Bên cạnh đó nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ là không thể tránh khỏi với bất kỳ nền kinh tế nào, và thực tế đã chứng minh khi các cuộc chiến tranh tiền tệ xảy ra thì tổn thất do nó gây
Trang 12014
GVBM: PGS.TS Trương Quang Thông TH: NHÓM 0 TCNH ĐÊM 2 – K22
NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN
TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
28/02/2014
Trang 2THÀNH VIÊN NHÓM THỰC HIỆN
1 Nguyễn Đôn Nhã Uyên
2 Nguyễn Thị Tuyết Chi
3 Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập tài chính quốc tế và toàn cầu hóa luôn là chủ đề được quan tâm hàng đầu trong thời gian qua Bất kỳ một quốc gia nào khi đã tham gia vào thị trường tài chính thế giới luôn đón nhận nhiều cơ hội cùng những thách thức, khó khăn cho nền kinh tế Trong đó, rủi
ro về tỷ giá hối đoái, rủi ro bị tấn công tiền tệ là điều không thể tránh khỏi và phụ thuộc nhiều vào độ mở của thị trường tài chính trong nước với phần còn lại của thế giới Bên cạnh
đó nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ là không thể tránh khỏi với bất kỳ nền kinh tế nào, và thực tế đã chứng minh khi các cuộc chiến tranh tiền tệ xảy ra thì tổn thất do nó gây ra đối với các quốc gia vô cùng to lớn, không thua gì một cuộc chiến thật sự với hàng trăm ngàn binh lính, tàu chiến cùng các khí tài quân sự khác Do đó, việc nghiên cứu về nguy cơ xảy ra các cuộc chiến tranh tiền tệ trong giai đoạn hiện nay là vô cùng quan trọng đối với không chỉ các nước lớn mà cả các nước đang phát triển và các quốc gia mới đổi trên toàn thế giới
Được sự phân công nghiên cứu đề tài này của giảng viên bộ môn, nhóm đã cố gắng tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến đề tài thông qua việc nghiên cứu các cuộc chiến tranh tiền tệ đã từng xảy ra trong quá khứ, để từ đó nhận biết các nhân tố có thể dẫn đến chiến tranh tiền tệ trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này Đề tài được trình bày với cấu phần gồm 03 chương lớn như sau:
- Chương I : Tổng quan lý thuyết về chiến tranh tiền tệ;
- Chương II : Lịch sử chiến tranh tiền tệ và các bài học;
- Chương III: Nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ giai đoạn hiện nay;
- Tham khảo
Trong quá trình thực hiện đề tài, dù đã nỗ lực rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Rất hy vọng phần trình bày tiếp sau đây sẽ nhận được sự quan tâm, góp ý sâu sắc từ thầy bộ môn cũng như các nhóm đề tài khác để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… 3
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ… ……… 5
1.1 Khái niệm chiến tranh tiền tệ……… 5
1.2 Tấn công tiền tệ ……… 5
1.2.1 Khái niệm……… 5
1.2.2 Cách thức để thực hiện một cuộc tấn công tiền tệ… ……… 7
1.2.3 Các nhân tố thị trường hỗ trợ cho cuộc tấn công tiền tệ……… 8
1.3 Cách thức tiến hành chiến tranh tiền tệ……… ……… 10
1.4 Nguyên nhân của chiến tranh tiền tệ….……… ……… 14
1.5 Tác động của chiến tranh tiền tệ đến nền kinh tế thế giới…….……… 14
CHƯƠNG II : LỊCH SỬ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ VÀ CÁC BÀI HỌC……….16
2.1 Cuộc tấn công tiền tệ vào nền kinh tế Nhật Bản những năm 1985……… 16
2.2 Chiến tranh tiền tệ Châu Á những năm 1997……… ……… 18
2.2.1.Tại Thái Lan……….………18
2.2.2.Tại Indonesia……… ……… 19
2.2.3.Tại Philipines…… ………20
2.2.4.Tại Hàn Quốc…… ……… 20
2.3 Bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh tiền tệ những năm 1930… ……… 20
CHƯƠNG III: NGUY CƠ XẢY RA CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY……….……… 23
3.1 Nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ……… 23
3.2 Vấn đề đồng Yen Nhật và đồng Nhân dân tệ……… 28
3.3 Các nhân tố chính gây ra chiến tranh tiền tệ và giải pháp ……… 30
3.3.1.Các nhân tố chính ……… 30
3.3.2.Một số giải pháp đề xuất……… ………31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 32
Trang 6CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ
1.1 Khái niệm chiến tranh tiền tệ:
Cách hiểu thứ nhất là: chiến tranh tiền tệ là một dạng của chiến tranh kinh tế và luôn
có yếu tố lũng loạn thị trường tiền tệ của một quốc gia, gây nên bất ổn tiền tệ làm nền kinh tế của quốc gia đó khủng hoảng
hối đoái riêng bất chấp tác động của nó tới các quốc gia còn lại (đối tác bên ngoài) nhằm thu lợi cho nền kinh tế của quốc gia và không quan tâm tới sự thiệt hại của các đối tác
Tựu chung lại chiến tranh tiền tệ nên được hiểu theo nghĩa đầy đủ là một tổ chức kinh
tế hay chính phủ của một quốc gia sử dụng công cụ tiền tệ để thu lợi cho quốc gia hay một thế lực kinh tế của quốc gia đó, và làm suy yếu nền kinh tế - tài chính của các đối tác bên ngoài (các quốc gia khác) ; dùng đồng tiền để chi phối nền tài chính của các đối tác bên ngoài, và có thể nghiêm trọng hơn khi chính trị của các quốc gia là nạn nhân cũng bị chi phối bởi cuộc chiến tiền tệ này Từ định khái niệm này ta có thể thấy rằng việc tấn công tiền tệ hay bị tấn công tiền tệ cũng gây nên cuộc chiến tranh tiền tệ với những hậu quả to lớn
Các quỹ đầu cơ khi muốn thực hiện tấn công tiền tệ thường nhắm vào những quốc gia
có những đặc điểm kinh tế như sau:
Thứ nhất, quốc gia đó đang duy trì một cơ chế tỷ giá cố định hay có biến động nhưng với một biên độ dao động nhỏ so với đồng tiền của một quốc gia khác (thường là đồng Đô la
Trang 7Mỹ) Những quốc gia chọn chế độ tỷ giá trên thường có một nền kinh tế nhỏ hay đang phát triển, nhằm thu hút lượng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài (những người lo sợ đồng tiền
mà họ đầu tư vào sẽ giảm giá trong tương lai do lạm phát cao ở các nước đang phát triển…)
Tỷ giá duy trì như vậy chắc chắn sẽ không phản ánh đủ giá trị thực của đồng tiền, chẳng hạn như đồng nội tệ đươc định giá quá cao Và nếu nó được thả nổi theo quan hệ cung cầu thực
sự, thì sẽ có một sự biến động lớn trong tỷ giá Đây là dấu hiệu cho thấy quốc gia đó có khả năng bị các quỹ đầu cơ tiền tệ chú ý nhiều nhất
Thứ hai, một nền kinh tế vĩ mô phát triển không bền vững Tuy nhiên, không phải quốc gia nào duy trì chính sách tỷ giá cố định đều là mục tiêu tấn công của các quỹ đầu cơ Một quốc gia duy trì tỷ giá cố định nhưng gắn liền với một nền kinh tế phát triển bền vững cũng có thể cản trở ý muốn tấn công của các quỹ này Nếu quốc gia đó sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, có lợi thế cạnh tranh, xuất khẩu sẽ tăng Quốc gia đó có hệ thống tài chính vững mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đến xây dựng nhà máy, gửi tiền ở các ngân hàng, mua trái phiếu, đầu tư vào thị trường chứng khoán nội địa Để làm những điều đó họ phải cần có đồng nội tệ Và với nhu cầu nội tệ cao, tỷ giá sẽ không đổi chiều một cách đột ngột khi có tấn công Ngược lại, một quốc gia sẽ trở thành “miếng mồi ngon” cho các quỹ đầu cơ nếu nó có dấu hiệu cảnh báo như:
Tăng trưởng kinh tế nóng dẫn đến lạm phát và bong bóng tài sản, đẩy tài sản vượt quá mức giá trị thực của nó (đặc biệt là ở thị trường chứng khoán, bất động sản…) Một tác động mạnh và đột ngột từ bên ngoài sẽ nhanh chóng làm bong bóng nổ và xì hơi, giá cả trên thị trường giảm mạnh, thậm chí có thể dẫn đến khủng hoảng
Hệ thống tài chính yếu kém, thị trường hoạt động không hiệu quả làm cho nhiều khoản đầu tư có chất lượng kém (hay quá dư thừa) vào các tài sản có lợi nhuận không tương xứng Ngược lại hệ thống tài chính hiệu quả sẽ tạo ra khả năng cho Ngân hàng Trung ương phản đòn nhưng không gây ra tổn thương cho nền kinh tế khi cuộc tấn công tiền tệ đã thực
sự diễn ra
Thâm hụt tài khoản vãng lai quá mức trong nhiều năm mà không thể bù đắp, gây sức
ép lên tỷ giá khi các công ty trong nước cần có ngoại tệ thanh toán các hợp đồng đến hạn (nhu cầu đồng Đô la Mỹ để trả nợ được đáp ứng bằng cách bán nội tệ dẫn đến nội tệ giảm
Trang 8giá) Bên cạnh đó là các khoản nợ nước ngoài, nếu có tỷ trọng lớn các khoản nợ ngắn hạn hay sắp đến hạn cũng gây ra áp lực tương tự
1.2.2 Cách thức để thực hiện một cuộc tấn công tiền tệ:
Khi đã xem xét thấy sớm muộn gì thì đồng nội tệ của quốc gia cũng sẽ bị mất giá, các nhà đầu cơ tiền tệ bắt đầu cho cuộc tấn công tiền tệ có chiến lược trên quy mô lớn Theo lý thuyết, có nhiều chiến thuật khác nhau cho các nhà đầu cơ sử dụng
Đầu tiên là việc họ có thể vay nội tệ, sau đó bán nội tệ để đổi lấy đồng tiền khác, chẳng hạn như đôla và đầu tư đồng ngoại tệ đó (ví dụ như gửi tiền lấy lãi) Khi họ liên tục bán ra nội tệ với quy mô lớn, sẽ làm cho đồng tiền này giảm giá và khi tái thanh toán các khoản vay cũ ngày đến hạn, họ chỉ cần bỏ ra một lượng ngoại tệ ít hơn Phần thu lợi là phần chênh lệch giữa lượng ngoại tệ mà họ nắm giữ và phần ngoại tệ quy đổi ra nội tệ để chi trả khoản vay
Trên thực tế, những cuộc tấn công tiền tệ có thể sử dụng chiến lược trên kết hợp với các công cụ phái sinh như: các hợp đồng futures, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn với cùng ý tưởng là có thể mua được đồng USD rẻ hơn với giá đã được cố định trước khi đồng nội tệ mất giá Đây là ví dụ với chiến lược sử dụng công cụ kỳ hạn (forward) Các quỹ đầu
cơ tiến hành vay mượn nội tệ, sau đó họ mua đồng USD bằng hợp đồng kỳ hạn ở các ngân hàng thương mại Để tăng thêm hiệu quả cho cuộc tấn công họ sử dụng các hợp đồng kỳ hạn không giao nhận, bởi nó giúp làm tăng đòn bẩy về nhu cầu đồng USD chỉ với lượng vốn bằng một phần nhỏ ban đầu dùng để ký quỹ Việc ký hợp đồng kỳ hạn như thế tương đương với việc bán khống nội tệ làm tăng thêm áp lực phá giá đồng nội tệ
Vào cuối kỳ, do đây là hợp đồng kỳ hạn không giao nhận nên ngân hàng chỉ thanh toán cho các quỹ đầu cơ phần chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn Các quỹ đầu
cơ sẽ dùng khoản tiền này để trả khoản tiền đã vay, phần còn lại là lợi nhuận Ngoài ra, đồng thời với việc bán đồng nội tệ với quy mô lớn, họ còn bán khống cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích tạo thêm áp lực phá giá đồng tiền nội tệ cho Ngân hàng Trung ương và kiếm thêm lợi nhuận từ việc giá chứng khoán giảm
Trang 9Điều quan trọng để thành công trong chiến lược đầu cơ này là các quỹ phải dự đoán chính xác thời gian Ngân hàng Trung ương có thể bảo vệ đồng nội tệ được bao lâu Sau đó
ký hợp đồng kỳ hạn với thời gian thích hợp, sao cho nó phải đáo hạn sau khi Ngân hàng Trung ương phá giá đồng nội tệ Nếu hợp đồng đáo hạn trước khi ngân hàng phá giá, thì các quỹ này sẽ thanh toán các hợp đồng đó và ký kết các hợp đồng khác nếu muốn tiếp tục thực hiện tấn công Nhưng để thanh toán các hợp đồng kỳ hạn trên, các quỹ đầu cơ phải bỏ ra một
số tiền rất lớn Và nếu họ không có đủ khoản tiền này thì chính họ sẽ là những người thất bại
có thể sẽ bị thua lỗ lớn
1.2.3 Các nhân tố thị trường hỗ trợ cho cuộc tấn công tiền tệ:
Một cuộc tấn công tiền tệ sẽ có khả năng thành công cao nếu có sự trợ lực từ thị trường, chẳng hạn như số lượng các quỹ đầu cơ tham gia tấn công Một vài quỹ đầu cơ đóng vai trò là người dẫn dắt cho cuộc tấn công Tiếp đó, khi các nhà đầu cơ tiền tệ khác sẽ thấy được cơ hội sinh lợi tương tự, họ sẽ tham gia tăng thêm sức mạnh của cuộc tấn công
Việc sử dụng các công cụ phái sinh tiền tệ (option, forward, futures) có tính đòn bẩy rất cao, nó làm tăng cầu ngoại tệ lên rất nhiều lần Tức là chỉ cần bỏ ra một số tiền nhỏ để ký quỹ những hợp đồng có giá trị giao dịch rất lớn Các quỹ đầu cơ khi mua số lượng lớn hợp đồng kỳ hạn ở nhiều ngân hàng sẽ bắt buộc các ngân hàng này thực hiện cân bằng vị thế để tránh rủi ro Tức là các ngân hàng này ngay lập tức sẽ thực hiện bán đồng nội tệ trên thị trường và mua đồng ngoại tệ Làm như thế thì các ngân hàng thương mại đã vô tình tạo thêm sức ép làm giảm giá nội tệ
Tuy nhiên, các thành phần tham gia cuộc tấn công tiền tệ chưa dừng ở đó Những dòng chảy vốn quốc tế đi xuyên qua các quốc gia còn có sự hiện diện của các công ty đa quốc gia, các công ty xuất nhập khẩu, các định chế tài chính có số vốn khổng lồ, các nhà đầu
tư cá nhân tham gia đầu tư bằng cách vay ngân hàng hay sử dụng vốn tự có Khi họ nhận thấy đồng tiền mà họ đang nắm giữ đứng trước nguy cơ mất giá, tài sản (bất động sản, chứng khoán) định danh bằng đồng tiền đó cũng có số phận tương tự thì cho dù không ai muốn tham gia tấn công nhưng vô hình chung đã tạo ra làn sóng dữ dội bán tháo đồng tiền và tài sản đó để giảm lỗ Trong số các nhà đầu tư đang tháo chạy khỏi thị trường với tâm lý tổn thất càng ít càng tốt, không chỉ có nhà đầu tư nước ngoài mà còn có cả nhà đầu tư trong nước
Trang 10nếu lòng tin của họ với đồng tiền nội địa hay với Ngân hàng Trung ương/quốc gia không còn nữa
Để tránh cho đồng tiền của quốc gia mình mất giá nặng nề (có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính nghiêm trọng), Ngân hàng Trung ương sẽ dùng những biện pháp can thiệp trực tiếp, gián tiếp để ngăn chặn cuộc tấn công này Biện pháp đầu tiên mà các Ngân hàng Trung ương sử dụng là bán ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối và thu nội tệ vào Điều này khiến cho lượng cung ngoại tệ tăng và cung nội tệ cũng giảm làm giảm áp lực lên tỷ giá Việc giảm quỹ dự trữ ngoại hối có thể được bù đắp thêm bằng cách đi vay trên thị trường tài chính quốc tế Bên cạnh đó có thể can thiệp bằng hợp đồng kỳ hạn đối ứng Ngân hàng Trung ương có thể là một khách hàng trên thị trường kỳ hạn Nếu tác động mua kỳ hạn nội tệ của Ngân hàng Trung ương ngang bằng với tác động bán kỳ hạn thì can thiệp bằng hợp đồng
kỳ hạn đã có thể hấp thụ việc bán nội tệ giao ngay Do đó, không cần thiết can thiệp trên thị trường giao ngay cũng như can thiệp vào cơ sở tiền tệ
Nếu các quốc gia không muốn ảnh hưởng lớn đến quỹ dự trữ ngoại hối, cũng có thể
sử dụng một cách khác là tăng lãi suất Mục tiêu của hành động này là ép chặt khả năng tham gia của các nhà đầu cơ bán khống, bằng cách làm tăng chi phí các khoản vay của các nhà đầu cơ Nếu các nhà đầu cơ tham gia thì lợi nhuận của họ sẽ thu hẹp lại Ngoài ra, sự gia tăng lãi suất còn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào trong nước, đẩy nhu cầu đồng nội tệ tăng lên Tuy nhiên, việc tăng lãi suất này nếu duy trì trong thời gian dài có thể dẫn đến ảnh hưởng về gánh nặng lãi suất cho các bộ phận khác của nền kinh tế do lãi suất quá cao làm cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể vay vốn sản xuất, đầu tư, còn người tiêu dùng không thể vay để mua sắm hàng hóa
Để tránh tình trạng trên, chính phủ có thể xây dựng hệ thống cho vay hai lớp Những chu chuyển tiền tệ liên quan đến hoạt động giao thương, đầu tư dài hạn, đầu tư vào cổ phiếu thì được tránh khỏi giới hạn về tín dụng Các định chế trung gian sẽ bị cấm cho vay đối với các nhà đầu cơ Nếu các quỹ đầu cơ thực hiện bán khống chứng khoán trên thị trường chứng khoán thì Ngân hàng Trung ương có thể mua chứng khoán vào để tránh cho thị trường chứng khoán bị sụt giảm, ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ đồng nội tệ của Ngân hàng Trung ương
Trang 111.3 Cách thức tiến hành chiến tranh tiền tệ:
Thứ nhất, bằng cách thông qua tỷ giá của đồng tiền trong nước so với đồng tiền của các đối thủ Thông qua việc sử dụng các biện pháp điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Trung ương, các nước tham gia chiến tranh tiền tệ cố tình hạ thấp giá trị thực của đồng tiền quốc gia, đánh giá thấp đồng nội tệ nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu và sản xuất trong nước hay can thiệp vào tỷ giá để làm giảm (hoặc tăng) giá trị của các khoản nợ (hoặc khoản cho nước ngoài vay) Các quốc gia có thể phá giá đồng nội tệ theo một số cách sau:
In tiền: in tiền càng nhiều càng dẫn đến lạm phát và hệ quả là đồng nội tệ mất giá; Mua tài sản (Quantitative easing, viết tắt là QE): là dạng chính sách tiền tệ được đưa
ra bởi Ngân hàng Trung ương thông qua việc mua tài sản (thường là mua trái phiếu Chính Phủ) từ các ngân hàng và các tổ chức khác QE thường được xem là công cụ in tiền nên gây
ra lạm phát và sự mất giá của đồng nội tệ;
Hạ lãi suất: Lãi suất thấp so với các nước khác thì không hấp dẫn các nhà đầu tư nắm giữ tài sản và theo đó có ít nhu cầu nắm giữ đồng tiền nước đó, thế nên đồng tiền nước đó bị mất giá;
Mua nợ của nước khác: việc mua nợ nước khác làm tăng nhu cầu đồng tiền nước đó, dẫn đến sự tăng giá đồng tiền nước đó so với đồng nội tệ;
Cố định đồng tiền (mua đồng tiền của nước khác): các quốc gia cố định tỷ giá tại một mức xác định hay trong một biên độ bằng việc bán đồng nội tệ và mua đồng ngoại tệ;
Quản lý dòng vốn: giới hạn dòng vốn đầu tư của nước ngoài ra vào nền kinh tế bằng các biện pháp như thuế, thủ tục, giới hạn số lượng
Trang 12Nhìn chung, hầu hết thời điểm phá giá tiền tệ của các quốc gia đều không giống nhau
và sau mỗi lần phá giá thì đa số các quốc gia đều thành công vì đồng tiền nước mình đã yếu
đi phần nào so với thời điểm trước khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, chỉ trừ một số đồng tiền mạnh như đồng EUR, đồng Bảng Anh GPB
Cụ thể, ta thấy trong năm 2013, Nhật Bản đã phá giá đồng Yên và chấp nhận lạm phát 2% so với mục tiêu bằng hình thức mua tài sản, mà cụ thể ở đây là Nhật Bản đã mua trái phiếu Chính Phủ từ ngân hàng và một số tổ chức khác để tung thêm đồng Yên Nhật ra thị trường Từ đó làm đồng Yên mất giá và lạm phát tăng cao Trước đó, tức là trước thời điểm
Trang 13năm 2011, Nhật Bản đang hứng chịu tai họa kép là sóng thần – hạt nhân vào tháng 3/2011 làm cho đồng Yên tăng lên mức cao nhất kể từ năm 1945 với tỷ giá USD/JPY đạt 76,29 Đứng trước tình hình đó, nên nhóm G7 đã có những biện pháp can thiệp trực tiếp để kéo giá đồng Yên xuống thấp trở lại và tỷ giá USD/JPY đạt khoảng trên 80 Tuy nhiên sự can thiệp chỉ tồn tại ngắn ngủi khi các thị trường tài chính thất bại trong việc ngăn chặn sự tăng giá của đồng Yên Cùng thời gian đó, khủng hoảng nợ công Châu Âu và Mỹ đã làm cho các quỹ đầu tư xem Yên Nhật là nơi trú ngụ an toàn nên đã vô tình làm cho đồng Yên lại tăng giá mạnh trở lại
Kế đến là đồng Franc Thụy Sĩ, ở thời điểm tháng 7/2011, để phá giá đồng tiền nước mình thì Thụy Sĩ đã sử dụng hai biện pháp đồng thời đó là tăng cung tiền và hạ lãi suất đến 0% Và sau đó, khoảng đến tháng 9/2011 thì Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ thông báo sẽ thông qua tỷ giá quy đổi tối thiểu là 1,2Franc/1EUR cộng với việc Thụy Sĩ sẵn sàng mua lại ngoại tệ với khối lượng lớn nhằm bảo vệ đồng nội tệ và cái đích cuối cùng là bảo vệ ngành xuất khẩu chủ lực của quốc gia này Thụy Sỹ đã thu được kết quả như mong đợi, đó là đồng Franc đã giảm giá đáng kể so với thời điểm trước đó
Khi nhắc đến tiền tệ thì chúng ta không thể bỏ qua một đồng tiền mà thế giới đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây, đó là đồng nhân dân tệ của Trung Quốc Trước thời điểm năm 2010, Trung Quốc thực hiện chế độ neo tỷ giá vào đôla Mỹ và phá giá Nhân dân tệ một cách mạnh mẽ để phục vụ cho lĩnh vựt xuất khẩu Sau thời gian đó, với sự lên tiếng của thế giới mà chủ yếu là của Mỹ, cùng với việc phá bỏ chế độ neo tỷ giá vào đồng đôla Mỹ, Trung Quốc cho phép biên độ dao động của đồng Nhân dân tệ so với đôla Mỹ là 1%, nên trong năm
2013 đồng Nhân dân tệ đã tăng 2,6% và trở thành đồng tiền có mức tăng giá mạnh nhất ở Châu Á, với tỷ giá USD/CNY là 6,0723 Tính từ thời điểm năm 2005 cho đến cuối năm
2013 thì đồng nhân dân tệ đã tăng 36%
Trang 14Nhìn vào hình vẽ ta thấy, điểm mốc là năm 2008 - thời điểm diễn ra khủng hoảng kinh tế thế giới, cho đến tháng 7/2008 thì hầu hết là đồng tiền của tất cả các nước đều mạnh hơn trước đó Tuy nhiên sau tháng 7/2008 thì đã có sự phân rẽ thành hai nhánh dưới tác động của khủng hoảng Các đồng tiền mạnh trước đây như EUR, bảng Anh thì đã trở nên yếu hơn
so với trước khủng hoảng Còn đồng Yên Nhật thì trở nên mạnh hơn cùng với đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc
Việc phá giá đồng nội tệ có một số ưu điểm như kích thích xuất khẩu, đồng tiền yếu
đi làm hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn so với các nước khác, xuất khẩu tăng dẫn đến tăng trưởng kinh tế; Tạo việc làm: xuất khẩu mạnh kích thích thuê công nhân nhiều hơn và theo
đó gia tăng tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên hành động phá giá nội tệ cũng có một số tác động ngược như gây ra lạm phát nếu tác động đến cung tiền, đồng tiền yếu đi làm tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, có nguy cơ dẫn đến lạm phát trong tương lai, đặc biệt đối với các quốc gia xuất khẩu có tỷ trọng đầu vào nhập khẩu ở mức cao; Chi phí trực tiếp: một vài phương pháp hướng tới sự phá giá đồng tiền có thể gây chi phí trực tiếp lớn ví dụ như một nước A sử dụng
dự trữ ngoại hối để mua trái phiếu nước B với lãi suất thấp và bán trái phiếu nội tệ với lãi suất cao, điều này hàm ý nước A phải trả nhiều hơn so với thu nhập mà họ nhận được từ trái phiếu B Và hành động đó sẽ không có gì đảm bảo rằng đồng nội tệ nước A sẽ bị giảm giá
Trang 15Nguy hiểm nhất của việc phá giá tiền tệ chính là sự trả đũa, vì các quốc gia khác có thể phản ứng lại hành động phá giá đồng tiền bằng việc phá giá chính đồng tiền nước họ, và nếu những công cụ quản lý dòng vốn và thuế được dùng thì điều này sẽ dẫn đến chiến tranh tiền tệ
Thứ hai là thông qua hoạt động đầu tư quốc tế các quốc gia có tiềm lực kinh tế tài chính mạnh sẵn sàng rót một lượng lớn vốn ngoại tệ vào một quốc gia khác tạo nên bong bóng kinh tế và rồi chính các nhà đầu tư này sau một thời gian lại rút sạch tiền của mình về nước, sự tháo chạy đột ngột của dòng ngoại tệ này gây ra một cú sốc lên đồng nội tệ làm cho Ngân hàng Trung ương không thể kiểm soát chính sách tiền tệ Và một lượng lớn tài sản quốc gia chảy ra ngoài vào túi các nhà đầu cơ ngoại quốc Hành động này biểu hiện như một cuộc tấn công tiền tệ
1.4 Nguyên nhân của chiến tranh tiền tệ:
Nguyên nhân của chiến tranh tiền tệ trực tiếp xuất phát từ lợi ích kinh tế của các quốc gia, không một quốc gia nào muốn lợi của mình giảm đi trong lát cắt của miếng bánh kinh tế Nên một khi quốc gia nào đó có động thái nhằm tăng lợi ích kinh tế của mình tức là sẽ có một phần lợi ích kinh tế của quốc gia khác đang bị giảm đi Và tất nhiên để bảo vệ lợi ích của mình các quốc gia khác sẽ có những động thái phản ứng lại và nếu điều đó xảy ra thì một cuộc chiến tranh tiền tệ sẽ bùng nổ
Bên cạnh đó, nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến này có thể chính là lợi ích kinh tế và tham vọng của các ông trùm tài chính, muốn dùng tiềm lực tài chính của mình và uy thế chính trị của quốc gia trên trường quốc tế can thiệp vào nền kinh tế của các quốc gia khác nhằm làm suy yếu nền kinh tế - chính trị của các nước đo và bắt đầu chi phối về mọi mặt thông qua các quan hệ kinh tế tài chính quốc tế
1.5 Tác động của chiến tranh tiền tệ tới nền kinh tế thế giới:
Đối với vấn đề các quốc gia thao túng đồng nội tệ: một khi có quốc gia nào đó thao túng đồng nội tệ vì lợi ích của mình mà phớt lờ đi áp lực chính trị từ các nước là đối tác thương mại thì ắt các nước khác cũng chạy đua theo nước đã khơi mào cho cuộc chiến Sự bất phân thắng bại này sẽ làm cho các bên liên tiếp đưa ra các biện pháp đối phó nhằm bảo
Trang 16hộ cho sản xuất trong nước - các hàng rào thương mại, thuế quan sẽ từng bước hình thành
Và từ đó thương mại toàn cầu sẽ suy yếu, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững của
kinh tế thế giới
Về lâu dài thì chính sách đồng nội tệ yếu sẽ khiến cho các nước đua nhau sản xuất để xuất khẩu trong khi cầu thế giới lại không tăng kịp so với cung, từ đó có thể xảy ra khủng
hoảng thừa (tương tự như năm 1939 dẫn tới chiến tranh thế giới lần thứ 2)
Các nước lớn lao vào cuộc chiến này sẽ làm các hàng hóa của nước vốn dĩ có đồng tiền yếu và trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao (như các quốc gia đang phát triển ở châu Á, châu Phi ) càng ít cạnh tranh hơn khi xuất sang các nước khác, làm cho xuất khẩu giảm Thêm vào đó là sự rẻ đi tương đối của hàng hóa ngoại càng làm cho tình hình các quốc gia này xấu hơn Cuối cùng, điều này có thể khiến các nước kém phát triển và đang phát triển bị suy yếu về kinh tế, và một khi các nước này cũng áp dụng chính sách bảo hộ thương mại thì
kinh tế thế giới càng tồi tệ hơn
Hơn thế nữa, khi một đồng tiền giảm giá sẽ sảy ra hiệu ứng domino, làm cho những đồng tiền khác tăng giá một cách không mong muốn và theo sau nó là một loạt các hệ lụy khác Hiện nay nguy cơ bùng nổ chiến tranh tiền tệ đang được chú ý là cuộc chiến chưa có
hồi kết giữa Trung Quốc và Mỹ quanh vấn đề tỷ giá USD/CNY
Đối với vấn đề đầu tư quốc tế, khi các luồng vốn đầu tư vào một quốc gia bị rút đi đột ngột sẽ tạo nên một cú sốc nặng với nền kinh tế và ảnh hưởng của nó lan tỏa tới các quốc gia lân cận có điều kiện tương đương; đồng thời làm cho chính việc kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng Trung ương không còn tác dụng kịp thời Đồng nội tệ sẽ mất giá trầm trọng và khoản
nợ nước ngoài của các quốc gia này sẽ tăng cao chóng mặt gây ra nguy cơ vỡ nợ của các quốc gia Những nền kinh tế mới nổi sẽ phải tiếp nhận một lượng tiền khổng lồ từ các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào từ chính sách nới lỏng định lượng (in thêm tiền vào lưu thông) của các quốc gia đó Điều này có thể tạo nên tình trạng bong bóng tài sản, và gây áp lực tăng giá đông nội tệ của các nước có luồng tiền đầu tư vào