1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THỰC HÀNH CỦA MẸ BỆNH NHI HEN PHẾ QUẢN TRƯỚC VÀ SAU THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ HEN

48 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Kiến Thức, Kỹ Năng Thực Hành Của Mẹ Bệnh Nhi Hen Phế Quản Trước Và Sau Tham Gia Chương Trình Quản Lý Hen
Tác giả Triệu Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS. TS. BS Lê Thị Minh Hương
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Điều Dưỡng
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 22,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (9)
    • 1.1. Lịch sử hen (9)
    • 1.2. Định nghĩa (10)
    • 1.3. Dịch tễ học (10)
    • 1.4. Yếu tố nguy cơ của hen phế quản (11)
    • 1.5. Cơ chế bệnh sinh trong hen phế quản (12)
    • 1.6. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng (15)
    • 1.7. Chẩn đoán hen phế quản (16)
    • 1.8. Điều trị (18)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (22)
    • 2.3. Kiểm soát sai số (23)
    • 2.4. Phân tích và xử lý số liệu (23)
    • 2.5. Đạo đức trong nghiên cứu (24)
    • 2.6. Tính khả thi của đề tài (24)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. Thông tin chung của nhóm nghiên cứu (26)
    • 3.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tham gia quản lý hen (28)
    • 3.3. Tìm hiểu mối liên quan giữa trình độ học vấn của các mẹ bệnh nhi với kiến thức về bệnh hen (34)
    • 3.4. Đánh giá kỹ năng thực hành của mẹ bệnh nhi trong sử dụng các thuốc điều trị hen trước và sau khi tham gia chương trình quản lý hen (34)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (37)
    • 4.1. Thông tin chung của nhóm nghiên cứu (37)
      • 4.1.1. Thông tin chung của bệnh nhi hen phế quản trong nhóm nghiên cứu (37)
      • 4.1.2. Thông tin về mẹ bệnh nhi (37)
    • 4.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư vấn (38)
      • 4.2.1. Kiến thức chung về bệnh (38)
      • 4.2.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư vấn 32 4.3. Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi với kiến thức về bệnh (38)
    • 4.4. Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều babyhaler (39)
    • 4.5. Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều (39)
    • 4.6. Thực hành xịt thuốc của mẹ bệnh nhi hen phế quản trước và sau tư vấn (39)
  • KẾT LUẬN (40)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHOẺ BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG TRIỆU THỊ THUỶ Mã sinh viên: B00226 ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THỰC HÀNH CỦA MẸ BỆNH NHI HEN

TỔNG QUAN

Lịch sử hen

Hippocrates (460 – 370 TCN) đã giới thiệu và giải thích thuật ngữ “asthma” (thở vội vã trong tiếng Hy Lạp) để mô tả tình trạng khó thở kèm theo khò khè Đến thế kỷ II sau Công nguyên, Aretaeus đã mô tả hen phế quản một cách chi tiết hơn, cho rằng đây là một bệnh mạn tính có chu kỳ, chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi thời tiết và hoạt động thể lực.

Từ thế kỷ III đến XVII, nghiên cứu về bệnh hen không được chú trọng do ảnh hưởng của tôn giáo, dẫn đến việc thiếu tiến bộ trong hiểu biết về căn bệnh này.

Năm 1615, Van Helmont thông báo các trường hợp khó thở do phấn hoa

Vào năm 1698, John Floyer đã chỉ ra rằng khó thở là do co thắt phế quản, và ông phân loại khó thở thành hai loại: khó thở chu kỳ và khó thở liên tục, mặc dù ông chưa phân biệt được giữa hen và viêm phế quản mạn tính.

Vào năm 1803, F.D Reisseissen đã đề cập đến sự co thắt của các cơ trơn trong đường hô hấp, và sau này, cơ trơn phế quản được đặt tên theo ông, gọi là cơ Reisseissen.

Năm 1819, Laennec xác định cơn khó thở là do co thắt cơ Reisseissen Năm

1860, Samter chứng minh bệnh hen do tiếp xúc với lông mèo Năm 1873, Blackley chứng minh phấn hoa và một số loại cỏ có thể là nguyên nhân gây hen

Vào năm 1902, C.Richer đã gây ra một cú sốc phản vệ trong thí nghiệm, sự kiện này đã mở đường cho nghiên cứu sâu hơn về bệnh hen phế quản và các bệnh dị ứng, và ông đã được trao giải Nobel vào năm 1913.

Năm 1910, Dale phát hiện ra Histamine Năm 1936, Chakravarty tìm ra Serotonin Năm 1940, Ado lưu ý đến vai trò của Acetylcholin

Nhiều tác giả đã nghiên cứu và xác định vai trò của các chất trung gian hóa học như lymphokin, leucotrien, cytokin, cùng với các loại tế bào như tuyến ức, lympho B, lympho T, và kháng thể IgE trong cơ chế bệnh sinh của bệnh hen.

Từ năm 1985, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng viêm có vai trò quan trọng trong bệnh hen, dẫn đến co thắt phế quản và tăng tính phản ứng của phế quản.

4 quản và từ đó có nhiều bước cải tiến trong việc điều trị và phòng bệnh hen[18]

In 1992, the Global Initiative for Asthma (GINA) was established to develop strategies for managing and controlling asthma.

Định nghĩa

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về HPQ, tháng 12 năm 2009 Bộ

Hen phế quản (HPQ) là tình trạng viêm mạn tính của đường thở, liên quan đến nhiều tế bào và thành phần tế bào Tình trạng này làm tăng tính đáp ứng của đường thở, dẫn đến co thắt, phù nề và tăng tiết đờm, gây tắc nghẽn và hạn chế luồng khí Các triệu chứng bao gồm khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn, thường xảy ra vào ban đêm và sáng sớm, có thể hồi phục tự nhiên hoặc nhờ vào thuốc.

Dịch tễ học

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 1995 có khoảng 150 triệu người mắc bệnh hen phế quản (HPQ), với tỷ lệ mắc bệnh ở người lớn là 5% và ở trẻ em là 10% Trong 2-3 thập kỷ qua, tỷ lệ lưu hành hen phế quản tiếp tục gia tăng với tốc độ đáng lo ngại.

Theo GINA (2006), HPQ là bệnh mạn tính có tỷ lệ mắc cao nhất, có khoảng

300 triệu người mắc hen trên toàn thế giới, ước tính đến năm 2025 sẽ có khoảng

400 triệu người mắc hen phế quản Tỷ lệ hen ở trẻ em dao động từ 1 – 30% tuỳ theo từng vùng, từng nước

Tỷ lệ mắc hen suyễn giữa các quốc gia trên thế giới có sự khác biệt rõ rệt, với các nước phát triển thường ghi nhận tỷ lệ mắc cao hơn so với các nước đang phát triển.

Báo cáo từ chương trình ISAAC cho thấy tỷ lệ hen ở trẻ em có sự biến động lớn, từ 1,6% đến 36,8% Tại Việt Nam, thông tin về tỷ lệ mắc hen còn hạn chế Một nghiên cứu tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 1995 ghi nhận tỷ lệ hen ở trẻ em trên 7 tuổi tại TP Hồ Chí Minh là 3,2% Nghiên cứu khác tại Bệnh viện Nhi Đồng I cho thấy tỷ lệ khò khè ở trẻ em 12-13 tuổi là 29,1% Theo Sở Y tế Hà Nội, tỷ lệ hen ở trẻ em là 10,24%, với 14,56% ở nội thành và 7,52% ở ngoại thành.

Mặc dù chương trình kiểm soát hen đã được triển khai rộng rãi bởi WHO, GINA và nhiều quốc gia, tỷ lệ tử vong do hen vẫn là một vấn đề nghiêm trọng Mỗi năm, trên toàn thế giới có khoảng 250.000 người chết vì bệnh hen.

Tỷ lệ tử vong do hen chiếm 1/250 ca tử vong toàn cầu, trong đó 85% trường hợp có thể phòng ngừa nếu được chăm sóc kịp thời từ bệnh nhân, gia đình và bác sĩ Đặc biệt, tỷ lệ tử vong do hen ở trẻ em đã gia tăng so với 10-20 năm trước.

1.3.3 Gánh n ặ ng b ệ nh t ậ t Đối với người bệnh: Hen phế quản là một bệnh mạn tính thường gặp ở trẻ em và là một trong những nguyên nhân buộc trẻ phải nghỉ học nhiều ngày Có tới 40% trẻ em phải nghỉ học mỗi khi lên cơn, trung bình trẻ bị hen phải nghỉ học 10 -15 ngày trong năm.[5] Đối với gia đình: Hen phế quản tác động xấu đến tâm lý gia đình, coi người bệnh như một gánh nặng Đối với xã hội: Thiệt hại do hen gây ra cho xã hội bao gồm các chi phí trực tiếp (khám bệnh, xét nghiệm, thuốc, viện phí ) và cả các chi phí gián tiếp (ngày nghỉ việc, nghỉ học, giảm khả năng lao động, chất lượng cuộc sống giảm sút), số ngày nghỉ làm việc của người lớn trong gia đình tăng lên do phải chăm sóc trẻ, năng suất lao động giảm sút, thiếu nhiệt tình, giới hạn hoạt động, thiếu hoà nhập xã hội Theo WHO (1998) chi phí cho bệnh HPQ của nhân loại lớn hơn hai căn bệnh hiểm nghèo là HIV và lao cộng lại Theo GINA chi phí trực tiếp cho phòng chống hen phế quản chiếm 1 – 3% tổng chi phí y tế ở hầu hết các quốc gia[8] Theo tác giả Nguyễn Thị Rồi, gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh hen nghiên cứu trên 1.762 trẻ em nhập viện tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng II từ tháng 7/2006 đến tháng 6/2007: tổng số ngày nằm viện: 10.545 ngày, tổng số ngày nghỉ học: 864 ngày, chi phí bình quân cho một đợt điều trị mỗi bệnh nhân là 466.548 nghìn đồng[14] Những con số thống kê ở Hà Nội cho thấy, mỗi bệnh nhân hen nếu không được kiểm soát tốt mỗi năm phải vào viện cấp cứu trung bình 2 – 4 lần, mỗi lần nhập viện chi phí 2 – 3 triệu đồng, chưa kể các tổn thất gây ra do nghỉ học, nghỉ việc, mất việc và giảm chất lượng cuộc sống.[13]

Yếu tố nguy cơ của hen phế quản

Các yếu tố này có thể là điều kiện phát sinh hoặc ngăn cản quá trình

6 phát triển hen phế quản, bao gồm: - Cơ địa dị ứng (atopy)

- Tăng tính phản ứng đường thở - Béo phì [30]

+ Trẻ dưới 5 tuổi: tỷ lệ trẻ nam bị hen phế quản nhiều hơn trẻ nữ

+ Sau 10 tuổi gần như không có sự khác biệt giữa hai giới.[3],[5]

1.4.2 Y ế u t ố môi tr ườ ng Ảnh hưởng tới tính cảm thụ của cá nhân có nguy cơ phát triển thành hen phế quản, thúc đẩy làm nặng hen và/ hoặc làm duy trì triệu chứng, bao gồm:

+ Dị nguyên trong nhà: Bọ nhà, dị nguyên động vật nấm mốc

+ Dị nguyên ngoài nhà: Phấn hoa và nấm

- Yếu tố nghề nghiệp: Hen phế quản hay gặp ở các nước công nghiệp, thường ở công nhân chế biến tôm cua, công nhân dệt, công nhân sản xuất nhựa,

- Ô nhiễm không khí: Các loại khí thải sinh hoạt và công nghiệp

- Nhiễm trùng hô hấp bao gồm:

+ Nhiễm trùng do vi khuẩn + Nhiễm trùng do vi rút

- Chế độ ăn: Bản thân thức ăn là tác nhân gây hen: Trứng, tôm, cua, cá

1.4.3 Các y ế u t ố làm n ặ ng hen ph ế qu ả n

- Dị nguyên: Cả dị nguyên trong và ngoài nhà

- Gắng sức, tăng thông khí

- Thực phẩm, thuốc và các chất phụ gia.[6]

Cơ chế bệnh sinh trong hen phế quản

Hen là một phức hợp viêm phức tạp tại phổi được đặc trưng bởi: - Viêm mạn tính đường hô hấp

- Tăng mẫn cảm đường thở

- Tái tạo lại đường thở

1.5.1 Viêm là quá trình ch ủ y ế u trong c ơ ch ế b ệ nh sinh c ủ a hen ph ế qu ả n

Hiện tượng viêm trong hen phế quản theo cơ chế miễn dịch – dị ứng có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau:

- Các tế bào gây viêm như đại thực bào, bạch cầu trung tính, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu ái toan, mastocyte, tế bào T và B.[1]

Nhiều cytokine gây viêm như IL4, IL5, IL6 và GMCSF (Yếu tố kích thích tạo bạch cầu đại thực bào) được giải phóng từ đại thực bào và tế bào B, dẫn đến tình trạng viêm nặng, co thắt phế quản và xung huyết.

Các yếu tố gây viêm và dị nguyên hoạt động như kháng nguyên trong cơ thể, kết hợp với kháng thể trên bề mặt dưỡng bào Quá trình này dẫn đến sự thoái hoá hạt và giải phóng nhiều chất trung gian hóa học, bao gồm histamin, serotonine, bradykinine, prostaglandin và leucotrien.

Vai trò của các phần tử kết dính (Adhension Molicule - AM) rất quan trọng trong quá trình viêm dị ứng, vì các AM và cytokines có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ.

Hiện tượng viêm dẫn đến co thắt phế quản, đặc biệt ở trẻ bị hen phế quản, khi thụ thể β2 bị suy giảm Điều này làm giảm hoạt động của men Adenylcyclase, gây thiếu hụt AMPc trong cơ trơn phế quản Hệ quả là ion calci xâm nhập vào tế bào, trong khi dưỡng bào (mastocyte) thoái hoá hạt và giải phóng các chất trung gian hoá học, góp phần gây co thắt phế quản.

- Yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (Platelet Activating Factor - PAF) gây co thắt, viêm nhiễm, phù nề phế quản

Rối loạn hệ thần kinh giao cảm dẫn đến việc tăng tiết cholin, kích thích hệ cholinergic, từ đó giải phóng các chất trung gian hóa học và làm tăng nồng độ AMPc nội bào, gây ra phản xạ co thắt phế quản.

Leucotrien, sản phẩm chuyển hóa của acid arachidonic qua đường 5-lipooxygenase, đóng vai trò quan trọng trong các tế bào và chất hóa học trung gian gây viêm Chúng hình thành hai loại leucotrien: sulfido-peptid và LTB4 Sulfido-peptid, hay còn gọi là SRS-A (Chất phản ứng chậm của phản ứng dị ứng), là chất gây phản ứng quá mẫn chậm và có tác dụng co thắt phế quản mạnh mẽ.

Prostaglandin, đặc biệt là Prostaglandin 2, được tiết ra từ mastocyte, có vai trò quan trọng trong việc kích thích giải phóng histamin từ basophil, đồng thời chịu trách nhiệm cho sự co thắt và tăng cường tính phản ứng của phế quản.

1.5.3 Quá trình t ă ng ph ả n ứ ng đườ ng th ở

Tăng tính phản ứng phế quản là một yếu tố quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản, và sự thay đổi này có liên quan đến nhịp ngày đêm của sức cản phế quản.

Tăng tính phản ứng đường thở là một đặc điểm quan trọng không chỉ ở bệnh hen mà còn xuất hiện trong các tình trạng như viêm phế quản mạn tính, viêm mũi dị ứng, nấm phổi và bệnh nhầy quánh niêm dịch (mucovisidose).

Tăng tính phản ứng phế quản gây mất cân bằng giữa hệ Adrenegic và hệ Cholinergic, dẫn đến ưu thế thụ thể alpha và beta Điều này làm tăng nồng độ GMPc nội bào, biến đổi hàm lượng men phosphodiesterase và gây rối loạn chuyển hoá prostaglandin.

Sự gia tăng tính phản ứng của đường thở là nguyên nhân chính dẫn đến hen phế quản, đặc biệt là khi gặp phải các yếu tố như gắng sức, khói bụi, không khí lạnh và mùi hương.

Hen là tình trạng viêm mạn tính đường thở, hậu quả là thay đổi cấu trúc và chức năng đường thở dẫn tới tái tạo lại đường thở

Sự thay đổi tế bào học và mô bệnh học ở đường thở giải thích sự suy giảm chức năng hô hấp theo thời gian ở bệnh nhân hen phế quản Ở những người mắc bệnh này, quá trình tái tạo đường thở bao gồm sự gia tăng tế bào có chân, xơ hóa dưới biểu mô, tăng kích thước và số lượng vi mạch dưới niêm mạc, cũng như sự tăng sinh và phì đại cơ trơn đường thở và phì đại các tuyến dưới niêm mạc.

Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

- Ho khan, sau có thể ho có nhiều đờm rãi

Tất cả các triệu chứng trên thường tái đi tái lại dai dẳng và xảy ra nặng hơn về ban đêm làm trẻ phải thức giấc [5],[7]

- Gõ phổi: Có thể thấy vang hơn bình thường, vùng đục trước tim giảm

- Nghe phổi có rales rít, rales ngáy, trẻ nhỏ có thể có cả rales ẩm (trong cơn)

- Nếu hen phế quản kéo dài trẻ có biểu hiện lồng ngực hình thùng.[5],[7]

Bạch cầu ái toan tăng cao, thường vượt quá 5%, có thể đạt tới 30 - 40% trong trường hợp hen nặng kéo dài hoặc hen nhạy cảm với một số loại thuốc kháng sinh và ký sinh trùng.

+ Định lượng IgE toàn phần tăng so với lứa tuổi

* Xét nghiệm đờm: Có nhiều bạch cầu ái toan, vòng xoắn Cushman và tinh thể Charcort – Leyden

* X quang: Lúc đầu chiếu hoặc chụp phổi có thể bình thường, nhưng sau đó xuất hiện nhanh chóng hiện tượng khí phế thũng, dần dần lồng ngực như kéo

Lồng ngực có chiều dài theo chiều thẳng đứng tăng lên, vòm hoành hạ thấp, xương đòn nâng cao, khoảng liên sườn rộng hơn, và đường kính ngang của lồng ngực cũng lớn hơn bình thường Hình ảnh phổi cho thấy sự sáng rõ, tương phản với rốn phổi mờ đậm.

Khi xảy ra biến chứng tắc nghẽn và viêm nhiễm nặng, hình ảnh trên X quang có thể cho thấy rối loạn thông khí, xẹp phổi hoặc biến chứng tràn khí màng phổi.

Thăm dò chức năng thông khí phổi là công cụ quan trọng để đánh giá mức độ hen suyễn, xác định mức độ rối loạn thông khí trong HPQ và đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị.

- Đo chức năng hô hấp bằng phế dung kế :

+ VMES ( Thể tích khí thở ra trung bình/giây) giảm

+ Thể tích khí cặn tăng

- Đo lưu lượng đỉnh (PEF) bằng dụng cụ lưu lượng đỉnh kế hoặc bằng phế dung kế: PEF giảm.[14]

Chẩn đoán hen phế quản

Chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em rất khó khăn, đặc biệt là trong các cơn hen đầu tiên Để chẩn đoán chính xác, cần dựa vào nhiều yếu tố khác nhau.

1.7.1 Ch ẩ n đ oán hen ph ế qu ả n tr ẻ > 5 tu ổ i

* Tri ệ u ch ứ ng lâm sàng(nh ư trên)

Các triệu chứng tái phát thường xuất hiện vào ban đêm hoặc khi có sự thay đổi thời tiết, sau khi nhiễm khuẩn hô hấp, khi gắng sức hoặc xúc động Việc sử dụng thuốc giãn phế quản có thể giúp giảm bớt các biểu hiện này.

Người có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp như bụi, khói, phấn hoa, lông súc vật, cũng như dị nguyên thực phẩm như tôm, cua, cá, trứng, sữa, và các hóa chất, thường có nguy cơ cao bị hen suyễn hoặc biểu hiện khò khè.

Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh, chị, em bị hen hoặc dị ứng

Lưu lượng đỉnh (PEF) có thể tăng lên 15% sau khi trẻ hít thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh trong vòng 15 – 20 phút Ngoài ra, PEF cũng có thể thay đổi trên 20% khi đo vào buổi sáng ngay sau khi sử dụng thuốc giãn phế quản so với 12 giờ sau đó Một dấu hiệu khác để chẩn đoán hen phế quản là khi PEF giảm hơn 15% sau 6 phút đi bộ hoặc gắng sức.

11 phải dựa vào hai tiêu chuẩn quan trọng:

- Test phục hồi phế quản: Đo chức năng thông khí rồi dùng Salbutamol

- Tiền sử bản thân: Cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày đay

1.7.2 Ch ẩ n đ oán hen ph ế qu ả n tr ẻ ≤ 5 tu ổ i

Dựa vào lâm sàng là chính, không dựa vào đo chức năng hô hấp

* Tri ệ u ch ứ ng lâm sàng

Trong cơn khó thở có thể thấy:

- Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng

- Gõ: Có thể thấy vang hơn bình thường

- Nghe: Phổi có rales rít, rales ngáy (trong cơn hen), rì rào phế nang giảm hoặc mất hẳn trong trường hợp nặng

Các triệu chứng thường tái phát vào ban đêm hoặc khi có sự thay đổi thời tiết, sau khi nhiễm khuẩn hô hấp, hoặc khi gắng sức và xúc động Việc sử dụng thuốc giãn phế quản có thể giúp giảm hoặc loại bỏ các biểu hiện này.

- Tiền sử bản thân : Cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày đay

Người bệnh có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp như bụi, khói, phấn hoa, lông súc vật, cũng như dị nguyên thực phẩm như tôm, cua, cá, trứng, sữa, và các hóa chất, thường có nguy cơ cao bị hen suyễn hoặc biểu hiện khò khè.

- Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh chị em bị hen hoặc dị ứng

* Ở tr ẻ em tri ệ u ch ứ ng th ườ ng g ặ p là khò khè vì v ậ y khi ch ẩ n đ oán c ầ n lo ạ i tr ừ các b ệ nh khác gây khò khè nh ư :

Điều trị

Để điều trị hen phế quản ở trẻ em có hiệu quả cần phân loại hen theo mức độ nặng nhẹ theo bậc để điều trị đúng

1.8.1 Đ i ề u tr ị hen ph ế qu ả n ở tr ẻ d ướ i ≤ 5 tu ổ i

Bậc Điều trị dự phòng - Duy trì lâu dài Điều trị cắt cơn

Không cần điều trị bằng thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn như cường β2 dạng hít, ipratropium, hoặc thuốc cường β2 dạng viên, xirô tùy theo triệu chứng Sử dụng không quá 3 lần mỗi tuần.

Nhẹ dai dẳng Điều trị hàng ngày:

Corticoide dạng hớt 200-400àg hoặc

Cromoglycate (bình xịt định liều kết hợp buồng đệm, mặt nạ khí dung)

Thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn: cường β2 dạng hít hoặc ipratropium hoặc thuốc cường β2 dạng viên, xirô tuỳ theo triệu chứng Không quá 3-4 lần/ngày

Vừa dai dẳng Điều trị hàng ngày:

Dạng hít định liều với buồng đệmvà mặt nạ 400-800àg/ngày

Thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn: Cường β2 dạng hít hoặc Ipratropium hoặc thuốc cường β2 dạng viên, xirô tuỳ theo triệu chứng Không quá 3-4 lần/ ngày

Bậc 4 Điều trị hàng ngày: Thuốc giãn phế quản đường hít tác

Dạng hít định liều với buồng đệm và mặt nạ >1mg/ngày

Hoặc khí dung Budesonide >1mg,

Trong giai đoạn cấp, có thể cần bổ sung Corticoide đường uống hoặc tiêm với liều thấp Sử dụng các thuốc cường β2 dạng hít, Ipratropium, hoặc thuốc cường β2 dạng viên, xirô tùy theo triệu chứng, nhưng không quá 3-4 lần mỗi ngày.

1.8.2 Đ i ề u tr ị hen ph ế qu ả n ở tr ẻ trên 5 tu ổ i [5],[7] Điều trị dự phòng - Duy trì lâu dài Điều trị cắt cơn

Không cần điều trị Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn:

Cường β2 dạng hít khi cần nhưng < 1 lần/tuần hoặc Cromoglycate

Nhẹ dai dẳng Điều trị hàng ngày:

- Corticoide dạng hớt 200-500àg hoặc

- Cromoglycate (bình xịt định liều kết hợp buồng đệm, mặt nạ khí dung) hoặc nedocromil hoặc theophylin phòng thích chậm Có thể dùng Leucotrien

Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn: Cường β2 dạng hít nếu cần nhưng Không quá 3 lần/ngày

Vừa dai dẳng Điều trị hàng ngày:

- Thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài: Cường β2 dạng hít (có thể

Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn: Cường β2 dạng hít nếu cần nhưng không quá 3 lần/ngày

14 phối hợp với Corticoide dạng hít) và/hoặc Theophylin phóng thích chậm

- Có thể sử dụng Leucotrien,

Nặng dai dẳng Điều trị hàng ngày:

- Thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài: cường β2 dạng hít tác dụng kéo dài và/hoặc theophylin phóng thích chậm và/hoặc cường β2 dạng uống

- Corticoide dạng uống hoặc tiêm

Thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn: Cường β2 dạng hít

Cần theo dõi quá trình điều trị để quyết định việc giảm bậc hoặc nâng bậc Nếu tình trạng ổn định được khống chế trong 3 tháng, có thể giảm bậc Ngược lại, nếu sau 1 tháng điều trị mà không khống chế được, cần xem xét nâng bậc.

Năm 1992, GINA bắt đầu đi vào hoạt động, mục tiêu chính của GINA:

Nâng cao nhận thức cộng đồng và cung cấp kiến thức cơ bản về phòng chống bệnh hen là rất quan trọng, vì đây là một vấn đề sức khỏe toàn cầu cần được chú trọng.

− Đưa ra những khuyến cáo chủ yếu về chẩn đoán, phát hiện sớm bệnh hen, quản lý và giám sát bệnh hen có hiệu quả

Điều chỉnh khuyến cáo để phù hợp với nhu cầu của người bệnh và các dịch vụ phòng chống hen cần được thực hiện dựa trên nguồn lực của địa phương và cộng đồng.

− Đề xuất các lĩnh vực nghiên cứu để nâng cao chất lượng kiểm soát và quản lý hen trong tương lai tại cộng đồng trên phạm vi toàn cầu.[4]

GINA nhấn mạnh rằng bệnh hen có thể được kiểm soát hiệu quả thông qua sự hợp tác chặt chẽ giữa bệnh nhân, gia đình, cộng đồng và các bác sĩ.

Để giảm tỷ lệ cơn hen nặng và duy trì cuộc sống bình thường cho trẻ, việc giáo dục trẻ và phụ huynh về các vấn đề liên quan là rất quan trọng.

+ Hiểu rõ tầm quan trọng của bệnh hen và hợp tác với nhân viên y tế để điều trị bệnh

+ Tham gia sinh hoạt hội, câu lạc bộ bệnh nhân hen để nắm được các thông tin cập nhật

− Giúp trẻ tránh được các yếu tố nguy cơ gây hen:[5]

+ Loại bỏ các nguyên nhân ở gia đình có thể gây cơn hen (súc vật, khói, bụi, phấn hoa )

+ Sắp xếp phòng ngủ đơn giản sạch sẽ

+ Biết sử dụng thuốc an toàn hợp lý, đúng liều, đúng cách

+ Biết cách sử dụng bình xịt định liều có hoặc không có buồng đệm

+ Biết phát hiện các dấu hiệu nặng của bệnh để có biện pháp xử trí kịp thời

− Cần phải thông báo ngay cho thầy thuốc khi có các biểu hiện sau:[3]

+ Ho, khò khè, tức ngực > 1lần/tuần

+ Thức dậy lúc nửa đêm vì có khó thở

+ Trong tuần có nhiều cơn hen

+ Hàng ngày phải dùng thuốc cắt cơn hen

− Cần phải đến khám ngay tại cơ sở y tế nếu có một trong các biểu hiện:

+ Thuốc cắt cơn không có tác dụng

+ Thức dậy lúc nửa đêm vì khó thở

+ Tím tái: môi, móng tay, đầu ngón tay

+ Co kéo cơ hô hấp

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Mẹ bệnh nhi bị bệnh HPQ đến khám, điều trị và tham gia chương trình quản lý hen tại Khoa Miễn dịch - Dị ứng bệnh viện Nhi Trung ương

− Tất cả các mẹ bệnh nhi được chẩn đoán hen phế quản dưới 10 tuổi

− Bệnh nhi và mẹ bệnh nhi đồng ý tham gia vào nghiên cứu

− Bệnh nhi và mẹ bệnh nhân không hợp tác

− Bệnh nhi và mẹ bệnh nhi không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Khoa Miễn dịch dị ứng bệnh viện Nhi Trung ương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau

2.2.2 Ph ươ ng pháp thu th ậ p thông tin g ồ m:

Công cụ thu thập thông tin:

Bộ câu hỏi được thiết kế bởi thầy hướng dẫn và học viên, với sự góp ý của các thầy cô trong hội đồng thông qua đề cương Sau khi tiến hành điều tra thử, bộ câu hỏi được sửa chữa và hoàn thiện trước khi bắt đầu nghiên cứu Bộ thu thập thông tin bao gồm các thành phần cần thiết để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của nghiên cứu.

− Bảng kiểm đánh giá kỹ năng thực hành

− Thang điểm đánh giá kiến thức của mẹ bệnh nhi

Tiến hành chọn cỡ mẫu theo công thức sau: n = Z (1− 2 α /2 ) p( 1 − p) d 2

- n là cỡ mẫu dự kiến

- Sai số biến thiên ước lượng d=0,05 ;

- Sau khi thay số, n= 94 người ;

- Phòng tránh các trường hợp sai số khi xảy ra nghiên cứu phải loại bỏ, chúng tôi tiến hành đánh giá thêm 6 người cho mỗi đợt can thiệp.

2.2.5 Ph ươ ng pháp đ ánh giá: Đ ánh giá ki ế n th ứ c

Cho điểm dựa vào số câu trả lời đúng, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng số điểm là 15, sau đó chia 4 bậc:

+ Yếu: dưới 6 điểm Đ ánh giá k ỹ n ă ng th ự c hành x ị t thu ố c c ắ t c ơ n và d ự phòng

+ Xịt thuốc đúng: Khi thực hiện đầy đủ chính xác cả 6 bước đối với bình xịt không có bình đệm và có bình đệm

+ Xịt không đúng: Khi thực hiện thiếu hoặc không chính xác bất kỳ bước nào.

Kiểm soát sai số

Bộ câu hỏi được thiết kế cẩn thận như đã trình bày

Tiến hành thu thập thử số liệu 10 trường hợp

Tập huấn trước khi tiến hành thu thập số liệu.

Phân tích và xử lý số liệu

Dữ liệu được mã hóa và nhập liệu thông qua phần mềm Epidata 3.1, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Các phép thử thống kê như χ2 và test-T đã được áp dụng và tính toán để mô tả kết quả.

18 tả các biến số và đo lường mối liên quan giữa các biến.

Đạo đức trong nghiên cứu

− Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo về mục đích nghiên cứu

− Chỉ phỏng vấn những đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

− Số liệu nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, không sao chép, không để lộ danh tính của đối tượng

Trong quá trình phỏng vấn, các đối tượng có quyền từ chối bất kỳ câu hỏi nào mà họ không muốn trả lời Người nghiên cứu không gây áp lực hay cố gắng thuyết phục để lấy thông tin, và các đối tượng có thể dừng cuộc phỏng vấn bất cứ lúc nào Họ cũng có quyền từ chối ghi âm và yêu cầu chỉ ghi chép nếu muốn.

Tính khả thi của đề tài

Đề tài thực hiện với sự cho phép của Ban giám đốc, Khoa miễn dịch dị ứng Bệnh viện Nhi trung ương

Khoa miễn dịch dị ứng Bệnh viện Nhi trung ương là chuyên khoa hàng đầu về nhi khoa tại Việt Nam, chuyên cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị hen Khoa được trang bị phòng đo chức năng hô hấp và có đội ngũ bác sĩ dày dạn kinh nghiệm Trung bình mỗi ngày, khoa tiếp nhận từ 10 đến 15 bệnh nhân hen đến khám và điều trị.

Các bà mẹ có con đến khám được chẩn đoán và điều trị hen tại khoa Miễn dịch - Dị ứng Bệnh viện Nhi trung ương

Phỏng vấn, quan sát kỹ năng xịt thuốc

- Tư vấn về bệnh hen

- Hướng dẫn xịt thuốc Đánh giá lại sau khi các bà mẹ bệnh nhân tới khám lại hoặc sau tham dự câu lạc bộ hen

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung của nhóm nghiên cứu

3.1.1 Thông tin chung v ề b ệ nh nhi b ị hen ph ế qu ả n trong nhóm nghiên c ứ u 3.1.1.1 Tuổi của nhóm bệnh nhi bị hen phế quản

B ả ng 1: Phân b ố tu ổ i c ủ a nhóm tr ẻ b ị hen ph ế qu ả n

Tuổi Số lượng Tỷ lệ %

- Có 50 trẻ 5 tuổi chiếm 46,8%

3.1.1.2 Phân bố về giới tính của nhóm trẻ bị hen phế quản

Bi ể u đồ 1: Phân b ố gi ớ i tính c ủ a nhóm tr ẻ b ị hen ph ế qu ả n

- Số lượng trẻ em nam chiếm 61,7% gần gấp đôi số lượng trẻ em nữ (38,3%)

B ả ng 2: Trình độ , ngh ề nghi ệ p m ẹ b ệ nh nhi

Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)

Khác (Lao động tự do) 33 35,1

- Bảng trên cho thấy đa số mẹ bệnh nhi có trình độ là cấp 3 trở lên;

- Có 43,6% mẹ bệnh nhi là cán bộ nhân viên và chỉ có 4,3% làm ruộng

B ả ng 3: Ngu ồ n cung c ấ p thông tin v ề b ệ nh hen ph ế qu ả n mà m ẹ b ệ nh nhi đ ã ti ế p c ậ n đượ c

Thông tin đại chúng (báo đài, tivi…) 29 30,9

Tài liệu phát tay, tờ rơi 1 1,1

- Hầu hết các mẹ bệnh nhi biết các thông tin về bệnh hen phế quản là từ nhân viên y tế (86,2%);

- Nguồn thông tin đại chúng như báo đài, tivi cũng là nguồn thông tin chủ yếu để các mẹ bệnh nhân biết về bệnh hen (30,9%)

Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tham gia quản lý hen

3.2.1 Ki ế n th ứ c c ủ a m ẹ b ệ nh nhi v ề b ệ nh hen ph ế qu ả n

B ả ng 4: Ki ế n th ứ c v ề b ệ nh hen và các y ế u t ố nguy c ơ gây b ệ nh

Kiến thức về bệnh Hen

Yếu tố nguy cơ gây bệnh hen

Nhiễm trùng đường hô hấp tái diễn nhiều lần 44 46,8 29 30,9

Sự kết hợp giữa yếu tố gia đình và môi trường sống

- Có sự cải thiện rõ rệt kiến thức về bệnh hen phế quản của mẹ bệnh nhi trước và sau tư vấn

Bi ể u đồ 2: Nguyên nhân gây kh ở i phát c ơ n hen tr ướ c và sau t ư v ấ n

- Trước khi tư vấn, đa số các kiến thức về nguyên nhân gây khởi phát cơn hen chỉ ở mức 60% ± 15%;

- Các kiến thức về nguyên nhân gây khởi phát cơn hen tăng cao lên trong khoảng 10 – 30% sau khi đã được tư vấn

B ả ng 5: Ki ế n th ứ c v ề nh ậ n bi ế t đượ c các d ấ u hi ệ u báo tr ướ c c ơ n hen c ấ p

Các dấu hiệu báo trước cơn hen Trước tư vấn Sau tư vấn

Hắt hơi, ngứa mũi, chảy nước mũi 57 60,6 85 90,4

Ngứa mắt, chảy nước mắt 10 10,6 46 48,9

Mệt, giảm hoạt động hàng ngày, ăn kèm 24 25,5 54 57,4

Sau khi tham gia tư vấn, người bệnh sẽ nhận thức rõ hơn về các dấu hiệu đặc trưng của bệnh hen, bao gồm hắt hơi, chảy mũi, ngứa mắt và cảm giác mệt mỏi, đây là những dấu hiệu báo trước cơn hen.

24 tăng lên đáng kể khoảng 20 – 30% so với trước khi tư vấn

Bi ể u đồ 3: Ki ế n th ứ c c ủ a m ẹ b ệ nh nhi v ề các bi ể u hi ệ n hay g ặ p c ủ a tr ẻ b ị hen ph ế qu ả n tr ướ c và sau t ư v ấ n Nh ậ n xét:

Có sự thay đổi đáng kể trong nhận thức về các biểu hiện thường gặp của trẻ bị hen phế quản sau khi được tư vấn, với tỷ lệ chênh lệch cao nhất lên tới 50%.

Biểu đồ cho thấy hầu hết các biểu hiện được nhận thức có số lượng tương đương và tăng đều sau khi được tư vấn, đạt trên 90%.

B ả ng 6: Ki ế n th ứ c v ề thu ố c để c ắ t c ơ n hen tr ướ c và sau t ư v ấ n

Kiến thức đúng Trước tư vấn Sau tư vấn n % n % P

Thuốc cắt cơn hen là

Khi nào sử dụng thuốc cắt cơn hen

Khi ho, khò khè, khó thở 82 87,2 90 95,7 = 0,067 Trước khi hoạt động thể lực mạnh 16 17,0 47 50,0 = 0,026

- Số lượng nhận thức được loại thuốc giãn phế quản là thuốc cắt cơn hen tăng lên 28,8% sau khi được tư vấn (60,6 – 89,4%);

B ả ng 7: Ki ế n th ứ c v ề thu ố c d ự phòng hen tr ướ c và sau t ư v ấ n

Kiến thức về thuốc hen Trước tư vấn Sau tư vấn n % n % P

Thuốc dự phòng hen là

Khi nào sử dụng thuốc dự phòng hen

Khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh hen 27 28,7 9 9,6 > 0,05

- Đối với kiến thức về nhận biết thuốc và sử dụng thuốc dự phòng tăng lên đáng kể sau khi được tư vấn

B ả ng 8: Ki ế n th ứ c v ề cách s ử d ụ ng thu ố c x ị t d ự phòng hen tr ướ c và sau t ư v ấ n

Kiến thức thực hành Trước tư vấn Sau tư vấn

Có cho trẻ vệ sinh miệng sau khi dùng thuốc dự phòng không

Luôn súc miệng hoặc uống nước ngay sau xịt thuốc 70 74,5 85 90,4 < 0,05 Đôi khi không súc miệng 11 11,7 4 4,3 > 0,05

Không súc miệng bao giờ 6 6,4 2 2,1 > 0,05 Ăn gì đó ( kẹo cao su, hoa quả, uống sữa ) 4 4,3 2 2,1 > 0,05

Cách nhận biết khi bình thuốc hết

Không thấy khói khi xịt 73 77,7 51 54,3 > 0,05

Thả bình thuốc vào cốc nước kiểm tra 13 13,8 49 52,1 < 0,05 Đánh dấu dùng hàng ngày 11 11,7 10 10,6 > 0,05

- Nhận thức về cách sử dụng thuốc xịt dự phòng đúng tăng lên đáng kể (74,5%

- Nhận thức đúng về cách nhận biết bình bình xịt hết thuốc tăng cao so với trước khi tư vấn (13,8 – 52,1%)

B ả ng 9: Ki ế n th ứ c v ề các bi ệ n pháp ki ể m soát hen cho tr ẻ

Kiến thức của các bà mẹ về hen Trước tư vấn Sau tư vấn n % n % P

Các biện pháp để kiểm soát bệnh hen cho trẻ

Cho trẻ khám định kỳ theo đúng hẹn của bác sĩ 68 72,3 86 91,5

Tránh các yếu tố khởi phát cơn hen 47 50,0 81 86,2

Dùng thuốc dự phòng hàng ngày 44 46,8 77 81,9

Dùng thuốc cắt cơn hàng ngày 15 16,0 10 10,6

Cho trẻ đi khám lại khi nào? Đúng kỳ theo hẹn 58 61,7 84 89,4

Khi có thời gian rảnh 7 7,4 5 5,3

Kho con ho, khò khè, khó thở 51 54,3 67 71,3

Sau khi được tư vấn, nhận thức của các bà mẹ về cách kiểm soát cơn hen ở trẻ bệnh nhi đã tăng lên đáng kể, với tỷ lệ cải thiện khoảng 20 – 30% so với trước khi nhận được tư vấn.

− Đa số mẹ bệnh nhân cho rằng nên đi khám tại bệnh viện theo đúng kỳ hẹn với

61,7% trước khi tư vấn, tăng lên 89,4% sau khi được tư vấn

3.2.2 T ổ ng h ợ p ki ế n th ứ c c ủ a các m ẹ b ệ nh nhi v ề b ệ nh hen tr ướ c và sau khi đượ c t ư v ấ n

Tốt Khá Trung bình Yếu

Bi ể u đồ 4: Phân b ố đ i ể m ki ế n th ứ c c ủ a các m ẹ b ệ nh nhi v ề b ệ nh hen tr ướ c và sau t ư v ấ n Nh ậ n xét:

− Điểm kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản sau tư vấn đã tăng lên so với trước tư vấn

Tìm hiểu mối liên quan giữa trình độ học vấn của các mẹ bệnh nhi với kiến thức về bệnh hen

Bi ể u đồ 5: M ố i liên quan gi ữ a trình độ h ọ c v ấ n c ủ a m ẹ b ệ nh nhi v ớ i ki ế n th ứ c v ề d ự phòng b ệ nh Hen sau khi t ư v ấ n

Trình độ học vấn từ trung cấp trở lên có mối liên hệ chặt chẽ với kiến thức đúng về dự phòng bệnh Hen, chiếm tỷ lệ cao nhất là 27,1%, và tỷ lệ này giảm dần theo từng cấp bậc học.

− Kiến thức chưa đúng của mẹ bệnh nhi còn tương đối cao và cao nhất là cấp 1 với 15,4%.

Đánh giá kỹ năng thực hành của mẹ bệnh nhi trong sử dụng các thuốc điều trị hen trước và sau khi tham gia chương trình quản lý hen

3.4.1 K ỹ n ă ng th ự c hành x ị t thu ố c c ủ a cácm ẹ b ệ nh nhi tr ướ c và sau t ư v ấ n

B ả ng 10: K ỹ n ă ng th ự c hành v ớ i bình x ị t đị nh li ề u c ủ a các m ẹ b ệ nh nhi cho tr ẻ trên 6 tu ổ i

− Sau được hướng dẫn các kỹ năng thực hành với bình xịt định liều được các mẹ bệnh nhi đều tăng lên;

B ả ng 11: K ỹ n ă ng th ự c hành s ử d ụ ng thu ố c đ i ề u tr ị hen v ớ i bình x ị t qua bình đệ m babyhaler cho tr ẻ ≤ 5 tu ổ i

STT Các bước sử dụng thuốc xịt qua bình đệm babyhaler

Trước tư vấn (nS) Sau tư vấn

1 Tháo nắp hộp thuốc, lắc hộp thuốc 4-5 lần 40 75 48 90,9

2 Lắp hộp thuốc vào bình đệm 41 77,4 49 92,5

3 Đặt mask vừa kín miệng và mũi trẻ 37 69,8 49 92,5

4 Ấn lọ thuốc xịt một nhát 41 77,4 50 94

5 Giữ cho trẻ thở như vậy trong khoảng 20 giây 35 67 46 87

6 Nếu phải xịt nhát tiếp theo, tiếp tục làm lại từ bước 1 – 5 36 68 47 88

STT Các bước thực hiện bình xịt định liều

1 Giữ bình xịt thẳng đứng (đáy quay lên trên) 28 68 36 88

3 Đặt bình xịt vào miệng, giữa 2 hàm răng, trẻ ngậm kín môi lại 31 72 39 95

4 Ấn bình xịt xuống đồng thời trẻ hít vào từ từ 27 66 36 88

5 Trẻ nín thở trong khoảng 15 giây 29 71 36 88

6 Nếu phải xịt nhát tiếp theo, tiếp tục làm lại từ bước 1 đến 5 30 73 36 95

− Kỹ năng xịt thuốc của mẹ bệnh nhi cải thiện rõ rệt trước và sau tư vấn

3.4.2 K ỹ n ă ng th ự c hành s ử d ụ ng thu ố c c ắ t c ơ n và thu ố c d ự phòng c ủ a m ẹ b ệ nh nhi hen ph ế qu ả n tr ướ c và sau t ư v ấ n

Bi ể u đồ 6: Th ự c hành x ị t thu ố c c ắ t c ơ n ho ặ c thu ố c d ự phòng c ủ a m ẹ b ệ nh nhi hen ph ế qu ả n tr ướ c và sau t ư v ấ n

− Tỷ lệ xịt thuốc đúng của mẹ bệnh nhi đã tăng rõ rệt sau tư vấn

BÀN LUẬN

Thông tin chung của nhóm nghiên cứu

4.1.1 Thông tin chung c ủ a b ệ nh nhi hen ph ế qu ả n trong nhóm nghiên c ứ u

Phân b ố b ệ nh nhi theo tu ổ i:

HPQ là bệnh hen phế quản phổ biến ở mọi lứa tuổi, với tỷ lệ mắc bệnh theo WHO (1995) là 5% ở người lớn và 10% ở trẻ em Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong số trẻ em mắc hen, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi chiếm 53,7% và trẻ trên 5 tuổi chiếm 43,6% (bảng 1) Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Minh Hương cũng đã chỉ ra những thông tin tương tự.

(2008) cho thấy bệnh nhi HPQ < 5 tuổi chiếm đa số, đặc biệt là lứa tuối 1- 3 tuổi

[9] NC của Nguyễn Thi Thúy (2009) tiến hành tại bệnh viên XanhPon cho thấy tỉ lệ HPQ ở trẻ < 5 tuổi chiếm 58,7% và > 5 tuổi chiếm 43,6 %[15]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Minh Hương và Nguyễn Thị Thúy, cho thấy sự tiến bộ trong khoa học đã hỗ trợ việc phát hiện và chẩn đoán bệnh hen ở trẻ em một cách sớm hơn.

Phân b ố v ề gi ớ i tính c ủ a nhóm tr ẻ b ị hen:

Giới tính được xem là một yếu tố nguy cơ của bệnh HPQ, với nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh này thường gặp nhiều hơn ở trẻ nam so với trẻ nữ Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ trẻ nam so với trẻ nữ là 1,6:1, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Minh Hương.

( 2008) NC trên 382 trẻ bị HPQ thì tỉ lệ nam : nữ là 1,8 : 1 [9] Điều này cho thấy rõ HPQ gặp ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ

Trong số 94 mẹ bệnh nhi tham gia nghiên cứu, 66,6% có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên Nghiên cứu can thiệp về tư vấn giáo dục cho thấy rằng những người có trình độ học vấn cao đạt hiệu quả tư vấn tốt hơn so với nhóm có trình độ học vấn thấp Điều này có tác động tích cực đến quá trình tư vấn cho mẹ bệnh nhân.

Chỉ có 4,3% mẹ bệnh nhi làm ruộng có thể vì NC của chúng tôi tiến hành ở thành phố

Khi trẻ mắc bệnh, các bậc phụ huynh thường tìm kiếm thông tin từ nhân viên y tế, các phương tiện truyền thông, cũng như từ bạn bè và người thân để hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của con mình.

Theo thống kê, 85,6% nguồn thông tin về bệnh HPQ đến từ nhân viên y tế (NVYT), trong khi các phương tiện đại chúng chiếm 30,9% Điều này cho thấy sự quan tâm của người dân đối với việc truyền thông giáo dục về bệnh HPQ qua các kênh thông tin đại chúng.

Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư vấn

Quan niệm đúng về bệnh hen phế quản (HPQ) giúp mẹ bệnh nhi hiểu rằng việc điều trị cho con sẽ kéo dài Sau khi được tư vấn, 79,8% mẹ bệnh nhi nhận thức rằng HPQ là bệnh mạn tính có thể kiểm soát, so với 49,9% trước đó Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0.05 Để kiểm soát bệnh hiệu quả, mẹ cần giúp trẻ tránh các yếu tố khởi phát cơn hen Qua phỏng vấn, hầu hết mẹ bệnh nhi biết từ 1 đến vài yếu tố nguy cơ, nhưng chỉ 34% nhận ra rằng stress tâm lý cũng là nguyên nhân gây khởi phát cơn hen; sau tư vấn, tỷ lệ này tăng lên 80,9%.

4.2.2 Ki ế n th ứ c c ủ a m ẹ b ệ nh nhi v ề b ệ nh hen ph ế qu ả n tr ướ c và sau t ư v ấ n

Trong chiến lược quốc tế kiểm soát hen, việc giáo dục bệnh nhân về các biểu hiện của bệnh là ưu tiên hàng đầu Biểu đồ 3 cho thấy sự chênh lệch cao trong tỷ lệ mẹ bệnh nhi nhận biết 4 biểu hiện của hen, bao gồm ho, khò khè, khó thở và nặng ngực, trước và sau khi được tư vấn.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy (2009), tỷ lệ nhận biết các triệu chứng của hen trước tư vấn là 59,8%, trong khi sau tư vấn, tỷ lệ này tăng lên 85,9% Điều này chứng tỏ rằng tư vấn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức của các bậc phụ huynh về việc nhận diện các dấu hiệu của bệnh hen ở trẻ.

NC là gần tương đương nhau

Theo hướng dẫn của GINA, thuốc giãn phế quản là cần thiết để cắt cơn hen Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn các bà mẹ đã nhận thức được thuốc cắt cơn và thời điểm sử dụng Việc nhận biết và sử dụng thuốc đúng cách là rất quan trọng trong điều trị hen Trước tư vấn, 41,5% mẹ biết về thuốc dự phòng hen, con số này tăng lên 71,3% sau tư vấn Ba biện pháp phòng ngừa hen cho trẻ bao gồm: tránh các yếu tố nguy cơ, sử dụng thuốc dự phòng hàng ngày và khám bệnh định kỳ, và phần lớn bệnh nhân đều hiểu tầm quan trọng của việc khám định kỳ.

Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc dự phòng hàng ngày và tránh các yếu tố nguy cơ vẫn còn thấp, cho thấy sự nhận thức chưa đầy đủ của gia đình về vấn đề này Để điều trị hen hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhân viên y tế và gia đình bệnh nhân.

4.3 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi với kiến thức về bệnh hen phế quản

Khi so sánh trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi trước và sau tư vấn, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm có trình độ học vấn thấp và nhóm có trình độ học vấn cao Nhóm có trình độ học vấn cao thể hiện kiến thức đúng về bệnh tốt hơn so với nhóm có trình độ học vấn thấp Do đó, nhóm có học vấn thấp cần được quan tâm và hướng dẫn kỹ lưỡng hơn từ nhân viên y tế.

Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều babyhaler

Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy rằng một lỗi phổ biến khi mẹ bệnh nhi sử dụng bình xịt là không chờ đủ 20 giây và không lặp lại các bước cho nhát xịt tiếp theo Trước khi tư vấn, có 33% mẹ không thực hiện đúng bước này, nhưng sau khi được tư vấn, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 12%.

Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều

Theo quan sát, 32% mẹ bệnh nhi thường quên lắc bình xịt trước khi sử dụng Một lỗi phổ biến khác là khi ấn bình xịt, trẻ không hít vào từ từ.

Tỉ lệ không thực hiện động tác sử dụng bình xịt đúng cách của chúng tôi là 34% trước tư vấn và giảm xuống còn 12% sau tư vấn Để nâng cao tỉ lệ sử dụng bình xịt đúng cách, cần có sự kiểm tra và hướng dẫn từ nhân viên y tế sau mỗi lần khám lại.

Thực hành xịt thuốc của mẹ bệnh nhi hen phế quản trước và sau tư vấn

4.4 Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều babyhaler

Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy rằng một lỗi phổ biến khi mẹ bệnh nhi sử dụng bình xịt là không chờ đủ 20 giây và không lặp lại các bước cho nhát xịt tiếp theo Trước khi tư vấn, có 33% mẹ không thực hiện đúng bước này, nhưng sau khi được tư vấn, tỷ lệ này giảm xuống còn 12%.

4.5 Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều

Theo quan sát, 32% mẹ bệnh nhi thường quên lắc bình xịt trước khi sử dụng Một lỗi phổ biến khác là khi ấn bình xịt, trẻ không hít vào từ từ.

Tỉ lệ không thực hiện động tác sử dụng bình xịt đúng cách của chúng tôi là 34% trước tư vấn và giảm xuống còn 12% sau tư vấn Để nâng cao tỉ lệ sử dụng bình xịt đúng cách, cần có sự kiểm tra và hướng dẫn từ nhân viên y tế sau mỗi lần khám lại.

4.6 Thực hành xịt thuốc của mẹ bệnh nhi hen phế quản trước và sau tư vấn

Xịt thuốc đúng cách là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị và phòng ngừa bệnh hen Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, sau khi được hướng dẫn, tỷ lệ xịt thuốc đúng cách đã tăng từ 66,4% lên 90%, trong khi tỷ lệ xịt thuốc chưa đúng giảm từ 33% xuống còn 12%.

Tỷ lệ xịt thuốc đúng cách trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy (2009), đạt 62,5% Điều này cho thấy rằng việc tư vấn và hướng dẫn có ảnh hưởng lớn đến khả năng sử dụng bình xịt đúng cách của các bà mẹ có con bệnh.

Ngày đăng: 11/04/2023, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Năng An (1997), “ Hen phế quản”, chuyên đề dị ứng học, Hà Nội, tr. 50 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hen phế quản
Tác giả: Nguyễn Năng An
Năm: 1997
2. Nguyễn Năng An (2001), ““Đại hội hen toàn cầu: những vấn đề thời sự”, tr. 15 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại hội hen toàn cầu: những vấn đề thời sự
Tác giả: Nguyễn Năng An
Năm: 2001
3. Nguyễn Năng An (2008), “Chẩn đoán và điều trị hen ở trẻ em theo GINA 2006”, Hội thảo chuyên đề hướng tới quản lý hen tối ưu trong cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị hen ở trẻ em theo GINA 2006
Tác giả: Nguyễn Năng An
Năm: 2008
4. Nguyễn Năng An, Trần Mạnh Hùng, (2007), “Giáo dục bệnh nhân hen phế quản là một trong những khâu quan trọng nhất để kiểm soát hen triệt để tại cộng đồng”, Khoá luận tốt nghiệp bác sĩ y khoachuyên ngành: Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục bệnh nhân hen phế quản là một trong những khâu quan trọng nhất để kiểm soát hen triệt để tại cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Năng An, Trần Mạnh Hùng
Năm: 2007
5. Bài giảng nhi khoa tập 1, “Hen phế quản ở trẻ em” (2009), Nhà xuất bản Y học, tr. 403 - 415 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hen phế quản ở trẻ em
Tác giả: Bài giảng nhi khoa tập 1, “Hen phế quản ở trẻ em”
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
7. Nguyễn Tiến Dũng (2008) “Chẩn đoán và xử lý hen ở trẻ em”, Dịch tễ học, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh hen, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 225 – 243 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và xử lý hen ở trẻ em
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
8. Phan Quang Đoàn (2008), “Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây hen phế quản”, Dịch tễ học, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh hen, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 68 – 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây hen phế quản
Tác giả: Phan Quang Đoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
9. Lê Thị Minh Hương (2008), “Đánh giá bước đầu về tình hình quản lý hen trẻ em tại Viện Nhi trung ương”, Hội thảo chuyên đề hướng tới quản lý hen tối ưu trong cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá bước đầu về tình hình quản lý hen trẻ em tại Viện Nhi trung ương
Tác giả: Lê Thị Minh Hương
Năm: 2008
10. Trần Quỵ (1999), “Dịch tễ học hen phế quản”, Tài liệu Hội hen Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bộ Y tế, tập 1, tr. 5 -7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học hen phế quản
Tác giả: Trần Quỵ
Năm: 1999
11. Trần Quỵ (2008), “Những hiểu biết cơ bản về hen trẻ em”, Y học lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, số 26 tháng 3/2008, tr. 6 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hiểu biết cơ bản về hen trẻ em
Tác giả: Trần Quỵ
Năm: 2008
12. Quyết định số 4776/QĐ–BYT ngày 04 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế, “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị hen phế quản ở trẻ em” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị hen phế quản ở trẻ em
13. Sở Y tế Hà Nội, chương trình hen phế quản 2002, “Sổ tay hướng dẫn quản lý và kiểm soát hen phế quản”, Nhà xuất bản Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn quản lý và kiểm soát hen phế quản
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
14. Nguyễn Thị Rồi (2007), “Gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh suyễn ở trẻ em nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 2”, Hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Nhi Đồng 2, tr. 12 -17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh suyễn ở trẻ em nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 2
Tác giả: Nguyễn Thị Rồi
Năm: 2007
15. Nguyễn Thị Thuý (2009), “Đánh giá kiến thức, thực hành của bố, mẹ bệnh nhi hen phế quản trong điều trị dự phòng hen phế quản ở trẻ em”.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức, thực hành của bố, mẹ bệnh nhi hen phế quản trong điều trị dự phòng hen phế quản ở trẻ em”
Tác giả: Nguyễn Thị Thuý
Năm: 2009
16. Raoul L.Wolf (2004), “Asthma”, Essential pediatrict Allergy, Asthma and Immunology, chapter 59,pp. 59 -81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asthma
Tác giả: Raoul L.Wolf
Năm: 2004
18. www.gina.org (2009) “Global Strategy for the Diagnosis and Management of Asthma in Children 5 Years and Younger” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Strategy for the Diagnosis and Management of Asthma in Children 5 Years and Younger

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w