Trong những năm qua, việc thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã mang lại cuộc sống tốt hơn và niềm tin cho nhâ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Hoài Phương
Các số liệu và luận cứ đều được trích dẫn nguồn, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Đắk Lắk, ngày 20 tháng 01 năm 2022
Tác giả luận văn
Vương Nguyên Thạch
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Chính sách công tại Học viện Khoa học xã hội, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Hoài Phương, người hướng dẫn khoa học đã rất nhiệt tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành được luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Ea Kar, lãnh đạo, cán
bộ, chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar, Ủy ban nhân dân 16 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Ea Kar đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tìm hiểu tình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cám ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG 8
1.1 Người có công và chính sách người có công 8
1.2 Thực hiện chính sách ưu đãi người có công 14
1.3 Kinh nghiệm thực hiện chính sách ưu đãi người có công ở một số địa phương 23
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 28
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK 28
2.1 Khái quát về huyện Ea Kar và thực trạng người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk 28
2.2 Tình hình triển khai thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ea Kar giai đoạn 2016 – 2020 41
2.3 Kết quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 – 2020 47
2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 – 2020 55
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3 62
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK 62
Trang 43.1 Định hướng thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea
Kar, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030 62
3.2 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk 66
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG BẰNG HÌNH ẢNH TRONG CÔNG TÁC LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI NÓI CHUNG VÀ CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG NÓI RIÊNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐĂK LĂK 86
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 2.1: Số lượng người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk
Lắk
30
Bảng 2.2: Số lượng người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên
địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
49
Bảng 2.3: Số liệu cấp thẻ BHYT cho người có công và thân nhân người
có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
51
Bảng 2.4: Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng cho người có công trên
địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
52
Bảng 2.5: Số liệu về sửa chữa, xây mới nhà cho người có công trên địa
bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
53
Bảng 2.6: Kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi học sinh, sinh viên trên
địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
54
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện hỗ trợ đột xuất cho người có công trên địa
bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
55
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với truyền thống của ông cha ta “Uống nước nhớ nguồn” trong những năm
qua, chính sách ưu đãi dành cho người có công với cách mạng luôn là một chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện sự tôn vinh và tri ân, tưởng nhớ thể hiện sâu sắc đạo lý của dân tộc đối với những cống hiến của những người có công với
cách mạng Để ghi nhớ công ơn của những người con ưu tú của dân tộc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16 tháng 02 năm 1947, lấy ngày 27/7 hàng năm là ngày để nhân dân ta tỏ lòng “Hiếu nghĩa bác ái” và lòng yêu mến đối với các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng, Hồ Chủ
tịch đã nói: “ Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy” [1, T5 tr 175-176] Thực hiện tư tưởng của Người, cùng với sự tôn vinh, tri ân và biết ơn, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với những người có công với cách mạng đang còn sống và thân nhân của những người đã hy sinh
Hiện nay, hệ thống văn bản thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tương đối đầy đủ, ngày càng được bổ sung và hoàn thiện đã đáp ứng phần nào những nhiệm vụ trong việc thực hiện chính sách; tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những bất cập và những thiếu sót gây khó khăn cho công tác giải quyết chế
độ chính sách và ảnh hưởng đến người thụ hưởng chính sách Số lượng văn bản nhiều cũng là một trong những khó khăn lớn trong việc nắm bắt và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đội ngũ những người làm công tác chính sách người có công tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đại đa số đều mới chỉ là lao động hợp đồng do đó chưa an tâm công tác, chưa nghiên cứu kỹ các văn bản khi thực hiện nhiệm vụ mà ỉ lại vào cơ quan cấp trên
Huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk hiện nay đang quản lý hơn 3.600 hồ sơ người có công với cách mạng, chính vì vậy việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có
Trang 7công với cách mạng là nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu Trong những năm qua, việc thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã mang lại cuộc sống tốt hơn và niềm tin cho nhân dân đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo là người có công giảm mạnh qua các năm Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về mặt thủ tục hồ sơ, chưa có sự thống nhất, nhiều gia đình đối tượng người có công vẫn còn gặp nhiều khó khăn Việc ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện của các bộ, ngành Trung ương đôi lúc chưa kịp thời, chưa phù hợp, chưa tính hết các vấn đề phát sinh trong thực tế; sự phối hợp giữa các
cơ quan có liên quan trong việc giải quyết hồ sơ người có công còn chưa chặt chẽ Nhất là một số quy định về điều kiện, thủ tục, hồ sơ trong việc giải quyết các chế độ
ưu đãi cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, công nhận Bà
mẹ Việt nam Anh hùng… còn bất cập Do đó, việc nghiên cứu thực hiện chính sách
ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó
đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thực hiện chính sách này trong thời gian tới là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tới nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về vấn đề thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở những mức độ, phạm vi khác nhau được công bố, có thể kể tới như:
Trong cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội
ở nước ta (2009), tác giả Mai Ngọc Cường đã trình bày: “những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách an sinh xã hội; phân tích hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua với những cấu thành cơ bản là bảo hiểm xã hội,
Trang 8BHYT, trợ giúp và ưu đãi xã hội; đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện 7 hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam”.[24]
Trong cuốn sách Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay (2013), Mai Ngọc Cường đã phân tích những thành tựu, những bất cập chủ yếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội Việt Nam Đặc biệt, tác giả tranh luận rằng:
“chính sách an sinh xã hội chỉ là một hệ thống chính sách trong tổng thể chính sách
xã hội của một quốc gia, bên cạnh chính sách an sinh xã hội còn có nhiều chính sách xã hội khác” Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất những khuyến nghị quan trọng
nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam trong thời gian tới [25]
Luận án Tiến sĩ chuyên ngành chính trị học: “Thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố Đà Nẵng hiện nay thực trạng và giải pháp”, Lê Anh, 2017 Luận
án đã nghiên cứu cơ sở lý luận, tình hình thực tiễn thực thi các chính sách an sinh xã hội tại TP Đà Nẵng gồm những chính sách đối với người có công với cách mạng, người nghèo và chính sách bảo trợ xã hội từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chính sách an sinh xã hội tại TP Đà Nẵng Trong đó, là những ưu đãi đối với người có công với cách mạng tác giả đưa ra một số giải pháp về hỗ trợ phát triển nhà ở
Luận án Phó Tiến sĩ khoa học luật học: “Hoàn thiện pháp lệnh ưu đãi người có
công với cách mạng ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Đình Liêu
(1996), đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn cả nước nói chung
Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công: “Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng
ở nước ta hiện nay”, Phạm Hải Hưng, 2007 Luận văn tập trung tiếp cận nghiên cứu
về năng lực của cơ quan hành chính nhà nước đối với việc thực hiện pháp lệnh ưu đãi người có công Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong thực hiện pháp luật đối với người có công ở nước ta
Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công: “Quản lý nhà nước về ưu đãi
Trang 9người có công ở Việt Nam hiện nay”, Đỗ Thị Hồng Hà, 2011: Luận văn đã đưa ra một số nội dung liên quan đến nội dung quản lý nhà nước về chính sách ưu đãi đối với người có công và thực trạng ưu đãi đối với người có công trên phạm vi cả nước
từ đó đã đề ra một số giải pháp quản lý nhà nước về chính sách ưu đãi đối với người
có công
Luận văn Thạc sĩ: “Quản lý nhà nước đối với người có công trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”, Nguyễn Xuân Bách, 2015 Luận văn nghiên cứu việc quản lý nhà nước đối với người có công, tổ chức quản lý và thực thi chính sách
ưu đãi người có công với cách mạng ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
Bài viết “Pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Thị Phương Thanh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 7/2015 Bài viết đã giới thiệu hệ thống pháp luật của Việt Nam về chính sách người có công với cách mạng kể từ khi Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay Qua
đó, tác giả phân tích, chỉ ra những điều còn bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật
về người có công với cách mạng ở nước ta; tác giả đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trên
Bài viết “Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng”, PGS.TS Nguyễn Danh Tiên, Tạp chí Cộng sản điện tử, 2015 Bài viết giới thiệu các chủ trương của Đảng về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng qua các kỳ Đại hội; tác giả đề xuất giải pháp để tiếp tục thực hiện tốt hơn chính sách người có công với cách mạng ở nước
ta Qua đó tác giả khẳng định: việc thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được thực hiện thường xuyên, trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Ngoài ra, còn có các công trình được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin đại chúng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài luận văn
Bài viết “Thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với thương binh, gia đình liệt
sĩ và người có công với cách mạng”, TS Trần Văn Minh, Tạp chí Quốc phòng toàn
dân, số tháng 7/2016 Bài viết đã khẳng định chính sách đối với thương binh, gia
Trang 10đình liệt sĩ và người có công là nội dung cơ bản, bộ phận hữu cơ của chính sách đối với người có công với cách mạng, thể hiện truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta Qua phân tích thực trạng, tác giả đã nêu lên một số giải pháp cần thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với đối tượng này, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước hiện nay và định hướng đến năm 2020”, Phạm Thị Hải Chuyền, Tạp chí Cộng sản
điện tử, 2016 Bài viết đã phân tích và chứng minh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta; đồng thời tác gia đưa ra những giải pháp có tính định hướng đến năm 2020
Qua khảo cứu cho thấy, các công trình được công bố đã giải quyết được nhiều vấn đề khoa học về chính sách, thực hiện chính sách xã hội, chính sách đối với người
có công với cách mạng ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về thực hiện chính sách có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Do vậy, đề tài luận văn không bị trùng lặp, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, luận văn đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện
Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi người có công như: chính sách người có công với cách mạng, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, quy trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, nội dung thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và các
Trang 11nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách ưu đãi người
có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các chính sách người có công gồm: chính sách trợ cấp hàng tháng, chính sách trợ cấp đột xuất, chính sách bảo hiểm y tế, chính sách điều dưỡng phục hồi sức khỏe, chính sách hỗ trợ nhà ở, chính sách ưu đãi học sinh, sinh viên trong giáo dục và đào tạo
Về thời gian: từ năm 2016 đến 2020
Về không gian: trên địa bàn các xã, thị trấn thuộc huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đồng thời, luận văn vận dụng lý luận về chính sách công và thực hiện chính sách công để xây dựng khung lý thuyết của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nghiên cứu các tài liệu có liên quan để có những luận cứu khoa học về thực hiện chính sách ưu đãi người có
Trang 12công, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Phương pháp thống kê mô tả: được tác giả sử dụng để trình bày số liệu thu thập được từ kết quả báo cáo hàng năm
Phương pháp phân tích, đánh giá: đề tài tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để từ đó đưa ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk làm cơ sở để đề xuất những giải pháp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa được một số cơ sở lý luận về thực
hiện chính sách ưu đãi người có công
Về mặt thực tiễn: Luận văn đã đánh giá được thực trạng thực hiện chính sách
ưu đãi người có công địa bàn huyện Ea Kar và đồng thời đ ề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk từ năm 2015 đến nay Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cho việc nghiên cứu học tập trong đào tạo thực hiện chính sách, các nhà hoạt động trong lĩnh vực thực hiện chính sách
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi người có công Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG 1.1 Người có công và chính sách người có công
1.1.1 Khái niệm Người có công
Theo quy định tại Điều 32, Pháp lệnh Người có công với cách mạng năm
2005, thì “Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước"; Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; Người trong gia đình được tặng Huân chương
kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến” [18, Tr 12]
Điều 29, Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định chi tiết: “Người có công giúp đỡ cách mạng là người được tặng Kỷ niệm chương
"Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước"; người được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công” hoặc bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến có đủ điều kiện xác nhận là người có công giúp đỡ
cách mạng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng” [20, Tr 7-8]
Theo Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012, Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như
sau: “Người có công với cách mạng: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt
Trang 14động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng”
[19, Tr 2]
Theo nghĩa rộng: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ là người có thành tích đóng góp hoặc những cống hiện xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
công nhận theo qui định của pháp luật” [22, Tr 85]
Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản của người có công, đó là người có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng
có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” [17, Tr 15] Ở khái niệm này, người có công bao
gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc
một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng
Trong luận văn này, người có công với cách mạng là công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác đã có cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm chính sách người có công
Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến: “Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình”
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
Trang 15“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện bằng đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa”
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [22 tr 42]
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống
xã hội Khái niệm hệ thống xã hội được hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể
là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp hay một nhà trường”
Chính sách nói chung là sách lược, là kế hoạch của Đảng và Nhà nước dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhằm đạt được một mục tiêu nhất định về những vấn đề của xã hội Trên cơ sở chính sách đề ra, Nhà nước tổ chức thực hiện thông qua các hoạt động cụ thể, thể chế nội dung chính sách thành các quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội
Chính sách đối với người có công với cách mạng là chính sách vô cùng quan trọng, nó phản ánh sự quan tâm, ý thức xã hội của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ cha, anh đi trước Vì vậy, nó có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc Làm tốt chính sách đối với người có công với cách mạng sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế Ngược lại, nếu không thực hiện tốt chính sách ưu đãi này sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng dựa trên sự phát triển kinh
tế xã hội nhằm ghi nhận công lao, sự cống hiến, hi sinh của người có công Chính
Trang 16sách đối với người có công được thể hiện thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật với các chính sách nhằm biết ơn đối với các thế hệ đi trước
Vì vậy, chính sách người có công là chính sách ưu đãi của nhà nước đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng, nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hi sinh cao cả của họ, và đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình của họ
1.1.3 Nội dung chính sách người có công với cách mạng
1.1.3.1 Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng bao gồm:
Thứ nhất, người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là
người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
Thứ hai, người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến
ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Thứ ba, liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân
tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định
Thứ tư, bà mẹ Việt Nam Anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy
sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế và pháp luật đã liệt kê những trường hợp quy định những người là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
Thứ năm, anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong
kháng chiến là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”; người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động
Trang 17trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến
Thứ sáu, thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh:
+ Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13;
+ Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13, được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh”
Thứ bảy bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm
khả năng lao động từ 41% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại khoản 15, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13
Thứ tám người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là người
được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc hoá học và do nhiễm chất độc hoá học dẫn đến một trong các trường hợp: mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; vô sinh; sinh con dị dạng, dị tật
Thứ chín người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt
tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch
Thứ mười người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến
Trang 18Thứ mười một người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích
giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến
1.1.3.2 Một số chính sách ưu đãi người có công
Mục tiêu của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng nhằm tôn vinh, tri ân, ghi nhận sự cống hiến, hy sinh, góp phần chăm sóc, ổn định đời sống vật chất, tinh thần của người có công và gia đình người có công với cách mạng, tạo sự tri ân, biết ơn giúp ổn định chính trị, phát triển xã hội; đồng thời, là sự thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, truyền thống với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của ông cha ta bao đời nay
Nội dung chính sách người có công được quy định tại các văn bản pháp luật
và các văn bản hướng dẫn liên quan, trong đó quan trọng nhất là Pháp lệnh ưu đãi người có công, gồm các chính sách cụ thể như sau:
Một là, trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần cho các
đối tượng
Hai là, cấp bảo hiểm y tế
Thẻ Bảo hiểm y tế do ngân sách nhà nước đóng toàn bộ cho các đối tượng
Ba là, điều dưỡng phục hồi sức khỏe
Bốn là, chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có
khó khăn về nhà ở
Người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ được hỗ trợ cải thiện nhà ở tùy theo hoàn cảnh, công lao đóng góp của từng người và khả năng của Nhà nước, địa phương Việc hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào chế độ ưu đãi cao nhất mà người
đó được hưởng và chỉ giải quyết một lần
Người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ nếu mua nhà ở thuộc sở
Trang 19hữu nhà nước thì được miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
Người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ nếu được Nhà nước giao đất làm nhà ở thì tùy theo công lao đóng góp sẽ được giảm một phần tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
Năm là, chính sách ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ để
theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học
+ Ưu đãi trong tuyển sinh, tạo việc làm
+ Hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học
1.2 Thực hiện chính sách ưu đãi người có công
1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách ưu đãi người có công
Thực hiện chính sách công có thể hiểu là: “quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua các hoạt động có tổ chức nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách” Hay nói cách khác “là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng” [2 Tr 12]
Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của Đảng và nhà nước thành hiện thực với các đối tượng quản lý là người có công với cách mạng nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Đảng và nhà nước Nói cách khác, đây là giai đoạn vận dụng những giải pháp định trước để đạt được các mục tiêu của chính sách Giai đoạn này bao gồm các hoạt động như ban hành kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện, phối hợp thực hiện, kiểm tra, đôn đốc và hiệu chỉnh chính sách để chính sách phát huy tác dụng, hiệu quả trong cuộc sống
Từ những quan niệm nêu trên, theo tác giả: Thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là toàn bộ các hoạt động có tổ chức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm đưa các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn đời sống, bảo đảm
Trang 20những người có công với cách mạng được tiếp cận, hiểu rõ và thụ hưởng những chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với họ
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hóa chính sách nên các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát sao, giám sát, kiểm tra công tác tổ chức triển khai thực hiện này Có thể thấy số lượng người có công hiện nay rất lớn, với những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, chính sách khác nhau, do đó để có thể thực hiện chính sách đối với người có công thì phải phân định ra một hệ thống tổ chức, phân công, phân cấp, phân quyền trách nhiệm cho các tổ chức, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các tổ chức một cách hiệu quả trong việc thực hiện chính sách nhằm đạt được những mục tiêu đề ra, đảm bảo công bằng cho các đối tượng
1.2.2 Vai trò của thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc một, loại hình chính sách đặc biệt, là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội, là sự thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với một bộ phận dân cư đặc biệt Do đó, thực hiện chính sách ưu đãi người
có công có những vai trò dưới đây:
Thứ nhất, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một
khâu hợp thành chu trình chính sách, thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại, là khâu kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống nhất là với khâu hoạch định chính sách, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội
Thứ hai, thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng có ý
nghĩa vô cùng quan trọng, bởi đây là giai đoạn biến ý đồ chính sách ưu đãi người có công thành hiện thực; từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung trong chính sách ưu đãi người có công; khẳng định tính đúng đắn của chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công đồng thời giúp cho chính sách ưu đãi ngày càng hoàn thiện
Thứ ba, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là góp
Trang 21phần vào thực hiện chính sách con người, làm cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai ý thức trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì
sự nghiệp của dân tộc, của đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế có chiều hướng ngày càng phức tạp, sự bành trướng của một số nước lớn như hiện
1.2.3 Chủ thể thực hiện chính sách ưu đãi người có công
Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng tại địa phương là nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân các cấp và nhiều ngành Trong đó được phân công cơ bản như sau:
Ủy ban nhân dân các cấp: Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương bao gồm:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra, giám sát các cơ quan hành chính nhà nước thuộc cấp mình tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp
đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với cách mạng theo quy định của pháp luật
Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp: Là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước
và trực tiếp hướng dẫn công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn lập hồ sơ công nhận là người có công với cách mạng theo quy định của từng diện cụ thể Đồng thời, chủ trì trong việc thực hiện các chính sách, chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người có công và thân nhân người có công theo quy định của Nhà nước đã ban hành
Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan cùng cấp thực hiện việc xác nhận đối tượng người có công, thân nhân người có công để thực hiện các chính sách ưu đãi khác theo quy định về pháp luật ưu đãi về người có công
Các cơ quan nhà nước có liên quan: Các cơ quan nhà nước có liên quan căn
cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật để thực hiện hoặc phối hợp cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chính sách ưu đãi có liên quan đến người có công và thân nhân người có công cụ thể như sau:
+ Cơ quan Nội vụ: Căn cứ xác nhận đối tượng là người có công hoặc thân
Trang 22nhân người có công của Cơ quan Lao động Thương binh và Xã hội để thực hiện việc ưu tiên trong tuyển dụng công chức, viên chức
+ Cơ quan Y tế: Căn cứ thẻ Bảo hiểm y tế do cơ quan Lao động -Thương binh và Xã hội mua cấp cho đối tượng để thực hiện miễn 100% chi phí khám, chữa bệnh cho người có công và thân nhân người có công
+ Cơ quan Kinh tế - Hạ tầng: Căn cứ xác nhận đối tượng là người có công hoặc thân nhân người có công của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội để thực hiện hỗ trợ xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở theo mức do Chính phủ quy định
+ Cơ quan Thuế: thực hiện miễn, giảm các loại thuế theo quy định của pháp luật đối với người có công và thân nhân người có công khi có các giao dịch hành chính phát sinh
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: Tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, vận động toàn dân tham gia chăm sóc người có công, xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa, thực hiện các chương trình tình nghĩa đối với người có công với cách mạng
1.2.4 Quy trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công
Thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng cũng tuân theo quy trình thực hiện chính sách nói chung và được tiến hành qua 5 bước sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách ưu đãi người có công
Thực hiện chính sách là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đối với người có công gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ
thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực hiện, những dự kiến về cơ chế trách
Trang 23nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực hiện; cơ chế tác động giữa các cấp thực hiện chính sách
Thứ hai, xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như dự kiến về các
cơ sở kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật cho tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người
có công; các nguồn lực tài chính, các vật tư văn phòng phẩm
Thứ ba, xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời
gian duy trì chính sách ưu đãi người có công; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết, rút kinh nghiệm Có thể dự kiến mỗi bước cho phù hợp với một chương trình cụ thể của chính sách ưu đãi người có công
Thứ tư, lên kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách ưu đãi người có công là
những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công
Thứ năm, xây dựng những nội dung nội quy, quy chế trong thực hiện chính
sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng bao gồm nội quy quy chế về tổ chức điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ công chức và các
cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách Việc thay đổi, điều chỉnh kế hoạch cũng do các cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Sau khi kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, các cơ quan nhà nước triển khai tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong qua trình này là tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách ưu đãi người có công với đời sống
xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách ưu đãi người có công và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công được giao
Tuyên truyền vận động thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công
Trang 24với cách mạng cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành, để mọi đối tượng cần được tuyên truyền luôn củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực hiện chính sách Việc tổ chức thực hiện chính sách
ưu đãi người có công được tổ chức thực hiện bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng Tùy theo yêu cầu của cơ quan quản lý, tính chất của từng loại hình chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn các hình thức tuyên truyền, vận động thích hợp
Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Bước tiếp theo của tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công theo kế hoạch được phê duyệt Chính sách ưu đãi người có công được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương, vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực hiện nhà nước Chính sách ưu đãi người có công có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý
Hoạt động phân công phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công một cách chủ động, có tính sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính sách
Bước 4: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Để đảm bảo cho chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Cơ quan nhà nước thực hiện việc kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên sẽ giúp cho nhà quản lý nắm vững được tình hình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ đó có những kết luận chính xác về chính sách Công tác kiểm tra giúp cho các đối tượng
Trang 25thực hiện chính sách nhận ra hạn chế để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Bước 5: Đánh giá, sơ kết, tổng kết và rút kinh nghiệm
Tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Trong quá trình này có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo – điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân Thước đo đánh giá kết quả thực hiện chính sách của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian
1.2.5 Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công
- Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với người có công với cách mạng, gồm:
+ Số lượng người có công với cách mạng được hưởng trợ cấp hàng tháng + Tổng số tiền trợ cấp cho người có công với cách mạng hàng tháng
- Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế đối với người có công với cách mạng, gồm:
+ Số lượng người có công với cách mạng được cấp thẻ Bảo hiểm y tế
+ Tổng số tiền trợ cấp cho người có công thông qua cấp thẻ bảo hiểm y tế
- Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho người có công với cách mạng, gồm:
Trang 26+ Số lượng người có công với cách mạng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe + Tổng số tiền trợ cấp cho người có công theo chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe
- Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở:
+ Số lượng người có công với cách mạng được hỗ trợ cải thiện nhà ở
+ Tổng số tiền hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở
- Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học đối với người có công gồm:
+ Số lượng người có công, con người có công với cách mạng được hưởng ưu tiên trong tuyển sinh
+ Số lượng người có công, con người có công với cách mạng được hưởng ưu tiên trong tạo việc làm
+ Số lượng người có công, con người có công với cách mạng được hỗ trợ học phí
+ Tổng số tiền hỗ trợ người có công với cách mạng được hưởng ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm, hỗ trợ học phí
1.2.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là giai đoạn cụ thể hóa chính sách vào thực tế, do vậy sự lãnh đạo của Đảng là rất quan trọng Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong suốt quá trình xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện chính sách vào trong thực tế
Thông qua đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về các quyết sách,
kế hoạch là căn cứ chỉ đạo và định hướng hoạt động từ Trung ương đến cơ sở và các nội dung cơ bản trong quá triển khai thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Trang 27Vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc phổ biến, tuyên truyền chính sách Thông qua các phương thức phổ biến, tuyên truyền chính sách, cán bộ, công chức nâng cao nhận thức về mục tiêu, ý nghĩa của chính sách, từ đó phát huy sự gương mẫu của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Cuối cùng là vai trò trong việc phân công, phối hợp, đôn đốc thực hiện chính sách trên các kế hoạch đã xây dựng
Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức
Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức tham gia thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Do đó, muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đối ưu đãi người có công với cách mạng cần phải khhông ngừng nâng cao năng lực thực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức
Năng lực của cán bộ, công chức trong thực hiện chính sách đối với người có công có thể hiểu chính là việc hiểu, nắm bắt các chủ trương, đường lối, các quy định của pháp luật và triển khai chính sách có hiệu quả và giải quyết chính sách đạt được mục tiêu
Năng lực thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được thể hiện ở các năng lực sau: năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách; năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách; năng lực kiểm tra, đôn đốc, kiểm tra để duy trì chính sách; năng lực đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách
Nếu cán bộ, công chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không có các năng lực trên không chỉ làm cho việc thực hiện chính sách chính sách khó đạt được mục tiêu, mà còn có thể làm cho mục tiêu của chính sách dễ bị sai lệch
Điều kiện tài chính và cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thực hiện chính sách đối với người có công
Trang 28Nguồn lực tài chính và điều kiện cơ sở vật chất của Nhà nước là yếu tố quan trọng, không thể thiếu khi triển khai thực hiện chính sách đối với người có công Nguồn lực tài chính để thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng chủ yếu là nguồn lực của Nhà nước và nguồn lực từ các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp
Khi có đủ nguồn lực tài chính và vật chất thì đối tượng người có công được thụ hưởng các chính sách ưu đãi sẽ được mở rộng, chế độ trợ cấp ưu đãi người có công cũng được quy định ở mức cao hơn Ngược lại, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất hạn hẹp thì việc thực hiện chính sách đối với người có công sẽ gặp khó khăn, mức trợ cấp thấp sẽ không đảm bảo đời sống cho người có công
Phong tục tập quán, truyền thống văn hoá của dân tộc
Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đều kế thừa truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc: “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Thực hiện chính sách
ưu đãi đối với người có công với cách mạng ở nước ta trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, được cả xã hội quan tâm Thấm nhuần truyền thống văn hoá của dân tộc, chính quyền các địa phương, các tổ chức xã hội, đồng bào cả nước và đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài đã góp công, góp sức vào việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người có công với cách mạng Phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc đã góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng
1.3 Kinh nghiệm thực hiện chính sách ưu đãi người có công ở một số địa phương
1.3.1 Kinh nghiệm thực hiện chính sách ưu đãi người có công ở Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Theo báo cáo tổng kết năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội,
Trang 29việc thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn quận đã đạt được nhiều kết quả quan trọng
Trong lĩnh vực người có công: quận đã thực hiện chi trả kịp thời chế độ ưu đãi thường xuyên cho người có công với cách mạng; các chính sách ưu đãi đối với người có công đều được triển khai thực hiện đảm bảo đúng chính sách, đúng đối tượng; các chủ trương, chính sách đối với người có công được triển khai rộng khắp đến cơ sở thông qua phong trào xây dựng các phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ bằng nhiều hình thức như: xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa Các hoạt động này đã góp phần nâng cao mức sống của hộ gia đình chính sách bằng hoặc cao hơn người dân nơi cư trú
Trong các hoạt động chăm sóc người có công, quận Bắc Từ Liêm còn bố trí ngân sách để tổ chức đưa, đón đối tượng người có công đi điều dưỡng tập trung tại các cơ sở điều dưỡng trong và ngoài Thành phố
Bằng những việc làm chu đáo, thiết thực, trong 5 năm qua quận Bắc Từ Liêm luôn được Thành phố đánh giá, ghi nhận là điểm sáng về phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân dịp 70 năm Ngày thương binh liệt sỹ, ủy ban nhân dân Thành phố đã
có quyết định tặng cờ cho cán bộ và nhân dân quận Hoàn Kiếm, tặng Bằng khen cho 2 tập thể, 01 cá nhân và 05 người có công thuộc quận có nhiều thành tích đóng góp trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” của Thủ đô; Bộ LĐ- TB&XH tặng Bằng khen cho 2 tập thể, 01 cá nhân và 05 người có công thuộc quận có nhiều thành tích đóng góp trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” giai đoạn 2012-2017
Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng việc thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn quận vẫn còn một số hạn chế: công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách đối với người có công chưa sâu rộng; việc tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người có công chưa kịp thời; theo dõi, quản lý đối tượng người có công chưa tốt, đặc biệt việc xác lập hồ sơ giải quyết chính sách đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và giải quyết hồ sơ tồn đọng người có công qua các thời kỳ còn chậm Nguyên nhân chính của những hạn chế này là do các văn bản hướng dẫn của Trung ương chưa
Trang 30đồng bộ và thống nhất; cán bộ, công chức thực hiện chính sách đối với người có công còn kiêm nhiệm nhiều việc
1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện chính sách ưu đãi người có công ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Huyện Bình Chánh là một huyện phía Tây của thành phố Hồ Chí Minh có truyền thống đấu tranh cách mạng anh hùng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với những chiến công vang dội và những địa danh đã đi vào lịch sử như Láng Le - Bàu Cò, Vườn Thơm – Bà Vụ, Tân Túc, Chợ Đệm Đảng bộ và nhân dân huyện Bình Chánh vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lực lượng vũ trang; 10/16 xã, thị trấn trên địa bàn Huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng
Toàn huyện Bình Chánh có 4.977 hộ gia đình chính sách với 7.659 đối tượng, bao gồm: 472 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng (trong đó 31 Mẹ còn sống); 3.044 liệt sĩ, 404 thương binh, 95 bệnh binh, 01 cán bộ lão thành cách mạng, 01 cán bộ tiền khởi nghĩa, 1.200 người có công giúp đỡ cách mạng, 423 cán bộ bị địch bắt tù đày, 479 cán bộ hoạt động kháng chiến, 44 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học,
Trong công tác thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công, huyện Bình Chánh đã đạt được một số thành tựu như: chi trả trợ cấp hàng tháng, một lần được thực hiện đầy đủ và kịp thời; các chế độ bảo hiểm y tế, ưu đãi giáo dục, điều dưỡng được thực hiện đầy đủ cho người có công Đời sống vật chất và tinh thần của các gia đình người có công trên địa bàn huyện không ngừng được nâng cao, ngang bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân trên địa bàn Huyện
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh vẫn gặp phải một số khó khăn như: Chi khu Bình Chánh chưa được công nhận là nhà tù nên những cán bộ bị địch bắt giam tại nơi này chưa được hưởng chế độ tù đày theo quy định Hiện nay, trên địa bàn Huyện còn 42 trường hợp bị địch bắt giam tại Chi khu Bình Chánh chưa được giải quyết chế độ; chuyên trách Lao động - Thương binh và Xã hội các xã, thị trấn là
Trang 31cán bộ không chuyên trách (theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009), không được nâng lương theo niên hạn như cán bộ công chức cấp xã, thị trấn
Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng công tác thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện vẫn còn có những hạn chế: còn tồn đọng nhiều hồ sơ công nhận thương binh, liệt sỹ, người bị nhiễm chất độc da cam chưa được giải quyết; một vài cán bộ làm công tác thương binh - liệt sĩ lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về thực hiện chính sách ưu đãi người có công của huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk
Từ thực tiễn của một số địa phương trên, huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk rút ra một số bài học kinh nghiệm sau về công tác thực hiện chính sách ưu đãi người có công:
Một là, đẩy mạnh công tác giải quyết tồn đọng về xác nhận người có công
với cách mạng qua các thời kỳ Triển khai thực hiện đồng bộ chế độ ưu đãi nhằm nâng cao mức sống người có công với cách mạng để bản thân và gia đình họ có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của xã hội
Hai là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên, xử lý nghiêm
những trường hợp vi phạm trong quá trình thực hiện bảo đảm chính sách được thi hành công bằng, chính xác Đổi mới công tác quản lý nhà nước về ưu đãi xã hội, chú trọng ba nội dung sau: củng cố tổ chức bộ máy, cái cách hành chính theo hướng thủ tục gọn nhẹ, đơn giản, chính xác, chống phiền hà, chống tiêu cực, giải quyết kịp thời những bức xúc, điểm nóng trong lĩnh vực người có công với cách mạng, tăng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền và đối với chế độ
Ba là, mở rộng các mô hình xã hội hoá chăm sóc người có công với cách mạng,
đồng thời động viên sự vươn lên của bản thân, gia đình chính sách trong thời kỳ hội nhập và phát triển, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng trong thời kỳ mới
Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng,
Nhà nước đối với người có công với cách mạng Sơ kết, tổng kết, nhân rộng các điển hình tiên tiến, biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân có nhiều thành tích trong công tác thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Trang 32(Theo báo cáo tổng kết 5 năm của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2015 – 2020)
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã đưa ra những cơ sở lý luận chung của đề tài, trong đó nhấn mạnh các khái niệm người có công với cách mạng, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng
Bên cạnh đó giới thiệu khái quát về đối tượng người có công theo Pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng, ý nghĩa của thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng, quy trình thực hiện chính sách gồm các bước: Xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện chính sách, phổ biến tuyên truyền chính sách, phân công phối hợp thực hiện chính sách, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng: Tính chất của vấn đề chính sách, môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách, tiềm lực của các nhóm
đối tượng chính sách, đặc tính của đối tượng chính sách, thực hiện đầy đủ các bước
trong quy trình thực hiện chính sách, năng lực thực hiện chính sách của cán bộ - công chức trong bộ máy quản lý nhà nước, điều kiện cơ sở vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân
Trang 33
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Khái quát về huyện Ea Kar và thực trạng người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Khái quát về huyện Ea Kar
* Điều kiện tự nhiên và dân số
Huyện Ea Kar nằm về phía Đông - Nam của tỉnh Đắk Lắk, được thành lập ngày 13/9/1986 theo Quyết định số 108/1986/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), trung tâm huyện cách thành phố Buôn Ma Thuột 52 km theo Quốc lộ 26; Tổng diện tích tự nhiên là 1.037,47 km2 với 143.506 nhân khẩu gồm 19 dân tộc anh em cùng chung sống; mật độ dân số 138,32 người/km2 Huyện Ea Kar
có 16 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn: Ea Kar, Ea Knốp và 14 xã: Xuân Phú, Cư Huê, Ea Đar, Ea Kmút, Cư Ni, Ea Tíh, Ea Păl, Cư Yang, Ea Ô, Ea Sô, Ea Sar, Cư Bông, Cư Elang và Cư Prông Đất đai, khí hậu khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp hàng hoá, phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và phát triển kinh tế trang trại nông lâm kết hợp
Ranh giới:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, và tỉnh Gia Lai;
+ Phía Tây giáp huyện Krông Pắc - Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk;
+ Phía Nam giáp huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk;
+ Phía Đông giáp huyện M’Đăk, tỉnh Đắk Lắk
Huyện Ea Kar nằm trên trục QL26, là cửa ngõ phía Đông nối tỉnh Đắk Lắk với các tỉnh miền Trung, đặc biệt là Phú Yên và Khánh Hoà, có vị trí chiến lược an ninh quốc phòng quan trọng, đồng thời có nhiều thuận lợi để thu hút đầu tư hình thành một khu vực phát triển Hệ thống giao thông phát triển tương đối hoàn chỉnh, Quốc lộ 26, Quốc lộ 29, tỉnh lộ 11, tỉnh lộ 19 đi qua huyện có vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế văn hoá trong và ngoài huyện cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Những điều kiện trên là cơ sở tạo ra cho huyện phát triển kinh tế xã
Trang 34hội theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá với tốc độ cao, có cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
Huyện Ea Kar chịu ảnh hưởng hai loại khí hậu: Nhiệt đới gió mùa và khí hậu cao nguyên mát dịu; trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa trong vùng thường đến sớm (giữa tháng 4) và kết thúc muộn (cuối tháng 11), chiếm 90% lượng mưa hàng năm; Mùa khô từ cuối tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể Nhiệt độ bình quân năm 23,70C, biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch khoảng 100C; Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện phân bố khá đều, nhìn chung, với tiềm năng đất, nước, thời tiết, khí hậu… đây là một vùng đất trù phú, có nhiều yếu tố thuận lợi thích hợp cho nhiều loại cây trồng, có lợi thế trong phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp trồng trọt và chăn nuôi
Tổng diện tích có rừng của huyện Ea Kar là 37.682,54 ha, trong đó: Đất rừng phòng hộ: 872,97 ha; đất rừng đặc dụng: 21.137,30 ha; đất rừng sản xuất: 15.672,27
ha Nằm trong vùng có điều kiện khí hậu, địa hình khá thuận lợi nên tài nguyên rừng trên địa bàn huyện khá phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều chủng loại khác nhau Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện phân bố chủ yếu ở Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, chiếm tỷ lệ 57,30% tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện, trong đó đất rừng đặc dụng với diện tích 21.692,72 ha/26.926 ha chiếm 80,56% ha tổng diện tích Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Ea
Kar: “Thảm thực vật rừng huyện Ea Kar rất phong phú về số lượng loài và số lượng cá thể trong loài đặc trưng cho rừng nhiệt đới, bao gồm 139 họ với 709 loài thực vật Hệ động vật rừng có 44 loài thú thuộc 22 họ và 17 bộ, trong đó có 17 loài thuộc diện quý hiếm có trong sách đỏ Việt Nam; 158 loài chim thuộc 51 họ và 15
bộ, trong đó có 9 loài trong sách đỏ Việt Nam; 23 loài lưỡng cư bò sát thuộc 11 họ
và 3 bộ, vv…”
Tiềm năng khoáng sản khá phong phú, có nhiều mỏ đá xây dựng với trữ lượng khá lớn đang khai thác phục vụ cho xây dựng dân dụng và giao thông; Cát xây dựng ở Ea Ô, Cư Yang, Ea Sô; Quặng Penspat ở Ea Sô, Ea Sar; Mỏ Sét sản xuất gạch ngói ở xã Ea Ô, Cư Prông, Cư Huê Ngoài ra còn có mỏ Đồng ở Thị trấn
Trang 35Ea Knốp, vàng sa khoáng, đá quý và bán đá quý phân bố tại thôn 9 xã Cư Yang
Nguồn: Cổng thôn tin điện tử huyện Ea Kar
Bảng 2.1 Số liệu cụ thể của các xã, thị trấn thuộc huyện Ea Kar
Stt Tên xã, thị trấn Diện tích
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2020, Chi cục Thống kê KV Ea Kar -M’drak)
* Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
Huyện Ea Kar là nơi hội tụ của nhiều dân tộc trong cả nước, trong đó người kinh chiếm đa số; dân tộc bản địa chủ yếu là người Ê Đê; các dân tộc từ nơi khác chuyển đến gồm có: Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái, Sán chỉ, Vân kiều, Xê Đăng ; Các nhóm cộng đồng dân tộc này đã hình thành lên những cụm dân cư sinh sống rải rác trên khắp các xã, thi trấn trên địa bàn huyện Cộng đồng các dân tộc với những truyền thống riêng, đã hình thành nên một nền văn hoá đa dạng, phong phú và có những nét độc đáo, trong đó nổi lên bản sắc văn hoá truyền thống của người Ê Đê
Trang 36và một số dân tộc khác Bên cạnh đó, Ea Kar còn là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, những năm chiến tranh, nơi đây có những căn cứ kháng chiến, điển hình
là Buôn Trưng, xã Cư Bông là một căn cứ cách mạng nổi tiếng thời chống Mỹ, cần được giữ gìn và xây dựng thành khu văn hoá lịch sử, những yếu tố đó cấu thành tiềm năng cho phát triển du lịch văn hóa
Nguồn: Cổng thôn tin điện tử huyện Ea Kar
- Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm (giá so sánh 94) tăng 15%; công nghiệp xây dựng 23-24%; dịch vụ 20-21%; Thu nhập bình quân đầu người khoảng 34-35 triệu đồng (Theo giá hiện hành) Thu ngân sách bình quân hàng năm đạt 11% GDP (Theo giá hiện hành); Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 11,29% toàn tỉnh; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đứng thứ 04 toàn tỉnh; Sản lượng lương thực có hạt đứng đầu tỉnh, trong đó sản lượng lúa đứng thứ
14-03 tỉnh, chiếm 12,1%; Sản lượng ngô đứng đầu tỉnh, chiếm 16,4%; Sản lượng các loại cây đáp ứng nhu cầu nguyên liệu công nghiệp chế biến chủ yếu như sắn, mía, điều tương ứng đứng thứ nhất, thứ hai so với các huyện trong tỉnh Ngoài ra sản lượng các loại cây ăn quả có múi như cam, quýt, bưởi, nhãn, vải cũng đứng đầu so với các huyện trong toàn tỉnh Chăn nuôi cũng là một trong những ngành chiếm ưu thế của huyện với số lượng Trâu đứng đầu tỉnh, chiếm 17,3% quy mô đàn trâu toàn tỉnh; đàn bò đứng thứ 06, chiếm 7,76% Đặc biệt, với điều kiện ưu đãi về nguồn nước sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của huyện đứng đầu tỉnh, chiếm 21,2% sản lượng nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh Sự phát triển kinh tế huyện Ea Kar ngày càng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế chung của tỉnh Đắk Lắk Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao hơn tốc độ tăng trưởng của tỉnh
Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ đã và đang
có chiều hướng phát triển mạnh Cụm Công nghiệp Ea Đar được hình thành và đi vào hoạt động, hiện nay đã có 12 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả như Công ty cổ phần CP, Công ty Việt Thắng …và rất nhiều các công ty, nhà máy trên địa bàn như: Công ty Cổ phần Mía – Đường 333, Công ty Thiên Long Phát, Nhà máy chế biến
Trang 37tinh bột sắn và hàng chục công ty, nhà máy, cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm, nông sản … làm ăn có hiệu quả cao góp phần cho mục tiêu phát triển kinh tế chung của huyện và tạo công ăn việc làm, ổn định thu nhập và ngày càng nâng cao đời sống nhân dân Thương mại, dịch vụ phát triển mạnh mẽ với hệ thống Ngân hàng, Siêu thị, Khu thương mại, vui chơi, giải trí, hệ thống nhà hàng, khách sạn phát triển đáp ứng mọi điều kiện của người dân và du khách trong và ngoài nước Hệ thống y
tế phát triển với 01 Bệnh viện khu vực và Trung tâm y tế huyện với quy mô 280 giường bệnh và 16 Trạm y tế tuyến xã với 64 giường bệnh; Đội ngũ cán bộ y tế đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh trên địa bàn Hệ thống giáo dục phát triển mạnh mẽ cả
về quy mô trường lớp và chất lượng đội ngũ, chất lượng đào tạo Đến năm 2013, toàn huyện có 81 trường học gồm: 04 trường THPT, 18 trường THCS, 37 trường Tiểu học, 22 trường Mầm non, trong đó có 29 trường đạt chuẩn Quốc gia Bưu chính, viễn thông phát triển, hệ thống thông tin liên lạc, Internet được phủ sóng trên toàn huyện
Kinh tế huyện duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân hợp lý trong điều kiện có nhiều khó khăn, thử thách, cụ thể như sau:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (giá so sánh 2010) bình quân giai đoạn 2016 -
2020 đạt 8,3%/năm, cao hơn nghị quyết Đảng bộ huyện đề ra 0,1%; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 5,9%/năm ; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 9,7%/năm; khu vực thương mại, dịch vụ đạt 13,1%/năm
Tổng giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) cả giai đoạn đạt 44.381,4 tỳ đồng, trong đó:
+ Nông, lâm, thủy sản đạt: 24.200,50 tỷ đồng,
+ Công nghiệp và xây dựng đạt: 11.220,8 tỷ đồng
+ Thương mại, dịch vụ đạt: 8.960,10 tỷ đồng, đạt 107,3% NQ
Cơ cấu kinh tế đến năm 2020 (giá hiện hành) theo Nghị quyết của 3 khu vực: Nông, lâm, thùy sản: 52,93%; công nghiệp, xây dựng: 25,72%; thương mại, dịch vụ lần lượt là: 21,36%
Giá trị tăng thêm bình quân đầu người năm 2020 đạt 53 triệu đồng
Trang 38Tống huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cả giai đoạn 5 năm đạt 5.700,3 tỷ đong, đạt 114% KH
Tồng thu cân đối ngân sách nhà nước 5 năm ước đạt 647 tỷ đồng (trong đó thu thuế, phí, lệ phí đạt 427,37 tỷ đồng, , tăng thu bình quản hàng năm đạt 5%; bình quãn hàng năm tăng 8,5%; thu biện phát tài chinh đạt 219,64 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 16%)
Trồng rừng mới trong cả 5 năm bằng 1.478 ha, trồng vượt kế hoạch 478 ha;
tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 30,65%,
Phát triển kết cấu hạ tầng đến năm 2020
Về thủy lợi: tính đến năm 2020 tỷ lệ đảm bảo tưới chú động cho cây trồng dùng nước đạt 92% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới
Về giao thông: Tỷ lệ nhựa hóa hoặc bê tông hóa đường tại trung tâm huyện 100%; tỷ lệ nhựa hóa hoặc bê tông hóa tuyến đường đến trung tâm xã, liên xã đạt 100%
Về điện: tỷ lệ thôn, buôn có điện đạt 100%; tỷ lệ hộ dùng điện đạt 99,2% , tăng 0,2%
Nguồn: Cổng thôn tin điện tử huyện Ea Kar
- Về Chính trị– xã hội
Công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 Cuộc bầu cử đã đạt được những kết quả tích cực; Bầu đủ 03 đại biểu Quốc Hội, 03 đại biểu HĐND thành phố Hà Nội, 40 đại biểu HĐND quận; Số đại biểu HĐND các xã, thị trấn về cơ bản bầu đủ về số lượng; Các cơ cấu, thành phần đại biểu trúng cử đã đạt so với yêu cầu đề ra, không phải tổ chức bầu lại, bầu thêm Tính đến năm 2020 tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuôi học mẫu giáo đến trường đạt 87,9%; tỷ lệ trẻ trong độ tuổi học tiểu học đạt 99,9%; đạt tý lệ 99% học sinh THCS đến trường Năm 2020 có 40 Trường học đạt chuẩn quốc gia (gồm có 02 trường THPT, 16 trường THCS, 23 trường tiểu học và 09 trường mầm non), đạt 102.04% chỉ tiêu nghị quyết đại hội, nâng tỷ lệ trường học đạt chuân quôc gia toàn huyện lên 62,5% Giai đoạn 2016 - 2020 số trường được thành lập mới có 01 trường mầm non và 01 trường THCS
Trang 39Tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm trên 3%/năm (đến năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo còn 6,5%), đạt chỉ tiêu theo quy định Đến ngày 31/12/2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện đã giảm từ 22,85% với 8.220 hộ (đầu năm 2016) xuống còn 9,34% với 3.714
hộ nghèo (cuối năm 2019 đầu năm 2020), giảm 13,51% (tương ứng giảm được 4.506 hộ nghèo); Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 11,09% với 3.991 hộ (đầu năm 2016) xuống còn 10.68% với 4.247 hộ vào cuối năm 2019), giảm 0,41% so với đầu năm
2016 đã góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn
2015-2020 đã đề ra Đồng thời, huyện xác định chỉ tiêu phấn đấu trong năm 2015-2020 tiếp tục giảm tỷ lệ hộ nghèo 03%, đưa tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn dưới 7%, các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được đảm bảo Định hướng trong giai đoạn 2020-2025, huyện tiếp tục đề ra chỉ tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm trên 3% (theo mức chuẩn nghèo đang áp dụng hiện nay)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm 0,01%/ năm Năm 2020 dân số khoảng 146,3 ngàn người
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh ở nội thị đạt 99,6%; tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh ở khu vực nông thôn đạt 95%; tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải rắn đạt 75%
Giải quyết việc làm trong 5 năm được 11,686 ngàn người, đạt 116,86% chỉ tiêu đề ra Đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 41%
Tính đến năm 2020: Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 100%; số giường bệnh/vạn dân đạt 23 giường; số bác sỹ/vạn dân đạt 5 bác sỹ/vạn dân
Đến năm 2020 có 79,3% số hộ gia đình; 84,2% cơ quan, đơn vị; 84% thôn, buôn, tồ dân phố; 64,2% số xã đạt chuẩn văn hóa, 50% số thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị Tỷ lệ Đài truyền thanh cơ sở hoạt động có hiệu quả đạt 100%
+Về công tác nội chính:
Về an ninh: Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và
ổn định, thực hiện tốt phòng ngừa, đấu tranh triệt phá tội phạm và các tệ nạn xã hội
Về công tác quân sự: Thực hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự địa phương, duy trì tốt chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục ý thức quốc phòng, quân sự địa phương cho nhân dân, hoàn thành kế hoạch
Trang 40tuyển chọn và gọi quân dân nhập ngũ
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch; diễn tập vận hành cơ chế theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị ở cấp huyện, cấp xã đạt 100% kế hoạch; huấn luyện quân sự hàng năm đều đạt loại khá; hàng năm có 70% đơn vị vững mạnh về quôc phòng - an ninh; có 43,75% Ban chỉ huy quân sự xã, thị trấn có nhà làm việc riêng Hàng năm giảm từ 6,3- 15,3 % tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí; tỷ lệ điều tra các vụ án đạt trên 92,2%, trong đó án nghiêm trọng và rất nghiêm trọng đạt trên 90%; thôn, buôn, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị đạt chuẩn về an ninh trật tự đạt; tỷ lệ công an xã, thị trấn có nhà làm việc riêng đạt 18,75%
+Về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo: Công tác dân tộc thường xuyên
được quan tâm; chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, các chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số phát huy được hiệu quả, tỷ lệ
hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm, đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân từng bước nâng cao
Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác tôn giáo, các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường, thuần túy và tuân thủ các quy định của pháp luật Các cấp, các ngành đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xem xét, giải quyết các nhu cầu chính đáng của các tổ chức tôn giáo đúng pháp luật, tạo điều kiện để chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng
“sống tốt đời, đẹp đạo”, cùng với chính quyền và nhân dân trên địa bàn huyện xây
dựng huyện nhà ngày càng phát triển
Nguồn: Cổng thôn tin điện tử huyện Ea Kar
2.1.2 Thực trạng người có công trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Hiện nay, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đang quản lý hơn 1.200 đối tượng người có công và thân nhân người có công đang hưởng trợ cấp hằng tháng và hơn 2.400 đối tượng khác đang hưởng chế độ về tinh thần và bảo hiểm y tế
Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm của Đảng Nhà nước, sự giúp đỡ thường xuyên của các Sở ngành chuyên môn, huyện Ea Kar luôn chú trọng việc