Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của để tài là: - Làm rõ cơ sở lý luận về thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ và các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ, từ đ
Trang 1HÀ NỘI - 2022
Trang 2-
TRẦN TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM SỨC KHOẺ
PHI NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: KINH TẾ BẢO HIỂM
Mã số: 9340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỊNH
HÀ NỘI – 2022
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bài luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Nghiên cứu sinh
Trần Tiến Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khỏe 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 10
1.2 Tổng quan các mô hình nghiên cứu về ý định mua bảo hiểm sức khoẻ 13
1.2.1 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) 13
1.2.2 Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu (MGB) 14
1.2.3 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior) 16
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM SỨC KHOẺ PHI NHÂN THỌ 20
2.1 Khái quát về thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 20
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 20
2.1.2 Nội dung của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 26
2.1.3 Thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ 33
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ 36
2.2.1 Các nhân tố trong môi trường vĩ mô 36
2.2.2 Các nhân tố vế ảnh hưởng đến cung bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ 39
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ 41
2.3 Ý định mua bảo hiểm và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 44
2.3.1 Ý định mua bảo hiểm 44
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 45
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
3.1 Quy trình nghiên cứu 51
Trang 53.2.1 Mô hình nghiên cứu định tính 52
3.2.2 Mô hình nghiên cứu định lượng 52
3.3 Phương pháp nghiên cứu 54
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp 54
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp 54
3.3.3 Thiết kế thang đo 57
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 65
3.4.1 Đối với nghiên cứu định tính 65
3.4.2 Đối với nghiên cứu định lượng 65
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM SỨC KHOẺ PHI NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM 70
4.1 Thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 70
4.1.1 Điều kiện môi trường vĩ mô 70
4.1.2 Các doanh nghiệp bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ hoạt động trên thị trường Việt Nam 75
4.1.3 Sản phẩm bảo hiểm bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam 79
4.1.4 Kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam 81
4.1.5 Doanh thu phí và tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam 82
4.1.6 Tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam 83 4.1.7 Đánh giá chung thực trạng thị trường bảo hiểm sức khoẻ Việt Nam 85
4.2 Nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 92
4.2.1 Kênh thông tin về bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 92
4.2.2 Kênh mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 95
4.2.3 Nhu cầu mua bảo hiểm sức khoẻ trong thời gian tới 96
4.3 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 96
4.3.1 Nhân tố trong môi trường vĩ mô 98
4.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cung thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 101
4.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 105
Trang 6phi nhân thọ tại Việt Nam 106
4.4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 106
4.4.2 Phân tích độ tin cậy của các thang đo 108
4.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 111
4.4.4 Phân tích hồi quy sự ảnh hưởng của các nhân tố 112
4.4.5 Phân tích phương sai ANOVA đánh giá sự khác biệt về ý định mua BHSK phi nhân thọ 117
CHƯƠNG 5 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM SỨC KHOẺ PHI NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM 125
5.1 Định hướng của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm sức khỏe 125
5.2 Xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 127
5.3 Kiến nghị và giải pháp nâng cao ảnh hưởng tích cực của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam 129
5.3.1 Kiến nghị và giải pháp nâng cao ảnh hưởng của nhân tố môi trường vĩ mô 130
5.3.2 Các giải pháp nâng cao ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về cung bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam 134
5.3.3 Kiến nghị và giải pháp nâng cao ảnh hưởng của các nhân tố về cầu và ý định mua bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam 142
KẾT LUẬN 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
PHỤ LỤC 170
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân biệt bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ 21
Bảng 3.1 Thang đo Thái độ đối với rủi ro và BHSK phi nhân thọ 58
Bảng 3.2 Thang đo Chuẩn chủ quan về BHSK phi nhân thọ 58
Bảng 3.3 Thang đo Kiểm soát hành vi có nhận thức 60
Bảng 3.4 Thang đo Năng lực đáp ứng nhu cầu của các DNBH phi nhân thọ 61
Bảng 3.5 Thang đo Truyền thông, quảng cáo về BHSK phi nhân thọ 63
Bảng 3.6 Thang đo Ý định mua BHSK phi nhân thọ 65
Bảng 4.1 Số liệu thị trường bảo hiểm Việt Nam 2010 – 2020 76
Bảng 4.2 Tỷ lệ bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ kinh doanh BHSK tại Việt Nam (2011-2020) 77
Bảng 4.3 Số lượng sản phẩm BHSK theo của một số DNBH phi nhân thọ 80
Bảng 4.4 Doanh thu phí, tăng trưởng doanh thu phí và tỷ trọng doanh thu phí BHSK trên thị trường bảo hiểm Việt Nam (2010 - 2020) 83
Bảng 4.5 Thống kê tình trạng biết đến bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 92
Bảng 4.6 Kênh thông tin tìm hiểu về bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 93
Bảng 4.7 Thống kê mô tả mẫu theo tình trạng tham gia bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 95
Bảng 4.8 Thống kê kênh mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 95
Bảng 4.9 Thống kê số lần tái tục bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 96
Bảng 4.10 Thống kê nhu cầu mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ trong thời gian tới 96
Bảng 4.11 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường BHSK phi nhân thọ tại Việt Nam 97
Bảng 4.12 Chiều hướng tác động của các nhân tố đến thị trường BHSK phi nhân thọ tại Việt Nam 98
Bảng 4.13 Thống kê mô tả mẫu theo tỉnh thành 106
Bảng 4.14 Thống kê mô tả mẫu theo giới tính 106
Bảng 4.15 Thống kê mô tả mẫu theo độ tuổi 107
Bảng 4.16 Thống kê mô tả mẫu theo trình độ học vấn 107
Bảng 4.17 Thống kê mô tả mẫu theo thu nhập 107
Bảng 4.18 Tổng hợp kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 110
Bảng 4.19 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett cho các nhân tố 111
Bảng 4.20 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 113
Bảng 4.21 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 113
Trang 9Bảng 4.22 Tóm tắt kết quả của mô hình hồi quy 115 Bảng 4.23 Hệ số hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến Ý định mua bảo
hiểm sức khoẻ phi nhân thọ 115 Bảng 4.24 Kết quả phân tích phương sai ANOVA 116 Bảng 4.25 Kiểm định phương sai đồng nhất cho các nhóm khách hàng theo vùng
miền 118 Bảng 4.26 Kiểm định sự khác biệt về trung bình ý định mua của các nhóm khách
hàng theo vùng miền 118 Bảng 4.27 Kiểm định phương sai đồng nhất cho các nhóm khách hàng theo nhóm
tuổi 119 Bảng 4.28 Kiểm định sự khác biệt về trung bình ý định mua của các nhóm khách
hàng theo vùng miền 119 Bảng 4.29 Kiểm định phương sai đồng nhất cho các nhóm khách hàng theo giới
tính 120 Bảng 4.30 Kiểm định sự khác biệt về trung bình ý định mua của các nhóm khách
hàng theo giới tính 121 Bảng 4.31 Kiểm định phương sai đồng nhất cho các nhóm khách hàng theo nhóm
tuổi 121 Bảng 4.32 Kiểm định sự khác biệt về trung bình ý định mua của các nhóm khách
hàng theo vùng miền 122 Bảng 4.33 Kiểm định phương sai đồng nhất cho các nhóm khách hàng theo thu
nhập 122 Bảng 4.34 Kiểm định sự khác biệt về trung bình ý định mua của các nhóm khách
hàng theo thu nhập 123 Bảng 4.35 Kiểm định phương sai đồng nhất cho các nhóm khách hàng theo số lần
tái tục 124 Bảng 4.36 Kiểm định sự khác biệt về trung bình ý định mua của các nhóm khách
hàng theo số lần tái tục 124
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) 13
Hình 1.2 Mô hình lý thuyết hành vi hướng tới mục tiêu (MGB) 15
Hình 1.3 Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) 16
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 51
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu định tính 52
Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu định lượng 53
Hình 4.1 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam 71
Hình 4.2 Thu nhập bình quân GDP/người của Việt Nam so với các quốc gia (T+5 là khoảng cách thời gian 5 năm) 72
Hình 4.3 Số tiền bồi thường theo nghiệp vụ BHSK giai đoạn 2011 - 2020 79
Hình 4.4 Tăng trưởng GDP và GDP bình quân trên đầu người qua các năm 84
Hình 4.5 Tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm sức khoẻ giai đoạn 2011 - 2020 85
Hình 5.1 Tháp dân số Việt Nam, năm 2009 – 2019 129
Hình 5.2 Mô hình BHYT nhà nước là trọng tâm, BHYT thương mại bổ trợ 134
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ, dự phòng tài chính cho người tham gia bảo hiểm khi phải điều trị nội trú và ngoại trú, bảo hiểm sức khỏe ra đời là một trong những loại hình bảo hiểm thuộc dòng sản phẩm thương mại do các công ty bảo hiểm cung cấp Người tham gia bảo hiểm có thể là các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp Bảo hiểm sức khoẻ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khoẻ được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm Khi mua bảo hiểm sức khoẻ, người tham gia bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm chi trả một phần hoặc toàn bộ các chi phí tại bệnh viện hoặc phòng khám hợp pháp trong trường hợp gặp các vấn đề như ốm đau, tai nạn, thai sản
Trong những năm gần đây, các rủi ro trong cuộc sống và sản xuất kinh doanh như tai nạn, bệnh tật đang có xu hướng gia tăng về cả xác suất và mức độ nghiêm trọng Theo thống kê của Bộ Công an, từ năm 2009 đến 2019, cả nước đã xảy ra 331.390 vụ tai nạn giao thông, làm chết 100.227 người (chủ yếu trong độ tuổi lao động), bị thương 333.435 người Bên cạnh tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng là một trong những vấn đề mà xã hội quan tâm Theo báo cáo của
Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, trong giai đoạn 2011 - 2020, toàn quốc đã xảy
ra 75.161 vụ tai nạn lao động làm 77.326 người bị nạn trong đó có 7.877 người chết, 17.133 người bị thương nặng; số mắc bệnh nghề nghiệp cộng dồn từ 2016 đến 2020 là 32.00 người lao động Như vậy có thể thấy rằng tình hình tai nạn nói chung có chiều hướng phức tạp trong một vài năm trở lại đây và gây thiệt hại khổng lồ về kinh tế, bao gồm: chi phí mai táng người chết, chi phí y tế cho người bị thương, thiệt hại do hao phí thời gian lao động của người bị tai nạn, người chăm sóc và những thiệt hại xã hội khác Ngoài ra, các vấn đề ô nhiễm môi trường nhất là môi trường không khí, môi trường nước và biến đổi khí hậu đang ngày càng gia tăng trong quá trình đô thị hoá nhanh chóng ở Việt Nam, hay các vấn đề xã hội như thực phẩm không đảm bảo vệ sinh cũng tác động không nhỏ đến sức khoẻ của người dân Điều này khiến cho tỷ lệ mắc các loại bệnh của người dân như bệnh phổi, bệnh đường hô hấp, ung thư, các bệnh mãn tính và dịch bệnh đang có xu hướng tăng nhanh, tác động mạnh đến sự gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân Hơn nữa, giá cả của các dịch vụ y tế cũng có mức độ gia tăng mạnh trong vài năm trở lại đây khiến cho chi phí y tế của người dân trong tổng chi cho y tế cũng tăng lên ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, không chỉ là gánh nặng về sức khoẻ mà còn là gánh nặng về mặt tài
Trang 12chính Trong khi đó, nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ tại Việt Nam ngày càng tăng Theo số liệu của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam năm 2020, bảo hiểm sức khỏe doanh thu đạt 12.709 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 31%, tăng trưởng 3% Theo nhận định của giới chuyên môn, bảo hiểm đang là xu hướng mới được nhiều người đầu tư để bảo vệ tài chính, đặc biệt là bảo hiểm sức khỏe (PV, 2021) Khảo sát của Công ty toàn cầu về nghiên cứu thị trường Nielsen cũng chỉ ra mối quan tâm của người Việt đối với sức khỏe ngày càng lớn, theo đó năm 2020 tăng 4% so với năm 2019 và đứng top 1, trên cả sự ổn định của công việc hay sự cân bằng cuộc sống - công việc Xu hướng của người tiêu dùng Việt cũng cho thấy mức độ quan tâm tới các gói bảo hiểm sức khỏe cao cấp vẫn duy trì ở mức cao, đứng top 3 chỉ sau tiết kiệm và mua sắm quần áo (PV, 2021) Điều này đặt
ra thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần phải có giải pháp
nỗ lực để đẩy mạnh khai thác thị trường bảo hiểm sức khoẻ đầy tiềm năng tại Việt Nam
Một trong những chính sách an sinh quan trọng nhằm đảm bảo mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân tại nhiều quốc gia trên thế giới là bảo hiểm y tế Tại Việt Nam, bảo hiểm y tế toàn dân được triển khai từ năm 2015 và mức độ bao phủ bảo hiểm y tế nhà nước đạt xấp xỉ 90% vào cuối năm 2019 (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2020) Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy bảo hiểm y tế nhà nước hiện tại đang gặp vấn đề bội chi mất cân đối quỹ, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Bảo hiểm y tế Nhà nước chỉ cung cấp gói bảo hiểm y tế cơ bản cung cấp quyền lợi chi trả bảo hiểm cho chi phí khám chữa bệnh do đó tỷ lệ chi tiền túi của người dân Việt Nam vẫn còn ở mức cao, nằm trong nhóm “chi phí y tế mang tính thảm hoạ” (Nguyễn Kim Phương, 2021) Trần Văn Thuấn (2021) cho biết, tỷ lệ chi tiền túi chiếm khoảng 43% trong tổng chi tiêu y tế năm 2017 Điều này chứng tỏ một bộ phận không nhỏ người dân chưa sử dụng thẻ bảo hiểm y tế để đi khám chữa bệnh, hay quỹ BHYT chưa đảm bảo bao phủ toàn bộ nhu cầu và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và mức độ bao phủ về tài chính còn hạn chế Đối với các trường hợp điều trị bệnh sử dụng công nghệ cao, bệnh nan y, bệnh lý nghiêm trọng hoặc khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y
tế tư nhân, tỉ lệ chi trả của bảo hiểm y tế còn thấp và vô hình chung chi phí y tế trở thành gánh nặng cho người bệnh
Trước các tồn tại trong chăm sóc sức khỏe toàn dân, Nghị quyết 20-NQ/TW
2017 về nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới của ban chấp hành Trung ương khóa XII (Ban chấp hành trung ương, 2017) đưa ra quan điểm “Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực
để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; tổ chức cung cấp dịch vụ công,
Trang 13bảo đảm các dịch vụ cơ bản, đồng thời khuyến khích hợp tác công - tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu” Đây là gợi mở then chốt cho việc phát triển các dịch vụ tư trong đó có bảo hiểm sức khỏe thương mại (bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ
và nhân thọ) nhằm mục đích hỗ trợ cho bảo hiểm y tế nhà nước, đa dạng hóa công cụ tài chính tài trợ cho các chi phí y tế của người dân khi khám chữa bệnh, giảm các tình huống chi phí y tế mang tính thảm họa và giảm tỉ lệ chi y tế từ tiền túi của người dân Bảo hiểm sức khoẻ thương mại với phạm vi bảo vệ rộng hơn, các gói bảo hiểm được thiết kế phong phú và linh hoạt cùng với nhiều dịch vụ tiện ích đi kèm có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhóm dân cư khác nhau Mặc dù vậy, bảo hiểm sức khỏe thương mại trong đó chủ yếu là bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ mới chỉ bao phủ một
tỉ lệ rất thấp dân cư (chưa đến 1% dân cư) và chủ yếu tập trung vào một phần tầng lớp thu nhập cao
Câu hỏi đặt ra là tại sao trong bối cảnh tỷ lệ tự chi trả cho chi phí y tế của người dân còn cao, chất lượng dịch vụ chưa cao và tình trạng quá tải trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Nhà nước, thu nhập và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của dân cư tăng, bảo hiểm sức khỏe thương mại linh hoạt với các phạm vi bảo hiểm đa dạng nhưng số lượng khách hàng và doanh thu phí bảo hiểm sức khỏe thương mại còn quá khiêm tốn
so với tiềm năng? Lý do của tình trạng này xuất phát từ phía cơ chế chính sách, từ người tham gia bảo hiểm, hay từ phía bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm? Chính vì
vậy, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo
hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam” sẽ làm rõ các nhân tố tác động, mức độ và
chiều hướng tác động của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ,
từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có thể xây dựng chiến lược khai thác hiệu quả thị trường tiềm năng của bảo hiểm sức khoẻ tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài luận án là làm rõ các nhân tố và tác động của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của để tài là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ và các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ, từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp
- Đánh giá được thực trạng thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam bao gồm những mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Trang 14- Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ - một thành tố quan trọng của cầu bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ, đánh giá mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố này đến ý định mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ và tập trung vào tác động của các nhân tố đến ý định mua bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam - một thành tố quan trọng của cầu bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, phạm vi nghiên cứu của đề tài là các công ty bảo hiểm cung cấp bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam Nghiên cứu về trên phạm vi rộng sẽ giúp đem lại một tầm nhìn bao quát nhất về thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ, đặc biệt là trên phương diện cung bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ Về không gian khảo sát, các phiếu khảo sát được thu về từ 3 thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh
Về thời gian, tác giả nghiên cứu về thị trường BHSK từ khi hình thành đến nay, các phân tích về thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam tập trung vào giai đoạn 2011 – 2020 do trong trong giai đoạn này thị trường BHSK thương mại có những biến chuyển rõ rệt, bảo hiểm sức khoẻ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ Đối với các số liệu sơ cấp, tác giả thu thập trong khoảng thời gian từ 15/08/2020 đến 26/12/2020 Đề tài cũng sẽ đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường BHSK tại Việt Nam, giúp các DNBH phi nhân thọ có thể khai thác hiệu quả thị trường tiềm năng này trong giai đoạn 2021 –
2025
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong việc xác định và đánh giá tác động của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam Trong đó nghiên cứu định tính được thực hiện bằng
Trang 15phương pháp phỏng vấn nhóm để xác định các nhân tố ảnh hưởng trong nhóm các nhân tố kinh tế học cổ điển, các nhân tố môi trường kinh tế - chính trị - xã hội và mức
độ tác động cũng như chiều hướng tác động của các nhân tố này đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam Bên cạnh đó, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế học hành vi và các nhân tố nhân khẩu học đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam Bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, phân tích tổng hợp tác động của các nhóm nhân tố, luận án sẽ làm rõ những nhân tố nào có tác động đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ, mức độ tác động cũng như chiều hướng tác động một cách toàn diện nhất
5 Kết cấu luận án
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 5 chương, bao gồm:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
Chương 3 Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Phân tích thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam
Chương 5 Giải pháp và kiến nghị phát triển thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khỏe
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Có nhiều nghiên cứu khác nhau về thị trường bảo hiểm sức khỏe và các nhân tố tác động đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm sức khỏe nói chung, thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ nói riêng Anthony & Josept (2000), Xavier (2008) khi đề cập đến thị trường bảo hiểm sức khỏe đều nhấn mạnh đến phân tích hai vế cung và cầu của thị trường Các nghiên cứu về các nhân tố tác động vế cầu bảo hiểm thường tập trung vào các nhân tố kinh tế học cổ điển và nhân khẩu học như thu nhập của dân cư, giá cả của bảo hiểm sức khoẻ (phí bảo hiểm), phạm vi và quyền lợi bảo hiểm, niềm tin đối với các DNBH, kỳ vọng về chất lượng dịch vụ của người dân với các biến kiểm soát là tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ giáo dục hoặc số năm đi học, tôn giáo, việc làm (nghề nghiệp), khu vực làm việc (nhà nước, tư nhân, tự doanh/phi chính thức), nơi ở, số thành viên trong gia đình, tình trạng sức khỏe (Owusu-Sekyere & Chiaraah, 2014; Oraya, 2014; Nair, 2016; Vellakkal, 2013; Ibok, 2012; Costa & Garcia, 2003; Yadav & Sudhakar, 2018; Yamada và cộng sự, 2009; Lee và cộng sự, 2010; Liebenberg, Carson và Dumm, 2012a; Brownie và Kim, 1993; Ricardo, 2006) Nghiên cứu của Ahire & Rishipathak (2019) cũng tìm thấy các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến nhu cầu BHSK là nhận thức và hiểu biết về bảo hiểm sức khoẻ, thu nhập, trình độ học vấn, nhận thức về rủi ro sức khoẻ, tính sẵn có của các cơ sở y tế Nghiên cứu của Costa & Garcia bổ sung thêm nhân tố chi tiền túi cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, số lần khám chữa bệnh và thái độ đối với rủi ro vào mô hình Các nhân
tố kinh tế học cổ điển và nhân khẩu học là những nhân tố rất cơ bản thường được sử dụng để phân tích thị trường cũng như nghiên cứu cung cầu các loại sản phẩm dịch vụ
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng vế cung bảo hiểm sức khỏe thường tập trung vào khả năng sinh lời, thương hiệu của DNBH, chiến lược phát triển của DNBH, chất lượng dịch vụ, tính linh hoạt của sản phẩm, mạng lưới phân phối, sự phức tạp của bảo hiểm, thủ tục chi trả, bồi thường bảo hiểm (Owusu & Chiaraah, 2014; Berry, 1995; Cummins & Doherty, 2002; Morrisey, 2001) Từ góc độ kinh tế vi mô, Berry (1995) chỉ ra rằng bối cảnh của công ty, tính linh hoạt của sản phẩm và sự phức tạp của bảo hiểm là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ
Trang 17Những phát hiện của các nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Hong và Rios-Rull (2012), Liebenberg và cộng sự (2012b), Akotey, Sackey, Amoah và Manso (2013) và Bahloul, Hachicha và Bouri (2013) ủng hộ các kết quả trong nghiên cứu của Berry (1995) Các yếu tố tương tự cũng được sử dụng khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm Monternegro (Buric và cộng sự, 2017), nghiên cứu nhu cầu tái tục bảo hiểm tại Ấn độ (Bhat & Jain, 2007)
Mặc dù vậy, những mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết trên lại không thể giải thích cho mọi trường hợp, ví dụ điển hình là thị trường bảo hiểm sức khỏe ở Indonesia Trong khi nền kinh tế đang có tốc độ phát triển tốt và trình độ giáo dục trong nước được cải thiện, nhu cầu bảo hiểm sức khỏe ở Indonesia đang giảm, trái với các bằng chứng được đưa ra trong các tài liệu nghiên cứu đã nói ở trên (Pitriyan & Siregar, 2013) Những phát hiện của Auerbach và Kotlikoff (1991) có thể giải thích sự khác biệt ở Indonesia bằng cách ghi nhận rằng, việc mua bảo hiểm hiếm khi tuân theo lợi ích Họ đã đưa ra bằng chứng rằng nhu cầu bảo hiểm sức khỏe không phải lúc nào cũng bị tác động bởi các yếu tố kinh tế học và nhân khẩu học
Mua bảo hiểm có thể không được thúc đẩy bởi kỳ vọng hợp lý; thay vào đó, nó được thúc đẩy bởi cảm xúc (hedonic utility), như lo lắng (Berekson, 1972), nhận thức
về rủi ro (Laroche, McDougall, Bergeron, & Yang, 2004), hoặc có thể là lạc quan (Coelhoe & Maza, 2012; Memarista, 2016) Trong khi đó, Outreville (2013) cho rằng hành vi ghét rủi ro và trình độ học vấn là những yếu tố chính tạo ra nhu cầu bảo hiểm sức khỏe Điều này phù hợp với kết luận của Eling và Kochanski (2013), người phỏng đoán rằng nghiên cứu bảo hiểm trên các cá nhân là rất khan hiếm
Các nghiên cứu hành vi cho rằng các học giả phải đánh giá các yếu tố tâm lý để khám phá sự bất thường trong các hoạt động kinh tế khi mà lý thuyết kỳ vọng hợp lý hay những lý thuyết kinh tế học cổ điển không giải thích được Trong hiện tượng bảo hiểm của Indonesia, ví dụ điển hình có nghiên cứu của Rabin và Thaler (2001) cho rằng người ghét rủi ro (risk aversion) có thể giải thích sự bất thường trong thị trường bảo hiểm ở chỗ mọi người có xu hướng mua bảo hiểm khi họ không nên mua và ngược lại, có xu hướng từ chối khi họ thực sự có nhu cầu
Zelizer (1978) phỏng đoán rằng mọi người có xu hướng mua bảo hiểm y tế vì giá trị của cái chết Điều này ngụ ý rằng nhu cầu của bảo hiểm y tế có thể tăng lên nếu mọi người bắt đầu lo sợ cho cuộc sống của họ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nyman (1999), người coi giá trị của sức khỏe là động lực chính để mua bảo hiểm y tế Sử dụng lý thuyết truy cập, Nyman (1999) nói rằng bảo hiểm là phương tiện để đạt được sức khỏe tốt hơn Murphy và Topel (2005) đi đến một kết luận
Trang 18tương tự, đó là mọi người sẽ trả tiền cho các chương trình như vậy để kỳ vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn và đạt được tuổi thọ như mong muốn Điều này cũng phù hợp với Hall và Jones (2007) và Baicker và cộng sự (2012) nói rằng mọi người có xu hướng tiêu tiền của họ cho sức khỏe chỉ vì mục đích kéo dài cuộc sống Nepomuceno
và Porto (2010) đã sử dụng các giá trị sức khỏe như cầu nối hoặc trung gian giữa thái
độ và ý định Nghiên cứu đã cho thấy thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và giá trị sức khoẻ có tác động đến việc tham gia bảo hiểm sức khoẻ
Một đóng góp khác của nghiên cứu này là vai trò của sự nhận thức về lợi ích và nhận thức về rủi ro đối với thái độ của một người về ý định mua bảo hiểm sức khỏe Theo định nghĩa, Thái độ đối với hành vi (ATB) trong Lý thuyết hành vi dự định (TPB) là mức độ mà hiệu suất của một hành vi nhất định được đánh giá tích cực hoặc tiêu cực Định nghĩa này cũng được trình bày trong các tài liệu nghiên cứu khác, như của Ejye Omar và Owusu-Frimpong (2007), Olola, Narus, Nebeker, Poynton, Hales, Rowan và Evans (2010), và Abbring, Chiappori và Pinquet (2003) ) Khi nghiên cứu
về mối quan hệ giữa tính hữu ích và nhận thức về thái độ, Ehrlich và Becker (1972) kết luận rằng tính hữu ích của thông tin có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định của một người Ngoài ra, giải thích cho việc bổ sung nhận thức về thái độ đối với việc mua bảo hiểm dựa trên đề xuất của Tennyson (2011), người cho rằng sự thiếu hiểu biết về tài chính là yếu tố chính khiến mọi người từ chối mua bảo hiểm Không có kiến thức tài chính, mọi người không biết tính hữu dụng của bảo hiểm, và vẫn bàng quan trong việc mua bảo hiểm Điều này có thể giải thích thái độ đối với rủi ro được tìm thấy bởi Schwarcz (2010), cụ thể tác giả cho rằng quyết định về bảo hiểm là một trong những khó khăn nhất mà người tiêu dùng phải đối mặt Chúng yêu cầu các dự đoán về khả năng xảy ra và mức độ của các sự kiện trong tương lai rất khó xảy ra và phần lớn là không quen thuộc Đối mặt với những quyết định phức tạp như vậy, không có gì ngạc nhiên khi người tiêu dùng thường xuyên mắc sai lầm Đồng thời, bảo hiểm là một sản phẩm phức tạp và đầy cảm xúc, và những giải thích đơn giản về hành vi của người tiêu dùng có nguy cơ làm xói mòn một số giá trị đích thực mà bảo hiểm cung cấp cho người tiêu dùng Chủ nghĩa gia đình theo chủ nghĩa tự do, khuyến khích các quyết định bảo hiểm được cho là hợp lý trong khi vẫn duy trì sự lựa chọn, có tiềm năng chưa được khám phá để điều hướng các lợi ích cạnh tranh này
Ngoài ra, có những yếu tố có thể ảnh hưởng đến thái độ đối với việc mua bảo hiểm y tế trong các mối quan hệ nhân quả, là nhận thức về lợi ích và nhận thức về rủi
ro Nhận thức về lợi ích đề cập đến mức độ mà một người tin rằng tối ưu hóa một lợi ích cụ thể sẽ nâng cao thái độ của họ đối với một hành vi (ví dụ như mua bảo hiểm sức
Trang 19khỏe) (Ehrlich & Becker, 1972; Laroche và cộng sự, 2004; Liebenberg và cộng sự 2012a) Trong khi đó, rủi ro trong tương lai có thể được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng tối ưu hóa một tiện ích cụ thể sẽ bảo vệ họ khỏi rủi ro Ví dụ, mua bảo hiểm sức khỏe có thể làm giảm gánh nặng tài chính khi có nguy cơ bị bệnh
Nghiên cứu về Lý thuyết hành vi dự định (TPB) đã ghi nhận ảnh hưởng đáng kể của tính hữu ích đối với ATB Chẳng hạn, Brahmana và Brahmana (2013); Igbaria, Schiffman, & Wieckwowski (1994); Saadé và Bahli (2005); Liaw và Huang (2013) cho rằng nhận thức về tính hữu dụng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến ATB của một cá nhân Điều này ngụ ý rằng sự nhận thức về lợi ích là một yếu tố của ATB
Kaplan và cộng sự (1974) cho thấy, rủi ro trong tương lai có vai trò quan trọng trong tâm lý con người liên quan đến quyết định mua bảo hiểm sức khỏe Điều này phù hợp với Berekson (1972), người giải quyết vai trò của sự lo lắng trong cuộc sống đối với việc mua bảo hiểm Các nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như Laroche và cộng
sự (2004) và Liebenberg và cộng sự (2012a), đã cung cấp những phát hiện tương tự, trong đó chỉ ra rằng thái độ của một người đối với việc mua bảo hiểm sức khỏe phụ thuộc vào nhận thức về rủi ro
Ngoài ra, nghiên cứu nhằm mục đích điều tra vai trò của ảnh hưởng bên trong
và bên ngoài đối với các tiêu chuẩn chủ quan (Subjective Norms - SN) cũng cho thấy tầm quan trọng của chuẩn mực chủ quan SN Cả ảnh hưởng bên trong và bên ngoài đều đến từ những ảnh hưởng xã hội Phạm vi ảnh hưởng bên trong (bao gồm hộ gia đình hoặc vợ/chồng) đến việc ra quyết định, trong khi các ảnh hưởng bên ngoài (truyền thông hoặc bạn bè hoặc môi trường làm việc hoặc truyền miệng) ảnh hưởng đến các quyết định Các nghiên cứu trước đây của Guagnano, Stern, và Dietz (1995), Cho (2011) đã ghi lại vai trò quan trọng của ảnh hưởng bên trong và bên ngoài đối với
SN
Bên cạnh việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng như các nghiên cứu
ở trên, thì Nair (2015) đã tiếp cận việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT toàn dân theo phương pháp nghiên cứu định tính Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố tiêu cực bao gồm: ở phía cầu, có sự giới hạn về các nhà cung cấp dịch vụ, không hài lòng với trang thiết bị của cơ sở y tế, phạm vi bảo hiểm bị hạn chế đặc biệt
là đối với trường hợp khám ngoại trú, quyền lợi khám chữa bệnh bị giới hạn chỉ với 5 thành viên trong gia đình, thủ tục hành chính liên quan đến giải quyết quyền lợi bảo hiểm thường bị chậm; ở phía cung, ít động lực trong việc cung cấp, tính bền vững của chính sách, công việc quá tải, sự chậm chễ trong việc nhận sự tài trợ, không có sự
Trang 20khuyến khích đối với nhân viên y tế Trong khi đó, các yếu tố có tác động tích cực ở
vế cầu có thể kể đến: nhận thức đối với quyền lợi của chính sách, có sự hỗ trợ tài chính cho người nghèo, sự thu hút của cơ sở y tế công, sự phân tán rủi ro; các yếu tố ảnh hưởng tích cực ở vế cung bao gồm: tính cạnh tranh trên thị trường chăm sóc sức khoẻ,
cơ sở y tế công trở nên thu hút, môi trường thân thiện với người sử dụng Tương tự, Vellakkal (2013) khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố đến việc tham gia BHYT tự nguyện cũng cho kết luận ở vế cầu, các nhân tố tích cực bao gồm sự bảo vệ tài chính, kinh nghiệm với BHYT và lợi ích về thuế thu nhập, các nhân tố tiêu cực như
là mức độ nhận thức thấp của người dân về hệ thống bảo hiểm, thái độ đối với việc chia sẻ rủi ro của người dân, các sản phẩm bảo hiểm chưa có sự thu hút Đối với vế cung, các nhân tố có ảnh hưởng tích cực là lợi ích từ sự tăng trưởng của thị trường chăm sóc sức khoẻ, quy định của chính phủ về hạn mức bảo hiểm xã hội, các nhân tố động lực của các công ty bảo hiểm, sự khó khăn trong việc giám sát việc cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ của cơ sở y tế, động lực của nhân viên tư vấn bảo hiểm Các nghiên cứu này đã giúp ích rất nhiều trong việc cải thiện các chính sách liên quan đến BHYT toàn diện và việc cung cấp BHSK tự nguyện của các DNBH
Tóm lại, có thể thấy rằng các nghiên cứu trên thế giới tiếp cận theo nhiều hướng
đa dạng khi đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường BHSK, tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung theo 3 hướng chủ đạo, đó là: nghiên cứu các nhân tố tác động
vế cầu BHSK, các nhân tố tác động vế cung BHSK và nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua BHSK theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng Trong đó, các nghiên cứu trên thế giới thường chỉ tập phân tích một khía cạnh các nhân tố ảnh hưởng
vế cung, vế cầu, nhân khẩu học hoặc theo hướng nghiên cứu ý định hành vi theo phương pháp nghiên cứu định lượng Chỉ có một số ít các nghiên cứu đi theo hướng phân tích định tính dựa trên phỏng vấn nhóm để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố
cả vế cung và vế cầu đến ý định mua BHSK như Nair (2015), Vellakkal (2013)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Những nghiên cứu có liên quan đến thị trường bảo hiểm sức khỏe tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam Tác giả dựa trên tính chất tương đồng mà tham khảo các nghiên cứu về bảo hiểm y tế và bảo hiểm y tế tự nguyện tại Việt Nam Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận từ hướng kinh tế học cổ điển
Khi phân tích tác động các nhân tố vế cầu, Lê Cảnh Bích Thơ và cộng sự (2017) đã tìm thấy các yếu tố nhân khẩu học và tình trạng sức khỏe có ý nghĩa quan
Trang 21trọng trong việc hình thành nhu cầu mua BHYT tự nguyện, trong đó tình trạng sức khoẻ, thu nhập, tuổi, giới tính có mối quan hệ ngược chiều tới quyết định tham gia BHYT tự nguyện, số lần khám chữa bệnh, trình độ học vấn, hôn nhân, tỷ lệ người làm việc trong gia đình có mối quan hệ thuận chiều tới quyết định tham gia BHYT tự nguyện của người dân Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) ủng hộ nghiên cứu của
Lê Cảnh Bích Thơ và cộng sự (2017) khi nhận thấy tuổi, thu nhập, giới tính và kiến thức về bảo hiểm có tác động thuận chiều và trình độ học vấn, ý thức sức khoẻ có tác động ngược chiều đến ý định tham gia bảo hiểm Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn nhận thấy kiến thức về bảo hiểm, kỳ vọng của gia đình về sự bảo vệ của bảo hiểm tác động thuận chiều đến ý định tham gia bảo hiểm Nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Thương (2015) cũng cho thấy thu nhập, phí bảo hiểm và thủ tục hành chính có ảnh hưởng âm, mức độ hiểu biết về BHYT có ảnh hưởng tích cực đến quyết định mua BHYT tự nguyện Nguyễn Thị Đan Thương (2015) cũng tìm thấy tác động tích cực của việc quan tâm đến sức khoẻ đến ý định tham gia BHYT tự nguyện Trong khi đó, Phúc và Trịnh (2019) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT toàn dân bắt buộc đã tìm thấy ảnh hưởng tích cực của điều kiện kinh tế đến quyết định tham gia BHYT, hay nói cách khác cá nhân, gia đình có điều kiện kinh tế
sẽ có khả năng mua bảo hiểm nhiều hơn Nguyễn Thanh Lâm (2019) cho thấy giới tính, tình trạng hôn nhân, thu nhập, nghề nghiệp, độ tuổi không có ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện
Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố vế cung có thể kể đến nghiên cứu của Phúc và Trịnh (2019) về phạm vi quyền lợi mức hưởng, thủ tục hành chính, công tác tuyên truyền, thái độ phục vụ Trong đó, phạm vi quyền lợi mức hưởng, công tác tuyên truyền và thái độ phục vụ có ảnh hưởng tích cực còn thủ tục hành chính có ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định tham gia BHYT Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường
và cộng sự (2014), Lê Cảnh Bích Thơ và cộng sự (2017) cũng cho kết luận công tác tuyên truyền có tác động quyết định đến việc tham gia BHYT Nguyễn Thị Đan Thương (2015) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa thủ tục hành chính và tương quan dương giữa cơ sở vật chất khám chữa bệnh, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh với quyết định mua BHYT tự nguyện của người dân
Bên cạnh các nghiên cứu theo lý thuyết kinh tế học cổ điển, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã quan tâm đến việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định mua BHSK theo hướng lý thuyết hành vi người tiêu dùng Điển hình là Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) đã sử dụng mô hình TPB mở rộng để nghiên cứu tác
Trang 22động của các nhân tố đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm Ngoài các nhân tố trong
mô hình TPB gốc là Thái độ, Kiểm soát hành vi, tác giả đã tách nhân tố Chuẩn mực chủ quan thành Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và tác giả cũng bổ sung thêm các yếu tố như Kiến thức về bảo hiểm, Ý thức sức khoẻ và Tuyên truyền về bảo hiểm Kết quả nghiên cứu cho thấy Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý, Kiến thức và Tuyên truyền có ảnh hưởng dương đến ý định tham gia bảo hiểm, các nhân tố còn lại ảnh hưởng ngược chiều đến sự tham gia bảo hiểm là Ý thức sức khoẻ, Kiểm soát hành vi Phan Ngọc Luận (2016) cũng đi theo hướng nghiên cứu này khi đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT hộ gia đình Ngoài các biến kế thừa từ nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) thì Phan Ngọc Luận (2016) còn đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố mở rộng trong mô hình TPB như Cảm nhận rủi ro từ bệnh tật, Cảm nhận hành vi xã hội Nghiên cứu của Phan Ngọc Luận (2016) cũng cho kết quả tương đồng với Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) Đối với các nhân tố mở rộng, nghiên cứu này tìm thấy tác động dương đến ý định tham gia bảo hiểm Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Trúc Phương (2017) cho thấy có 5 nhân tố tác động đến quyết định mua BHYT của hộ gia đình là Gia đình, Hành vi xã hội, Quan tâm sức khỏe, Kiểm soát hành vi và Cảm nhận rủi ro trong đó các nhân tố này đều có mối tương quan thuận chiều đối với quyết định tham gia BHYT hộ gia đình Trong nghiên cứu của Trương Thị Hồng Trang (2020), các nhân tố được tìm thấy có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tiếp tục tham gia BHYT
hộ gia đình bao gồm Cảm nhận hành vi xã hội, Quan tâm sức khỏe, Trách nhiệm đạo
lý, Kiến thức về BHYT, Kiểm soát hành vi Kết quả của các nghiên cứu này là phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014)
Các nghiên cứu mới đây của Nguyễn Thanh Lâm (2019), Nguyễn Thị Hồng Phấn (2020) đều dựa trên việc phân tích các biến gốc trong mô hình TPB là Chuẩn mục chủ quan, Thái độ và Kiểm soát rủi ro, trong đó Nguyễn Thanh Lâm (2019) đã bổ sung thêm biến Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ và Nguyễn Thị Hồng Phấn (2020) có bổ sung thêm 2 biến vào mô hình là Công tác tuyên truyền và Quan tâm sức khoẻ Hai nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng tất cả các nhân tố đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định tham gia BHYT tự nguyện của người dân
Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam và ý định tham gia bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ tại Việt Nam còn rất hạn chế, chủ yếu các tác giả nghiên cứu về các lĩnh vực tương đồng như các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT hoặc BHNT hoặc BHXH Trong đó, các nghiên cứu này thiên về tiếp cận vấn đề theo góc
Trang 23độ kinh tế học cổ điển để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia, ý định tái tục hoặc quyết định tham gia BHYT Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam đã xuất hiện các nghiên cứu tiếp cận theo hướng nghiên cứu hành vi người tiêu dùng dựa trên
mô hình TPB Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng chỉ tập trung vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT chứ chưa mở rộng nghiên cứu sang lĩnh vực bảo hiểm sức khoẻ thương mại
1.2 Tổng quan các mô hình nghiên cứu về ý định mua bảo hiểm sức khoẻ
1.2.1 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action)
Học thuyết hành động hợp lý (TRA) ra đời vào năm 1967, là công trình được phát triển bởi nhà khoa học Martin Fishbein TRA được hình thành với mục đích chính
là để hiểu hành vi tự nguyện của một cá nhân thông qua việc xem xét động cơ cơ bản tiềm ẩn để thực hiện một hành động Ajzen và Fishbein (1980) đã chỉ ra rằng ý định thực hiện hành vi của một người là yếu tố dự đoán chính về việc họ có thực sự thực hiện hành vi đó hay không Theo lý thuyết, ý định thực hiện một hành vi nào đó có trước và dẫn đến hành vi thực tế Ý định này xuất phát từ niềm tin rằng việc thực hiện hành vi sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể TRA cho rằng ý định càng mạnh mẽ sẽ dẫn đến
nỗ lực để thực hiện hành vi càng tăng lên và làm tăng khả năng hành vi được thực hiện
Trên thực tế, học thuyết này được áp dụng để dự đoán khuynh hướng hành vi của người tiêu dùng dựa trên yếu tố chính là thái độ hướng tới hành vi như cảm giác
ưa thích hay sự cần thiết của mặt hàng, và yếu tố phụ là các chuẩn mực chủ quan, cụ thể là tác động của những người xung quanh và xã hội đến thái độ và ý định tiêu dùng
Mô hình này tiên đoán và giải thích một cách hiệu quả hơn xu hướng để thực hiện hành vi thông qua thái độ hướng đến hành vi của người tiêu dùng so với việc phân tích thái độ của người tiêu dùng hướng đến hay dịch vụ của các nghiên cứu đầu thế kỷ 20
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA)
Niềm tin và sự
Xu hướng hành vi
Hành vi thực sự Niềm tin theo
chuẩn và động cơ
Chuẩn chủ quan
Trang 24Nguồn: Fishbein & Ajzen (1975)
Dựa trên thuyết hành động hợp lý, Ý định (Intention) hình thành dựa trên thái
độ và chuẩn chủ quan Có nghĩa là, một người càng có thái độ tích cực về một hành vi nhất định và coi hành vi đó là quan trọng đối với bạn bè, gia đình hoặc xã hội thì họ càng có nhiều khả năng hình thành ý định thực hiện hành vi đó Những điều này được thể hiện trong mô hình TRA
Trước hết nhân tố đầu tiên là Thái độ Thái độ được hiểu là một trạng thái tinh thần được cấu thành từ niềm tin, cảm giác, giá trị và thiên hướng để hành động theo những cách nhất định Đồng thời, nó cũng có thể hiểu là một chức năng của niềm tin
cá nhân về hành vi (niềm tin hành vi – behavioral beliefs) và niềm tin của cá nhân về kết quả của việc thực hiện hành vi (đánh giá kết quả hành vi – evaluation) Cũng như các loại cảm xúc khác của con người, thái độ có 2 loại là tích cực và tiêu cực Niềm tin hành vi là sự tin tưởng rằng hành vi đó sẽ dẫn đến một kết quả nhất định Sự đo lường niềm tin vào sản phẩm là những nhận định, đo lường về khả năng mà kết quả khi thực hiện hành vi đó có thể xảy ra, mức độ tích cực hoặc tiêu cực mà hành vi đó có thể dẫn đến Cùng với niềm tin vào hệ quả của hành vi, việc đánh giá hành vi có vai trò quan trọng trong hình thành thái độ của một người
Nhân tố thứ hai trong mô hình là Chuẩn chủ quan Chuẩn chủ quan là cụm từ chỉ sự nhận thức của một cá nhân về các chuẩn mực xã hội hoặc niềm tin của người khác về một hành vi cụ thể Chuẩn chủ quan bao gồm niềm tin về việc những người xung quanh như gia đình, bạn bè, xã hội có chấp nhận hành vi đó hay không Động lực này cùng với niềm tin quy phạm đóng góp lớn vào các chuẩn mực chủ quan của một người Ngoài các yếu tố tác động trên, còn có các nhân tố từ bên ngoài tác động vào như nhân khẩu học, tính cách, địa vị xã hội,…
Lý thuyết này có nguồn gốc từ những nghiên cứu trước đây về tâm lý học xã hội, các mô hình về sự thuyết phục cũng như các lý thuyết về thái độ Tuy nhiên, các nhà phê bình cho rằng các lý thuyết về thái độ chưa thực sự là phương pháp tối ưu để phân tích hành vi của con người do tồn tại sự không nhất quán trong mối quan hệ thái
độ - hành vi Học thuyết hành động hợp lý sau đó đã được 2 tác giả sửa đổi và mở rộng trong những năm sau đó (Ajzen, 1975; Fishbein & Ajzen, 1975) để khắc phục những bất cập này Sự cải tiến này đánh dấu sự ra đời của thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
1.2.2 Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu (MGB)
Trang 25Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu (MGB) được xây dựng dựa trên mô hình hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajen (1991) Mô hình này xem các thành phần cơ bản của lý thuyết hành vi có kế hoạch liên quan đến mục tiêu hơn là hành vi
Trong mô hình MGB thì mong muốn đóng một vai trò quan trọng Mong muốn được xem là yếu tố dự báo hành vi mạnh hơn so với thái độ và chuẩn chủ quan Mong muốn là một yếu tố tạo nên động lực để hình thành ý định, mà ý định được giả định là yếu tố tác động đến hành vi Các yếu tố tác động mong muốn bao gồm cảm xúc mong đợi tích cực và tiêu cực Nó được xem là những phản ứng tình cảm được mong đợi dẫn đến thất bại và thành công Hơn nữa, những cảm xúc mong đợi tích cực và tiêu cực được đánh giá độc lập với quan điểm của thất bại và thành công Vì vậy, chủ thể cần được thúc đẩy để đạt được mục tiêu phấn đấu Những cảm xúc mong đợi có chức năng ảnh hưởng đến quyết định thực hiện hành vi
Hình 1.2 Mô hình lý thuyết hành vi hướng tới mục tiêu (MGB)
Nguồn: Perugini và Bagozzi (2001)
Trong mô hình MGB thì hành vi trong quá khứ phản ánh những thói quen trong quá khứ và có tác động độc lập với ý định Theo Ajzen (1991) mặc dù hành vi trong quá khứ có thể phản ánh tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi, nó không được coi là một yếu tố nguyên nhân theo đúng nghĩa của nó Hành vi trong quá khứ ảnh hưởng đến giai đoạn tạo động lực trong quá trình ra quyết định Từ đó cho thấy, hành vi trong quá khứ có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi Sự quen thuộc và thường xuyên lặp đi và lặp lại của một hành vi trong quá khứ sẽ ảnh
trong quá khứ Chuẩn chủ
Trang 26hưởng đến ý định thực hiện những hành động này với quy tắc đơn giản hơn, ít có sự tham gia của suy nghĩ khi thực hiện lại hành vi đó trong tương lai Và các hành vi trong quá khứ là yếu tố dự báo chỉ có hiệu quả khi các tình huống ổn định
1.2.3 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior)
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển bởi Icek Ajzen vào năm
1991, bắt nguồn từ lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein & Ajzen (1975) Nó được dùng để dự đoán ý định của một cá nhân khi thực hiện một hành vi tại một thời điểm
và địa điểm cụ thể Trên thực tế, đây được xem là một trong những lý thuyết được áp dụng và trích dẫn rộng rãi nhất về lý thuyết hành vi (Cooke & Sheeran, 2004) trong các lĩnh vực khác nhau như quảng cáo, quan hệ công chúng, y tế, thể thao, …
Mô hình TPB được xem là tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu bởi vì mô hình TPB khắc phục được những nhược điểm của mô hình TRA bằng cách
bổ sung thêm yếu tố Kiểm soát hành vi có nhận thức (Perceived Behavioral Control)
Lý thuyết hành vi có kế hoạch nhận định rằng không phải mọi hành vi đều mang tính
tự nguyện và không phải cá nhân nào cũng có thể kiểm soát hoàn toàn về hành vi của
họ
TPB phân biệt giữa ba loại niềm tin về hành vi, niềm tin về quy chuẩn và niềm tin về kiểm soát Mô hình này bao gồm 6 cấu trúc giá trị đại diện cho sự kiểm soát thực tế của một người đối với hành vi của họ Tương tự TRA, mô hình TPB cũng bao gồm 2 nhân tố chính là Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và có thêm nhân
tố về Kiểm soát hành vi có nhận thức, chịu ảnh hưởng bởi niềm tin về sự kiểm soát
Hình 1.3 Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
Niềm tin về
sự kiểm soát
Kiểm soát hành vi
Trang 27Nguồn: Ajzen (1991)
Niềm tin về sự kiểm soát (Control Beliefs) được hiểu là niềm tin về khả năng thực hiện, kiểm soát được hành động, hay niềm tin của một cá nhân về sự hiện diện của các yếu tố có thể tạo điều kiện hoặc cản trở việc thực hiện hành vi Niềm tin này tác động trực tiếp tới Kiểm soát hành vi có nhận thức của một cá nhân Đây là nhận thức của một người về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể,
nó phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi
Ba nhân tố trong mô hình TPB không chỉ ảnh hưởng tới ý định mua của một cá nhân mà còn có mối tương quan lẫn nhau Giả sử khi một hành vi được cho là giúp gia tăng lợi ích chung của toàn xã hội, mọi người sẽ hình thành thái độ tích cực về hành vi
ấy và họ có thể cho rằng người thân của họ cũng sẽ mang một thái độ tương tự Trong trường hợp này, việc hình thành ý định của họ không nhất thiết phải bị tác động bởi cả
ba yếu tố để họ đưa ra quyết định hành động Ngược lại, đứng trước một quyết định
mà bản thân họ tin rằng mình không đủ năng lực để thực hiện, rất có khả năng họ sẽ hình thành một thái độ tiêu cực trong quá trình cân nhắc để thực hiện Một ý định có thể hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi chỉ nhận thức về khả năng hoặc chỉ bởi thái độ cá nhân Ngoài ra, niềm tin về sự kiểm soát hành vi thực tế cũng sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi Trong khi niềm tin về sự kiểm soát là sự tự đánh giá khả năng của bản thân thì Kiểm soát hành vi có nhận thức lại thể hiện giới hạn về kỹ năng và tài nguyên vốn có của mỗi người Nhân tố Kiểm soát hành vi có nhận thức xác định mức
độ khả thi để thực hiện hành vi, đồng thời nó cũng nâng cao mức độ nhận thức kiểm soát hành vi hay niềm tin về sự kiểm soát Qua việc trải nghiệm hay thực hiện một hành động, mọi người sẽ rút được kinh nghiệm và có thêm hiểu biết về khả năng của bản thân từ đó làm dồi dào vốn nhận thức kiểm soát hành vi
Mặt khác, những nhân tố này có thể xuất hiện hoặc không trong quá trình hình thành ý định Tuỳ theo từng nhóm đối tượng về độ tuổi, giới tính, thu nhập, … mà ý định hành vi của họ cũng sẽ khác nhau Ví dụ như ở độ tuổi vị thành niên, nhân tố Chuẩn chủ quan lại có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, đơn giản vì đây là độ tuổi nằm dưới
sự giáo dục của người thân, nhà trường và đang hình thành chuẩn mực cá nhân Thậm chí, trong một vài trường hợp sẽ xuất hiện nhân tố Chuẩn đạo đức (Moral norms) Nhân tố này sẽ mang ảnh hưởng chủ chốt tới mọi quyết định hành động Tuy nhiên, cũng có các trường hợp trong tình huống cụ thể thì sẽ có thể có từ một đến hai nhân tố không xuất hiện, có thể vì đối với hành vi và đối tượng đang xem xét, những nhân tố
ấy không đóng vai trò quan trọng khi ra quyết định
Mặc dù các nghiên cứu về ý định đều tuân theo các thuyết hành vi của Fishbein
Trang 28& Ajzen (1975), tuy nhiên tuỳ vào lĩnh vực hay đối tượng nghiên cứu mà bộ các nhân
tố nguyên bản có tác động tới ý định mua được kế thừa và thay đổi sao cho phù hợp Ngay trong lĩnh vực bảo hiểm nói riêng, sự khác nhau về loại sản phẩm và thị trường mục tiêu cũng dễ dàng khiến mức độ ảnh hưởng của biến độc lập tới biến phụ thuộc quan sát được là khác nhau Chính vì vậy, không có bộ nhân tố nào được coi là tiêu chuẩn hay thực sự hoàn hảo mà nó chỉ được dùng làm cơ sở lý thuyết cho việc phát triển mô hình nghiên cứu mới (Ajzen, 1991)
Các nghiên cứu về lĩnh vực bảo hiểm mang tính tự nguyện cũng thường xuyên
áp dụng các nhân tố có sẵn trong mô hình TPB và bổ sung các nhân tố khác (Nguyễn Xuân Cường và cộng sự, 2014; Hoàng Thu Thuỷ và cộng sự, 2018; Octarina và cộng
sự, 2019) Do vậy nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua BHSK phi nhân thọ tại Việt Nam
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Mặc dù có nhiều bài viết mang tính tổng kết hay đánh giá tiềm năng phát triển của thị trường bảo hiểm sức khỏe (Nguyễn Thị Hải Đường và cộng sự; 2016, 2020), tuy nhiên đến thời điểm hiện tại NCS chưa được tiếp cận một nghiên cứu bài bản toàn diện nào về các nhân tố tác động đến thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam từ trước đến nay Có thể thấy rằng, các nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ thường tập trung chủ yếu vào một trong các nhóm nhân tố: kinh tế học cổ điển (các nhân tố ảnh hưởng vế cung hoặc các nhân tố ảnh hưởng vế cầu), nhân khẩu học hoặc kinh tế học hành vi (lý thuyết hành vi người tiêu dùng) hoặc có sự kết hợp trong việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng vế cầu và các nhân tố nhân khẩu học Các nghiên cứu này chủ yếu đi theo hướng phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ theo các mô hình kinh tế lượng
Chính vì vậy, trên cơ sở tổng hợp và kế thừa nghiên cứu các thị trường bảo hiểm khác nhau trong đó có nhóm thị trường mới nổi, nghiên cứu sinh xác định khung nghiên cứu trên cơ sở xem xét toàn diện cả hai vế cung và cầu bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam Vế cầu bảo hiểm được phân tích trên cơ sở xem xét các nhân tố tác động đến nhu cầu và hành vi mua bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ với các nhân tố
cụ thể như cảm nhận/thái độ về rủi ro, cảm nhận chủ quan về bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ, yếu tố kiểm soát hành vi của người dân, kinh nghiệm đã sử dụng sản phẩm
và quyết định tái tục, ý định mua, các biến ảnh hưởng tập trung vào tuổi, quy mô hộ
Trang 29gia đình/nhóm khách hàng, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập Vế cung, đề tài sẽ đánh giá năng lực cung cấp sản phẩm liên quan đến vốn chủ sở hữu, doanh thu phí bảo hiểm, số tiền bồi thường, thu nhập dân cư, chi tiêu cho y tế, năng lực đáp ứng nhu cầu, truyền thông quảng cáo về bảo hiểm sức khoẻ, v.v Bên cạnh đó, đề tài cũng phân tích tác động của các nhân tố từ môi trường kinh tế - xã hội đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ Đây là điểm mới của đề tài so với các công trình nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ
Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ xác định được các nhân tố ảnh hưởng và mức
độ cũng như chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố đến thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ, làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ tại Việt Nam, đặc biệt, trong bối cảnh Ban chấp hành Trung ương vừa ban hành Nghị Quyết 20/NQ-TW về chăm sóc sức khỏe toàn dân trong đó xác định mục tiêu thu hút và đa dạng hóa các nguồn lực, kêu gọi sự đóng góp của khu vực tư tham gia vào việc cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng tối nha nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn dân cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe toàn dân nói chung và bảo hiểm sức khỏe nói riêng
Trang 30CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG
BẢO HIỂM SỨC KHOẺ PHI NHÂN THỌ
2.1 Khái quát về thị trường bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
2.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
Các nhà nghiên cứu và học giả đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về BHSK Theo De Francesco và cộng sự (2011), bảo hiểm sức khỏe là một cơ chế chia sẻ rủi ro (risk pooling) nhằm tài trợ chi phí khám chữa bệnh cho các cá nhân Người tham gia nộp phí cho tổ chức/doanh nghiệp bảo hiểm và sẽ được thanh toán các chi phí y tế và/hoặc chăm sóc sức khỏe nằm trong phạm vi bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm được quy định trong từng sản phẩm bảo hiểm cụ thể
Michael (2007) định nghĩa bảo hiểm sức khỏe (health insurance) là một hợp đồng bảo hiểm giữa người tham gia bảo hiểm và công ty bảo hiểm Theo hợp đồng này, người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho công ty bảo hiểm để hình thành nên quỹ bảo hiểm Quỹ này được sử dụng để chi trả những chi phí y tế và/hoặc chăm sóc sức khỏe phát sinh khi người được bảo hiểm gặp phải những rủi ro về sức khỏe
Ở cả hai khái niệm trên, người tham gia phải trả phí cho công ty bảo hiểm để được thanh toán, chi trả các chi phí y tế chăm sóc sức khỏe phát sinh nằm trong phạm
vi bảo hiểm
Như vậy, có thể hiểu bảo hiểm sức khỏe thương mại nói chung và bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ nói riêng là loại hình bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại cung cấp, có tính chất chia sẻ rủi ro nhằm chi trả chi phí y tế chăm sóc sức khỏe nằm trong phạm vi bảo hiểm cho những người tham gia Bảo hiểm sức khỏe thương mại là loại hình bảo hiểm có tính chất dịch vụ, dựa trên sự đóng góp từ những người tham gia bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm được quy định trong hợp đồng bảo hiểm
Cụ thể, sự khác nhau giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ được
mô tả cụ thể trong bảng 2.1 sau:
Trang 31Bảng 2.1: Phân biệt bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ
Ý nghĩa
Bảo vệ trước các rủi ro bất ngờ cho con người, đảm bảo tài chính cho gia đình Tích lũy, hoạch định tài chính cho tương lai vàđầu tư
Bảo vệ trước các rủi ro bất ngờ cho con người
đồng Hưởng lãi suất hoặc lãi chia
Không Phí đóng KHÔNG HOÀNLẠI
Bảo lãnh viện phí
Tử vong (chi trả thường ít hơn bảo hiểm nhân thọ)
Thời hạn hợp
đồng Từ 10 - 20 năm hoặc trọn đời
Từ 1 - 2 năm hoặc ngắn hơn như: bảohiểm du lịch cho từng chuyến đi,
Thời gian
đóng phí
Định kỳ đóng phí là tháng, quý, 6 tháng, năm Thời gian đóng phí: + Đóng phí 1 lần + Đóng phí ngắn
5, 10 năm + Đóng phí bằng thờihạn hợp đồng
Đóng 1 lần duy nhất sau khi ký hợp đồng Nếu được tái tục cho các năm sau đó thì tiếp tục đóng phí
Các yếu tố
ảnh hưởng tới
phí bảo hiểm
Tuổi tác và sức khỏe Định kỳ đóng phí Số tiền bảo hiểm
Xác suất rủi ro Số tiền bảo hiểm Giá trị đối tượng được bảo hiểm
Nguồn: https://www.baovietnhantho.com.vn/goc-chuyen-gia/bao-hiem-nhan- tho-va-phi-nhan-tho#gref
Theo Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 và Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/10/2010, có 03 loại nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe, bao gồm:
Trang 32Bảo hiểm tai nạn con người:
Tai nạn là hiện tượng chấn thương không chủ ý, không mong muốn, ngẫu nhiên, không báo trước dẫn đến ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng, sức khỏe của các cá nhân
Bảo hiểm tai nạn con người là bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm trong thời hạn nhất định, nếu xảy ra tai nạn (dẫn đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tham gia bảo hiểm) trong thời hạn này thì doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải thanh toán cho người tham gia bảo hiểm hoặc người thụ hưởng một khoản tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Đồng thời, bảo hiểm tai nạn con người được chi trả một lần nhằm khắc phục hậu quả của tai nạn đối với người tham gia bảo hiểm một cách nhanh chóng nhất
- Trong trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế theo hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, đi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh thì doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Trong trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế theo hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, đi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh thì doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tiến hành thanh toán trực tiếp cho người tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe
Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe là bảo hiểm chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí chăm sóc sức khỏe y tế tại các cơ sở y tế trong danh sách bệnh viện, phòng khám trong hợp đồng khi người tham gia bảo hiểm cần được chăm sóc sức khỏe liên quan đến vấn
đề thương tật, bệnh tật Theo đó, cũng giống như bảo hiểm y tế do Nhà nước quản lý hay bảo hiểm y tế do doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cung cấp, người tham gia bảo hiểm chăm sóc sức khỏe được nhận chế độ bảo hiểm khi đến chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế nhất định (có thỏa thuận với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thông
Trang 33qua hợp đồng khám bệnh, bệnh chữa bệnh) Tuy nhiên, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe ở đây thiên về hoạt động chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế, thay cho các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh thông thường (theo bảo hiểm y tế)
2.1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
Bảo hiểm sức khoẻ thương mại vừa có những tính chất chung của sản phẩm bảo hiểm, vừa có những nét đặc thù riêng
a) Tính chất chung của sản phẩm bảo hiểm
Bảo hiểm nói chung hay bảo hiểm sức khoẻ nói riêng là một dịch vụ đặc biệt, bởi những đặc điểm sau đây:
+ BHSK là một dịch vụ không mong đợi: mặc dù đã tham gia BHSK nhưng người tham gia hoàn toàn không mong muốn những rủi ro về sức khỏe xảy ra Bởi lẽ khi rủi ro xảy ra thì đồng nghĩa với đó là những thương tích, thiệt hại về sức khỏe mà
số tiền bồi thường, chi trả khó có thể bù đắp được Nói một cách khác, người mua BHSK không mong muốn sử dụng BHSK (Nguyễn Văn Định, 2014)
+ BHSK có chu trình hạch toán đảo ngược: Không giống như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả của sản phẩm, dịch vụ được xác định dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh Đối với BHSK, phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm được xác định dựa theo những ước lượng về các chi phí y tế có thể phải chi trả trong tương lai (De Francesco và cộng sự , 2011) Những ước lượng này được xây dựng dựa trên
số liệu trong quá khứ và số liệu ước tính trong tương lai DNBH không thể xác định chính xác chi phí thực tế phát sinh tại thời điểm người dân tham gia BHSK Do đó, có thể có sự chênh lệch rất lớn giữa mức phí BHSK và mức chi trả chi phí y tế Nếu DNBH xác định phí BHSK không chính xác và không có nguồn quỹ dự phòng đủ lớn, tổng số phí bảo hiểm thu được sẽ không đủ bù đắp số tiền chi trả, dẫn đến mất cân đối quỹ BHSK
+ BHSK có hiệu quả không xác định: điều này có nghĩa là không phải bất cứ đối tượng nào khi tham gia BHSK cũng đều được nhận được số tiền chi trả BHSK mà
họ chỉ được chi trả BHSK khi gặp những rủi ro về sức khỏe và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh BHSK Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng lựa chọn ngược Người tham gia BHSK hiểu rõ về tình trạng sức khỏe của mình hơn DNBH Do đó nếu người dân nghĩ rằng tình trạng sức khỏe của họ là rất tốt, không ốm đau bệnh tật họ sẽ ngần ngại trong việc tham gia BHSK (Mai Thị Dung và Lê Thị Xuân Hương, 2017) Ngược lại, những người có tình trạng sức khỏe xấu, mắc bệnh nan y sẽ có xu hướng tham gia BHSK Khi phần lớn những người tham gia BHSK đều là những người có sức khỏe xấu, tổng
Trang 34số tiền chi trả chi phí y tế sẽ rất lớn và các DNBH sẽ tăng mức phí tham gia BHSK lên rất cao Điều này phá vỡ nguyên tắc chia sẻ rủi ro, chia sẻ tổn thất trong BHSK Tình trạng lựa chọn ngược diễn ra rất phổ biến ở thị trưởng bảo hiểm y tế tư nhân và DNBH thường phải áp dụng các nguyên tắc trong việc lựa chọn các rủi ro tham gia bảo hiểm
+ Thông tin bất đối xứng trong BHSK: trong BHSK luôn có mối quan hệ giữa
ba bên: người tham gia BHSK, DNBH và cơ sở y tế Vấn đề về thông tin bất đối xứng xảy ra khi cơ sở y tế (đội ngũ y bác sĩ) là người nắm rõ nhất tình trạng sức khỏe và phác đồ điều trị cần thiết của bệnh nhân, trong khi cả bệnh nhân và DNBH lại không
có thông tin này (Anthony và Joseph, 2000) Bệnh nhân, những người không phải thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần hóa đơn, luôn yêu cầu phải được chăm sóc sức khỏe tối đa, nhưng DNBH phải cân đối quỹ BHSK bằng cách giảm thiểu tối đa mức thanh toán cho các dịch vụ chăm sóc y tế Việc chứng minh một phác đồ điều trị đúng đắn là tương đối phức tạp và tốn kém chi phí Điều này dẫn đến việc DNBH có thể phải chi trả cho những dịch vụ y tế không thật sự cần thiết khi người tham gia BHSK và cơ sở y tế phối hợp để trục lợi từ BHSK Hoặc DNBH và cơ sở y tế thỏa thuận để không cung cấp những dịch vụ y tế tốt nhất, hiệu quả nhất cho bệnh nhân để giảm thiểu số tiền thanh toán Đây là một đặc trưng của dịch vụ BHSK so với các dịch
vụ, sản phẩm khác
Do những đặc điểm này mà các nhân tố ảnh hưởng đến cung-cầu về bảo hiểm y
tế cũng có sự khác biệt so với các sản phẩm dịch vụ khác, như phân tích dưới đây
b) Tính chất riêng của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
Bảo hiểm sức khỏe thương mại nói chung và bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ nói riêng mặc dù là loại hình bảo hiểm có tính dịch vụ nhưng xét trên khía cạnh an toàn xã hội thì nó vẫn có tính an sinh nhất định Khác với các loại hình bảo hiểm khác nhu cầu bảo hiểm chỉ phát sinh trong một số nhóm đối tượng liên quan đến loại hình bảo hiểm, bảo hiểm sức khỏe trong đó đặc biệt là bảo hiểm chi phí y tế liên quan đến mỗi thành viên trong xã hội do nhu cầu chăm sóc khỏe là nhu cầu thiết yếu đối với mỗi người trong cả cuộc đời Chính vì đặc điểm này mà bảo hiểm sức khỏe được đặc biệt quan tâm tại bất kể quốc gia nào, thậm chí Nhà nước thường là một trong các nhà cung cấp, thậm chí là nhà cung cấp chính cung cấp dịch vụ bảo hiểm chi phí y tế
Bảo hiểm sức khỏe được quản lý theo kỹ thuật phân chia Tương tự như bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm ngắn hạn và mang tính bảo vệ, việc tính toán phí chủ yếu phụ thuộc vào xác suất xảy ra rủi ro và mức độ tổn thất, hầu như không bị tác động bởi yếu tố lãi suất Nghiệp vụ thường được quản lý và
Trang 35hạch toán theo năm tài chính
Bảo hiểm sức khỏe có tần suất rủi ro cao nhưng mức độ tổn thất bình quân trên một sự kiện rủi ro thường không quá lớn Một khách hàng tham gia bảo hiểm trong kì hạn 1 năm có thể sử dụng bảo hiểm y tế nhiều lần do sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, thể trạng của người được bảo hiểm, tiền sử bệnh tật, môi trường sống, môi trường tự nhiên, vv Ví dụ một người bị bệnh mãn tính như huyết áp, hay dị ứng thời tiết, họ có thể đi khám thường xuyên hàng tháng hoặc mỗi khi thời tiết thay đổi Đối với những đối tượng này số lần khám điều trị sẽ nhiều nhưng chi phí trên một lần điều trị không quá lớn Hay như trường hợp trẻ em, do sức đề kháng còn thấp, số lần khám chữa thường nhiều nhưng chi phí khám cũng không quá lớn Tóm lại, đặc điểm này dẫn đến hai tình huống đối với công ty bảo hiểm: thứ nhất, xác suất các tổn thất mang tính thảm họa thấp, trừ các trường hợp bệnh hiểm nghèo, các trường hợp tai nạn nghiêm trọng là có tổn thất lớn mang tính thảm họa, các rủi ro thông thường trong bảo hiểm sức khỏe thường có mức tổn thất không quá cao; thứ hai, hầu hết các trường hợp tổn thất hoàn toàn trong khả năng chấp nhận được/mức giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm, tuy nhiên, do tần suất rủi ro lớn nên tính tích tụ rủi ro và tổn thất lại cao so với các loại hình bảo hiểm khác Đặc điểm này là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm sức khỏe: chi phí hành chính quản trị nghiệp
vụ cao do tần suất rủi ro lớn; số tiền bảo hiểm (hạn mức bảo hiểm) thường không lớn, tổn thất trên một rủi ro thường nằm trong hạn mức giữa lại của công ty bảo hiểm kết hợp với tính tích tụ rủi ro và tổn thất, chính vì vậy, nếu công ty bảo hiểm quản lý rủi ro tốt hoàn toàn có thể cải thiện phí thực giữ lại và đem lại khả năng sinh lời cho công ty bảo hiểm, ngược lại, nếu công tác quản lý rủi ro và kiểm soát trục lợi không tốt, tỉ lệ tổn thất cao, bảo hiểm sức khỏe sẽ làm gánh nặng đối với công ty bảo hiểm
Trong bảo hiểm sức khỏe, yêu cầu cao về chuyên môn chuyên sâu đối với bộ phận khai thác, giám định bảo hiểm Do các rủi ro, sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm sức khỏe đa dạng, phụ thuộc vào các kiến thức chuyên môn về y tế nên để thiết kế sản phẩm, dịch vụ, giải quyết quyền lợi bảo hiểm cần có chuyên gia chuyên sâu về y tế Đây
là yêu cầu khó với công ty bảo hiểm do đây là lao động đặc biệt và yêu cầu rất cao, khó tuyển dụng
Các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe thường phân nhóm thuộc cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, tùy thuộc quy định và văn bản pháp lý từng nước Bảo hiểm sức khỏe liên quan đến sự kiện tử vong của con người, đôi khi việc định phí ngoài việc căn
cứ vào các nguy cơ của rủi ro theo nhóm đối tượng nhưng cũng căn cứ vào xác suất rủi
ro theo nhóm tuổi
Trang 36Việc chi trả bảo hiểm, tùy thuộc vào loại hình bảo hiểm, quyền lợi bảo hiểm, có thể là thanh toán theo phương thức bồi hoàn căn cứ vào chi phí thực tế phát sinh, nhưng cũng có thể được thanh toán theo phương thức khoán Ngoài ra một số đơn bảo hiểm sức khỏe/bảo hiểm chi phí y tế nhà nước thường thiết kế phương thức khấu trừ và/hoặc đồng bảo hiểm hay còn gọi là đồng chi trả giữa người được bảo hiểm và công ty/cơ quan bảo hiểm nhằm giảm bớt gánh nặng cho nhà bảo hiểm cũng như nâng cao ý thức sử dụng dịch vụ y tế của người được bảo hiểm
2.1.1.3 Vai trò của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
Bảo hiểm sức khỏe là chỗ dựa tài chính vững chắc, bảo vệ người tham gia bảo hiểm khỏi các khoản tổn thất về tài chính trong các trường hợp gặp rủi ro liên quan sức khoẻ, bệnh tật, chi phí Các tình huống rủi ro tai nạn hay điều trị bệnh dài ngày cũng là nguyên nhân dẫn đến tổn thương, thương tật tạm thời hoặc thương tật vĩnh viễn gây mất hoặc giảm thu nhập của người gặp rủi ro, tạo ra gánh nặng tài chính cho bản thân người gặp rủi ro và gia đình họ Chính vì vậy, bảo hiểm sức khỏe ngày càng cần thiết
và không thể thiếu trong xã hội hiện đại Xã hội càng phát triển, cuộc sống càng được cải thiện thì vai trò của bảo hiểm sức khỏe càng trở lên quan trọng
Xét trên khía cạnh an sinh xã hội, bảo hiểm sức khỏe là một trong những công
cụ đảm bảo tài chính cho chính sách chăm sóc sức khỏe - trụ cột của hệ thống an sinh
xã hội ở mỗi quốc gia.Vì vậy, mô hình tổ chức bảo hiểm sức khỏe sẽ phụ thuộc vào chính sách và mô hình an sinh xã hội tại mỗi quốc gia, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm sức khỏe bao gồm cả nhà nước và các tổ chức/công ty bảo hiểm Tại hầu hết các quốc gia, Nhà nước thường là nhà cung cấp chính cung cấp bảo hiểm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe cơ bản cho các thành viên trong xã hội Bảo hiểm thương mại (Các
tổ chức/công ty bảo hiểm) thường song hành cùng bảo hiểm y tế nhà nước, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm có các gói với phạm vi bảo hiểm đa dạng như bảo hiểm chi phí
y tế mở rộng hay toàn diện, bảo hiểm chi phí y tế với mức tranh nhiệm cao nhằm bổ sung hỗ trợ và bù đắp các khoản chi phí có thể không được bảo hiểm y tế nhà nước chi trả hoặc vượt quá hạn mức chi trả của bảo hiểm y tế nhà nước, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc dài hạn Tuy nhiên, bất kể mô hình tổ chức thế nào, bảo hiểm sức khỏe thương mại luôn phát sinh theo nhu cầu của dân cư và các tổ chức kinh tế, ngày càng
đa dạng về sản phẩm, phạm vi bảo hiểm, phương thức bảo hiểm và chi trả Có thể nói, BHSK là sự bổ sung hữu hiệu cho BHYT Nhà nước, góp phần giảm tỉ lệ chi trả chi phí
y tế từ tiền túi của người dân, ổn định xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
2.1.2 Nội dung của bảo hiểm sức khoẻ phi nhân thọ
Trang 37- Đối tượng tham gia và đối tượng bảo hiểm
BHSK thương mại là một loại hình bảo hiểm rất phổ biến trên thế giới và được đông đảo người dân tham gia, bất kỳ ai có sức khỏe và có nhu cầu tham gia BHYT đều
có quyền tham gia bảo hiểm (Nguyễn Văn Định, 2014) Theo Michael (2007), đối tượng tham gia bảo hiểm sức khỏe thương mại là mọi người dân có nhu cầu bảo hiểm cho sức khỏe của mình hoặc cũng có thể là một người đại diện cho một hộ gia đình, một tổ chức, công ty, v.v đứng ra ký kết hợp đồng bảo hiểm cho các thành viên trong
hộ gia đình, tổ chức, công ty đó Tuy nhiên, phụ thuộc vào từng loại hợp đồng bảo hiểm cụ thể mà đối tượng tham gia có thể phải đáp ứng một số điều kiện nhất định
Đối tượng bảo hiểm của sức khỏe là chi phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến sức khỏe của người được bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm gặp phải những rủi ro
về sức khỏe như bệnh tật, ốm đau, tai nạn, v.v làm phát sinh chi phí khám chữa điều trị hay các trường hợp tổn thương thì sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm xem xét chi trả chi phí (Nguyễn Văn Định, 2014)
Phạm vi bảo hiểm chi phí y tế bao gồm:
+ Chi phí khám bệnh và các xét nghiệm, chuẩn đoán lâm sàng cơ bản như: xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chụp X-quang, v.v trong điều trị ngoại và nội trú;
+ Chi phí phẫu thuật, cấy ghép bộ phận cơ thể;
+ Thuốc và vật tư y tế theo chỉ định của bác sĩ;
+ Chi phí nằm viện;
+ Chi phí cấp cứu và vận chuyển y tế;
+ Chi phí sinh đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh;
+ Chi phí điều trị tâm lý, chỉnh hình và phục hồi chức năng, chi phí tiêm phòng, phòng ngừa bệnh;
Phạm vi BHYT toàn diện còn bao gồm những chi phí sau:
+ Chi phí khám bệnh và các xét nghiệm, chuẩn đoán lâm sàng cơ bản như: xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chụp X-quang, v.v trong điều trị ngoại và nội trú;
Trang 38+ Thuốc và vật tư y tế theo chỉ định của bác sĩ;
+ Chi phí nằm viện;
+ Chi phí cấp cứu và vận chuyển y tế;
+ Chi phí sinh đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh;
+ Chi phí điều trị tâm lý, chỉnh hình và phục hồi chức năng, chi phí tiêm phòng, phòng ngừa bệnh;
+ Chi phí chăm sóc y tế tại nhà;
+ Các xét nghiệm chuẩn đoán chuyên khoa như: chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính, v.v
+ Chi phí phẫu thuật, cấy ghép các bộ phận cơ thể;
+ Chi phí hội chuẩn chuyên khoa;
+ Chi phí về phẫu thuật chỉnh hỉnh, liệu pháp hormone thay thế, vật lý trị liệu; + Chăm sóc nha khoa và nhãn khoa;
+ Chi phí xạ trị, hóa trị và chạy thận nhân tạo;
Theo De Francesco và cộng sự (2011), tuy phạm vi bảo hiểm của các chương trình BHYT rất đa dạng nhưng các phạm vi bảo hiểm được cung cấp đều có các trường hợp loại trừ, như:
+ Khuyết tật bẩm sinh, dị tật bẩm sinh, các bệnh hoặc dị dạng thuộc về gen, tình trạng sức khỏe di truyền với các dấu hiệu từ lúc sinh
+ Bệnh nhân mắc bệnh tâm thần, bệnh HIV/AIDS
+ Tạo hình thẩm mỹ, điều trị cân nặng và các hậu quả có liên quan
+ Các chi phí cung cấp, bảo dưỡng hay lắp ráp sửa chữa các thiết bị hoặc bộ phận giả, dụng cụ chỉnh hình, các thiết bị trợ thính hoặc thị lực, nạng hay xe lăn hoặc các dụng cụ khác
+ Điều trị và phẫu thuật theo yêu cầu của người được bảo hiểm mà không liên quan tới điều kiện điều trị và phẫu thuật bình thường theo quy định Điều trị không được khoa học công nhận, điều trị thử nghiệm
+ Kế hoạch hóa gia đình, điều trị vô sinh, điều trị bất lực, rối loạn chức năng sinh dục, thay đổi giới tính, hay bất cứ hậu quả hoặc biến chứng nào của điều trị trên
+ Người tham gia BH cố tình gây thương tích cho bản thân hoặc tự tử
Trang 39+ Thương tích gây ra do hành vi phạm tội, trái pháp luật
+ Thương tích gây ra do chiến tranh, bạo loạn, đình công, thảm họa tự nhiên và phóng xạ
Phạm vi bảo hiểm tại nạn thường bảo hiểm cho các trường hợp tổn thương, thương tật hoặc tử vong Việc xác định tổn thất thường căn cứ vào tỉ lệ thương tật của từng tình huống rủi ro
Phạm vi bảo hiểm toàn diện: là phạm vi bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm chi phí y tế và bảo hiểm tai nạn con người Ngoài ra, phạm vi bảo hiểm thường được mở rộng thêm với một số trường hợp đặc biệt như tiền cho người chăm sóc, tiền vận chuyển giữa các quốc gia, tùy thuộc vào sản phẩm được từng công ty bảo hiểm thiết
kế trên cơ sở năng lực đánh giá và quản lý rủi ro của họ
- Cơ chế bảo hiểm
Trong bảo hiểm sức khỏe thương mại, cơ chế bảo hiểm thường được thiết kế theo các cơ chế đồng bảo hiểm (đồng chi trả), áp dụng khấu trừ, bồi thường và quy định hạn mức nhằm đảm bảo nâng cao ý thức của người sử dụng bảo hiểm sức khỏe thương mại, chia sẽ gánh nặng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng đối với các chi phí chăm sóc sức khỏe phát sinh Cụ thể:
+ Cơ chế đồng bảo hiểm: hay còn gọi là đồng chi trả Trong văn bản pháp luật hoặc hợp đồng bảo hiểm sẽ quy định tỉ lệ cùng chi trả chi phí y tế phát sinh đối với 1
số dịch vụ hoặc toàn bộ dịch vụ nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính cho cơ quan bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm và nâng cao ý thức khi sử dụng dịch vụ y tế của người được bảo hiểm Ví dụ, trong một số chương trình BHYT của Mỹ, người được bảo hiểm sẽ chi trả 20% chi phí y tế phát sinh khi chi phí y tế phát sinh vượt quá mức khấu trừ, tuy nhiên, mức đồng chi trả của người được bảo hiểm được giới hạn không vượt quá một số tiền nhất định, ví dụ 100.000 Đô la Mỹ (Rejda & cộng sự, 2017)
+ Áp dụng khấu trừ: mức khấu trừ được hiểu là mức tổn thất mà người được bảo hiểm tự chi trả bằng tiền của họ Về nguyên tắc, mức khấu trừ phải nằm trong khả năng có thể chi trả của người được bảo hiểm Một số nước áp dụng mức khấu trừ đầu tiên trong năm bảo hiểm, là khoản chi phí y tế phát sinh đầu tiên trong năm bảo hiểm
mà người được bảo hiểm phải tự chi trả bằng tiền túi, khi chi phí y tế thực tế phát sinh vượt mức khấu trừ thì bảo hiểm sẽ chi trả (Rejda & cộng sự, 2017)
- Số tiền bảo hiểm (còn gọi là mức giới hạn): là hạn mức tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả cho chi phí y tế phát sinh khi người được bảo hiểm khám chữa điều trị Mức giới hạn có thể được áp dụng theo từng dịch vụ hoặc theo lần khám
Trang 40chữa điều trị hoặc cho tổng chi phí y tế phát sinh trong năm tùy thuộc vào chương trình bảo hiểm công hay tư, phạm vi bảo hiểm cơ bản hay toàn diện
- Chi trả BHYT
Có hai phương thức chi trả được áp dụng trong bảo hiểm sức khỏe thương mại: người tham gia bảo hiểm được bảo lãnh viện phí: nhận dịch vụ khám chữa bệnh mà không phải trả tiền; hoặc được bồi hoàn chi phí y tế: tự thanh toán chi phí sau đó được
cơ quan BHYT bồi hoàn chi phí y tế (De Francesco và cộng sự , 2011) Phương thức chi trả BHYT đầu tiên thường được áp dụng trong hệ thống các bệnh viện và cơ sở y tế
đã ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ KCB BHYT với doanh nghiệp bảo hiểm Việc doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp chi trả chi phí y tế cho các cơ sở y tế hạn chế tình trạng trục lợi bảo hiểm và thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ bảo hiểm, giúp doanh nghiệp bảo hiểm kiểm soát các khoản chi trả dễ dàng hơn (Peter, 2007) Phương thức chi trả này được áp dụng phổ biến Ở phương thức chi trả thứ hai, sau khi tự thanh toán chi phí y tế với cơ sở y tế, người tham gia bảo hiểm gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường gửi doanh nghiệp bảo hiểm để xem xét chi trả
Các loại hình bảo hiểm sức khoẻ cơ bản
Bảo hiểm sức khỏe thương mại được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau
- Phân loại theo rủi ro/sự kiện bảo hiểm, bảo hiểm sức khỏe được chia thành năm loại:
Bảo hiểm tai nạn: bảo hiểm cho các rủi ro có nguyên nhân là tai nạn (đây cũng có thể là nguyên nhân của trường hợp rủi ro tử vong hoặc mất khả năng lao động dài hạn);
Bảo hiểm ốm đau: là sản phẩm bảo hiểm có các phạm vi bảo hiểm cung cấp các quyền lợi bảo hiểm hoàn trả/thanh toán chi phí y tế (thường là hoàn trả một phần hoặc toàn bộ chi phí liên quan đến ốm đau hoặc sinh con), và/hoặc các quyền lợi nằm viện (bao gồm các khoản thanh toán theo thời gian liên quan đến thời gian nằm viện, các khoản thanh toán này không liên quan đến các chi phí thực tế phát sinh); hoặc cung cấp các quyền lợi chi trả cố định trong từng sự kiện mất khả năng lao động dài hạn hoặc thương tật tạm thời (theo bảng tỉ lệ trả tiền)
Bảo hiểm mất khả năng lao động: bảo hiểm mất khả năng lao động được bảo hiểm trong nhiều loại bảo hiểm khác nhau với các phạm vi bảo hiểm khác nhau, cung cấp các quyền lợi bảo hiểm trong trường hợp mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn Các đơn bảo hiểm bảo vệ thu nhập cung cấp các khoản chi trả thu nhập theo định kì (thường là hàng tháng) cho người được bảo hiểm nếu họ không thể làm việc do