Việc loại trừ ổ viêm nhiễm ở mũi họng, vệ sinh mũi họng sạch là một biện pháp điều trị và phòng bệnh rất hữu hiệu giúp hỗ trợ trong điều trị bệnh VPQP.. Rửa mũi là phương pháp vệ sinh cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Khoa Khoa học sức khỏe
TRUNG ƯƠNG
ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ VLVH
N
Hà Nội, năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Khoa Khoa học sức khỏe
Trang 3- GS.TS Phạm Thị Minh Đức, trưởng bộ môn điều dưỡng trường Đại học Thăng Long, người thầy đã bỏ nhiều công sức đào tạo, hướng dẫn, tận tình dạy bảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu khoa học
- BSCKII Bùi Công Thắng, trưởng khoa ĐTTN-B Bệnh viện Nhi Trung Ương
đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
- Tiến sỹ ĐD Dương Thị Hoà, phó trưởng Phòng Đào Tạo Điều dưỡng Nhi - Bệnh viện Nhi Trung Ương, Điều dưỡng trưởng khoa ĐTTN - B, người thầy đã giúp
đỡ, trực tiếp hướng dẫn động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý thầy, cô bộ môn điều dưỡng trường
ĐH Thăng Long, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập trong suốt thời gian qua
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể bác sỹ, điều dưỡng khoa
ĐTTN-B đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
- Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các anh, chị, em lớp KCT4, những người luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Hà nội, ngày 22 tháng 11 năm 2013
Đặng Thị Mai Chinh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - Bộ môn Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận tốt nghiệp một cách khoa học, chính xác và trung thực
Các kết quả, số liệu trong khóa luận này đều có thật, thu được từ quá trình nghiên cứu của chúng tôi, chưa được đăng tải trong tài liệu khoa học nào
Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2013
Tác giả khóa luận
Đặng Thị Mai Chinh
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CMV : Cytomegalovirus CTM : Công thức máu NaCl 0.9% : Nước muối sinh lý 0.9% l/ph : Lần/phút
nh/ph : Nhịp/ phút RSV : Virus hợp bào hô hấp RLLN : Rút lõm lồng ngực SRM : Súc Rửa mũi VPQP : Viêm phế quản phổi
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Giải phẫu sinh lý mũi 3
1.1 Giải phẫu của mũi 3
1.1.1 Tháp mũi 3
1.1.2 Hốc mũi 3
1.2 Chức năng của mũi 4
1.2.1 Chức năng hô hấp 4
1.2.1.1 Làm ẩm không khí 4
1.2.1.2 Làm ấm không khí 4
1.2.1.3 Kiểm soát dòng khí 4
1.2.2 Chức năng ngửi 5
1.2.3 Chức năng bảo vệ 5
1.2.3.1 Cơ chế lọc 5
1.2.3.2 Cơ chế hắt hơi: 5
1.2.3.3 Lớp nhầy 5
1.2.3.4 Hoạt động của lớp lông chuyển 6
1.3 Đặc điểm giải phẫu sinh lý mũi ở trẻ em 6
2 Đại cương về bệnh Viêm phế quản phổi 7
2.1 Khái niệm: 7
2.2 Nguyên nhân chính 7
2.2 Yếu tố nguy cơ: 7
2.3 Triệu chứng lâm sàng 7
2.3.1 Khởi phát 7
2.3.2 Toàn phát 8
2.3.3 Xét nghiệm cận lâm sàng 8
Trang 73.1.2 Phương pháp 10
3.1.3 Lợi ích và công dụng 11
3.2 Đối với trẻ nhỏ 12
4 Tác dụng của nước muối sinh lý 0.9% 14
CHƯƠNG II 15
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
1 Đối tượng nghiên cứu 15
1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn: 15
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: 15
2 Phương pháp 15
2.1 Thiết kế nghiên cứu: 15
2.2 Cỡ mẫu : 15
2.3 Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 16
3 Kĩ thuật thu thập số liệu: 17
4 Địa điểm: 17
5 Thời gian: 17
6 Phân tích và xử lý số liệu: 17
7 Hạn chế của đề tài: 18
8 Đạo đức trong nghiên cứu 18
CHƯƠNG 3 19
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 19
1.1 Tuổi, giới, cân nặng 19
1.2 Nguyên nhân gây bệnh VPQP ở 2 nhóm: 19
1.3 Chỉ số Bạch cầu và XQ của hai nhóm lúc nhập viện 20
1.4 Màu sắc dịch mũi ở hai nhóm 20
1.5 Phương pháp điều trị chính ở cả hai nhóm 21
2 So sánh các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của 2 nhóm 21
2.1 Một số đặc điểm lâm sàng khi thăm khám và cận lâm sàng của hai nhóm 21
2.2 Thời gian trung bình trẻ hết sốt, hết xuất tiết mũi 22
2.3 Tần số thở của trẻ trước và sau khi tiến hành rửa mũi 22
Trang 82.4 Tần số tim trung bình của trẻ trước và sau khi tiến hành rửa mũi 23
2.5 Tần số SpO2 trung bình của nhóm rửa mũi trước và sau khi tiến hành thủ thuật24 2.6 Màu sắc da và tình trạng RLLN của trẻ trước và sau khi tiến hành rửa mũi 24
2.7 Mức độ ho, khò khè, ăn, ngủ của trẻ sau khi được rửa mũi 25
3 So sánh sự thay đổi lượng dịch NaCl 0.9% trung bình trong khi thực hiện thủ thuật 25
4 Thời gian nằm viện 26
5 Mức độ hài lòng của gia đình người bệnh 26
CHƯƠNG 4 27
BÀN LUẬN 27
1 Một số đặc điểm của hai nhóm trước khi làm thủ thuật 27
2 2 Đánh giá về tính an toàn và hiệu quả của phương pháp rủa mũi giúp giảm các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng hỗ trợ điều trị bệnh nhân VPQP 28
2.1 Các chỉ số về hô hấp, dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng cũng như sự thoải mái của bệnh nhi trước và sau khi tiến hành biện pháp rửa mũi: 29
2.2 Thời gian điều trị 29
KẾT LUẬN 31
KHUYẾN NGHỊ 32
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ nguyên nhân gây bệnh ở nhóm nghiên cứu và nhóm chứng Biểu đồ 2: Tỷ lệ màu sắc dịch mũi ở hai nhóm có rửa mũi bằng NaCl 0.9% và nhóm không rửa mũi Biểu đồ 3: Tần số thở trung bình của nhóm rửa mũi trước và sau khi thự hiện kĩ thuật Biểu đồ 4: Tần số thở trung bình của nhóm NC và nhóm chứng trước và sau khi thực hiện kỹ thuật trong quá trình điều trị và chăm sóc……… 24 Biểu đồ 5: Nhịp tim của nhóm rửa mũi trước và sau khi thực hiện kĩ thuật Biểu đồ 6: Thay đổi lượng dịch NaCl 0,9% vào - ra trung bình khi rửa mũi trong quá trình điều trị Biểu đồ 7: Thời gian trung bình khỏi bệnh Biểu đồ 8: Mức độ hài lòng của bà mẹ về việc rửa mũi cho trẻ
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 2: Chỉ số bạch cầu và XQ của hai nhóm trước lúc nhập viện
Bảng 3: So sánh phương pháp điều trị ở 2 nhóm rửa mũi và không rửa mũi
Bảng 4: Đặc điểm lâm sàng khi thăm khám phổi của hai nhóm
Bảng 5: Thời gian sốt và xuất tiết
Bảng 6: Tần số SpO2 của nhóm rửa mũi trước và sau khi đánh giá
Bảng 7: Màu sắc da và tình trạng RLLN của 2 nhóm trước và sau khi tiến hành kĩ thuật chăm sóc Bảng 8: Mức độ khò khè, ho, ăn, ngủ của trẻ sau khi được rửa mũi
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phế quản – phổi (VPQP) là bệnh thường gặp ở trẻ em và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới một tuổi, trẻ sơ sinh, suy dinh dưỡng Bệnh thường gặp ở các nước đang phát triển Tại hội nghị Washinhton (1991) các số liệu được thông báo cho biết số lần mắc viêm phổi mỗi năm trong 100 trẻ ở Gadchirori (Ấn Độ ) là 13,0; ở Basse ( Gambia ) là 17,0; ở Maragua ( Kenia ) 18,0; ở Bangkok (Thái Lan) là 7,0; trong khi đó ở Chapel Hill ( Hoa Kì ) là 3,6 và ở Seattle ( cũng ở Hoa Kì ) là 3,0 [1]
Ở Việt Nam, Theo thống kê của chương trình phòng chống viêm phổi thì trung bình mỗi năm 1 trẻ có thể mắc NKHH từ 3 đến 5 lần, trong đó 1 đến 2 lần viêm phổi Các thống kê nghiên cứu ở cả tuyến bệnh viện và cộng đồng đều cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (KHHCT) ở trẻ em trong những năm gần đây không có
xu hướng thuyên giảm Tỷ lệ này là 37,5% số trẻ tại bệnh viện và 39,75% khi nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng [4], [5], [8] Thống kê của Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy trẻ dưới 6 tháng tuổi tỉ lệ mắc bệnh VPQP là 60% - 70% và trên 6 tháng tuổi lỉ lệ mắc bệnh là 30% Viêm phế quản phổi: Theo các thống kê các bệnh viện trẻ em của nước ta, đây là thể lâm sàng phổ biến nhất của viêm phổi, hay gặp nhất ở trẻ dưới 3 tuổi (trên 80%), trong đó dưới 12 tháng đã là 65% [9]
Giai đoạn khởi phát của bệnh bắt đầu bằng các triệu chứng viêm long đường hô hấp trên Trẻ sốt, ho, chảy nước mũi, hắt hơi, đau họng…các triệu chứng này thường gây cho trẻ mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, bỏ bú, ngủ không ngon giấc vì vậy dễ làm cho bệnh tiến triển nặng hơn [1], [2]
Việc loại trừ ổ viêm nhiễm ở mũi họng, vệ sinh
mũi họng sạch là một biện pháp điều trị và phòng
bệnh rất hữu hiệu giúp hỗ trợ trong điều trị bệnh
VPQP
Rửa mũi là phương pháp vệ sinh cá nhân giúp
cho hốc mũi sạch mủ, đờm, và những vật dơ bẩn
dính vào đặc biệt đối với đối tượng là các em nhỏ
dưới 2 tuổi chưa biết cách xì mũi để tự làm sạch mũi [9], [15]
Trang 12Phương pháp rửa mũi đã có từ Ấn Độ hàng nhiều thế kỷ, nhất là những người tập Yoga quan tâm đến vệ sinh bản thân [14] Thử nghiệm từ các cơ quan y tế cho thấy cách rửa mũi vừa rất an toàn vừa có lợi ích cho sức khỏe và không có phản ứng phụ Lợi ích thiết thực nhất từ cách rửa mũi này là giữ cho các lớp màng mũi bên trong hốc mũi không bị khô Tuy nhiên phương pháp này mới thấy chỉ áp dụng nhiều trên người lớn Còn đối với các em nhỏ dưới 2 tuổi chưa có nhiều bằng chứng rõ ràng về hiệu quả rửa mũi bằng nước muối sinh lý 0.9% (NaCl 0.9%) giúp hỗ trợ điều trị bệnh VPQP Đồng thời, tại Việt nam cũng chưa có nghiên cứu nào trên đối tượng trẻ em về hiệu quả rửa mũi Vì vậy, để tìm hiểu tác dụng của việc rửa mũi bằng NaCl 0.9% cho trẻ dưới 24 tháng tuổi bị VPQP, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ Đánh giá hiệu quả rửa mũi bằng NaCl 0.9% giúp hỗ trợ điều trị bệnh VPQP tại khoa Điều Trị Tự Nguyện B - Bệnh viện Nhi Trung Ương”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của phương pháp rửa mũi bằng NaCl O.9% cho trẻ bị viêm phế quản phổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương
2 Mô tả các yếu tố liên quan đến kỹ thuật rửa mũi
Trang 13CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Giải phẫu sinh lý mũi
1.1 Giải phẫu của mũi [7]
Mũi gồm có tháp mũi và hốc mũi
1.1.1 Tháp mũi
Tháp mũi có khung là xương chính mũi, Hai xương chính mũi hình chữ nhật nằm
ở hai bên rễ mũi và hình thành vòm hốc mũi Sụn tam giác tiếp nối xương chính mũi
và sụn cánh mũi cuốn quanh của mũi Tháp mũi được bao phủ bên ngoài bởi láp da và
cơ cánh mũi
1.1.2 Hốc mũi
Hốc mũi là hai ống dẹt nằm song song với nhau ở giữa mặt, hai ống cách nhau bởi vách ngăn Lỗ trước hình tam giác gọi là cửa mũi trước, lỗ sau có hình trái xoan gọi là cửa mũi sau Trong hốc mũi có các cuốn mũi: Cuốn trên, cuốn giữa và cuốn dưới Các cuốn tạo với nhau tạo thành hố mũi các khe: Khe trên có lỗ thông với xoang sau, khe giữa có lỗ thông với nhóm xoang trước, khe dưới có ống lệ ty Toàn bộ hốc mũi được lót bởi một lớp niêm mạc hô hấp trên liên tiếp với niêm mạch xoang Phần trước của hốc mũi sát cạnh của mũi trước gọi là tiền đình mũi, ở đây không có niêm mạc mà chỉ
có da và lông mũi
Trang 141.2 Chức năng của mũi [11], [13]
1.2.1 Chức năng hô hấp
Mũi đóng vai trò vô cùng quan trọng với việc hô hấp thông thường Nó đóng vai trò trong việc làm ấm và làm ẩm không khí đồng thời cũng đóng vai trò như một điện trở trong việc hô hấp Nhịp thở trung bình của một người là 12 đến 24 lần/phút Trong
đó mỗi dòng khí có khoảng 15 đến 30 lít trong một phút Sự chuyển động hỗn độn của dòng khí trong mũi làm cho khí tiếp xúc được rất nhiều với niêm mạc mũi và làm cho việc làm ấm và làm ẩm không khí trở lên dễ dàng hơn Việc hít thở bằng miệng là không sinh lý và chỉ được dùng trong thời gian ngắn khi những đòi hỏi về hô hấp tăng lên Không khí đi qua miệng sẽ không được làm ấm và làm ẩm
1.2.1.1 Làm ẩm không khí
Mũi và xoang có khả năng duy trì độ ẩm của không khí khi thở vào là 5% bất kể
độ ẩm của môi trường là bao nhiêu đi nữa Điều này rất quan trọng trong việc chống lại khô đường hô hấp dưới trong quá trình thở Tuy nhiên, ở những vùng khí hậu hanh khô, mũi không thể thực hiện chức năng quan trọng này với các niêm dịch dày dính ở sau mũi Việc làm ẩm này chủ yếu do sự thẩm thấu từng ít một từ niêm dịch được tạo
ra bởi tế lào Goblet
1.2.1.2 Làm ấm không khí
Hệ thống mạch máu phong phú ở mũi làm cho việc sưởi ấm luồng khí qua mũi dễ dàng đồng thời cũng giúp cho việc trao đổi khí ở các phế nang trong quá trình hô hấp Khí khi qua mũi sẽ được sưởi ấm ở nhiệt độ từ 25 – 27 độ
1.2.1.3 Kiểm soát dòng khí
Mũi hoạt động như một điện trở và cản trở đến 40% lượng khí Khu vực qua trọng nhất được gọi là các van mũi, còn khu vực khác cản trở dòng khí ở phía sau của mũi được tạo bởi các vách ngăn và các cuốn mũi Các khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc cản trở một nửa lượng khí vào mũi Sự hẹp lại của khu vực này làm cho dòng khí trở lên hỗn độn, hòa trộn nhiều đo đó làm cho khí được lọc, được làm ấm, làm ẩm tốt hơn
Trang 151.2.3.1 Cơ chế lọc
Các lông mũi nằm ở lỗ mũi ngoài sẽ là những màng lọc đầu tiên để lọc không khí khi hít vào Ngoài ra, lỗ mũi ngoài được bảo vệ bởi lớp biểu mô lát tầng sừng hóa có các tuyến mồ hôi và tuyến bã nằm rải rác có tác dụng đào thải dị nguyên ra khỏi mũi
Niêm dịch được tạo ra bởi các tuyến tiết dịch nằm rải rác ở mũi và xoang Thành phần của niêm dịch bảo gồm 96% là nước và 3-4% là glycoprotein Mỗi ngày có khoảng 600 – 1800 cc niêm dịch được tiết ra Niêm dịch chứa các chất miễn dịch đã được hoạt hóa Đa số chất này được các tế bào Goblet tiết ra Ngoài ra nó còn chứa tương bào, bạch cầu hạt và một số thành phần khác nữa, điều hòa sự bài tiết dịch nhầy
ở các tế bào tuyến là do các sợi thần kinh phó giao cảm đến từ nhân bọt trên thông qua thần kinh đá lớn và hạch bướm khẩu cái Ngoài ra sự bải tiết niêm dịch còn được điều hòa bởi các sợi giao cảm
Trang 16Các thành phần của niêm dịch mũi xoang: Glycoprotein, S-IgA, Lysozyme, Lactoferrin, IgG, Mảnh chế tiết, IgA, IgM, IgE, Histamine, Prostaglandin, D2, LeucotrieneC4
1.2.3.4 Hoạt động của lớp lông chuyển
Tốc độ và hướng của dòng niêm dịch thay đổi tùy từng xoang và dựa vào lớp lông chuyển ở mỗi xoang Cứ 10 đến 20 phút lớp màng nhầy ở mũi lại được làm sạch còn ở xoang là từ 10 đến 15 phút
Lông chuyển là sự biến đổi của bào tương đẩy lùi bề mặt của các tế bào biểu mô Mỗi lông chuyển dài 0.7 micromet, dầy 0.3 micromet và có cấu chúc hình ống Số lông chuyển trên mỗi bề mặt dao động từ 50 đến 3000 dựa vào vị trí của chúng trong mũi Các sợi lông chuyển hoạt động tốt nhất trong môi trường ẩm ướt Tuy nhiên, khi
độ ẩm giảm còn 50% hoặc khi nhiệt độ giảm còn dưới 18 độ C thì hoạt động của các tế bào lông chuyển bị suy yếu Chức năng của tế bào lông chuyển bị suy giảm khi các bề mặt niêm dịch đối lập dính vào nhau
Chức năng của lông chuyển và niêm dịch đã được biết khá rõ Nó đóng vai trò trong việc bảo vệ niêm mạc khỏi những chấn thương và không bị khô đồng thời chống lại sự sâm nhập của vi khuẩn Tuy nhiên, khi chúng bị phá hủy virus và vi khuẩn sẽ sâm nhập qua lớp màng nhầy và làm tổn thương các tế bào ở bên dưới
1.3 Đặc điểm giải phẫu sinh lý mũi ở trẻ em
Ở trẻ nhỏ, sự hô hấp bằng đường mũi còn hạn chế vì mũi và khoang hầu tương đối ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi còn hẹp
Niêm mạc mũi mỏng, mịn, lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô rung hình trụ gàu mạch máu và bạch huyết, chức năng hàng rào của niêm mạc mũi ở trẻ nhỏ còn yếu
do khả năng sát trùng với niêm dịch còn kém, trẻ dễ bị viêm nhiễm mũi họng
Không khí vào phổi chủ yếu qua đường mũi Khí thở bằng mũi thì các cơ hô hấp hoạt động mạnh, lồng ngực và phổi nở rộng hơn khi thở bằng mồm
Không khí qua mũi được sưởi ấm nhờ các mạch máu và tuyến tiết nhầy Không khí cũng được lọc sạch khi qua mũi vào phổi
Trang 172 Đại cương về bệnh Viêm phế quản phổi
2.1 Khái niệm: [9]
- Viêm phế quản cấp tính là hiện tượng viêm nhiễm kích thích cấp tính ở niêm mach phế quản làm rối loạn xuất tiết, tính thấm và phản ứng tại chỗ của phế quản Bệnh hay gặp ở trẻ dưới 2 tuổi (đặc biệt 3-6 tháng)
- Danh từ viêm phế quản phổi dùng để chỉ bệnh viêm các phế quản nhỏ và túi phổi (phế nang) và tổ chức xung quang phế nang Tổn thương viêm rải rác hai phổi làm rối loạn trao đổi khí dễ gây suy hô hấp, bệnh tiến triển nặng và dễ gây tử vong
2.2 Nguyên nhân chính [1], [2], [9]
Virus: theo thông kê TCYTTG viêm phế quản phổi 60 – 70% là do virus (VD virus hợp bào hô hấp (RSV), virus cúm, á cúm, Adenovirus, Cytomegalovirus (CMV)…)
Mycoplasma
Vi khuẩn (phế cầu, tụ cầu, liên cầu…)
Kí sinh trùng (Pneumocystic carinii)
Nấm (Candida albicans, HIstopplasmosis…)
2.2 Yếu tố nguy cơ: [2]
Trẻ đẻ non dưới 36 tuần, cân nặng khi sinh thấp dưới 2500g
Trẻ sốt nhẹ, nhiệt độ có thể tăng lên từ từ hoạc sốt cao ngay từ đầu
Tình trạng mệt mỏi, khó chịu, kém ăn
Có dấu hiệu viêm long đường hô hấp trên: Ngạt mũi, chảy mước mũi, ho, đau họng…
Rối loạn tiêu hóa: nôn trớ, tiêu chảy
Thăm khám trong giai đoạn này chưa có biểu hiện rõ rệt và dấu hiệu thực thể
Trang 182.3.2 Toàn phát
Trẻ có biểu hiện nhiễm khuẩn rõ rệt Sốt cao dao động 38 – 39 độ C (ở trẻ sơ sinh
đẻ non, suy dinh dưỡng có thể không sốt, ngược lại có trường hợp hạ nhiệt độ )
Trẻ mệt mỏi, quấy khóc, môi khô, lưỡi bẩn
Triệu chứng hô hấp: Ho khan hoặc ho xuất tiết nhiều đờm rãi, thở khò khè (trẻ
nhỏ), nhịp thở nhanh
Nặng có khó thở, cánh mũi phập phồng, dầu gật gù theo nhịp thở, rút lõm lồng ngực, nặng hơn trẻ tím tái, rối loạn nhịp thở, có cơn ngừng thở…
Triệu chứng thực thể: Gõ thường khó phát hiện, trường hợp có ứ khí phế nang gõ
trong hơn bình thường, có thể gõ đục từng vùng xen kẽ (khó phát hiện)
Nghe phổi có thể có rale ẩm to nhỏ hạt, rale rít, ran ngáy
Ngoài các triệu chứng hô hấp có thể có biểu hiện ở các bộ phận khác như rối loạn tiêu hóa, tim đập nhanh trường hợp suy hô hấp nặng có thể có biểu hiện suy tim, trụy mạch
2.3.3 Xét nghiệm cận lâm sàng
X quang: hình ảnh VPQP
Xét nghiệm máu: số lượng bạch cầu tăng, xét nghiệm khí máu (nặng)…
Xét nghiệm tìm virus, vi khuẩn
Trang 192.3.4 Điều trị [9]
Để điều trị có hiệu quả VPQP ở trẻ em cần phải phát hiện sớm và điều trị kịp thời ngày từ y tế cơ sở theo phác đồ chẩn đoán và xử trí cuả tổ chức Y tế thế giới và phải tuân thủ các nguyên tắc:
- Chống nhiễm khuẩn (kháng sinh amoxicillin, cephalosporin……)
- Chống suy hô hấp (đặt trẻ nơi khô dáo thoáng mát, nối rộng quần áo, hút đờm rãi, thỏ oxy đặt ống nếu trẻ nặng…)
- Điều trị chống các rối loạn khác
- Điều trị các biến chứng khác nếu có
- Điều trị hỗ trợ cho trẻ (đảm bảo cho trẻ được bú sữa mẹ, đảm bảo uống đủ nước hằng ngày, hạ sốt, vệ sinh mũi họng, giữa ấm cho trẻ….)
3 Phương pháp rửa mũi
3.1 Thủ thuật Proetz (súc rửa xoang – “ xông kê ”)
3.1.1 Nguồn gốc
Súc rửa mũi (SRM) bắt nguồn từ một kỹ thuật cổ Ayurvedic gọi là jala neti, nghĩa từng chữ là rửa mũi bằng nước theo tiếng Sanskrit, trong đó người ta dùng một bình neti (neti pot) để súc rửa Do y học hiện đại từ lâu đã dùng phương pháp súc rửa mũi
để làm thông xoang và đề phòng bệnh mũi xoang, các thầy thuốc cũng chấp thuận jala neti đơn thuần như một kiểu súc rửa mũi, sử dụng bình neti hay một ống tiêm để chứa dung dịch súc rửa
Jala neti, dẫu rằng ít được biết đến ở các nền văn hoá Phương Tây, lại là một phương pháp rất quen thuộc ở Ấn Độ và nhiều nơi khác ở Nam Á, tựa như đánh răng bằng bàn chải mỗi ngày Nó được sử dụng mỗi sáng sớm cùng với các biện pháp vệ sinh cá nhân khác Jala neti cũng có thể được thực hiện vào cuối ngày khi làm việc hoặc sinh sống ở một môi trường bụi bặm và ô nhiễm - Khi sử dụng cho nghẹt mũi, có thể áp dụng jala neti đến 4 lần mỗi ngày Phương pháp súc rửa mũi kinh điển dùng
dung dịch muối đẳng trương (NaCl 0.9%)
Trang 20Bình neti bằng sứ Bình neti bằng gốm
3.1.2 Phương pháp
Nasal Irrigation (rửa mũi) là cách vệ sinh cá nhân hằng ngày theo phương pháp Yoga, dùng dòng chảy của nước muối để rửa sạch những bụi bẩn, chất nhầy và giúp thông mũi
Có thể dùng một ống tiêm chứa đầy dịch hoặc một bình neti (neti pot) để súc rửa mũi Thủ thuật này đã được kiểm chứng lâm sàng và được công nhận là an toàn, có ích
và không có tác dụng phụ nào đáng kể [15], [17]
Các bước rửa mũi
- Bước 1: Để rửa mũi, bạn cần chuẩn bị có một bình đựng và một lọ nước muối sinh
lý Bạn có thể dùng loại bình xịt dạng phun sương, hoặc bình neti pot (dạng bình trà nhưng dùng để nhỏ mũi) Nếu không có, bạn có thể dùng Xilanh để bơm nước muối sinh lý vào mũi
- Bước 2: Nghiêng người về phía bồn rửa hoặc chậu một góc 45 độ Nghiêng đầu để sau khi đổ nước muối chảy từ mũi này sang mũi kia sẽ rơi vào đúng chậu Lưu ý không ngả đầu ra phía sau
- Bước 3: Đặt vòi của bình neti pot hoặc ống tiêm hoặc bình xịt vào một bên cánh mũi như hình minh họa Bạn há miệng rồi từ từ
xịt, rót nước muối vào mũi, nhớ là trong
suốt quá trình, chỉ thở bằng miệng, không
Trang 21miệng nhưng đừng lo, bạn sẽ không đau nếu nước chỉ chảy vào họng (muốn vậy phải tuân thủ việc thở bằng miệng)
- Bước 5: Xì mũi nhè nhẹ để làm sạch các dịch còn sót trong mũi Nhắc lại bước 3 với mũi bên kia
Ở Phương Tây, các bác sĩ đã biết rõ những ích lợi của SRM trên một thế kỷ nay Alfred Laskiewicz trưởng khoa Tai Mũi Họng của BV Pozna (1932-1939) mô tả những đóng góp của SRM trong chăm sóc vệ sinh cơ thể nói chung Thủ thuật Proetz (“xông kê”) đã được các bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng dùng trong rất nhiều năm
để súc rửa xoang
Hệ thống súc rửa mũi của Bs Sage những năm 1900
Dụng cụ súc rửa mũi của Bermingham những năm 1920-1930
3.1.3 Lợi ích và công dụng
Súc rửa mũi (Jala neti) bằng dung dịch muối đẳng trương giúp mũi khoẻ mạnh SRM có thể được áp dụng cho những bệnh nhân viêm xoang mãn với các triệu chứng đau mặt, nhức đầu, thở hôi, ho, sổ mũi nước Một số nghiên cứu cho thấy SRM có “tác dụng điều trị triệu chứng gần như tương đương với các loại thuốc men” [20] và SRM được khuyên dùng như là “một điều trị bổ trợ hiệu quả cho các triệu chứng viêm mũi
Trang 22xoang mãn” [16], [18],[21] và điều trị chính trong trường hợp như vậy và tốt hơn là việc điều trị corticosteroid ngoại trừ trường hợp nghiêm trọng nhất của viêm xoang cấp do vi khuẩn [12]
SRM có thể giúp đề phòng cảm cúm, ngoài ra nó còn giúp giữ gìn vệ sinh mũi tốt bằng cách rửa sạch những ngóc ngách trong mũi, giảm nghẹt mũi, khô mũi và các triệu chứng của dị ứng Nước muối rửa mũi là một liệu pháp bổ sung cho điều trị đường hô hấp trên và được sử dụng bởi các bác sỹ gia đình đối với các bệnh nhân có vấn đề về đường hô hấp trên [19]
Đối với những bệnh nhân viêm mũi dị ứng, SRM là một phương pháp nhanh và ít tốn kém để thúc đẩy chức năng của các nhung mao mũi và làm tan dịch nhầy, giảm phù nề, cải thiện dẫn lưu qua lỗ thông tự nhiên của các xoang
Rửa mũi mỗi ngày là cách chữa trị hiệu quả và rất tốt, nhằm làm sạch dịch trong mũi, giúp trẻ thở thông qua đường mũi và đề phòng bệnh viêm tai giữa
Rửa sạch hốc mũi bằng nước muối giúp cho màng mũi không bị khô, thở được thông, và không còn dính hỉ mũi cứng Phương pháp này tuyệt đối an toàn cho người lớn và trẻ em, và không gây ra các phản ứng phụ nào cả [14], [15], [18] Bệnh nhân rửa mũi sau một thời gian ngắn sẽ bớt lệ thuộc dùng thuốc chống nghẹt mũi và giảm các triệu chứng viêm long đường hô hấp Hoa Kỳ và Canada đều ủng hộ phương pháp chữa trị và ngừa bệnh nghẹt mũi này nhất là sau khi giải phẫu hốc mũi cần rửa và giữ cho sạch
Tóm lại, súc rửa mũi có thể đem lại các lợi ích sau: [12],[14],[15]
Làm sạch các dịch niêm dính, đặc và giúp giảm nghẹt mũi
Súc rửa và làm sạch xoang mũi khỏi các dị ứng nguyên (allergens), các chất gây kích ứng, và các yếu tố nhiễm trùng
Điều trị viêm xoang mãn
Điều trị viêm mũi xoang cấp do nhiễm trùng
Điều trị viêm mũi dị ứng
Đề phòng cảm cúm
Trang 23 Giảm ho và các triệu chứng nhỏ giọt sau mũi (post-nasal drip)
Cải thiện tình trạng của các xoang mũi
Các phương pháp thở yoga có tên gọi là pranayama được tăng cường bởi thủ thuật jala neti do đa số đều dựa trên những động tác hít thở sâu qua mũi
Một số lợi ích khác mà người được SRM có thể nhận biết:
Cải thiện khứu giác
Cải thiện vị giác
Thở được sâu hơn, dễ chịu và thư giãn hơn
Rửa sạch hốc mũi hàng ngày với nước muối để trị những bệnh gây ra nghẹt mũi kinh niên dù cho dùng làm phương pháp chính hay phụ hay ngăn ngừa vẫn tốt hơn là phải dùng đến thuốc Trẻ em dưới hai tuổi khi không có thuốc ho hay thuốc cảm cúm,
có thể dùng phương pháp rửa mũi này để giảm sổ mũi hay nghẹt mũi
Là người Điều dưỡng nhi khoa trong quá trình chăm sóc trẻ, việc giúp trẻ dịu đi các triệu chứng của bệnh mà không cần dùng đến thuốc có tác dụng hỗ trợ cho quá trình điều trị và đem lại hiệu quả cao, rút ngắn thời gian điều trị, giảm chi phí trong quá trình điều trị chăm sóc
Trang 244 Tác dụng của nước muối sinh lý 0.9% [3]
Nước muối sinh lý (Natri Clorid) hay nước muối được pha chế với tỷ lệ 0.9%, tức
1 lít nước với 9 gam muối tinh khiết, là dung dịch đẳng trương có áp suất thẩm thấu xấp xỉ với dịch trong cơ thể người
Trong y học nước muối sinh lý được coi như một loại dung dịch có khả năng hấp thu tốt qua đường tiêu hóa và đặc biệt có thể hấp thu rất nhanh bằng đường truyền tĩnh mạch nên thường được dùng để cung cấp và bổ sung nước cũng như chất điện giải Dung dịch muối được phân bố rộng rãi trong cơ thể và được thải trừ chủ yếu qua đường nước tiểu và một phần qua mồ hôi, nước mắt, nước bọt
Ngoài ra nước muối sinh lý còn dùng để rửa mắt, mũi, súc miệng, thích hợp cho mọi lứa tuổi kể cả trẻ em
Nước muối sinh lý dùng để rửa được pha chế dạng 100ml, 500ml, nhưng cũng có người sử dụng nước muối sinh lý truyền tĩnh mạch để rửa Những lọ nhỏ 10ml thường dùng để nhỏ mắt, mũi
Nước muối sinh lý rửa chai 500ml Nước muối sinh lý nhỏ lọ 10ml
Trang 25CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Chọn mẫu: Mỗi phòng chọn ngẫu nhiên các giường bệnh có số chẵn trẻ VPQP có
xuất tiết mũi tại khoa Điều trị tự nguyện B - Bệnh viện nhi Trung Ương
- Cỡ mẫu: 96 bệnh nhi được chia làm 2 nhóm:
Nhóm 1: 48 trẻ VPQP có xuất tiết mũi được can thiệp rửa mũi bằng Nacl 0.9%
Nhóm 2: 48 trẻ VPQP có xuất tiết mũi không được can thiệp rửa mũi bằng NaCl
0.9%, nhỏ mũi đơn thuần bằng NaCl 0.9%
1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
Cả hai nhóm trẻ đều:
- Có độ tuổi dưới 24 tháng tuổi
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không thực hiện trên bệnh nhân thở máy, thở oxy hoặc có kèm theo các bệnh lý khác (viêm phế quản phổi kèm theo tiêu chảy cấp, bệnh máu, bệnh gan thận)…
2 Phương pháp
2.1 Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có đối chứng
2.2 Công thức tính cỡ mẫu : tính theo công thức
n =
2(Z1- α/2 – Z1-β)2 σ2
(μ1 – μ2)2
- α = 0.05, β = 0.2 ( power = 80% )
- μ1, μ2 là thời gian nằm viện trung bình của hai nhóm
- (μ1 – μ2)2 là khác biệt tối thiểu về thời gian nằm viện được coi là có ý nghĩa lâm sàng, được chọn là một ngày
- σ là độ lệch chuẩn của thời gian nằm viện của nhóm chứng, theo nghiên cứu của Rabago và cộng sự (2003) là 1.7
- Cỡ mẫu ước tính cho mỗi nhóm là 48 bệnh nhân