Theo đó, việc thực hiện tốt những chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là một nhiệm vụ thường xuyên và liên tục trong bối cảnh hiện nay, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận án là trung thực Những kết luận nêu trong luận án chưa có công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả
Nguyễn Thị Dương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 8
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 8
1.2 Nội dung các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 17
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 19
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN 25
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên 25
2.2 Khái quát việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên giai đoạn từ năm 2015 đến nay 37
2.3 Đánh giá về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên giai đoạn từ năm 2015 đến nay 47
2.4 Kết quả khảo sát đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của công chức cấp xã/phường, đề xuất giải pháp đào tạo giai đoạn tiếp theo 54
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH HƯNG YÊN 64
3.1 Mục tiêu về nâng cao chất lượng trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên tính đến năm 2020 64
3.2 Đề xuất giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 65
3.3 Một số kiến nghị khác 72
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
Sơ đồ 2.1 Đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Hưng Yên 28 Bảng 2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 54 Bảng 2.2 Kết quả khảo sát mức độ phù hợp của thời gian và hình thức các khóa đào tạo, bồi dưỡng 56 Bảng 2.3 Mức độ đáp ứng chung so với yêu cầu của công tác đào tạo CC cấp xã 58 Bảng 2.4 Kết quả khảo sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tới của công chức 59 Bảng Thống kê công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2015 -
2019 theo trình độ trình độ ngoại ngữ và tin học 86
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1 Kết quả khảo sát đánh giá phương pháp truyền đạt của giảng
viên các khóa đào tạo, bồi dưỡng 56 Biểu 2.2 Kết quả khảo sát đánh giá mức độ phù hợp của kiến thức, kỹ
năng được đào tạo so với nhu cầu 57 Biểu 2.3 Thống kê số lượng công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên giai
đoạn 2013 – 2017 83 Biểu 2.4: Thống kê công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên tính đến 12/
2017 theo độ tuổi 83 Biểu 2.5 Thống kê công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013 –
2017 theo trình độ học vấn 84 Biểu 2.6 Thống kê công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên tính đến 12/
2017 theo trình độ chuyên môn 84 Biểu 2.7 Thống kê công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013 -
2017 theo trình độ lý luận chính trị 85 Biểu 2.8 Thống kê công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013 -
2017 theo trình độ lý quản lý nhà nước 85
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là
nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [18, tr.371] Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là chính
quyền cấp xã) là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chăm lo đời sống hàng ngày của nhân dân ở địa phương Đồng thời, chính quyền cấp
xã trực tiếp bảo đảm trên thực tế việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền và hệ thống chính trị cấp xã nói chung phụ thuộc trước hết vào năng lực của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, vì đây là cấp gần dân nhất, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Điều đó cho thấy, CBCC cấp xã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay [18, tr 45-48]
Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Theo đó, việc thực hiện tốt những chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là một nhiệm
vụ thường xuyên và liên tục trong bối cảnh hiện nay, nhằm xây dựng đội ngũ
cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và có khả năng vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước “công tâm,
thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân” , đồng thời phải “trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi
Trang 9dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” [2,
Mục I, Khoản 1]
Nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ CBCC, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đào tạo bồi dưỡng CBCC nói chung, CBCC chức cấp xã nói riêng Thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã của Đảng và Nhà nước ta, trong thời gian qua, tỉnh Hưng Yên luôn quan tâm đến việc xây dựng và phấn đấu thực hiện tốt các chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung của tỉnh Trong thời gian, việc thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã đã đạt được những kết quả nhất định: Bộ máy chính quyền cấp cơ sở ngày càng ổn định và phát triển; chất lượng CBCC ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao: có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống tốt, trình độ chuyên môn được đào tạo bản bài, chuyên nghiệp, có năng lực thực thi công vụ, có trình độ ngoại ngữ, tiếp cận và khai thác tốt công nghệ thông tin, có tri thức, kiến thức hội nhập để xây dựng tỉnh Hưng Yên phát triển bền vững trong tương lai Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định: trong bối cảnh đẩy mạnh nền hành chính nhà nước, đội ngũ công chức cấp xã đang bộc lộ một số hạn chế (chuyên môn, lý luận chính trị chưa được đào tạo bài bản, chuyên sâu, năng lực tham mưu quản lý nhà nước còn hạn chế) Nguyên nhân một phần là do đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chưa được hoàn thiện, thống nhất Hơn nữa, việc nâng cao trình độ đáp ứng tiêu chuẩn đặt ra đối với đội ngũ này là nhiệm
vụ hết sức quan trọng đối với cấp chính quyền cơ sở nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của mỗi địa phương [36]
Trang 10
Xuất phát từ vai trò và thực trạng của đội ngũ công chức cấp xã nêu trên, đòi hỏi phải nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định các giải pháp thích hợp trong việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn mới của tỉnh Với những lý do đó, Học viên
lựa chọn vấn đề “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính sách công, với
mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh nhà
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách đào tạo và bồi dưỡng CBCC, trong đó có chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là đề tài có tính thời sự và đã được nhiều nhà khoa học, nhiều cán bộ quản lý quan tâm, nghiên cứu như:
- Luận văn Thạc sỹ: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” của Hà Thị Nhung, Trường Đại học
Lao động và Xã hội, năm 2013
Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề đào tạo CBCC cấp xã, thị trấn, đồng thời đánh giá thực trạng đào tạo CBCC cấp xã của huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội nhằm chỉ ra các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực trạng, luận văn đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng công tác đào tạo CBCC cấp xã của huyện Chương Mỹ đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
- Luận văn Thạc sỹ: “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai" của Phạm Chí
Thịnh, Học viện Khoa học xã hội, năm 2018
Trang 11Luận văn đã luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung; khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2013 -2017, bao gồm: các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng CBCC; từ đó đề xuất phương hướng cũng như giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC trên địa bàn huyện Thống Nhất
- Luận văn Thạc sĩ: "Thực hiện chính sách đào tạo, Bồi dưỡng công
chức cấp xã từ thực tiễn tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam" của Phan Văn
Phờ, Học viện Khoa học xã hội, năm 2018
Luận văn nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CC cấp
xã trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012 -2017, từ việc phân tích nhu cầu đào tạo, đến thiết kế chương trình đào tạo; xây dựng tài liệu đào tạo; lập kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch Luận văn cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng cũng như thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã; nêu lên những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế này Qua đó, luận văn đề xuất một số giải pháp và những kiến nghị nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với CC cấp xã tại thị xã Điện Bàn nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đối với công tác cán bộ của thị xã trong thời gian tới
Có thể thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp nâng cao việc thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng CBCC, nhưng chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chuyên biệt về việc thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã tại tỉnh Hưng Yên Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực
Trang 12tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao việc thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ CBCC cơ sở của tỉnh Hưng Yên hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên, luận văn đề xuất những giải pháp và đề xuất kiến nghị nâng cao việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã nói riêng và CBCC nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ
cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã; phân tích làm rõ sự cần thiết phải thực hiện chính sách và những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã
- Phân tích, đánh giá thực tiễn việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên, nêu rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức thuộc UBND xã, phường, thị trấn ở tỉnh Hưng Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát, đánh giá việc thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn từ năm 2015 đến nay
Trang 135 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng cơ sở lý luận nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu thực tiễn tại không gian nghiên cứu Luận văn có vận dụng cách tiếp cận đa chiều, gắn liền với những chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo bồi dưỡng CBCC nói chung và công chức cấp xã nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu có sẵn và kế thừa các thông tin, kết quả nghiên cứu có sẵn (quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã nói riêng; các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài; các tạp chí chuyên ngành, báo cáo thống kê )
- Phương pháp khảo sát, điều tra qua phiếu khảo sát nhằm có thêm thông tin để đánh giá việc thực hiện chính sách: Thu thập số liệu định lượng
và định tính tại thực địa qua việc xây dựng phiếu khảo sát và gửi trực tiếp đến mẫu khảo sát là các công chức cấp xã đã tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng (60 công chức), sau đó phân tích xử lý số liệu về thực trạng thực hiện chính sách tại địa phương
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn: Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm phù hợp, có tính khả thi, tính
bền vững của chính sách đào tạo đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên
Trang 14- Kết quả đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách tại địa phương
là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định chính sách tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ công chức cấp xã ở Hưng Yên
- Luận văn có thể được sử dụng với mục đích tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan sau này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Chương 2: Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả và hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã tại tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
1.1.1 Công chức cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của công chức cấp xã
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia Ở các quốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị, công chức được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Ở những nước chỉ có duy nhất một Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội, quan niệm công chức được mở rộng hơn, ngoài những chủ thể nêu trên còn bao gồm những đối tượng có dấu hiệu tương tự làm việc trong tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội
Theo Từ điển Tiếng Việt, công chức là “những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [36, tr 207]
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
Trang 16mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [20, Điều 4, Khoản 2]
Công chức cấp xã là “công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [20, Điều 4, Khoản 3] Công chức cấp xã theo quy định có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội [13, Mục I, Điều 3]
Đội ngũ công chức cấp xã có chức trách tham mưu, đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND và chủ tịch UBND cấp xã, đồng thời trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công trong các lĩnh vực theo quy định của pháp luật và sự phân công của Chủ tịch UBND cấp xã Số lượng CBCC cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã, cụ thể: cấp xã loại 1 bố trí không quá 25 người, cấp xã loại 2 bố trí không quá 23 người, cấp xã loại 3 bố trí không quá 21 người Công chức cấp xã do UBND cấp huyện quản lý
Để phân biệt công chức cấp xã với cán bộ cấp xã, cán bộ cấp xã có các chức vụ sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí
Trang 17thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [9, Điều 3, Khoản 1]
1.1.1.2 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã
Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò, vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân và giữa công dân với Nhà nước Với vị trí là cấp cơ sở, vai trò của công chức cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ sau:
- Quan hệ giữa đường lối, chính sách và pháp luật với công chức cấp xã: Công chức cấp xã có phẩm chất và năng lực tốt thì có khả năng cụ thể hóa chính sách và tổ chức thực hiện tốt pháp luật Ngược lại, nếu công chức cấp
xã không vững mạnh thì việc đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống trở nên rất khó khăn Như vậy, có thể nói rằng, đội ngũ công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước [17, tr.34]
Không chỉ đóng vai trò là những người trực tiếp đem chính sách, pháp luật vào cuộc sống của người dân, công chức cấp xã còn là những người nắm bắt tình hình triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách, pháp luật đó
và phản ánh cho các cơ quan lập pháp để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn
- Quan hệ giữa bộ máy chính quyền với công chức cấp xã: Công chức cấp xã là nhân tố mang tính “động” ở cơ sở nhưng lại chịu sự chi phối, ràng buộc của tổ chức chính quyền cơ sở, yêu cầu phải hoạt động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã khoa học và hợp lý sẽ thúc đẩy và tạo điều kiện cho các công chức cấp xã thực thi công vụ có hiệu lực và hiệu quả Đội ngũ công chức cấp xã chỉ có sức mạnh
Trang 18khi gắn với tổ chức chính quyền và nhân dân, nếu tách rời thì đội ngũ này sẽ mất sức mạnh quyền lực và hiệu lực do nhân dân tạo nên [36]
- Quan hệ giữa với chức trách thực thi công vụ với công chức cấp xã: Nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của CBCC nói chung trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội Một nền công vụ hiệu lực, hiệu quả tại cơ sở phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng nòng cốt trong việc quản lý hành chính nhà nước ở cấp xã Mỗi công chức cấp xã cần đề cao tính trách nhiệm với tinh thần tận tụy, mẫn cán và làm tròn bổn phận của mình trong hoạt động thực thi công vụ để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
- Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với công chức cấp xã: Đội ngũ công chức cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực tiếp bảo đảm
kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật Đây cung là đội ngũ đóng vai trò tiên phong, gương mẫu trong đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, góp phần làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đồng thời, thông qua hoạt động của công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình
1.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về “đào tạo” và “bồi dưỡng” Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính Phủ định nghĩa như sau:
“1 Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri
thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học
Trang 192 Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [10, tr.3]
Theo cách hiểu trên, đào tạo là quá trình truyền đạt lượng kiến thức nhất định qua một quá trình hay quy trình dạy và học khép kín trong một khoảng thời gian nhất định Còn bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình hay phương pháp truyền đạt thêm mà có thể làm cho người học được cung cấp thêm năng lực và kiến thức Như vậy, tuy “đào tạo” và “bồi dưỡng” là hai khái niệm độc lập, nhưng đều nhằm mục đích chung làm cho người học có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc
và năng lực công tác tốt hơn Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo hoặc bồi dưỡng rất khó phân chia rõ ràng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen và kế
thừa lẫn nhau
Như vậy, có thể khái quát khái niệm đào tạo, bồi dưỡng nói chung là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc được giao một cách chất lượng, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thực hiện Quan niệm này mang tính thực tiễn của Việt Nam và cũng phù hợp với khái niệm về đào tạo,
bồi dưỡng trong từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo, bồi dưỡng là làm tăng năng
lực và phẩm chất cho người được đào tạo, bồi dưỡng” [30, tr.119]
Nội dung bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức nói chung gồm: (1) Lý luận chính trị; (2) Kiến thức quốc phòng và an ninh; (3) Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; (4) Kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức hội nhập quốc tế; (5) Tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ [11, Mục I, Chương III, Điều 16]
(1) Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị
Trang 20Mục đích: Xây dựng đội ngũ CBCC có lập trường tư tưởng vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất, đạo đức tốt
Nội dung: Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho các chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý; Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng; bồi dưỡng cập nhật, nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
(2) Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
Nhằm bồi dưỡng cho công chức nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về quốc phòng an ninh, kết hợp phát triển kinh tế, xã hội và hoạt động đối ngoại gắn với tăng cường củng cố quốc phòng và an ninh, những âm mưu của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam Nâng cao nhận thức, năng lực toàn diện cho công chức để vận dụng có hiệu quả trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo từng cương vị, chức trách và thực hiện tốt quy định về tiêu chuẩn kiến thức quốc phòng và an ninh cho công chức và người lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
(3) Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước
Mục đích: Xây dựng đội ngũ CBCC vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng của CBCC trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới
Trang 21+ Bồi dưỡng văn hóa công sở, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử theo các quy định hiện hành
(4) Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn,
nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức hội nhập quốc tế
Mục đích: Cập nhật kiến thức về pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ và năng lực thực thi công việc, năng lực xây dựng, hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các chương trình,
dự án có hiệu quả, đáp ứng các mục tiêu phát triển
+ Đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh công chức, ngạch công chức
(5) Đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học
Mục đích: Tăng cường khả năng giao dịch, giao tiếp, nghiên cứu tài liệu, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao hiệu quả, năng suất và năng lực làm việc của CBCC và hoạt động của cả
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, theo đó, là tổng thể những quy định pháp lý có tính nhất quán, thể hiện thái độ, quan điểm của
Trang 22Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể về đào tạo bồi dưỡng công chức thực hiện mục tiêu góp phần xây dựng đội ngũ CBCC có đủ trình độ, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã hiện nay được triển khai theo kế hoạch và thực hiện dưới sự chỉ đạo thống nhất của các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương Các hoạt động bồi dưỡng tăng cường năng lực CC cấp xã được thực hiện từ nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước
và một số nguồn khác
Thực hiện chính sách công là một khâu cấu thành chu trình chính sách,
là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng của Nhà nước Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung
và hoàn thiện chính sách cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống Cụ thể, tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi cưỡng công chức cấp
xã là việc dùng chính sách công làm công cụ chủ yếu để đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống với đối tượng cụ thể là công chức cấp xã, với mục tiêu thúc đẩy quá trình nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới
Trên thế giới hiện nay, Chính phủ các nước đều rất coi trọng việc xây dựng và thực hiện các chính sách đào tạo CBCC, cho rằng đó là một khâu quan trọng để nâng cao năng lực và vị trí của quốc gia trên trường quốc tế Nhật Bản là một nước tiêu biểu, coi việc đào tạo công chức là một cách “đầu
tư trí lực”- đầu tư quan trọng nhất, là khai thác tài nguyên trí óc của các nhân tài Cùng với đó, Chính phủ Pháp khi tổng kết thành quả đào tạo nguồn nhân lực đã đưa ra kết luận, đào tạo nhân lực là sự “đầu tư tốt nhất” của một quốc gia Như vậy, có thể nói coi trọng và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC đã trở thành một xu thế của thế giới [32] Do đó, chính sách đào tạo
Trang 23CBCC nói chung và đào tạo CC cấp xã nói riêng có nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc phát triển nền hành chính của một quốc gia Đây là nhu cầu bức thiết để nâng cao trình độ quản lý hành chính nhà nước, nâng cao hiệu suất các mặt công tác của tổ chức; đồng thời là biện pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ CBCC giỏi, tinh thông, liêm khiết, có năng lực và làm việc có hiệu quả [35]
Trong bối cảnh mới của đất nước, khu vực và thế giới, việc thực hiện tốt các chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CC cấp cơ sở đòi hỏi phải được nhận thức mới, sâu sắc và toàn diện, phải hướng tới hình thành đội ngũ CC có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, nội dung, tính chất công việc có nhiều thay đổi; việc bám sát chương trình và tiêu chuẩn CBCC quốc tế và khu vực đạt chuẩn quốc tế đặt ra
là rất cấp thiết
Để thực hiện mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà
nước có số lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu thực tiễn, từng bước tiến tới chuyên nghiệp, hiện đại” [4, tr.12] thì điều kiện tiên quyết là phải coi việc
thực hiện các chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC là một khâu đột phá trong cải cách bộ máy nhà nước Thực hiện chính sách đào tạo nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý cho đội ngũ CC cấp xã không phải là một yêu cầu mang tính lịch sử, chỉ tồn tại trong quá trình chuyển đổi, nhất thời mà là một yêu cầu đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm hướng tới xây dựng một đội ngũ CC cấp xã chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất năng lực để làm tốt công việc mà Đảng và Nhà nước giao phó
Trang 241.2 Nội dung các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống, có thể được coi là khâu quan trọng nhất trong chu trình chính sách công và gồm bảy bước cơ bản:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai việc thực hiện chính sách
Các cơ quan triển khai thực thi chính sách công từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện chính sách trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Kế hoạch này bao gồm: Kế hoạch tổ chức, điều hành; dự kiến các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện chính sách; Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách
Bước 2: Phổ biến tuyên truyền việc thực hiện chính sách
Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt sẽ giúp cho các đối tượng chính sách và đối tượng tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tính đúng đắn và tính khả thi của chính sách Qua đó, mỗi CBCC sẽ nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Muốn tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đên quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Việc phân công phối hợp giữa cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp cần được thực hiện một cách đồng bộ và thống nhất
Trang 25Bước 4: Duy trì việc thực hiện chính sách
Việc duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại và phát huy hết tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì thực hiện chính sách cần phải đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả, đồng bộ trong phối hợp; đảm bảo các nguồn lực, thời gian và quy trình thủ tục thực hiện chính sách; Đảm bảo thông suốt
về thông tin trong quá trình triển khai, duy trì chính sách
Bước 5: Điều chỉnh biện pháp thực hiện chính sách
Trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách, điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần diễn ra thường xuyên Nếu chính sách còn những bất cập, hạn chế chưa phù hợp với thực tiễn dẫn đến việc thực hiện chính sách gặp khó khăn thì phải có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với tình hình thực tế
và đáp ứng yêu cầu quản lý Về nguyên tắc, cơ quan, tổ chức ban hành chính sách có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt trong thực hiện chính sách
Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách
Đôn đốc thực hiện chính sách là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực hiện nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện chính sách Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách, cần có hoạt động đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng chống những hành
vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách công
Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm quá trình tổ chức thực hiện chính sách
Đánh giá, tổng kết là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo – điều hành
và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách là
Trang 26các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Ngoài ra, còn xem xét, đánh giá cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực hiện chính sách công
Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực thi chính sách công, chủ thể thực thi cần phải thực hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau, theo đó, nội dung các bước có thể được điều chỉnh (rút ngắn hoặc thay đổi) tùy theo tính chất, nội dung của chính sách và chủ thể thực hiện chính sách công, nhưng phải dựa trên bảy bước cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách công nêu trên
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là một quá trình phức tạp, diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức và
cá nhân khác nhau Do vậy, kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Một
số nhân tố cơ bản tác động đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã như sau:
Trang 27Trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, các ngành, các địa phương đã cụ thể hóa thành các chính sách thực hiện và các giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã
Chính sách CBCC nói chung trong đó có chính sách về đào tạo CC cấp
xã được thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong
hệ thống chính trị nhằm điều chỉnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng, những quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ CBCC, phù hợp với hoàn cảnh khách quan
và những mục tiêu của Đảng, Nhà nước trong mỗi thời kỳ lịch sử
Trong giai đoạn 1996 – 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện Quyết định số 874/QĐ-TTg ngày 20/11/1996 về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC; Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 07/5/2001 phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2001 – 2005
Bước sang giai đoạn 2006 - 2010, nhằm phát huy các kết quả đạt được, chuyển hướng mục tiêu và khắc phục những tồn tại của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2006 – 2010 Đến nay, để phù hợp với các yêu cầu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung, trong đó có quy định kế hoạch đào tạo CBCC cấp xã giai đoạn 2011 – 2015
Các chính sách về công tác đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã trong thời gian qua đã thể hiện sự đúng đắn, hợp lý và đã có những tác động tích cực đối với việc nâng cao năng lực, chuyên môn đối với CC cấp xã
Những nguồn lực cho việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Trang 28Những nguồn lực này bao gồm: các thể chế, văn bản, chính sách của Đảng và Nhà nước; nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ
- Chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC Các chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích sẽ thúc đẩy các hoạt động đào tạo bồi dưỡng Do đó, cũng thúc đẩy CC cấp xã tích cực tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác Ngoài ra còn một số các chính sách mang tính chất bắt buộc phải tham gia các chương trình đào tạo bồi dưỡng theo quy định CBCC cũng có nhiệm vụ thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao
- Các chính sách hỗ trợ của cơ quan, đoàn thể đối với CC cấp xã tham gia học tập, bồi dưỡng cũng đóng vai trò quan trong trong việc nâng cao tinh thần học tập cho người học Mọi hoạt động của con người đều có mục đích và bao giờ cũng có một động lực tương ứng nhằm thúc đẩy hoạt động để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần Vì vậy, thường xuyên chăm lo tới lợi ích vật chất (hỗ trợ tiền ăn ở, tiền đi lại, tiền học phí ) và lợi ích tinh thần (biểu dương, khen thưởng khi đạt được kết quả cao trong quá trình học tập ), có chính sách đãi ngộ phù hợp
- Nguồn ngân sách để thực hiện chính sách:
+ Ngân sách Nhà nước cấp: Kinh phí dành cho việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung được đảm bảo từ nguồn ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành; ngoài ra còn có các nguồn kinh phí khác như: kinh phí của cơ quan quản lý, sử dụng CBCC; đóng góp của CBCC; tài trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Trang 29+ Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương, UBND tỉnh chủ động trình HĐND tỉnh quyết định mức chi
cụ thể cho phù hợp để thực hiện việc chi ngân sách cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC tại địa phương
- Điều kiện cơ sở vật chất: là yếu tố cần thiết có tác động tích cực hoặc hạn chế tới việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC Nếu cơ sở vật chất được trang bị tốt là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, ngược lại sẽ gây khó khăn cho quá trình thực hiện chính sách này
- Giảng viên: là những người đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải kiến thức, hướng dẫn phương pháp, nội dung kiến thức, tác động trực tiếp tới khả năng tiếp thu của người học Đội ngũ giảng viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, phẩm chất và năng lực tốt là một yếu tố tác động tích cực tới việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC
- Giáo trình, tài liệu phục vụ công tác đào tạo bồi dưỡng: được chia làm
3 loại chủ yếu sau: 1) Tài liệu được biên soạn, phê duyệt và ban hành (các lớp
lý luận chính trị, bồi dưỡng kiến thức QLNN các ngạch công chức); 2) Tài liệu do các cơ sở đào tạo tự biên soạn, sử dụng có tính chất nội bộ, có thể thay đổi theo từng khoá học, từng năm; 3) Tài liệu tham khảo (các văn bản chính sách, qui định của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành )
Trang 30thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ và tích cực, hiệu quả Hoạt động đào tạo bồi dưỡng cũng đạt được kết quả tốt, hoàn thành kế hoạch đã đề ra
Ngược lại, nếu mỗi công chức chưa thực sự có mục đích học tập đúng đắn, phục vụ cho công việc chuyên môn, họ sẽ có tư tưởng đi đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu là đối phó, để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theo tiêu chuẩn chức danh hoặc để được đề đạt, bổ nhiệm, được chuyển ngạch cao hơn Như vậy sẽ gây nên tình trạng lãng phí, tốn nhiều thời gian, kinh phí tổ chức các lớp đào tạo nhưng mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng từ các khóa đào tạo của CC không cao, năng lực làm việc không được cải thiện Mục tiêu và kết quả của hoạt động đào tạo bồi dưỡng vì thế cũng sẽ không đạt được
Đặc điểm, năng lực của các công chức cấp xã tham gia chính sách
Trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng; độ tuổi công tác… đều có ảnh hưởng đến công tác đào tạo CC cấp xã, cụ thể, ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo CC Đối với những CC chưa đạt đủ tiêu chuẩn chức danh phải tham gia học tập để đạt chuẩn về trình độ đối với chức danh đó Những CC có độ tuổi cao thường có nhu cầu đào tạo bồi dưỡng thấp hơn do khả năng tiếp thu kiến thức của họ không nhạy bén như đội ngũ công chức trẻ
Năng lực của chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách
Năng lực của chủ thể tham gia thực hiện chính sách là một trong những yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả của việc thực hiện chính sách Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc phần lớn vào năng lực của đội ngũ CBCC tham gia thực hiện chính sách Năng lực thực hiện chính sách chủ yếu được thể hiện ở các mặt: Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; năng lực phổ biến, tuyên truyền việc thực hiện chính sách; năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách; năng lực đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách và tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện
Trang 31chính sách; năng lực điều chỉnh chính sách Do đó, muốn nâng cao hiệu quả, chất lượng thực hiện chính sách công cần phải có các giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ CBCC tham gia thực hiện chính sách
Tiểu kết chương
Với chủ trương: “Đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức với
chương trình, nội dung sát hợp, chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường, ”,
Đảng ta coi việc thực hiện các chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là nhiệm vụ thường xuyên, cần được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đặc biệt đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính cấp xã trong bối cảnh mới hiện nay
Trong điều kiện phát triển của tỉnh Hưng Yên hiện tại, các chính sách CBCC nhằm xây dựng đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh là một trong những nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị cơ sở Các chức danh CC cấp xã là một bộ phận quan trọng của đội ngũ CBCC cấp xã có chức năng, nhiệm vụ tham mưu giúp UBND xã/phường/thị trấn thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác được giao
Để cung cấp cơ sở lý luận cho việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên, học viên đã phân tích làm rõ vị trí, vai trò và đặc điểm của công chức cấp xã Trong chương này, học viên cũng đã nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã và các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay, nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá được thực trạng thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng CC cấp xã trên địa bàn tỉnh một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, đồng thời đề xuất giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính trong thời gian tới
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và dân số, tình hình kinh tế - văn hoá – xã hội tỉnh Hưng Yên
Sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng, ngày 01/01/1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập trong bối cảnh hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, công nghiệp chỉ có vài doanh nghiệp quốc doanh nhỏ bé, nguồn thu ngân sách chủ yếu từ thuế nông nghiệp
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, là tỉnh đồng bằng không có rừng, núi và biển; Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây giáp tỉnh Hà Nam Với điều kiện địa lý thuận lợi có quốc lộ số 5 chạy qua, nằm trong khu vực trọng điểm tam giác kinh tế Bắc Bộ nên tỉnh Hưng Yên có nhiều ưu thế
để phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ
Hưng Yên có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với ba hệ thống sông lớn chảy qua: sông Hồng, sông Luộc và sông Đuống, cùng với hệ thống sông nội địa như: sông Cửu An, sông Kẻ Sặt, sông Hoan Ái, sông Nghĩa Trụ, sông Điện Biên, sông Kim Sơn, là điều kiện thuận lợi không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho sự phát triển công nghiệp, sinh hoạt và giao thông đường thuỷ
Toàn tỉnh có diện tích là 923,093 km2 Dân số khoảng 1,2 triệu người với mật độ dân số 1.252 người/km2 (năm 2015); trong đó số người trong độ
Trang 33tuổi lao động chiếm hơn 50% Điều này giúp tỉnh Hưng Yên có nguồn nhân lực dồi dào trong các ngành đang phát triển của tỉnh Hơn hết, tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện phát triển lực lượng lao động có chuyên môn, tay nghề cao [31]
Về kinh tế: cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, tỉnh Hưng Yên
được đánh giá là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và cao Nền kinh tế Hưng Yên đang đổi thay từng ngày Cơ cấu kinh tế đang dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn cũng có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng giữa chăn nuôi - trồng trọt được cân đối Hiện nay, tỉnh Hưng Yên chú trọng vào phát triển ngành Công nghiệp và dịch vụ Số dự án có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng lên, sản phẩm được nhiều thị trường chấp nhận và có xu thế phát triển tốt.Trong những năm trở lại đây, Hưng Yên có thế mạnh trong phát triển ngành Công nghiệp của miền Bắc, điển hình là các khu công nghiệp mọc lên đem lại lợi nhuận kinh tế cao cho toàn tỉnh Một số khu công nghiệp lớn như Phố Nối A, Phố Nối B, Khu Công nghiệp Thăng Long II, Khu Công nghiệp Như Quỳnh Chú trọng vào các sản phẩm công nghiệp như dệt may,
ô tô, xe máy, thực phẩm
Tuy nhiên, một số địa phương trong tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, chưa thu hút đầu tư và phát triển kinh tế Riêng ngành du lịch và dịch vụ chưa thật
sự thu hút và cần phải nỗ lực nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu khai thác tiềm năng phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước
Về văn hoá - xã hội: Từ trước đến nay, Hưng Yên là một tỉnh có nền
văn hiến lâu đời được gìn giữ hàng nghìn năm và có giá trị to lớn Nét nổi bật trong truyền thống văn hiến của người Hưng Yên là truyền thống hiếu học và
đỗ đạt cao trong các kỳ thi khoa bảng Gần 10 thế kỷ khoa bảng dưới thời phong kiến Việt Nam (từ năm 1075 đến năm 1919), Hưng Yên có hơn 200 vị
Trang 34đỗ đại khoa, nhiều người đã trở thành những nhân vật được sử sách ca ngợi, được nhân dân truyền tụng như: danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Phạm Ngũ Lão, Triệu Quang Phục, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật; Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan; các nhà hoạt động chính trị: Tô Hiệu, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, hoạ sĩ
Tô Ngọc Vân
Mảnh đất Hưng Yên thích hợp để trồng nhãn, những quả nhãn nơi đây luôn có mùi thơm đặc trưng và cây lúc nào cũng sai trĩu quả Nhãn lồng Hưng Yên rất nổi tiếng bởi quả to tròn, có vỏ màu nâu nhạt và cùi dày màu trắng ngà
Cơ cấu tổ chức hành chính cấp huyện của tỉnh Hưng Yên: Tỉnh Hưng
Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố và 09 huyện, trong đó chia làm 07 phường, 09 thị trấn và 145 xã Kể từ ngày 01/5/2019, huyện Mỹ Hào được công nhận là thị xã Mỹ Hào, nên tỉnh Hưng Yên có 10 đơn
vị hành chính cấp huyện, gồm 08 huyện, 01 thành phố và 01 thị xã; 161 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 139 xã, 14 phường và 08 thị trấn Thành phố Hưng Yên
(trước là thị xã Hưng Yên) là trung tâm chính trị và văn hóa của tỉnh
Trang 35Sơ đồ 2.1 Đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Hưng Yên
(Nguồn: Website Ban Tuyên giáo tỉnh Hưng Yên, 2018) Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến việc thực hiện chính sách đào tạo CC cấp xã ở tỉnh Hưng Yên
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội đã mang lại cho Hưng Yên nhiều tiềm lực để phát triển, tuy nhiên cũng còn không ít khó khăn đặc biệt là đối với công tác đào tạo CC cấp xã của tỉnh trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Tỉnh Hưng Yên
Thành phố Hưng Yên: 07 phường, 5 xã
Huyện Văn Giang: 01 thị trấn, 10 xã
Huyện Tiên Lữ: 01 thị trấn, 17 xã Huyện Phù Cừ: 01 thị trấn, 13 xã
Huyện Văn Lâm: 01 thị trấn, 10 xã Huyện Mỹ Hào: 01 thị trấn, 12 xã Huyện Yên Mỹ: 01 thị trấn, 16 xã Huyện Khoái Châu: 01 thị trấn, 24 xã Huyện Ân Thi: 01 thị trấn, 20 xã Huyện Kim Động: 01 thị trấn, 18 xã
Trang 36Lợi thế và tiềm năng:
- Tỉnh Hưng Yên có lợi thế về vị trí địa lý và kết cấu hạ tầng là cơ hội lớn để tỉnh phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ Đặc biệt, quốc lộ 5 đoạn chạy qua lãnh thổ Hưng Yên mở ra cơ hội cho việc hình thành các khu công nghiệp tập trung, tạo động lực lớn thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển Đồng thời, tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội; từ đó tỉnh có điều kiện trang bị cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc cho đội ngũ
CC cấp xã Trong điều kiện đó, các chế độ, chính sách đối với CBCC cấp xã nói chung được quan tâm, đầu tư và thực hiện tốt hơn, nhất là chính sách đào tạo, bồi dưỡng Đó là cơ sở tốt để tạo môi trường tốt, đảm bảo những nguồn lực cho cho việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC nói chung và đào tạo CC cấp xã nói riêng
- Tỉnh có đội ngũ CBCCVC không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác, đảm bảo năng lực tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã của tỉnh
- Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động rất cao, là nguồn nhân lực dồi dào,
là nguồn bổ sung nguồn nhân lực cho đội ngũ CC cấp xã
- Mặt bằng dân trí khá cao tạo điều kiện thuận lợi trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Đồng thời, nhân dân sẽ đề xuất những ý kiến đóng góp xác thực để CBCC khắc phục những tồn tại, hạn chế, đánh giá hoạt động của mình một cách đúng mực nhằm tìm ra các giải pháp phát triển có hiệu quả ở địa phương
- Ngoài ra, các đặc điểm, tình hình trên sẽ tạo thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh sát sao hơn, đảm bảo các phát sinh, vướng mắc khi thực hiện chính sách tại các địa phương trên địa bàn tỉnh được phát hiện nhanh chóng Qua đó, dễ dàng nắm chắc tình hình thực thi nhiệm vụ của
Trang 37CBCC cấp xã, kịp thời ban hành các chế độ, chính sách khen thưởng hoặc kỷ luật cho phù hợp
Khó khăn
Hưng Yên là tỉnh có diện tích nhỏ và điểm xuất phát thấp Vì vậy, trong thời gian tới, tỉnh phải nỗ lực hơn nữa, phát huy những tiềm năng sẵn có, xây dựng định hướng và giải pháp đúng đắn để phát triển nhanh để bắt kịp với xu thế phát triển của khu vực và toàn quốc
Công việc của cấp cơ sở ngày càng nhiều, vai trò của các CBCC cấp xã ngày càng quan trọng khi là đội ngũ sâu sát nhất đến đời sống nhân dân Điều này đang tạo cho tỉnh áp lực rất lớn trong việc thực hiện công tác đào tạo CBCC cấp xã, nâng cao chất lượng CBCC nói chung đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao trong bối cảnh hiện nay
2.1.2 Khái quát số lượng, chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2015 đến nay
Theo thống kê của Sở Nội vụ, tính đến ngày 31/12/2018, trên địa bàn
161 xã, phường, thị trấn của tỉnh Hưng Yên có 3393 CBCC cấp xã, trong đó
có 1786 công chức Trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay, tỉnh Hưng Yên đã
có những cố gắng trong công tác đào tạo CC cấp xã Vì vậy, đội ngũ CC cấp
xã của tỉnh đang từng bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng
2.1.2.1 Thống kê số lượng công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên
Theo số liệu của biểu 2.1 (Phụ lục 1), có thể thấy số lượng CC cấp xã có chiều hướng tăng nhưng sự biến động không lớn Trong 5 năm từ năm 2015 đến nay, số công chức tăng 313 người (từ 1473 người lên 1786 người) Trong đó, năm 2015 đến năm 2017 có sự gia tăng nhiều nhất, nguyên nhân:
Thứ nhất: Do tuyển thêm CC cấp xã, do công việc của cấp cơ sở ngày càng nhiều
Thứ hai: Thực hiện quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, chính quyền phường, xã loại II chỉ còn một Phó Chủ tịch UBND,
Trang 38do đó có sự phân công nhiệm vụ lại, 01 Phó Chủ tịch chuyển sang công tác văn phòng – thống kê
- Số lượng công chức xã là nữ tăng nhanh qua mỗi năm, trong vòng 5 năm tăng 320 người, cho thấy vị thế của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội không ngừng được nâng cao, góp phần tăng tỷ lệ phụ
nữ được giới thiệu và bầu tham gia vị trí lãnh đạo ở các cấp, các ngành
- Cơ cấu theo giới tính
Nhìn chung, cơ cấu giới tính của CC cấp xã tỉnh Hưng Yên tương đối
ổn định, không thay đổi nhiều qua các năm CC nam chiếm tỷ trọng cao hơn rất nhiều so với nữ CC cấp xã Trong khoảng thời gian nghiên cứu, tỷ trọng CBCC nam chiếm khoảng gần 80 % tổng số CC xã Số lượng CC nữ mặc dù
có tăng qua các năm nhưng chỉ chiếm hơn 20% trong tổng số CC cấp xã
- Cơ cấu theo độ tuổi (Biểu 2.2, Phụ lục 1)
Cơ cấu công chức xã của tỉnh Hưng Yên tính đến 12/2018 chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 30 đến dưới 45 tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 46,3%)
Cơ cấu CC theo tuổi ảnh hưởng rất lớn đến trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ Đây là độ tuổi trung bình, phù hợp với yêu cầu công tác: công chức có kinh nghiệm, kỹ năng sống, và có mối quan hệ quần chúng rộng mở, tuy chưa được nhiều người tín nhiệm và tôn trọng như độ tuổi 45 tuổi trở lên, nhưng với độ tuổi này, họ dễ dàng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật,… Họ cũng
có đủ điều kiện sức khỏe để làm việc, học tập hiệu quả đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc
2.1.2.2 Thống kê chất lượng công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên
- Về trình độ học vấn
Trình độ học vấn của CC cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên khá cao, trong 5 năm nghiên cứu, tỷ lệ CC có trình độ học vấn THPT rất cao (từ 99,5%- 99,8%) theo số liệu tại Biểu 2.3 (Phụ lục 1)
Trang 39- Về trình độ chuyên môn
Qua biểu 2.4 (Phụ lục 1) có thể thấy trình độ chuyên môn của CC cấp
xã như sau:
+ Không có công chức nào chưa qua đào tạo;
+ Công chức có trình độ sơ cấp chiếm tỷ lệ rất nhỏ, đến năm 2018 còn
06 công chức (chiếm 0,003%);
+ CC có trình độ trung cấp chiếm tỷ trọng khá cao (chiếm 31,8%) trong
cơ cấu trình độ chuyên môn CC có trình độ trung cấp có xu hướng giảm dần, cho thấy chất lượng công chức ngày càng được chú trọng và nâng cao
+ CC có trình độ chuyên môn cao đẳng chiếm 11,2% và trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao nhất (49,2%) trong toàn cơ cấu
+ CC cấp xã có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ nhỏ (0,07%)
Trình độ chuyên môn của CC cấp xã của tỉnh Hưng Yên ở mức trung bình, về cơ bản có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc hiện tại, nhưng về lâu dài, nhất là trong bối cảnh phát triển mới, có nhiều thách thức và đòi hỏi
kỹ năng nghiệp vụ ngày càng cao, lực lượng CC cấp xã cần nâng cao trình độ chuyên môn hơn nữa, nhằm đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ mới và tích cực đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân tại cơ sở
- Về trình độ lý luận chính trị
Trên cơ sở phân tích số liệu thực địa tại biểu 2.5 (Phụ lục 1), nhìn chung, công chức cấp xã của tỉnh Hưng Yên có trình độ lý luận chính trị ở mức thấp Có tới trên 50% tổng số công chức chưa qua đào tạo và sơ cấp lý luận chính trị, và không có công chức nào có trình độ cao cấp hoặc cử nhân Thực trạng này đã được cải thiện qua các năm, đến năm 2018, tỉ lệ số công chức chưa qua đào tạo xuống còn 308 người, chiếm 17,2 % và sơ cấp còn 627 người, chiếm 35,1%
Trang 40- Số công chức đã qua đào tạo, bồi dưỡng trung cấp và cao cấp lý luận chính trị có xu hướng tăng dần, cho thấy công tác đào tạo CC cấp xã được tỉnh chú trọng phát triển
- Về trình độ quản lý nhà nước
Qua phân tích các số liệu ở biểu 2.6 (phụ lục 1), có thể thấy trình độ quản lý nhà nước của CBCC cấp xã tỉnh Hưng Yên ở mức thấp Số người có trình độ Chuyên viên chính và tương đương chiếm tỉ lệ rất nhỏ Số công chức
có được đào tạo trình độ Chuyên viên và tương đương có chiều hướng tăng nhanh, do những năm gần đây công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
đã được quan tâm hơn Mặc dù số CC chưa qua đào tạo trình độ lý quản lý nhà nước giảm dần qua các năm nhưng vẫn chiếm gần 50% tổng số CC tính đến 6/2019 Đây là hạn chế rất lớn của CC cấp xã Tuy nhiên, trình độ quản
lý nhà nước của CC ngày càng tăng nhưng tốc độ tăng còn rất chậm Đây cũng là một yêu cầu đặt ra cho công tác đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã trong thời gian tới, nhất là đào tạo về quản lý nhà nước để nâng cao trình độ
CC cấp xã đáp ứng yêu cầu của công việc
- Về trình độ tin học, ngoại ngữ
CC cấp xã tỉnh Hưng Yên có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trình độ A,
B, C khá nhiều và ngày càng có xu hướng tăng Năm 2013, có 34,9% CC có chứng chỉ Tin học; có 27,7% CC có chứng chỉ Ngoại ngữ và đến năm 2017 là 68,3% và 54,1% tương ứng (Bảng 2.1, Phụ lục 1) Tỷ trọng này khá cao, song con số này chưa đánh giá được trình độ tin học, ngoại ngữ trên thực tế của công chức Số lượng rất ít có trình độ đào tạo từ Trung cấp Tin học hoặc Cao đẳng Ngoại ngữ trở lên Tuy nhiên, số lượng rất lớn công chức chưa trang bị cho mình trình độ Ngoại ngữ và Tin học phù hợp với tiêu chuẩn chức danh
Nhìn chung CC cấp xã hiện nay tại tỉnh Hưng Yên phần lớn đều thiếu những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng về tin học văn phòng, kĩ năng về ngoại