Khi bướu quá to độ III, độ IV sẽ lồi ra và gây biến dạng vùng cổ, gây nhiều ảnh hưởng đến tâm lí và thẩm mỹ của người bệnh, đặc biệt có thể gây ra một số biến chứng như chèn ép đường thở
Trang 1Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Th.S - BS Hoàng Văn Phong, thầy giáo trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp ở phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Khoa ngoại châm tê và Thư viện Bệnh viện châm cứu Trung ương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè gần xa và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập
và hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Nga
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 0
MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Một số đặc điểm giải phẫu tuyến giáp 7
1.2 Đặc điểm sinh lý tuyến giáp 8
1.3 Tác dụng của nội tiết tố tuyến giáp 9
1.4 Dấu hiệu lâm sàng bệnh Bướu giáp đơn thuần 9
1.5 Biến chứng sau phẫu thuật 10
1.5.1 Các biến chứng sớm 10
1.5.1.1 Chảy máu thứ phát sau mổ 10
1.5.1.2 Suy hô hấp sau mổ 10
1.5.1.3 Tổn thương dây thần kinh quặt ngược 11
1.5.1.4 Cơn hạ canxi huyết (Tetani) do tổn thương tuyến cận giáp 11
1.5.1.5 Ứ đọng dịch vết mổ, nhiễm trùng vết mổ 11
1.5.2 Các biến chứng muộn 11
1.5.2.1 Nhược giáp sau phẫu thuật 11
1.5.2.2 Di chứng của quá trình liền sẹo xấu 11
1.5.2.3 Bướu giáp tái phát sau mổ 11
1.5.2.4 Chăm sóc cho người bệnh sau mổ tuyến giáp đơn thuần 12
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Địa điểm nghiên cứu 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2.1 Nguồn bệnh nhân 15
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 15
2.3.2 Cỡ mẫu 15
2.3.3 Chọn mẫu 15
2.3.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 15
2.3.4.1 Chọn hồ sơ người bệnh từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2009 15
2.3.4.2 Thống kê, loại trừ theo tiêu chuẩn loại trừ 16
2.3.4.3 Thu thập thông tin 16
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 18
3.1.1 Tổng số đối tượng được nghiên cứu 18
3.1.2 Tuổi 18
3.1.3 Giới 19
Trang 33.1.4 Nơi sống 20
3.1.5 Thời gian mắc bệnh 21
3.2 Đặc điểm lâm sàng trước mổ 21
3.3 Đánh giá kết quả chăm sóc sau phẫu thuật 23
CHƯƠNG 4 - BÀN LUẬN 27
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 27
4.1.1 Tuổi, giới tính 27
4.1.2 Nơi ở 28
4.1.3 Thời gian mắc bệnh 28
4.1.4 Đặc điểm lâm sàng trước mổ 28
4.2 Chuẩn bị trước phẫu thuật 29
4.3 Kết quả chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật 29
4.3.1 Theo dõi bệnh nhân sau phẫu thuật 30
4.3.2 Chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật 30
4.3.3 Tư vấn người bệnh trước khi ra viện 32
KẾT LUẬN 33
KIẾN NGHỊ 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 0
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
BVCCTW Bệnh viện châm cứu Trung ương FT3 Free - Tri iodthyronin
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Các biến số, chỉ số nghiên cứu 16
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 18
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới 19
Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi sống 20
Bảng 3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thời gian mắc bệnh 21
Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo độ lớn của bướu 21
Bảng 3.6: Bảng phân bố đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm lâm sàng 22
Bảng 3.7: Biến chứng sớm xảy ra trong thời gian hậu phẫu 23
Bảng 3.8: Phân bố thời gian điều trị tại phòng hậu phẫu 23
Bảng 3.9: Kết quả chăm sóc vết mổ sau phẫu thuật và thời gian nằm viện 24
Bảng 3.10: Đánh giá tình trạng vết mổ trước khi ra viện 25
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Trang Hình 1.1: Giải phẫu Tuyến giáp nhìn từ phía trước 7
Hình 1.2: Giải phẫu Tuyến giáp nhìn từ phía sau 7
Hình 1.3: Bệnh nhân Nguyễn Thị Nh - 59 tuổi số bệnh án: 2978 chẩn đoán: Bướu hỗn hợp giáp trạng thuỳ trái độ IV 10
Hình 3.1: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 18
Hình 3.2: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới 19
Hình 3.3: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi sống 20
Hình 3.4: Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo độ lớn của bướu 22
Hình 3.5: Biểu đồ phân bố thời gian điều trị tại phòng hậu phẫu 23
Hình 3.6: Biểu đồ phân bố kết quả chăm sóc sau phẫu thuật 24
Hình 3.7: Biểu đồ phân bố kết quả tình trạng vết mổ trước khi ra viện 25 Hình 3.8: Bướu độ IV sau khi cắt - Bệnh nhân Nguyễn Thị V 44 tuổi - Bệnh án số 2868 26
Hình 3.9: Tình trạng vết mổ trước khi ra viện - Bệnh nhân Nguyễn Thị V 44 tuổi - Bệnh án số 2868 chẩn đoán bướu hỗ hợp 2 thuỳ độ IV 26
Hình 4.1: Theo dõi dịch dẫn lưu sau phẫu thuật 31
Hình 4.2: Chăm sóc vết mổ tốt không bị nhiễm trùng 31
Hình 4.3: Điều dưỡng viên tư vấn cho bệnh nhân trước khi ra viện 32
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Bướu giáp đơn thuần (BGĐT) thường được gọi là bướu cổ, là một loại bệnh
lý phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới năm 1994, thì có khoảng 665 triệu người mắc bệnh bướu cổ - chiếm 12% dân
số thế giới, và được phân bố rải rác ở tất cả các châu lục; trong đó vùng Địa Trung Hải có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất (22,9% dân số), còn ở vùng Đông Nam Á - với dân
số 1050 triệu người thì có tới 100 triệu người mắc bệnh bướu cổ [5];[15] ở Việt Nam theo Trần Đức Thọ [2] tần suất bệnh BGĐT vào khoảng 10% dân số, cá biệt
có vùng tăng lên con số 50% ở những vùng thiếu iod (miền núi) Xét về góc độ giới tính, BGĐT là bệnh gặp chủ yếu ở nữ giới, với tỉ lệ nữ : nam là 10:1 [7]
Hiện nay ở Việt Nam bệnh BGĐT đang phát triển mạnh do nguyên nhân chính là thiếu iod, các thông tin tuyên truyền về bệnh còn hạn chế nên nhiều bệnh nhân còn chưa hiểu biết được diễn biến của bệnh để phát hiện, khám và điều trị kịp thời Bệnh BGĐT thường tiến triển chậm và thầm lặng, nên phần nhiều được phát hiện ở giai đoạn bướu đã phát triển to Khi bướu quá to (độ III, độ IV) sẽ lồi ra và gây biến dạng vùng cổ, gây nhiều ảnh hưởng đến tâm lí và thẩm mỹ của người bệnh, đặc biệt có thể gây ra một số biến chứng như chèn ép đường thở, đường ăn, cường giáp trạng hoặc ung thư hóa, làm suy giảm chất lượng sống của người bệnh Cho tới nay còn nhiều phương pháp điều trị BGĐT bằng nội khoa cũng như ngoại khoa, trong đó điều trị ngoại khoa thường mang lại kết quả lâu dài và bền vững hơn Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật BGĐT cần phải chăm sóc người bệnh chu đáo để phát hiện kịp thời những biến chứng có thể xảy ra sau mổ Trong 6 giờ đầu thường xảy ra tai biến rất nặng nề như chảy máu, nếu không phát hiện sớm và kip thời khối máu tụ sẽ chèn ép vào khí quản gây khó thở cấp dẫn đến suy hô hấp và người bệnh
tử vong rất nhanh, và còn nhiều biến chứng khác nữa ví dụ như: tổn thương dây thần kinh quặt ngược (TKQN) khoảng 0,7 - 1,8%, contetani, nhiễm trùng vết mổ, suy giáp, tràn khí, suy hô hấp do phù nề thanh quản khoảng 0,5% Do vậy việc chăm sóc và theo dõi người bệnh (NB) sau phẫu thuật BGĐT là hết sức quan trọng
và cần thiết Nếu như NB được chăm sóc tốt sẽ giảm thời gian nằm viện, giảm tai biến, biến chứng và đặc biệt quan trọng hơn nữa là NB đỡ tốn kém chi phí về kinh
Trang 7tế, mặt khác đem lại cho NB vẻ đẹp mỹ quan bên ngoài và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Chính vì vậy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc NB sau phẫu thuật BGĐT, tại Bệnh viện châm cứu Trung ương (BVCCTW) chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này Nên chúng tôi đề cập tới bệnh tuyến giáp
và tiến hành thực hiện đề tài: Đặc điểm lâm sàng và kết quả chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật BGĐT năm 2009 tại khoa Ngoại châm tê BVCCTW nhằm 02 mục
tiêu:
1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh
2 Kết quả chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật BGĐT
Trang 8CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm giải phẫu tuyến giáp
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể, nằm ở vùng cổ trước khí quản và hai thành bên của thanh quản Tuyến giáp có 2 thùy: thùy trái và thùy phải, nối với nhau bằng eo giáp trạng [1] thùy phải thường lớn hơn thuỳ trái Cực trên của
2 thùy nằm áp lên bề mặt sụn giáp, cực dưới xuống tới vòng sụn 5 - 6 của khí quản (xem hình 1.1 và 1.2 )
Hình 1.1: Giải phẫu Tuyến giáp nhìn
Tuyến giáp gồm những đơn vị cấu tạo là nang giáp Các tế bào của nang giáp bài tiết 2 hormon là Tri - iodothyronin (T3) và Tetra - iodothyronin (T4) Những hormon này có nhiều chức năng quan trọng đặc biệt là chức năng chuyển hóa Bên
Trang 9cạnh nang giáp còn có các tế bào cạnh nang, các tế bào này sản xuất ra calcitonin là hormon tham gia chuyển hóa canxi
Tuyến giáp nằm ở vùng cổ và được nuôi dưỡng bởi rất nhiều mạch máu, mỗi phút tuyến giáp được cung cấp khoảng 80 đến 120 ml máu [1]
Nằm giáp mặt sau - trong của 2 thùy tuyến giáp là dây TKQN Trước khi đi vào tuyến giáp, dây TKQN bên phải đi phía động mạch giáp trạng dưới, còn dây TKQN bên trái đi ở phía sau động mạch [17], và thường có hình dạng, kích thước
đa dạng Bình thường, ở ngang mức sát cực dưới tuyến giáp, dây TKQN chia làm hai nhánh - có khi nhiều hơn, đi theo chiều dọc, trong rãnh (góc nhị diện) khí quản - giáp trạng, bắt chéo nhánh tận cùng của động mạch giáp trạng dưới Dây TKQN liên quan về phía trong với mặt sau - bên của khí quản, về phía ngoài với mặt sau - trong của thùy giáp, nhiều khi dính chặt vào tổ chức tuyến giáp Ở phía trên, dây TKQN thoát ra từ phía mặt bên của thùy giáp trạng và đi vào sâu qua bờ dưới cơ khít họng, hoặc xuyên qua cơ theo hướng từ ngoài vào trong
Dây TKQN, còn được gọi là dây thần kinh thanh quản dưới, chi phối nhiều chức năng của vùng thanh quản, ví dụ như vận động các cơ trong thanh quản, thanh môn Do vậy, khi dây TKQN bị tổn thương (do phẫu thuật) sẽ gây khàn giọng (nếu
bị một bên), mất tiếng (nếu bị hai bên) và sặc thức ăn khi nuốt [4] Chính vì vậy dây TKQN có chức năng quan trọng chi phối vận động cơ mở thanh quản, giúp di động
2 dây thanh, tạo giọng nói và hít thở dễ dàng
Bám vào mặt sau của 2 thùy tuyến giáp là các khối tròn, nhỏ là tuyến cận giáp Có 4 tuyến cận giáp (2 tuyến ở trên và 2 tuyến ở dưới ) tuyến cận giáp có chức năng điều hòa canxi và phốt pho trong cơ thể, nên khi bị tổn thương nặng (do phẫu thuật tuyến giáp) sẽ biểu hiện một loạt các rối loạn, ví dụ như cơn hạ canxi máu,
1.2 Đặc điểm sinh lý tuyến giáp
Tuyến giáp được nuôi dưỡng bởi nhiều mạch máu, trong tuyến có 2 loại tế bào: Tế bào C tiết calcitonin (nội tiết tố làm giảm lượng calci máu) và rất nhiều tế bào tuyến giáp liền nhau tạo thành những nang đường kính khoảng 100 - 300 micromet Những tế bào này bắt giữ iod ở máu và tăng tổng hợp tiền nội tiết tố nữ tích trữ trong các nang Khi có kích thích bởi TSH (nội tiết tố tuyến yên) các nang giải phóng một phần nội tiết tố tuyến giáp đã được tích trữ dưới dạng Tri -
Trang 10iodthyronin hay còn gọi là T3 (chiếm khoảng 20%) và Thyroxine còn gọi là T4 (chiếm khoảng 80%) Trong huyết thanh T3, T4 gắn chủ yếu với Albumin Một phần nhỏ hormon ở dạng tự do, chỉ có các hormon tự do Free Thyroxine (FT4) và Free Tri- iodthyronin (FT3) mới có tác dụng sinh học FT3 có tác dụng mạnh và ngắn, FT4 tác dụng chậm và kéo dài hơn Trong huyết thanh, nồng độ T4 lớn hơn T3 và một phần T4 chuyển hoá thành T3 khi phát huy tác dụng [17]
1.3 Tác dụng của nội tiết tố tuyến giáp
Hormon tuyến giáp tác dụng lên hầu hết toàn bộ cơ thể như: Hệ tim mạch, hệ thần kinh, hệ da - cơ - xương, tiêu hóa, … và đặc biệt là tác dụng trên chuyển hóa Hormon tuyến giáp tăng dẫn tới tăng chuyển hóa cơ bản, suy giáp làm giảm chuyển hóa cơ bản tới 20% - 50%.[17]
1.4 Dấu hiệu lâm sàng bệnh Bướu giáp đơn thuần
BGĐT chủ yếu xảy ra ở nữ giới và chịu ảnh hưởng của các giai đoạn thay đổi sinh lý (dậy thì, thai kỳ, tuổi mãn kinh)
Có tính chất gia đình, nhưng kiểu di truyền đến nay chưa được biết rõ
Khối u ở cổ được phát hiện tình cờ bởi bệnh nhân hoặc bởi người xung quanh, hoặc trong khi khám sức khỏe nói chung
Thường không có triệu chứng cơ năng hoặc đôi khi có cảm giác nghẹn ở cổ, hoặc những triệu chứng không đặc hiệu (hồi hộp, rối loạn thần kinh thực vật, …)
Để đánh giá độ lớn của bướu cũng như để đưa ra chỉ định phẫu thuật, người
ta thường chia thành nhiều độ dựa theo các tiêu chí lâm sàng, cụ thể:
- Độ I: Sờ thấy bướu khi bệnh nhân nuốt
- Độ II: Bướu lộ rõ dưới da, nhìn và sờ thấy nhưng vòng cổ chưa thay đổi
- Độ III: Bướu lồi ra khỏi vòng cổ, chiếm một diện tích rộng trước cổ, cho phép xác định được kích thước
- Độ IV: Bướu to lấn vượt bờ ngoài cơ ức đòn chũm, và làm thay đổi đáng kể vòng cổ
- Độ V: Bướu rất to, vượt bờ ngoài cơ ức đòn chũm hai bên, sa xuống phía trước cán xương ức
Trang 11Hình 1.3: Bệnh nhân Nguyễn Thị Nh - 59 tuổi số bệnh án: 2978 chẩn đoán:
Bướu hỗn hợp giáp trạng thuỳ trái độ IV
1.5 Biến chứng sau phẫu thuật
1.5.1 Các biến chứng sớm
1.5.1.1 Chảy máu thứ phát sau mổ
Là biến chứng thường gặp ở những giờ đầu sau mổ, nguyên nhân chủ yếu do cầm máu không kỹ, để sót hoặc tuột chỉ cầm máu, nếu không được phát hiện sớm
và kịp thời khối máu tụ sẽ chèn ép vào khí quản gây cơn khó thở cấp dẫn đến suy
hô hấp và người bệnh tử vong rất nhanh Theo các nghiên cứu biến chứng, chảy máu sau mổ gặp từ 0,35 - >3,8%: Đặng Ngọc Hùng và cộng sự 0,35% [3]
1.5.1.2 Suy hô hấp sau mổ
Là một biến chứng nặng sau mổ bướu giáp cần phải xử trí cấp cứu kịp thời nếu không sẽ dẫn đến tử vong, nguyên nhân thường do viêm phù nề thanh môn, ứ đọng đờm rãi, tụ máu tại chỗ gây chèn ép khí quản, tổn thương dây TKQN
Trang 121.5.1.3 Tổn thương dây thần kinh quặt ngược
Là một biến chứng nặng,khó có khả năng phục hồi Người bệnh có thể bị khàn tiếng nếu đứt, tổn thương đụng dập hoặc chèn ép dây TKQN một bên hoặc nặng hơn nữa là dây TKQN cả 2 bên, gây liệt thanh quản toàn bộ, người bệnh sẽ khó thở và có nguy cơ tử vong nếu không được mở khí quản kịp thời Tỷ lệ tổn thương dây TKQN từ 0,1 - 1,8% theo từng nghiên cứu, ví dụ: Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Ty và cộng sự là 1,13% [14]
1.5.1.4 Cơn hạ canxi huyết (Tetani) do tổn thương tuyến cận giáp
Biến chứng xảy ra khá muộn sau mổ do trong khi phẫu thuật BGĐT đã cắt
bỏ hoặc làm tổn thương đến tuyến cận giáp, gây hiện tượng tê bì chi hoặc nặng hơn nữa có thể co giật
1.5.1.5 Ứ đọng dịch vết mổ, nhiễm trùng vết mổ
Tuy ít gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng người bệnh, nhưng sẽ ảnh hưởng đến thẩm mỹ của vết mổ (sẹo xấu, rúm ró,…) Tỷ lệ biến chứng này khoảng 5,5% [10]
1.5.2 Các biến chứng muộn
1.5.2.1 Nhược giáp sau phẫu thuật
Thường gặp trong trường hợp cắt bỏ tuyến giáp quá triệt để, hoặc phần tuyến giáp để lại quá ít không đủ để chức năng sinh lý của một tuyến giáp bình thường
Tỷ lệ nhược giáp sau mổ thay đổi từ 5 - 72% [20] trong nhóm phẫu thuật cắt gần hoàn toàn giáp trạng Một số nghiên cứu gần đây cho rằng phần lớn nhược giáp xuất hiện trong giai đoạn tương đối gần cuộc mổ, với 93% được chẩn đoán xác định trong vòng 18 tháng đầu sau mổ [18]
1.5.2.2 Di chứng của quá trình liền sẹo xấu
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (1996) cho thấy tỷ lệ này chiếm 11,67% chủ yếu là sẹo co kéo và sẹo lồi [11]
1.5.2.3 Bướu giáp tái phát sau mổ
Thường gặp sau mổ các thể bướu nhân, bướu hỗn hợp nguyên nhân hầu hết
là do bỏ sót tổn thương trong mổ lần đầu, theo các thống kê tỷ lệ thay đổ từ 2 - 30%, như Nguyễn Xuân Ty và cộng sự 2,7%[14]
Trang 131.5.3 Chăm sóc cho người bệnh sau mổ tuyến giáp đơn thuần
Việc chăm sóc và theo dõi người bệnh sau mổ là hết sức cần thiết và quan trong, những hậu quả ghê gớm mà nó gây ra cho người bệnh như: Chảy máu thứ phát, cơn hạ calci huyết, nhiễm trùng vết mổ, … Nếu không được chăm sóc chu đáo người bệnh sẽ có nhiều tai biến xẩy ra nguy hiểm đến tính mạng Là người điều dưỡng điều đầu tiên không chỉ cần làm tốt công tác điều dưỡng - chăm sóc tốt người bệnh giúp phát hiện kịp thời những biến chứng có thể xẩy ra, mà bên cạnh đó cần có
sự chăm sóc một cách toàn diện cho người bệnh Đối với bệnh nhân sau phẫu thuật BGĐT thì người điều dưỡng cần phải quan tâm chăm sóc đến những vấn đề sau:
- Theo dõi (dẫn lưu, vết mổ, cháy máu, khó thở…)
- Thực hiện y lệnh (tiêm thuốc, uống thuốc, thay băng vết thương, …)
- Dinh dưỡng đủ cho người bệnh
- Động viên, an ủi bệnh nhân giúp họ phát hiện sớm các biến chứng và biết cách phòng ngừa
Trang 14CS TRƯỚC MỔ TUYẾN GIÁP (BASEDOW)
- Tiếp nhận bệnh nhân, xếp giường cho bệnh nhân
- Hướng dẫn bệnh nhân các thủ tục, quy định cần thiết
- Dặn bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường, không hoạt động mạnh, trách xúc động mạnh, thực hiện y bệnh, uống thuốc đầy đủ
- Bệnh nhân ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ăn tăng hoa quả và rau xanh
- 01 ngày trước mổ: (buổi chiều)
+ Thử phản ứng cho bệnh nhân;
+ Bệnh nhân vệ sinh sạch sẽ;
+ Căn dặn trước khi vào mổ tháo đồ trang sức, cắt móng tay, cởi bỏ áo lót; + Phổ biến cho bệnh nhân và gia đình bệnh nhân các tai biến có thể xảy ra trước, trong và sau mổ Cho bệnh nhân và người nhà ký cam kết
+ Bệnh nhân ăn uống Cho bệnh nhân ngủ sớm và dùng thuốc ngủ theo y bệnh
- Theo dõi vết mổ: Chảy máu? Dẫn lưu có chảy dịch?
- Nghiêng đầu khạc đờm (nếu có)
- Bệnh nhân tỉnh có thể cho ngồi dậy
- Sau 6 tiếng bệnh nhân có thể ăn cháo hoặc uống sữa
- Bệnh nhân nói được có thể nói không được kiêng nói
- Hàng ngày thay băng, rút dẫn lưu theo y bệnh
- Căn dặn bệnh nhân về chế độ ăn ăn uống bình thường không phải kiêng khem, ăn đủ chất, dễ tiêu
Trang 15- Hướng dẫn bệnh nhân tập vận động cổ: Giữ nguyên vai và quay tròn cổ nhẹ nhàng tác dụng chống cứng cổ, vết mổ?
- Nếu khâu chỉ tiêu thì ngày ra việncắt 2 đầu chỉ
- Nếu chỉ không tiêu thì 7 ngày cắt chỉ
Khi bệnh nhân ra viện hướng dẫn đầy đủ các thủ tục Căn dặn bệnh nhân khám lại theo định kỳ hoặc bất cứ lúc nào thấy mệt
Trang 16CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa ngoại châm tê (KNCT) Bệnh viện châm cứu trung ương với sự giúp đỡ của Thạc sĩ - Bác sỹ Hoàng Văn Phong và đồng nghiệp tại khoa
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Nguồn bệnh nhân - Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật bướu giáp đơn thuần tại KNCT - BVCCTW từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân được chuẩn đoán bướu cổ đơn thuần không có chỉ định phẫu thuật
- Trẻ em dưới 16 tuổi
- Phụ nữ có thai
- Bệnh nhân có tiền sử hen phế mãn, lao phổi tiến triển, động kinh, huyết áp tối đa cao hơn 160mmHg, bệnh nhân có HIV (+)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu hồi cứu
2.3.2 Cỡ mẫu
Tổng số bệnh nhân phẫu thuật tuyến giáp đơn thuần tại KNCT - BVCCTW
từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2009 số lượng bệnh nhân lấy được là 120 bệnh nhân sau khi loại trừ còn 98 bệnh nhân là phù hợp Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
là 98 bệnh nhân
2.3.3 Chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
2.3.4 Các bước tiến hành nghiên cứu
2.3.4.1 Chọn hồ sơ người bệnh từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2009
- Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật BGĐT và chăm sóc sau mổ
Trang 172.3.4.2 Thống kê, loại trừ theo tiêu chuẩn loại trừ
Tất cả các bệnh nhân được thống kê, loại trừ theo tiêu chuẩn loại trừ được trình bày tại mục 2.2.2
2.3.4.3 Thu thập thông tin
- Thu nhập thông tin qua 98 bệnh nhân được phẫu thuật theo mẫu bệnh án thống nhất gồm:
- Mô tả quá trình vệ sinh toàn thân và băng vô trùng sau mổ cho bệnh nhân
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu nghiên cứu được trình bày tại bảng 2.1 dưới đây
Bảng 2.1: Các biến số, chỉ số nghiên cứu
STT Biến số nghiên cứu Các chỉ số nghiên
cứu
Phương pháp thu thập
Công cụ thu thập
1 Tuổi (năm) 16-40, 41-65, > 65 Ghi chép Bệnh án
3 Địa danh Nông thôn, thành thị Ghi chép Bệnh án
4 Thời gian mắc bệnh 1 - 5,5 - 10, >10 Ghi chép Bệnh án
5 Triệu chứng lâm có/không (nuốt vướng, Ghi chép Bệnh án
Trang 18sàng khó thở, nói khàn)
6 Khan tiếng sau mổ Có/không Ghi chép Bệnh án
8 Thời gian cho bệnh
nhân ăn
trước 12h, từ 12h 24h, sau 24h Ghi chép Bệnh án
-9 Chảy máu sau mổ Có /không Ghi chép Bệnh án
10 Tình trạng vết mổ
khi ra viện
Mềm mại, liền sẹo tốt, ứ dịnh, nhiễm trùng
Ghi chép Bệnh án
11 Thời gian nằm viện
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng toán thống kê y học
Trang 19CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Tổng số đối tượng được nghiên cứu
Gồm 98 bệnh nhân bị BGĐT to độ III - IV, đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu, được phẫu thuật tại KNCT - BVCCTW, trong thời gian từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2009
3.1.2 Tuổi
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
Lứa tuổi (năm)
-Lứa tuổi (năm)
Trang 20Nhận xét: Đa số bệnh nhân ở độ tuổi từ 41 - 65, chiếm 57,1 %; tiếp đó là độ
tuổi từ 16 - 40, chiếm 39,8%; ít gặp bệnh nhân >65 tuổi, chỉ chiếm 3,1%
Hình 3.2: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Nhận xét: Hầu hết các đối tượng bệnh nhân đều là nữ giới, chiếm 94,9%;
chỉ có 5 bệnh nhân là nam giới, chiếm 5,1% Tỷ lệ phân bố nam : nữ = 1:18,6