Xuất phát từ thực tế đó, với mục đích góp phần có một cái nhìn tổng quan hơn về những hoạt động này tại bệnh viện tôi chọn đề tài: “Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Ng
QUAN
KHÁI QUÁT VỀ DANH MỤC THUỐC VÀ DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN
1.1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc thiết yếu
Khái niệm TTY là một khái niệm toàn cầu, áp dụng cho cả hệ thống nhà nước và tư nhân trong chăm sóc sức khỏe Danh mục TTY đóng vai trò trung tâm trong chính sách quốc gia về thuốc, giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe và tối ưu hóa nguồn lực cũng như chi phí thuốc Theo WHO, DMTTY là những thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế ưu tiên của người dân, được lựa chọn dựa trên bằng chứng về hiệu quả điều trị, độ an toàn và hiệu quả chi phí TTY là thuốc thiết yếu trong hệ thống chăm sóc y tế, cần đảm bảo chất lượng, số lượng và thông tin với giá cả hợp lý Nguyên tắc thực hiện chính sách TTY cần linh hoạt và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong khi việc xác định thuốc nào được đưa vào TTY là trách nhiệm độc lập của mỗi nước.
Khái niệm TTY và DMTTY đƣợc thể hiện rõ trong chính sách quốc gia về thuốc nhƣ sau:
Thuốc TTY là yếu tố quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, được Nhà nước bảo đảm thông qua chính sách thuốc quốc gia Những loại thuốc này được nghiên cứu, sản xuất và phân phối dựa trên nhu cầu thực tế của người dân, đảm bảo luôn sẵn có với số lượng đầy đủ, dạng bào chế phù hợp, chất lượng tốt, an toàn và giá cả hợp lý.
Danh mục TTY bao gồm các loại thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của đại đa số người dân, luôn sẵn có với số lượng cần thiết, dạng bào chế phù hợp và giá cả hợp lý Danh mục thuốc thiết yếu ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe cộng đồng.
Theo quyết định số 130/QĐ-BYT ngày 23/02/1985, Bộ Y tế đã ban hành danh sách thuốc thiết yếu trong DMT thống nhất của toàn ngành, bao gồm các loại thuốc ưu tiên nhằm đảm bảo công tác phòng bệnh, chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe, phù hợp với đường lối y tế của Việt Nam Từ đó, danh sách này đã được cập nhật để phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Bộ y tế đã ban hành Danh mục TTY Việt Nam lần thứ V theo quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 355 tên thuốc của
Trong Danh mục TTY tân dược lần thứ VI, có tổng cộng 466 hoạt chất được liệt kê, bao gồm 314 hoạt chất tân dược và 94 DMT chế phẩm y học cổ truyền Bên cạnh đó, danh mục cũng đề cập đến các cây thuốc nam và 215 vị thuốc khác.
Xác định DMTTY là cơ sở pháp lý quan trọng để thống nhất các chính sách của Nhà nước về đầu tư, quản lý giá, vốn và thuế liên quan đến thuốc Cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp số đăng ký lưu hành và xuất nhập khẩu thuốc Các đơn vị y tế cần tập trung vào các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, phân phối, tồn trữ và sử dụng thuốc, đảm bảo an toàn và hợp lý trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Các cơ sở kinh doanh thuốc, cả nhà nước và tư nhân, phải đảm bảo DMTTY với giá cả hợp lý và hướng dẫn sử dụng an toàn, hiệu quả.
1.1.1.3 Khái quát về DMT tại các cơ sở khám chữa bệnh
DMT đóng vai trò quan trọng trong quản lý thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh, yêu cầu tuân thủ nguyên tắc và số lượng Thuốc cần đảm bảo chất lượng, an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế Danh mục thuốc được xây dựng dựa trên DMTTY Việt Nam và WHO hiện hành với các mục tiêu cụ thể.
Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả;
Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh;
Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế;
Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế [7]
Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu được sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam hiện nay đã được ban hành kèm theo các quy định cụ thể.
Thông tư số 31/2011/TT-BYT, ban hành ngày 11/07/2011 bởi Bộ trưởng Bộ Y tế, quy định hệ thống danh mục thuốc bao gồm 900 mục thuốc tân dược, không ghi rõ hàm lượng, nồng độ, thể tích, khối lượng gói hay dạng đóng gói, cho phép BHYT thanh toán cho bệnh nhân bất kể các yếu tố này Danh mục cũng bao gồm 57 mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu, 98 mục chế phẩm y học cổ truyền, cùng với 237 vị thuốc y học cổ truyền và bảng hướng dẫn sử dụng.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong năm 2015, giai đoạn 2011-2015 vẫn đối mặt với nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân Chất lượng dịch vụ y tế và các chỉ số sức khỏe giữa các vùng miền còn chênh lệch lớn, trong khi một số bệnh viện trung ương và thành phố lớn đang bị quá tải Hơn nữa, 25% dân số vẫn chưa tham gia bảo hiểm y tế, dẫn đến khả năng cân đối quỹ BHYT và chia sẻ rủi ro còn thấp.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân đã thúc đẩy việc thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, với mục tiêu đạt tỷ lệ bao phủ trên 80% dân số vào năm 2020 Hiện nay, danh mục thuốc tân dược được sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam theo thông tư số 40/2014/TT-BYT bao gồm 845 hoạt chất và 1064 loại thuốc, trong đó có 27 nhóm lớn, cùng với 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu Danh mục này là cơ sở để quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí thuốc cho người bệnh có thẻ BHYT tại các cơ sở y tế, và quy định rõ ràng về thuốc, hoạt chất được sử dụng theo phân hạng bệnh viện.
Bệnh viện hạng đặc biệt và hạng I sử dụng các thuốc quy định tại cột 5;
Bệnh viện hạng II sử dụng các thuốc quy định tại cột 6;
Bệnh viện hạng III và hạng IV, cùng với các phòng khám đa khoa thuộc bệnh viện đa khoa hoặc trung tâm y tế tại quận, huyện, thị xã, thành phố, sử dụng các loại thuốc được quy định tại cột 7.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là trạm y tế xã, phường, thị trấn và tương
1.1.2 Danh mục thuốc bệnh viện
1.1.2.1 Xây dựng DMT bệnh viện
Trong quá trình xây dựng DMT và quản lý thuốc tại bệnh viện, HĐT&ĐT cần phối hợp chặt chẽ với Khoa Dược, bộ phận phụ trách mua và phân phối thuốc HĐT&ĐT không thực hiện chức năng mua sắm mà tập trung vào việc xây dựng hệ thống DMT và các chính sách thuốc, trong khi bộ phận mua thuốc sẽ thực hiện theo yêu cầu của HĐT&ĐT Việc này giúp tránh tình trạng tập trung quyền lực trong Khoa Dược hoặc ở một cá nhân, từ đó giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.
Vai trò của HĐT&ĐT trong chu trình quản lý thuốc đƣợc thể hiện theo hình sau:
Hình 1.1 Chu trình quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện
Dựa trên DMTTY, mô hình bệnh tật và ngân sách của bệnh viện (bao gồm ngân sách nhà nước, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế), HĐT&ĐT có trách nhiệm hỗ trợ giám đốc bệnh viện trong việc lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc cho bệnh viện theo các nguyên tắc đã định.
Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện;
Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ vào phác đồ điều trị đã đƣợc xây dựng và áp dụng tại bệnh viện;
Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do
Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [9]
Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) là nền tảng quan trọng để đảm bảo cung ứng thuốc một cách chủ động và có kế hoạch, phục vụ nhu cầu điều trị an toàn và hiệu quả DMTBV được xây dựng hàng năm và có thể được điều chỉnh bằng cách bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của Hội đồng Thuốc và Điều trị.
1.1.2.2 Tiêu chí đánh giá lựa chọn thuốc trong DMT tại bệnh viện
THỰC TRẠNG VỀ DMT SỬ DỤNG TRONG CÁC BỆNH VIỆN TẠI VIỆT
1.2.1 Giá trị tiền thuốc sử dụng
Bệnh viện hiện nay là cơ sở khám chữa bệnh chủ yếu, với lượng thuốc tiêu thụ tại đây chiếm khoảng 50% tổng lượng thuốc tiêu thụ cả nước Năm 2010, tổng kinh phí mua thuốc của 1018 bệnh viện trên toàn quốc đạt khoảng 15.000 tỷ đồng, trong đó 92% kinh phí thuộc về khối bệnh viện công lập Đặc biệt, có 5 nhóm tác dụng dược lý có giá trị sử dụng cao, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kinh phí sử dụng thuốc.
BV gồm: nhóm kháng sinh cao nhất (37,7%) bằng 1/3 tổng kinh phí sử dụng thuốc, NSAIDs (18,2%), dịch truyền (8,2%), vitamin (4,7%) và corticoid (2,7%) [2]
1.2.2 Về cơ cấu nhóm tác dụng dƣợc lý
Một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu tại Việt Nam và trên toàn thế giới là việc sử dụng thuốc kháng sinh một cách an toàn và hợp lý Nghiên cứu tại các bệnh viện cho thấy chi phí mua thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị thuốc sử dụng, với tỷ lệ không đổi từ 32,3% đến 32,4% trong giai đoạn 2007-2009 Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2009, tỷ lệ giá trị thuốc kháng sinh trung bình tại các bệnh viện chuyên khoa trung ương là 28%, tại bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là 34%, và tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cao nhất là 43%.
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm 2009 trên 38 bệnh viện đa khoa ở sáu vùng trên cả nước cho thấy tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trung bình là 32,5%, trong đó các bệnh viện tuyến trung ương chiếm 25,7%.
Phân tích kinh phí sử dụng thuốc tại bệnh viện Hữu Nghị năm 2012 cho thấy nhóm thuốc kháng sinh có mức chi phí cao nhất, chiếm 26,4% tổng kinh phí Tương tự, tại bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên năm 2011, nhóm kháng sinh cũng chiếm tỷ lệ cao nhất với 33% tổng kinh phí sử dụng.
[18] Cũng tại bệnh viện này năm 2014, nhóm kháng sinh là một trong nhóm thuốc đƣợc sử dụng nhiều nhất chiếm tỷ lệ 35,4% về GTSD [17]
Việc sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh ở Việt Nam đang gặp nhiều vấn đề cần sự can thiệp từ các nhà quản lý Thông tư hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh do Bộ Y tế ban hành năm 2011 là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết những vấn đề này Thông tư này giúp các bệnh viện phân tích thực trạng sử dụng thuốc, từ đó đưa ra giải pháp điều chỉnh nhằm đảm bảo việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả hơn.
1.2.3 Về nguồn gốc xuất xứ
Thuốc nhập khẩu thường có giá cao hơn thuốc sản xuất trong nước do các yếu tố như thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển và chiến lược định giá của các hãng Việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người bệnh và bệnh viện mà còn giúp chủ động trong việc cung ứng thuốc tại cơ sở.
Vào năm 2010, tổng chi phí mua thuốc của 1018 bệnh viện đạt 15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2009 Trong đó, tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước chiếm 38,7%, trong khi thuốc nhập khẩu chiếm 61,3% Cụ thể, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các bệnh viện tuyến trung ương (34 bệnh viện) là 11,9%, tại bệnh viện tuyến tỉnh (307 bệnh viện) là 33,2%, và tại bệnh viện tuyến huyện (559 bệnh viện) là 60,4%.
Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu tại các tuyến bệnh viện cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ và tỷ trọng của hai nhóm này Trung bình, tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước chiếm khoảng 35% về số lượng và giá trị sử dụng, với tỷ lệ cao nhất tại tuyến bệnh viện tỉnh đạt 41,1% (giá trị sử dụng 57,1%) và thấp nhất là 22,6% (giá trị sử dụng 13,3%) Tỷ lệ thuốc nhập khẩu dao động từ 58,9% đến 77,4%, với giá trị sử dụng từ 42,9% đến 86,7% Việc hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” giai đoạn 2012 - 2020 không chỉ nhằm tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh mà còn góp phần đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển ngành dược Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
1.2.4 Về đơn thành phần - đa thành phần
Sử dụng thuốc đơn thành phần an toàn hơn thuốc đa thành phần do nguy cơ tương tác thuốc khi dùng nhiều loại cùng lúc Tỷ lệ tương tác thuốc gia tăng theo cấp số nhân với số lượng thuốc được phối hợp.
Kết quả phân tích năm 2009 cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng thuốc đơn thành phần và đa thành phần giữa các tuyến bệnh viện Thuốc đơn thành phần chiếm khoảng 86% tổng số khoản mục thuốc và giá trị sử dụng, trong khi thuốc đa thành phần chỉ chiếm hơn 13% Tuy nhiên, tỷ lệ này có sự khác biệt giữa các tuyến bệnh viện, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến tỉnh, nơi thuốc đơn thành phần chiếm từ 79%.
Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc, Nghệ An, 96% thuốc được sử dụng là thuốc đơn thành phần, chiếm tỷ lệ từ 79,3% đến 94,2% Trong khi đó, thuốc đa thành phần chỉ chiếm từ 4% đến 21% và có giá trị sử dụng (GTSD) từ 5,8% đến 20,7%.
2014 cho thấy TLSL thuốc đơn thành phần là 71,4% có GTSD chiếm tỷ lệ 55%; thuốc đa thành phần có TLSL là 28,6% với GTSD chiếm tỷ lệ 45%
1.2.5 Về thuốc biệt dƣợc gốc và generic
Thuốc biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành, mang tên thương mại của nhà sản xuất phát minh, với đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả Trong khi đó, thuốc generic là sản phẩm thay thế cho thuốc phát minh, được sản xuất mà không cần giấy phép nhượng quyền từ công ty phát minh, và được đưa ra thị trường khi bằng phát minh và các độc quyền đã hết hạn.
Sử dụng thuốc generic giúp giảm chi phí thuốc Phân tích năm 2009 cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc và generic giữa các tuyến bệnh viện Tại các bệnh viện tuyến tỉnh, thuốc generic có tỷ lệ sử dụng từ 22,4% - 46%, trong khi thuốc biệt dược gốc chiếm từ 54% - 77%.
Kết quả phân tích DMT tại Bệnh viện Trung ương Huế năm 2012 cho thấy tỷ lệ thuốc biệt dược gốc có tỷ lệ sử dụng thấp (TLSL) là 14,2%, trong đó giá trị sử dụng दव (GTSD) chiếm 11,3% Ngược lại, thuốc generic có TLSL là 85,8%, với GTSD chiếm tỷ lệ cao hơn là 88,7% Điều này cho thấy sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sử dụng thuốc giữa biệt dược gốc và thuốc generic tại bệnh viện.
1.2.6 Về các dạng đường dùng thuốc
Việc lựa chọn đường dùng thuốc cho bệnh nhân cần dựa vào tình trạng sức khỏe, mức độ bệnh lý và cách thức sử dụng thuốc để đưa ra y lệnh phù hợp Đường tiêm chỉ nên được sử dụng khi bệnh nhân không thể uống thuốc, khi thuốc đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị, hoặc khi thuốc chỉ có thể dùng qua đường tiêm.
Trong năm 2009 tại các BV tuyến tỉnh, thuốc uống có TLSL từ 20% - 38% có GTSD chiếm tỷ lệ từ 28,5% - 50,3%; thuốc tiêm và tiêm truyền có
TLSL từ 51,8% - 72% có GTSD chiếm tỷ lệ từ 46,1% - 65,3%; thuốc dạng khác có TLSL từ 5% - 10,2% có GTSD chiếm tỷ lệ từ 2,5% - 6,4% [22].
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CUNG ỨNG THUỐC VỚI PHƯƠNG THỨC ĐTTT NĂM 2015 TẠI BV NGUYỄN TRI PHƯƠNG
1.3.1 Khái quát về đấu thầu
Trong những năm qua, ngành y tế đã nỗ lực cung ứng thuốc an toàn, hiệu quả và chi phí hợp lý cho Nhân dân Hiện nay, phương thức đấu thầu thuốc chủ yếu là đấu thầu rộng rãi, nhằm lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ và hàng hóa một cách công bằng, minh bạch Đấu thầu không chỉ mang tính khoa học và pháp quy mà còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, giúp hạ giá thành sản phẩm và tiết kiệm chi phí đầu tư Mục tiêu của đấu thầu thuốc là thống nhất giá thuốc và lựa chọn sản phẩm chất lượng tốt với giá rẻ.
1.3.2 Một số vấn đề về ĐTTT ảnh hưởng đến DMT sử dụng
Các cơ sở y tế trực thuộc trên địa bàn thành phố căn cứ kết quả ĐTTT của
Sở y tế thực hiện việc ký kết hợp đồng với các nhà thầu và mua thuốc với mức giá thống nhất trong toàn thành phố
Phương thức đấu thầu thuốc mang lại nhiều lợi ích như áp dụng giá thuốc chung trên toàn thành phố, chuyên nghiệp hóa hoạt động đấu thầu và nâng cao hiệu quả quản lý thuốc Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số vấn đề do nguyên nhân khách quan và chủ quan, làm giảm hiệu quả đấu thầu và gây khó khăn cho các cơ sở y tế trong việc mua thuốc phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh.
Khi có thuốc không trúng thầu do không có nhà thầu tham dự hoặc số lượng không đủ, sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thuốc phục vụ điều trị Điều này không chỉ ảnh hưởng đến việc cung ứng thuốc đầy đủ mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả điều trị, cũng như thương hiệu và uy tín của bệnh viện.
Kết quả thực hiện công tác ĐTTT cho thấy đã xây dựng danh mục thuốc chỉ định theo phác đồ điều trị, hạn chế lạm dụng và phối hợp không đúng trong điều trị Công tác này thống nhất giá thuốc tại các bệnh viện, đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý ĐTTT khắc phục hạn chế của đấu thầu riêng lẻ, mang lại lợi ích xã hội và tiết kiệm ngân sách Ngoài ra, ĐTTT còn tiết kiệm thời gian và chi phí tổ chức lựa chọn nhà thầu, nâng cao tính công khai, minh bạch và tạo điều kiện cho nhiều nhà cung cấp tham gia đấu thầu.
Bệnh viện đã xây dựng danh mục thuốc phục vụ cho công tác thanh quyết toán BHYT, đồng thời phát triển phác đồ điều trị nhằm ngăn chặn lạm dụng thuốc và đảm bảo chất lượng thuốc trong khám chữa bệnh Các công ty dược cũng nghiêm túc tham gia vào quá trình đấu thầu.
KHÁI QUÁT VỀ BV ĐA KHOA NGUYỄN TRI PHƯƠNG QUẬN 05 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
05 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.4.1 Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của Bệnh viện
Vào năm 1903, một Trạm y tế nhỏ với một Đông y sĩ đã được thành lập để chữa trị miễn phí cho cộng đồng người Hoa tại Quảng Đông Đến năm 1919, trạm được mở rộng và đổi tên thành Y viện Quảng Đông, hoạt động như một bệnh viện tư nhân cho đến khi đất nước được giải phóng Năm 1978, Y viện Quảng Đông được công lập hóa theo chính sách của Chính phủ và sau đó được đổi tên thành Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Hình 1.2 Bệnh viện đa khoa Nguyễn Tri Phương Q5 Tp Hồ Chí Minh
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, được thành lập từ năm 1978, tọa lạc tại 468 đường Nguyễn Trãi, phường 08, quận 05, thành phố Hồ Chí Minh Đây là một bệnh viện đa khoa hạng 1, trực thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự quản lý chuyên môn của Sở Y tế và quản lý nhà nước từ Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bệnh viện, được vinh danh với Huân chương Lao động hạng 2 vào năm 2004, hiện có 800 giường bệnh và đang trong quá trình phát triển để nâng số giường lên 900 Bệnh viện cam kết chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bệnh nhân theo đúng chủ trương của ngành, Đảng và Nhà nước, điều này được thể hiện qua slogan "Năng động – Thân thiện – Phát triển".
1.4.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện
Cấp cứu, khám bệnh và chữa bệnh
Bệnh viện cung cấp dịch vụ cấp cứu, khám và chữa bệnh cho cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú theo quy định của Nhà nước Ngoài ra, bệnh viện cũng tổ chức khám sức khỏe và cấp chứng nhận sức khỏe theo các quy định hiện hành.
Chúng tôi có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tất cả các bệnh tật từ các địa phương cũng như từ các nơi khác Tổ chức khám giám định sức khỏe theo yêu cầu của hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc địa phương, và thực hiện khám giám định pháp y khi có yêu cầu từ cơ quan bảo vệ pháp luật.
BV đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo cán bộ y tế ở các bậc học đại học, sau đại học và trung học Các thành viên trong bệnh viện cần tuân thủ nghiêm ngặt quy chế và quy định kỹ thuật của bệnh viện.
Bệnh viện (BV) là nơi tiến hành các nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân Đồng thời, BV cũng hợp tác với các chuyên khoa hàng đầu để phát triển các kỹ thuật y tế mới.
Lập kế hoạch và tổ chức chỉ đạo cho bệnh viện tuyến dưới nhằm phát triển khoa học kỹ thuật chuyên môn, từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị Đồng thời, kết hợp với bệnh viện tuyến dưới để thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khỏe ban đầu trong khu vực.
Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng Phối hợp với các cơ sở Y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch
Hợp tác với các tổ chức và cá nhân quốc tế theo quy định của Nhà nước là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển Hiện tại, BV đang duy trì mối quan hệ hợp tác hiệu quả với các viện và trường trong nước.
Quản lý kinh tế y tế
Kế hoạch sử dụng ngân sách Nhà nước cần được thực hiện hiệu quả, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thu chi tài chính Cần từng bước hoạch toán chi phí cho việc khám bệnh và chữa bệnh Đồng thời, cần tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế như viện phí, bảo hiểm y tế, cũng như từ đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác.
1.4.3 Hội đồng thuốc và điều trị của BV
Sự gia tăng số lượng bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân bảo hiểm y tế (BHYT), đã khiến hệ thống y tế gặp khó khăn trong việc cung cấp thuốc điều trị Do đó, mỗi bệnh viện cần thành lập một hội đồng tư vấn để thảo luận và giải quyết các vấn đề liên quan đến điều trị và kinh tế Việc quản lý thuốc và điều trị bằng thuốc trong bệnh viện là rất cần thiết, nhằm thực hiện hiệu quả chính sách quốc gia về thuốc.
1.4.3.1 Thành phần Hội đồng thuốc và điều trị của BV
HĐT&ĐT của BV năm 2014 đƣợc thành lập theo quyết định số 332/QĐ-NTP ngày 25/03/2014 của Giám đốc BV gồm 09 thành viên:
Chủ tịch: Giám đốc BV
Phó chủ tịch: Phó Giám đốc BV
Phó chủ tịch kiêm Ủy viên thường trực: Trưởng Khoa Dược
6 Ủy viên: Phó và trưởng phòng KHTH, trưởng phòng TCKT, trưởng khoa HSTC-CĐ, phó trưởng khoa Dược và DS khoa Dược
1.4.3.2 Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong BV
HĐT&ĐT của BV xây dựng các quy định cụ thể về:
1 Các tiêu chí lựa chọn thuốc để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện;
2 Lựa chọn các hướng dẫn điều trị (các phác đồ điều trị) làm cơ sở cho việc xây dựng DMT;
3 Quy trình và tiêu chí bổ sung hoặc loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục thuốc BV;
4 Các tiêu chí để lựa chọn thuốc trong đấu thầu mua thuốc;
5 Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến người bệnh nhằm bảo đảm thuốc đƣợc sử dụng đúng, an toàn;
6 Lựa chọn một số thuốc không nằm trong danh mục thuốc bệnh viện trong trường hợp phát sinh do nhu cầu điều trị;
7 Hạn chế sử dụng một số thuốc có giá trị lớn hoặc thuốc có phản ứng có hại nghiêm trọng, thuốc đang nằm trong diện nghi vấn về hiệu quả điều trị hoặc độ an toàn;
8 Sử dụng thuốc biệt dƣợc và thuốc thay thế trong điều trị;
9 Quy trình giám sát sử dụng thuốc tại các khoa lâm sàng;
10 Quản lý, giám sát hoạt động thông tin thuốc của trình dƣợc viên, công ty dƣợc và các tài liệu quảng cáo thuốc [9]
1.4.3.3 Quy trình xây dựng DMT kế hoạch của BV năm 2015
Yêu cầu xây dựng DMT kế hoạch
Thuốc nghiện- hướng thần và tiền chất
Phòng KHTH tổng hợp phác đồ điều trị của BV
Hội đồng thuốc và điều trị
Danh mục thuốc kế hoạch hoàn chỉnh
Khoa Dƣợc tổng hợp danh mục & số lƣợng dự trù, phân tích ABC/VEN
Phân tích ABC Phân tích VEN
Hình 1.3 Quy trình xây dựng DMT kế hoạch BV năm 2015
1.4.4 Sơ đồ tổ chức bệnh viện
Hình 1.4 Sơ đồ tổ chức của BV năm 2015
1.4.5 Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Mô hình bệnh tật của Bệnh viện đa khoa Nguyễn Tri Phương, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015, được xác định dựa trên đặc thù và chức năng của bệnh viện Dữ liệu này được thu thập từ phần mềm chương trình quản lý bệnh viện, phản ánh tình hình sức khỏe và nhu cầu điều trị của bệnh nhân tại cơ sở y tế này.
Bảng 1.1 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện đa khoa Nguyễn Tri Phương thành phố Hồ Chí Minh năm 2015
STT Tên bệnh Mã ICD
Tại khoa phòng khám Điều trị nội trú
1 Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật A00-B99 13.152 2,67 1.610 3,51
Bệnh máu, cơ quan tạo máu và cơ chế miễn dịch
4 Bệnh nội tiết, dinh dƣỡng chuyển hóa E00-E90 49.948 10,12 1.688 3,68
5 Rối loạn tâm thần và hành vi F00-F99 5.186 1,05 575 1,26
6 Bệnh của hệ thống thần kinh G00-G99 21.992 4,46 961 2,10
7 Bệnh của mắt và phần phụ H00-H59 18.180 3,68 774 1,69
8 Bệnh của tai và xương chũm H60-H95 7.860 1,59 1.280 2,79
9 Bệnh của hệ tuần hoàn I00-I99 87.490 17,73 5.606 12,23
10 Bệnh của hệ hô hấp J00-J99 49.110 9,95 5.342 11,66
11 Bệnh của hệ tiêu hóa K00-K93 38.669 7,83 7.805 17,04
12 Bệnh của da và tổ chức dưới da L00-L99 9.316 1,89 795 1,74
STT Tên bệnh Mã ICD
Tại khoa phòng khám Điều trị nội trú
% người bệnh xương và mô liên kết
14 Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục N00-N99 19.337 3,92 4.696 10,25
15 Chửa, đẻ và sau đẻ O00-O99 12.921 2,62 4.597 10,03
16 Một số bệnh trong thời kì chu sinh P00-P96 16 0,00 793 1,73
17 Dị dạng bẩm sinh, biến dạng của Cromosom Q00-Q99 66 0,01 49 0,01
Triệu chứng, dấu hiệu và phát hiện bất thường lâm sàng,xét nghiệm
Vết thương, ngộ độc và kết quả của các nguyên nhân bên ngoài
(ví dụ: Tự tử do uống thuốc trừ sâu; đánh nhau, …)
Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong (ví dụ: Sốc thuốc phiện…)
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người khám nghiệm và điều tra
Phân chia MHBT của bệnh viện thành 2 mảng: Khám và điều trị ngoại trú với điều trị nội trú cho thấy:
Khám và điều trị ngoại trú cho thấy bệnh của hệ thống cơ xương và mô liên kết dẫn đầu với 88.118 lượt bệnh nhân, chiếm 17,85% tổng số lượt khám Tiếp theo là bệnh của hệ tuần hoàn với 87.490 lượt bệnh nhân (17,73%), và bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hóa với 49.948 lượt (10,12%) Bệnh hô hấp có 49.110 lượt bệnh nhân (9,95%), trong khi các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe chiếm 41.727 lượt (8,54%) Bệnh tiêu hóa cũng có tỷ lệ cao với 38.669 lượt (7,83%), trong khi bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật chỉ có 13.152 lượt (2,67%) Đối với điều trị nội trú, bệnh của hệ tiêu hóa có số lượng bệnh nhân cao nhất.
Trong tổng số 45.800 bệnh nhân, bệnh lý của hệ thần kinh chiếm 17,04% với 7.805 bệnh nhân Bệnh của hệ tuần hoàn đứng thứ hai với 5.606 bệnh nhân, chiếm 12,23% Bệnh hô hấp xếp thứ ba với 5.342 bệnh nhân, tương đương 11,66% Hai nhóm bệnh khác, bao gồm bệnh của hệ tiết niệu sinh dục và bệnh liên quan đến chửa, đẻ và sau đẻ, đều chiếm khoảng 10% Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hóa chiếm 3,68%, trong khi bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật chiếm 3,51% Một số bệnh có số lượng bệnh nhân ít như nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong (0,40%), bệnh máu và cơ quan tạo máu (0,10%), và rất ít là bệnh dị dạng bẩm sinh, biến dạng của cromosom.
49 bệnh nhân chiếm 0,01% Điểm đặc biệt là không có chương bệnh nào mà bệnh viện không có người bệnh.
TÍNH THIÊT YẾU CỦA ĐỀ TÀI
Năm 2015, bệnh viện đã tiếp nhận 539.378 lượt bệnh nhân khám và chữa bệnh nội ngoại trú, với chi phí thuốc tân dược lên tới 141.561,9 triệu đồng, chiếm 42,34% tổng thu viện phí 334.290,4 triệu đồng Tuy nhiên, việc thực hiện kết quả ĐTTT trong năm này gặp nhiều khó khăn do phải điều chuyển thuốc, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp đủ thuốc cho công tác khám chữa bệnh.
Nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng, cùng với uy tín của bệnh viện và sự tín nhiệm của bệnh nhân, đã làm nổi bật tầm quan trọng của công tác quản lý sử dụng thuốc Việc phân tích thực trạng sử dụng thuốc trở nên cần thiết hơn bao giờ hết để đáp ứng yêu cầu này.
Trong thời gian qua, chưa có nghiên cứu nào phân tích về DMT và việc thực hiện DMTBV sau ĐTTT năm 2015 Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương – Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015” nhằm hoàn thiện tính hợp lý trong DMT đã sử dụng và đưa ra một số kiến nghị cho việc thực hiện DMTBV sau ĐTTT của bệnh viện năm 2015.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
DMTBV đã đƣợc sử dụng năm 2015
DMTBV đề xuất đấu thầu tập trung năm 2015
DMTBV trúng thầu tập trung năm 2015
DMTBV áp thầu sau đấu thầu tập trung năm 2015
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: BV Đa khoa Nguyễn Tri Phương, Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.2 Các biến số nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu đƣợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
STT TÊN BIẾN SỐ ĐỊNH NGHĨA LOẠI
NGUỒN THU THẬP Phần 1: Phân tích cơ cấu và giá trị DMT đƣợc sử dụng tại BV năm 2015
1 Nhóm tác dụng dƣợc lý
Căn cứ theo thông tƣ 40/2014/TT-BYT chia thành 27 nhóm TDDL
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
Thuốc có nguồn gốc SX trong nước và nhập ngoại Nhị phân
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
3 Thành phần thuốc Đơn thành phần: trong công thức có 1 chất Đa thành phần: trong công thức có 2 chất trở lên
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
4 Biệt dƣợc gốc và generic
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
5 Dạng đường dùng Đường dùng là tiêm Đường dùng là uống Phân loại
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
Thuốc hướng tâm thần và tiền chất
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
Thuốc hạng A Thuốc hạng B Thuốc hạng C
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
8 Phân tích TDDL nhóm A Thuốc hạng A Số
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
9 Phân tích VEN nhóm A Ma trận AV, AE, AN Phân loại
Báo cáo xuất nhập tồn kho của
Phần 2: So sánh về số lƣợng và giá trị DMT đã sử dụng với DMT trúng thầu năm 2015
10 Biệt dƣợc gốc và generic
SL thuốc biệt dƣợc gốc và generic
GT thuốc biệt dƣợc gốc và generic
Nhị phân DMTBV ĐTTT năm 2015
11 ĐTTT năm 2015 trúng thầu và không trúng thầu theo biệt dƣợc gốc và generic
SL thuốc BDG; generic ĐTTT trúng thầu và không trúng thầu
GT thuốc BDG; generic ĐTTT trúng thầu và không trúng thầu
DMTBV ĐTTT đƣợc năm 2015 và DMTBV áp thầu sau ĐTTT năm 2015
Thuốc BDG ĐTTT năm 2015 không trúng thầu theo nhóm TDDL
SL thuốc BDG không trúng thầu theo nhóm TDDL
GT nhóm thuốc BDG không trúng thầu theo nhóm TDDL
DMTBV áp thầu sau ĐTTT năm
Thuốc điều chuyển tăng sau ĐTTT năm 2015
SL > thuốc BDG điều chuyển tăng do không cung ứng đủ và nhu cầu tăng
SL > thuốc generic điều chuyển tăng do không cung ứng đủ và nhu cầu tăng
SL > thuốc BDG và generic điều chuyển tăng theo nhóm TDDL
DMTBV ĐTTT năm 2015 và DMTBV ĐTTT trúng thầu năm
Thuốc điều chuyển giảm sau ĐTTT năm 2015
SL> thuốc BDG và generic điều chuyển giảm Số
DMTBV ĐTTT trúng thầu năm
2.2.3 Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu
2.2.3.1 Phân tích cơ cấu và giá trị DMTBV đã sử dụng
Thu thập và hồi cứu các số liệu thứ cấp thông qua các tài liệu sẵn có:
DMT đã sử dụng tại BV Nguyễn Tri Phương năm 2015
DMT tân dƣợc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT đƣợc ban hành kèm theo thông tƣ số 40/2014/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm
DMT tối cần thiết, thuốc thiết yếu, thuốc không thiết yếu (VEN) tại BV Nguyễn Tri Phương năm 2015 đã được HĐT&ĐT xây dựng trên cơ sở:
Mô hình bệnh tật của BV trong năm 2015 (dữ liệu từ phần mềm chương trình quản lý BV)
DMTTY tân dƣợc lần VI đƣợc ban hành kèm theo thông tƣ số 41/2013/TT-BYT ngày 26 tháng 12 năm 2013
DMT tân dƣợc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT đƣợc ban hành kèm theo thông tƣ số 40/2014/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm
DMTBV đề xuất đấu thầu tập trung năm 2015
DMTBV trúng thầu tập trung năm 2015
DMTBV áp thầu sau đấu thầu tập trung năm 2015
Phân tích cơ cấu và giá trị DMTBV đã sử dụng
Các số liệu sau khi thu thập đƣợc đƣa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:
Bước 1: Tập hợp tất cả dữ liệu về DMT đã sử dụng trong năm 2015 vào một bảng Excel, bao gồm tên thuốc (cả biệt dược gốc và generic), nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, nước sản xuất và công ty cung cấp.
Bước 2 : Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
Xếp theo thuốc đơn/ đa thành phần
Xếp theo tên BDG và generic
Xếp theo đường dùng của thuốc
Xếp theo thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất
Bước 3 : Tính tổng SL khoản mục, trị giá của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)
Phương pháp phân tích ABC:
- Tính tổng giá trị tiêu thụ của các thuốc đã sử dụng
- Tính giá trị % của mỗi sản phẩm
- Dựa vào % sắp xếp các thuốc theo thứ tự giảm dần
- Tính giá trị % tích lũy cho mỗi sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh mục thuốc
- Phân hạng sản phẩm dựa vào giá trị % tích lũy:
Hạng A: gồm những sản phẩm chiếm từ 75% đến 80% tổng giá trị tiền
Hạng B: gồm những sản phẩm chiếm từ 15% đến 20% tổng giá trị tiền
Hạng C: gồm những sản phẩm chiếm từ 5% đến 10% tổng giá trị tiền
- Tính tổng số và tỷ lệ % số lƣợng, số đơn vị tiêu thụ thuốc hạng A, B, C Thông thường:
Sản phẩm hạng A chiếm từ 10% - 20% tổng số sản phẩm
Sản phẩm hạng B chiếm từ 10% - 20% tổng số sản phẩm
Sản phẩm hạng C chiếm từ 60% - 80% tổng số sản phẩm [33][9]
Phương pháp phân tích VEN
Các bước phân tích VEN:
Từng thành viên Hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E và
Kết quả phân loại của các thành viên đƣợc tập hợp và thống nhất, sau đó, Hội đồng sẽ:
Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp
Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị
Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V và E trước nhóm N và bảo đảm thuốc nhóm V và E có một lƣợng dự trữ an toàn
Giám sát đơn đặt hàng và lƣợng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N [33][9]
- Phân nhóm các thuốc VEN: HĐT&ĐT xây dựng trên DMTBV năm
- Tính tổng số, tỷ lệ phần trăm số lƣợng thuốc và GTSD của các thuốc nhóm A theo nhóm TDDL
- Tính tổng số, tỷ lệ phần trăm số lƣợng thuốc và GTSD của các thuốc nhóm A theo VEN
2.2.3.2 So sánh về số lượng và giá trị DMT đã sử dụng với DMT trúng thầu năm 2015
Các số liệu sau khi thu thập đƣợc đƣa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:
Bước 1 : Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu về DMTBV ĐTTT năm 2015,
DMTBV ĐTTT năm 2015 trúng thầu và DMTBV áp thầu sau ĐTTT năm 2015
Bước 2 : Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
SL thuốc BDG; generic và GT của nhóm BDG; generic
SL thuốc BDG; generic trúng thàu và không trúng thầu GT thuốc BDG; generic trúng thầu và không trúng thầu
SL thuốc BDG không trúng thầu theo nhóm TDDL và GT thuốc BDG không trúng thầu theo nhóm TDDL
Sự điều chuyển về số lượng (SL) và giá trị (GT) của thuốc BDG và thuốc generic đang tăng lên do nhu cầu tăng cao và tình trạng cung ứng không đủ Cả hai loại thuốc này đều có sự điều chuyển tăng theo nhóm thuốc điều trị đặc biệt (TDDL).
SL & GT thuốc BDG và generic điều chuyển giảm
Bước 3 : Tính tổng SL khoản mục, trị giá của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)
Số liệu sau khi đƣợc thu thập, đƣợc xử lý bằng phần mềm excel 2010.
Tính số liệu, giá trị và tỷ lệ phần trăm của từng biến;
So sánh, mô hình hóa dưới dạng biểu đồ, đồ thị;
Trình bày kết quả bằng phần mềm Microsoft Word 2010.
Báo cáo kết quả nghiên cứu bằng phần mềm Microsoft Powerpoint
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
Các chỉ số nghiên cứu đƣợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2 Các chỉ số nghiên cứu
STT NỘI DUNG CHỈ SỐ CỤ THỂ CÁCH TÍNH
1 Phân tích cơ cấu, giá trị DMT
Tỷ lệ % SL và GTSD từng nhóm thuốc theo nhóm TDDL Công thức 1:
Tỷ lệ % thuốc (hoạt chất) từng nhóm= số thuốc (hoạt chất) mỗi nhóm/tổng số thuốc (hoạt chất) đã sử dụng
Tỷ lệ % GTSD mỗi nhóm=(Tổng GTSD của nhóm/Tổng GTSD thuốc năm 2015) *100
Tỷ lệ % SL và GTSD của thuốc
SX trong nước và nhập ngoại
Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc đơn thành phần và đa thành phần
Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc biệt dƣợc gốc và generic
Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc theo dạng đường dùng
Tỷ lệ % SL và GTSD thuốc theo quy chế chuyên môn
Tỷ lệ % SL và GTSD nhóm A,B,C
Tỷ lệ % SL=số loại thuốc của mỗi nhóm A,B,C/Tổng số loại thuốc sử dụng *100
Tỷ lệ % GT= GT thuốc của mỗi nhóm
Tỷ lệ % SL và GTSD nhóm A theo VEN
Tỷ lệ % SL và GT thuốc hạng A theo nhóm TDDL
Tỷ lệ % SL và GT =số loại thuốc và GT của mỗi nhóm TDDL/Tổng số thuốc hạng A *100
So sánh về SL và
GT DMT đã sử dụng với DMT trúng thầu năm
Tỷ lệ % SL và GT thuốc BDG (generic)
Tỷ lệ % SL= số loại thuốc BDG
(generic)/Tổng số loại thuốc ĐTTT*100
Tỷ lệ % GT= GT nhóm thuốc BDG
(generic)/Tổng GT thuốc ĐTTT*100
Tỷ lệ % SL và GT thuốc BDG; generic trúng thầu (không trúng thầu)
Tỷ lệ % SL= số loại thuốc BDG trúng thầu (không trúng thầu)/Tổng số thuốc BDG*100
Tỷ lệ % GT= GT thuốc BDG trúng thầu (không trúng thầu)/Tổng GT thuốc BDG*100
Tỷ lệ % SL= số loại thuốc generic trúng thầu (không trúng thầu)/Tổng số thuốc generic*100
Tỷ lệ % GT= GT thuốc generic trúng thầu (không trúng thầu)/Tổng GT thuốc generic*100
Tỷ lệ % SL và GT nhóm thuốc BDG không trúng thầu theo nhóm TDDL
Tỷ lệ % SL= số loại thuốc BDG không trúng thầu theo nhóm TDDL /Tổng số thuốc BDG không trúng thầu
Tỷ lệ % GT= GT theo nhóm TDDL của thuốc BDG không trúng thầu /Tổng GT thuốc BDG
Tỷ lệ % SL và GT thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng do không cung ứng đủ và nhu cầu tăng
Tỷ lệ % SL= số thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng do không cung ứng đủ (nhu cầu tăng)/ Tổng số thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng*100
Tỷ lệ % GT= GT thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng do không cung ứng đủ (nhu cầu tăng)/ Tổng GT thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng*100
Tỷ lệ % SL và GT thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng theo nhóm TDDL
Tỷ lệ % SL= số thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng theo nhóm TDDL/Tổng số thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng*100
Tỷ lệ % GT= GT thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng theo nhóm TDDL/Tổng GT thuốc BDG (generic) điều chuyển tăng*100
Tỷ lệ % SL và GT thuốc BDG (generic) điều chuyển giảm
Tỷ lệ % SL= số loại thuốc BDG (generic) điều chuyển giảm/ Tổng số thuốc điều chuyển giảm*100
Tỷ lệ % GT= GT thuốc BDG (generic) điều chuyển giảm/ Tổng GT thuốc điều chuyển giảm*100
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐƢỢC SỬ DỤNG NĂM 2015 THEO CƠ CẤU VÀ GIÁ TRỊ
3.1.1 Cơ cấu DMTBV theo nhóm tác dụng dƣợc lý
Phân tích danh mục thuốc và danh mục thuốc tiêu thụ giúp các nhà quản lý hiểu rõ tình hình sử dụng thuốc trong năm qua Kết quả phân tích cho năm 2015 được trình bày trong bảng 3.1.
Bảng 3.1 Cơ cấu nhóm dược lý và GTSD của các nhóm thuốc năm 2015
STT Nhóm thuốc Số thuốc
Giá trị sử dụng (triệu đồng)
Thuốc giảm đau hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn
Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc
5 Thuốc chống co giật, chống động kinh 20 2,58 2.380,4 1,68
6 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 134 17,31 29.440,1 20,80
7 Thuốc điều trị đau nữa đầu 03 0,39 16,8 0,01
8 Thuốc điều trị ung thƣ và điều hòa miễn dịch 08 1,03 165,5 0,12
9 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu 04 0,52 251 0,18
STT Nhóm thuốc Số thuốc
Giá trị sử dụng (triệu đồng)
13 Thuốc điều trị bệnh da liễu 02 0,26 5,7 0,01
15 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 03 0,39 186,1 0,13
18 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 66 8,52 7.144,1 5,04
19 Huyết thanh và globulin miễn dịch 03 0,39 290,6 0,21
20 Thuốc giãn cơ và ức chế cholinesterase 14 1,81 1.870,8 1,32
21 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 12 1,55 245,3 0,17
Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ non
23 Dung dịch thẩm phân phúc mạc 05 0,64 5.992,2 4,23
24 Thuốc chống rối loạn tâm thần 21 2,71 360 0,25
25 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 27 3,49 2.645,1 1,87
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid – base và các dung dịch tiêm truyền khác
Số lƣợng danh mục thuốc của từng nhóm đƣợc minh họa qua biểu đồ sau:
Hình 3.1 Biểu đồ số lượng thuốc (đơn chất và hợp chất) theo nhóm TDDL năm 2015
Danh mục thuốc của bệnh viện bao gồm 28 nhóm với tổng cộng 774 loại thuốc, trong đó có cả đơn chất và hợp chất Nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất với 144 loại, tương đương 18,60% tổng số thuốc Tiếp theo là nhóm thuốc chống ký sinh trùng và nhiễm khuẩn với 134 loại, chiếm 17,31% Nhóm thuốc đường tiêu hóa đứng thứ ba với 73 loại, chiếm 9,43% Nhóm thuốc hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết có 66 loại, chiếm 8,52% Nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt và chống viêm không steroid có 53 loại, chiếm 6,84%, trong khi nhóm thuốc tác dụng đối với máu có 38 loại, chiếm 4,91% Tổng cộng, sáu nhóm thuốc này có 508 loại, chiếm hơn 65% tổng số thuốc trong danh mục.
Có mười nhóm thuốc với hơn 20 loại, bảy nhóm có trên 10 loại, và mười một nhóm có 9 loại trở xuống, trong đó ít nhất có một nhóm chỉ có 2 loại thuốc Sự khác biệt về số lượng thuốc trong mỗi nhóm là rất đáng chú ý.
Số lƣợng thuốc của từng nhóm dƣợc lý do số lượng mắc của mỗi chương bệnh có liên quan tới nhóm thuốc điều trị và phác đồ điều trị
Căn cứ vào số liệu của bảng 3.1, tỷ lệ giá trị sử dụng các nhóm thuốc năm
2015 đƣợc minh họa bằng biểu đồ sau:
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ giá trị sử dụng của các nhóm thuốc năm 2015
Biểu đồ cho thấy cả sáu nhóm thuốc (đơn chất, hợp chất) có giá trị sử dụng (GTSD) cao, chiếm 86,51% tổng GTSD 122.464,4 triệu đồng Nhóm thuốc kháng sinh dẫn đầu với GTSD 29.440,1 triệu đồng, chiếm 20,80% Nhóm thuốc tim mạch đứng thứ hai với 26.469,2 triệu đồng (18,70%), tiếp theo là nhóm thuốc tác dụng đối với máu với 15.344,9 triệu đồng (10,84%) Nhóm thuốc gây tê, mê xếp thứ tư với 12.214,2 triệu đồng (8,63%), trong khi nhóm thuốc giảm đau hạ sốt, chống viêm không steroid và thuốc điều trị gút đứng thứ năm với 10.419,2 triệu đồng (7,36%) Nhóm thuốc đường tiêu hóa đứng thứ sáu với 9.425 triệu đồng (6,66%), và nhóm hormone cùng các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết xếp thứ bảy với 7.144,1 triệu đồng (5,04%) Cuối cùng, nhóm thuốc dung dịch thẩm phân phúc mạc và dung dịch điều chỉnh lần lượt đứng ở vị trí thứ tám và thứ chín.
Tỷ lệ giá trị sử dụng của các nhóm thuốc nước, điện giải, cân bằng acid – base và các dung dịch tiêm truyền khác đạt 6.000 triệu đồng, chiếm 4,25% Trong khi đó, 19 nhóm thuốc còn lại có tổng giá trị sử dụng là 19.097,5 triệu đồng, chiếm 13,49%, gần bằng hai phần ba giá trị sử dụng của nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn.
Kết quả phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý cho thấy mối tương quan giữa mô hình bệnh tật năm 2015 tại bệnh viện và các nhóm thuốc đã sử dụng Chương bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật chỉ chiếm 2,67% số người điều trị ngoại trú và 3,51% nội trú, nhưng giá trị tiền thuốc của nhóm điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn lại chiếm tới 20,80%, đứng đầu trong danh sách Điều này cho thấy thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn không chỉ được sử dụng cho chương bệnh nhiễm khuẩn mà còn trong các trường hợp khác như phẫu thuật, khoa HSTC - CĐ, khoa Sản, và các bệnh lý về đường hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn Hầu hết các trường hợp chuyển bệnh từ tuyến dưới lên đều là những ca nhiễm khuẩn nặng, kháng thuốc và cần điều trị dài ngày.
Tại các bệnh viện đa khoa, đặc biệt là các bệnh viện hạng một ở thành phố, kháng sinh là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến Cần xem xét lại tình hình này trong bối cảnh hiện tại.
Nhóm thuốc tim mạch chiếm 18,70% giá trị sử dụng, phù hợp với mô hình bệnh tật của bệnh viện, trong đó bệnh lý hệ tuần hoàn đứng thứ hai về khám và điều trị Điều này cũng lý giải tại sao nhóm thuốc tác dụng đối với máu, phụ thuộc vào phác đồ điều trị bệnh hệ tuần hoàn, có giá trị sử dụng đứng thứ ba với 10,84%.
Số lượng nhóm thuốc gây tê, mê chỉ có 14 loại nhưng lại chiếm tỷ lệ GTSD cao thứ hai với 8,63% do được sử dụng rộng rãi trong 24 khoa lâm sàng của bệnh viện, ngoại trừ khoa YHCT - VLTL - PHCN Khoa PTGMHS là nơi sử dụng nhiều nhất, tiếp theo là 06 khoa ngoại, khoa HSTC - CĐ, khoa Sản, hô hấp, tiêu hóa, tim mạch, tim mạch học can thiệp, và nội thận tiết niệu, trong khi các khoa còn lại sử dụng ít hơn Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu tổ chức của bệnh viện.
Nhóm thuốc giảm đau hạ sốt, kháng viêm không steroid, và thuốc điều trị gút cùng các bệnh xương khớp không chỉ liên quan đến một chương bệnh cụ thể mà còn đáp ứng nhu cầu điều trị cho nhiều bệnh lý khác Nhóm thuốc này chiếm 17,85% số bệnh nhân đến khám và 7,14% số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện, đứng thứ nhất về số lượng bệnh nhân khám và thứ sáu về số lượng bệnh nhân điều trị Do đó, nhóm thuốc này có giá trị sử dụng cao, đạt 7,36%, phù hợp với mô hình bệnh tật hiện tại.
3.1.2 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc - xuất xứ
Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc - xuất xứ đƣợc thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.3
Bảng 3.2 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc - xuất xứ
Chỉ tiêu Giá trị sử dụng Số lƣợng mặt hàng
Giá trị (triệu đồng) Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %
Hình 3.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc - xuất xứ năm 2015
Thuốc nhập ngoại Thuốc SX trong nước
Kết quả phân tích năm 2015 cho thấy, tại BV, thuốc sản xuất trong nước chiếm 43,80% với 339 khoản mục, thấp hơn so với thuốc nhập khẩu (56,20%) Giá trị sử dụng của thuốc sản xuất trong nước chỉ đạt 24,27%, nhỏ hơn gấp ba lần so với thuốc nhập khẩu (75,73%) Điều này cho thấy BV đã ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước theo khuyến cáo của Bộ Y tế, đồng thời kết hợp lựa chọn cả thuốc đắt tiền và thuốc rẻ tiền để bác sĩ có thể linh hoạt trong điều trị, giảm chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả cao nhất.
BV hạng 1 tuyến trên của thành phố đông dân nhất nước thường sử dụng các loại thuốc ngoại nhập cho chẩn đoán, cận lâm sàng, kháng sinh tiêm, và điều trị cấp cứu Mặc dù giá thành cao gấp nhiều lần so với thuốc sản xuất trong nước, nhưng các thuốc này được ưa chuộng do tính hiệu quả trong đáp ứng điều trị, đặc biệt là trong các kỹ thuật điều trị cao.
3.1.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đơn thành phần - đa thành phần
Cơ cấu thuốc sử dụng theo đơn thành phần - đa thành phần đƣợc thể hiện trong bảng 3.3 và hình 3.4 sau:
Bảng 3.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đơn thành phần - đa thành phần
STT Chỉ tiêu Số lƣợng Tỷ lệ
Hình 3.4 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đơn thành phần - đa thành phần Nhận xét
Năm 2015, tại bệnh viện, thuốc đơn thành phần chiếm ưu thế với 84,88% về số lượng và 78,14% về giá trị sử dụng Trong khi đó, thuốc đa thành phần chỉ chiếm 15,12% về số lượng và 21,86% về giá trị sử dụng, trong đó thuốc kháng sinh chiếm 41% giá trị sử dụng của thuốc đa thành phần, thuốc tim mạch 8%, thuốc nội tiết 6%, cùng với vắc xin, thuốc tiêu hóa, NSAIDs và vitamin.
3.1.4 Cơ cấu thuốc sử dụng theo biệt dƣợc gốc và generic
Cơ cấu thuốc sử dụng theo biệt dƣợc gốc và generic đƣợc thể hiện trong bảng 3.4 và hình 3.5:
Bảng 3.4 Cơ cấu thuốc sử dụng theo biệt dược gốc và generic
STT Chỉ tiêu Số lƣợng thuốc
Thuốc đa thành phần Thuốc đơn thành phần
Hình 3.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo biệt dược gốc và generic
Kết quả phân tích năm 2015 cho thấy tại BV, thuốc generic chiếm ưu thế với 73,78% về số lượng và 61,05% về giá trị sử dụng, trong khi thuốc biệt dược gốc chỉ chiếm 26,22% và 38,95% Tỷ lệ này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí 70-30% Hầu hết các thuốc generic đã được khẳng định thương hiệu và sản xuất bởi các công ty uy tín thông qua đấu thầu tập trung tại Sở Y tế TP.HCM Tuy nhiên, về giá trị sử dụng, thuốc biệt dược gốc vẫn chiếm 2/5 tổng số, cho thấy tỷ trọng cao nhưng vẫn nằm trong tỷ lệ khuyến cáo 40-60%.
3.1.5 Cơ cấu thuốc theo dạng đường dùng
Cơ cấu thuốc uống, thuốc tiêm - tiêm truyền và các dạng đường dùng khác đƣợc thể hiện trong bảng 3.5 và hình 3.6 sau:
Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc theo dạng đường dùng năm 2015
STT Chỉ tiêu SLDM Tỷ lệ % Giá trị
2 Thuốc dạng tiêm – tiêm truyền 288 37,21 86.560 61,15
3 Các dạng thuốc khác 57 7,36 9.990 7,06 Tổng số 774 100 141.561,9 100
Hình 3.6 Cơ cấu thuốc theo dạng đường dùng năm 2015
Thông tư của Bộ Y tế ban hành ngày 10/6/2011 quy định rằng các bệnh viện phải tuân thủ việc sử dụng thuốc tiêm chỉ khi bệnh nhân không thể uống thuốc hoặc thuốc uống không đáp ứng yêu cầu điều trị Theo dữ liệu quản lý thuốc (DMT) của bệnh viện năm 2015, thuốc uống chiếm 55,43% tổng số lượng thuốc sử dụng, trong khi thuốc tiêm – tiêm truyền chỉ chiếm 37,21% Tuy nhiên, về giá trị sử dụng, thuốc tiêm – tiêm truyền lại chiếm 61,15%, gấp đôi giá trị sử dụng của thuốc uống là 31,79%.
3.1.6 Cơ cấu DMT theo quy chế chuyên môn