm thi trong nền giáo dục khoa cử Việt
Trang 36Nam của Nguyễn Hữu Tâm đã nêu khái quát được “chế độ chấm thi với đội ngũ quan chấm thi” nền giáo dục khoa cử Nho học; Khoa cử Nho học thời Lê Thánh Tông (1460 -1490) của Vũ Duy Mền cũng khái quát được thành tựu của giáo dục khoa cử thời Lê Thánh Tông “thời kỳ thịnh đạt nhất trong lịch sử giáo dục, khoa
cử Nho học Việt Nam”, “Dĩ văn thủ sĩ” – Văn chương khoa cử xét từ góc độ tiêu chí tuyển chọn nhân tài trong lịch sử 19 của Đinh Thanh Hiếu cũng đã nêu khái quát
về các văn thể được sử dụng trong chế độ khoa cử nước ta cũng như xác định văn chương khoa cử cũng là một tiêu chí để tuyển chọn “hiền tài”…
Hội thảo khoa học thường niên Hán Nôm 2019, Giáo dục khoa cử Nho học cũng là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Có 10 tham
luận về chủ đề này đã được gửi tới Hội thảo như: Chế sách Điện thí Chế khoa Bác học Hoành tài niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851) của Nguyễn Xuân Bảo, Thể Phú trong thi Hội triều Nguyễn của Đinh Thanh Hiếu, Giáo dục khoa cử ở Việt Nam thời Lê sơ của Nguyễn Công Lý, Tìm hiểu 8 nhà khoa bảng Việt Nam từng hai lần
đỗ thi Hội của Nguyễn Hữu Mùi, Nguồn tài liệu Hán Nôm ghi người đỗ đạt ở nước
ta của Nguyễn Thúy Nga… Tuy nhiên tất cả những tham luận này chủ yếu phân
tích chế độ giáo dục khoa cử thời Lê – Trịnh cũng như thời Nguyễn
1.2.1.3 Những luận văn, luận án nghiên cứu về giáo dục khoa cử
Bước đầu tìm hiểu văn chương khoa cử thời Lê sơ, luận án Phó Tiến sĩ Ngữ
văn của Nguyễn Văn Thịnh, Hà Nội, 1996 Luận án phân tích tình hình giáo dục Nho học thời Lê sơ, nội dung, đặc điểm khoa cử thời kỳ này, coi đó là những yếu
tố quan trọng quyết định nội dung của văn chương khoa cử Lê sơ Luận án dành dung lượng lớn để nghiên cứu về thể văn sách đình đối – một thể loại văn chương khoa cử tiêu biểu, cũng như các thể loại văn chương khoa cử khác
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, luận án Tiến sĩ triết học của Phạm Thị
Quỳnh, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2013 Luận án trình bày khái quát về sự ra đời, nội dung cơ bản của tư tưởng giáo dục Nho giáo Trung
19 Bài này sau Hội thảo được đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 8(520) năm 2019
Trang 37Quốc, trên cơ sở đó phân tích về sự ảnh hưởng rõ nét của tư tưởng đó tới giáo dục khoa cử phong kiến Việt Nam, từ thời Lý - Trần cho đến Lê sơ sau này Cùng với
sự thay đổi trong việc lựa chọn hệ tư tưởng của các triều đại phong kiến, dưới thời
Lý - Trần, Phật giáo chiếm ưu thế nhưng đến thời Lê sơ Nho giáo lại chiếm vị trí độc tôn Tuy nhiên luận án tiếp cận, giải quyết vấn đề dưới góc độ triết học, chủ yếu đi vào hệ tư tưởng giáo dục Nho giáo và ảnh hưởng của nó, vận dụng những luận chứng, luận điểm và các cặp phạm trù triết học để biện giải
Trong thời gian gần đây, giáo dục khoa cử tại các địa phương cũng đã được nhiều sinh viên, học viên cao học lựa chọn làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, luận
văn thạc sỹ như: Giáo dục khoa cử Nho học Yên Thành dưới thời phong kiến (1075 -1919) của Thái Bá Quý, năm 2006; Giáo dục khoa cử Nho học Can Lộc dưới thời phong kiến (1075 -1919) của Đặng Thị Nhàn, 2007; Giáo dục khoa cử Nghệ An từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII của Nguyễn Thị Lài, năm 2010; Giáo dục khoa cử Nho học Hà Tây từ 1075 đến 1802 của Lê Thị Hà năm 2010; Giáo dục và khoa cử Nho học ở Thanh Hóa dưới triều Nguyễn (1802-1919) của Vũ Thị Hạnh, luận văn
Thạc sĩ lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2016… Tất
cả những đề tài trên đã phần nào nói lên được lịch sử giáo dục khoa cử Nho học ở từng địa phương hoặc một giai đoạn lịch sử thời phong kiến
Tìm hiểu chế độ khoa cử Việt Nam thời phong kiến và vận dụng kinh nghiệm vào sự nghiệp giáo dục đào tạo trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của Trần Thị
Thu Hương, Đề tài cấp Bộ, 2004, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài có ba nội dung chính: Quá trình hình thành và phát triển nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến; Khái quát về chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến; Những kinh nghiệm qua chế độ thi cử Việt Nam thời phong kiến và sự vận dụng vào sự phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay Trong nội dung đề tài, tác giả chỉ mang tính chất phác họa về chính sách giáo dục khoa cử phong kiến nói chung mà không đi vào nghiên cứu cụ thể lĩnh vực này
Giáo dục khoa cử cũng được một số tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường như: Giáo dục - khoa cử Việt Nam theo tinh thần Nho học từ
Trang 38thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và ý nghĩa của nó đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay do Phạm Thị Quỳnh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, làm chủ nhiệm thực
hiện trong hai năm 2009 - 2010…
Luận văn Thạc sĩ với tiêu đề Giáo dục khoa cử thời Mạc (từ năm 1527 đến năm 1592)”của Tô Ngọc Hằng, bảo vệ năm 2011 tại Đại học Vinh Trong khuôn
khổ của một luận văn Thạc sĩ, tác giả mới chỉ đề cập tới vấn đề Giáo dục và khoa
cử của nhà Mạc còn giáo dục và khoa cử của nhà Lê Trung hưng diễn ra trong cùng thời gian thì chưa có điều kiện nghiên cứu Ngay cả về Giáo dục khoa cử của nhà Mạc, luận văn cũng mới chỉ trình bày được những nét cơ bản nhất Trong luận văn, tác giả có đưa ra bảng biểu thống kê về các khoa thi, số lượng Tiến sĩ và thứ hạng, bậc đỗ… tuy nhiên những số liệu đó mới dừng lại ở mức độ khái quát, còn một số sai sót về số liệu và niên đại, chưa tính toán được về tỷ lệ đỗ, hạng đỗ và đặc biệt là thống kê về việc bổ dụng quan chức sau khoa cử để thấy được vai trò của giáo dục khoa cử giai đoạn này Hơn nữa với phạm vi của một luận văn Thạc
sĩ, vấn đề giáo dục khoa cử của nhà Mạc, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở những nét khái quát mà chưa có điều kiện đi sâu vào phân tích trình bày một cách có hệ thống để làm rõ được những điểm nổi bật của giáo dục và khoa cử thời kỳ này - một thời kỳ đất nước liên tục xảy ra những cuộc xung đột tranh giành quyền lực
mà triều đình nhà Mạc không hề sao nhãng, vẫn thường xuyên tổ chức thi cử ngay
cả lúc chiến sự xảy ra năm 1592 Về tài liệu tham khảo, tác giả luận văn cũng đã
sử dụng được 108 đầu mục sách, tuy nhiên, các nguồn tư liệu gốc chưa được khai thác bao nhiêu mà hầu như luận văn mới chỉ sử dụng được các nguồn tài liệu cấp hai
Trong 2 năm (2011 - 2012), nhóm tác giả Phạm Thị Quỳnh - Nguyễn Bá Cường - Nguyễn Thị Cẩm Tú cũng đã thực hiện một đề tài khoa học cấp trường
Đại học Sư phạm Hà Nội về: Giáo dục khoa cử Việt Nam thời Mạc theo tinh thần Nho học và ý nghĩa của nó đối với nền giáo dục hiện nay Đề tài 63 trang, trong đề
tài, nhóm tác giả cũng mới chỉ nêu được các khoa thi thời Mạc còn nội dung thi cử,
tổ chức hệ thống trường lớp thì không đề cập đến Đề tài tiếp cận về vấn đề giáo
Trang 39dục khoa cử Việt Nam thời Mạc nhưng nhóm tác giả tiếp cận dưới góc độ triết học, không phải sử học
Luận án “Giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII – XVIII” (Học
viện Khoa học Xã hội, 2019) của Trịnh Thị Hà đã trình bày về thực trạng cũng như những đóng góp của giáo dục, khoa cử đối với xã hội Đại Việt trong hai thế kỷ XVII, XVIII Mặc dù “phạm vi thời gian của luận án là từ thế kỷ XVII – XVIII” nhưng khi viết về các Nho sĩ tiêu biểu của nền giáo dục và khoa cử thời Lê – Trịnh
ở thế kỷ XVII, XVIII, tác giả lại viết về Nguyễn Văn Giai, Phùng Khắc Khoan là chưa chính xác Bởi Nguyễn Văn Giai, Phùng Khắc Khoan thi đỗ ở thế kỷ XVI khi nhà Lê Trung hưng còn ở Thanh Hóa Luận án sẽ có giá trị hơn nếu như khai thác được một số di sản Hán Nôm của dòng họ Nguyễn Huy về Phúc Giang thư viện
như Sơ học chỉ nam (初 學 指 南)20, Lai Thạch Nguyễn thị gia tàng (來 石 阮 氏
家 藏)21…
Những công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã nêu ở trên khi nghiên cứu về giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592, mới chủ yếu miêu tả về số khoa thi cũng như số lượng lấy đỗ của các khoa thi mà chưa miêu tả về hoạt động dạy và học cũng như chưa làm nổi bật được thành tựu cũng như đóng góp của các nhà khoa bảng thời kỳ này
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục khoa cử Nho học Việt Nam là một đề tài luôn thu hút các nhà nghiên cứu nước ngoài đặc biệt là các học giả đến từ các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)
Vương Giới Nam: Ảnh hưởng của chế độ khoa cử Trung Quốc tới Việt Nam 22
cho rằng chế độ khoa cử của nước ta là sự mô phỏng của chế độ khoa cử Trung
20 Sách hiện lưu giữ tại dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm – ký hiệu A.1634
21 Sách hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Sử học – ký hiệu HV.3
22 Dịch từ nguyên bản Trung văn: Trung Quốc khoa cử chế độ dữ Việt Nam đích ảnh hưởng, Trung
Hoa văn hóa thông chí, Trung ngoại văn hóa giao lưu điển, (tập 10) Trung Quốc dữ Đông Nam Á văn hóa giao lưu chí, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã xuất bản, 1998, tr.197- 204 (Tạp chí Hán Nôm số 4 năm 2005, Nguyễn Tô Lan dịch)
Trang 40Quốc ở các đời Đường, Tống, Minh
Nghiên cứu chế độ khoa cử ở Việt Nam (陈 文 著:越 南 科 举 制 度 研
究,商 务 印 书 馆,北 京,2015 年) của Trần Văn đã phân tích quá trình hình thành và phát triển của chế độ giáo dục khoa cử Việt Nam trong lịch sử Khi nhận
định về chế độ giáo dục khoa cử thời Lê sơ, tác giả Trần Văn viết: “Thời kỳ Hậu
Lê giai cấp thống trị tôn sùng Nho học, hệ thống trường lớp các cấp được hoàn bị hơn, đẩy mạnh việc kết hợp giữa giáo dục và khoa cử chọn nhân tài Thông qua khoa cử để lựa chọn kẻ sĩ trở thành phương thức chủ yếu để giai cấp thống trị tuyển lựa nhân tài và để người dân thường có thể vươn lên tầng lớp cao trong xã hội Trong thời kỳ đó, Nho học, Sử học, Văn học chữ Hán được phát triển chưa từng có trong lịch sử” Đối với giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm
1592, Trần Văn nhận xét: “Triều Mạc vẫn tiếp tục thực hiện theo các chế độ của thời kỳ trước, kiên trì thể chế 3 năm mở một kỳ thi để lựa chọn kẻ sĩ, đã tuyển được hàng loạt nhân tài để phục vụ cho vương triều Triều Lê sau khi Trung hưng ở vùng đất phía Nam, vì phải đối phó với chiến tranh của triều Mạc, do vậy việc mở khoa thi hơi muộn, nhưng chế độ khoa cử cũng từng bước được khôi phục và phát triển”
Tại Hội thảo khoa học Quốc tế “Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 -1919) -
100 năm nhìn lại” năm 2019, một số học giả quốc tế cũng đã có tham luận về chủ
đề này như: Vài khía cạnh về chế độ khoa cử Trung Quốc – Nhìn nhận từ phía Bắc của GS Minchael Fiedrich (Đại học Hamburg); Giáo dục Nho học như một chiến lược xã hội ở vùng cao phía Bắc Việt Nam thế kỷ 18: tập trung vào tỉnh Lạng Sơn của TS Yoshikawa Kazuki; Trí thức Nho học trong thế giới không biên giới của thư tịch của GS.Kathlene Baldanza (Đại học Bang Pennsylvania); So sánh sách dùng trong cử nghiệp của hai nước Việt Nam và Triều Tiên: Lấy tiết bản của ba
bộ Đại toàn thời Vĩnh Lạc làm trung tâm của GS Hứa Di Linh (Đại hoc Văn hóa Trung Quốc); Chế độ khoa cử và giáo dục Nho học Việt Nam dưới ngòi bút của Thái Đình Lan (1801 – 1859) Đài Loan của GS Trần Ích Nguyên (Đại học Quốc