Từ những chủ trương, chính sách trên cho thấy, công cuộc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở nước ta hơn bao giờ hết dành được sự quan tâm đặc biệt và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY
Một số khái niệm về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
1.1.1 Khái niệm về chính sách công và thực hiện chính sách công
1.1.1.1 Khái niệm Chính sách công
Nghiên cứu khoa học chính sách công đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trên thế giới và tại Việt Nam, dẫn đến việc hình thành nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này.
Thomas Dye (1972) đưa ra định nghĩa khá súc tích về chính sách công
“Chính sách công là những gì Chính phủ lựa chọn làm hoặc không làm” [27, tr.16]
William Jenkins (1978) định nghĩa rằng chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan do một hoặc nhóm nhà hoạt động chính trị đưa ra, nhằm lựa chọn mục tiêu và phương tiện để đạt được những mục tiêu đó trong một tình huống cụ thể thuộc thẩm quyền.
Jame Anderson (1984) đưa ra định nghĩa khái quát về chính sách công
Chính sách công là những hành động có mục đích được thiết lập bởi cá nhân hoặc nhóm các nhà hoạt động chính trị nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh hoặc những vấn đề cần được chú ý.
B Guy Peter (1990) định nghĩa “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” [27, tr.19] Định nghĩa này khẳng định nhà nước là chủ thể ban hành và thực hiện chính sách, đồng thời nhấn mạnh chính sách của nhà nước nó có tác động mạnh đến đời sống của người dân với tư cách là cộng đồng trong xã hội
PGS.TS Đỗ Phú Hải (2012) định nghĩa rằng chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị của nhà nước, nhằm xác định các mục tiêu cụ thể và lựa chọn giải pháp, công cụ để giải quyết các vấn đề xã hội theo những mục tiêu đã đề ra.
8 thể với giải pháp và công cụ thực hiện các quyết định các vấn đề xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”
Chính sách công được định nghĩa là sự lựa chọn hành động của Nhà nước, thể hiện qua một tập hợp các quyết định liên quan do Nhà nước ban hành Những quyết định này nhằm tác động lên đối tượng để giải quyết các vấn đề công và đạt được các mục tiêu nhất định.
Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, với mục tiêu giải quyết các vấn đề công, ảnh hưởng đến nhiều nhóm dân số trong xã hội Chính sách công nhằm thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy sự phát triển xã hội theo định hướng Nó bao gồm cả mục tiêu và giải pháp chính sách.
1.1.1.2 Khái niệm Thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là giai đoạn quan trọng trong chu trình chính sách, vì sự thành công của chính sách phụ thuộc vào kết quả thực hiện Nhiều học giả và nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những quan niệm khác nhau về vấn đề này Dựa trên các quan niệm của các nhà nghiên cứu, tác giả đưa ra một cách hiểu khái quát về thực hiện chính sách công.
Thực hiện chính sách công là quá trình triển khai các nhiệm vụ và giải pháp vào thực tiễn xã hội thông qua việc ban hành văn bản, chương trình và dự án Mục tiêu của quá trình này là hiện thực hóa các chính sách công, với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, cơ quan lập pháp, tư pháp và người dân là những chủ thể tham gia thực hiện.
Thực hiện chính sách công là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể với các đối tượng quản lý Đây là khâu đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của chính sách.
Giai đoạn 9 trong chu trình chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa chính sách và đưa chính sách vào đời sống Nếu thiếu giai đoạn này, quy trình chính sách sẽ không thể tồn tại.
1.1.2 Khái niệm Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy Để làm rõ khái niệm tổ chức bộ máy thì trước hết chúng ta cần hiểu về khái niệm về tổ chức, tổ chức bộ máy
1.1.2.1 Khái niệm Tổ chức, Tổ chức bộ máy
Tổ chức được định nghĩa là một tập hợp các cá nhân tương tác, làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Theo đó, tổ chức bao gồm ít nhất hai người, với yếu tố liên kết là mục tiêu chung mà họ hướng tới Mặc dù các cá nhân có thể theo đuổi những mục tiêu riêng, nhưng điểm chung của họ là sự hướng đến mục tiêu chung Tổ chức được xem như một công cụ đặc biệt để đạt được mục tiêu, và không có tổ chức, việc đạt được mục tiêu sẽ trở nên khó khăn.
Tổ chức được hiểu như một hoạt động của một thực thể, bao gồm việc quản lý nhân sự, sắp xếp nguồn lực và điều hành các hoạt động trong một cơ quan Nó được hình thành bởi con người để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ, đồng thời đáp ứng lợi ích thiết thực cho con người Tổ chức không chỉ là yếu tố kết nối các thành viên mà còn là lý do tồn tại của mỗi tổ chức.
Chức năng tổ chức là hoạt động của nhà quản lý nhằm xây dựng cơ cấu và hệ thống vị trí cho từng cá nhân và bộ phận, giúp họ phối hợp hiệu quả để đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
Có thể nói về bản chất tổ chức là việc phân công lao động một cách khoa học
Quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy
Tại Hội nghị Trung ương 7 (Khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 64-KL/TW vào ngày 27/5/2013, nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở Kết luận chỉ đạo rằng việc đổi mới và kiện toàn tổ chức bộ máy cần gắn liền với việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo.
Để xây dựng một tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn và ổn định, cần có 12 đạo với cá nhân phụ trách, trong đó quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu là yếu tố quan trọng trong việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, phù hợp với chức năng và nhiệm vụ.
Theo Kết luận số 64-KL/TW, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW vào ngày 17/4/2015 nhằm thực hiện chủ trương tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức Nghị quyết chỉ đạo tổ chức kiện toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, đảm bảo bộ máy đồng bộ, tinh gọn và ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Trong giai đoạn hiện tại, cần giữ ổn định tổ chức như hiện nay, không thành lập các tổ chức trung gian và chỉ thành lập tổ chức mới khi thật sự cần thiết Đồng thời, cần rà soát và sửa đổi quy định về tổ chức bộ máy và biên chế trong các văn bản pháp luật hiện hành không thuộc chuyên ngành Luật Tổ chức Nhà nước, gắn việc kiện toàn tổ chức bộ máy với việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (Khóa XII) đã thông qua Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết 19-NQ/TW vào ngày 25/10/2017, nhằm tiếp tục đổi mới và sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Nghị quyết 18-NQ/TW tập trung vào việc xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả, trong khi Nghị quyết 19-NQ/TW nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của ĐVSNCL.
Nghị quyết số 18-NQ/TW nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới và sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, và cải thiện chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể chính trị - xã hội Đồng thời, nghị quyết cũng đề ra việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, giảm chi thường xuyên và góp phần vào cải cách chính sách tiền lương.
Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh việc đổi mới toàn diện hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) nhằm đảm bảo tính gọn nhẹ, cơ cấu hợp lý và năng lực tự chủ ĐVSNCL cần giữ vai trò chủ đạo trong thị trường dịch vụ sự nghiệp công, cung cấp dịch vụ chất lượng cao Cần giảm đầu mối, khắc phục tình trạng manh mún và trùng lắp, đồng thời tinh giản biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức Ngoài ra, cần giảm tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho ĐVSNCL, cải cách tiền lương và nâng cao thu nhập cho công chức, viên chức trong lĩnh vực này.
1.2.2.1 Mục tiêu thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy Đảm bảo cho tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, từng bước khắc phục được sự cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu quả của tổ chức bộ máy, góp phần tạo bước chuyển biến về đổi mới phương thức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy gắn liền với tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm xây dựng đội ngũ này có số lượng phù hợp, có trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; tạo động lực để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không ngừng trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như đạo đức nghề nghiệp, có trách nhiệm cao với công việc được giao
1.2.2.2 Giải pháp thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Kết luận số 64-KL/TW nhấn mạnh việc giữ ổn định tổ chức của Chính phủ và thiết lập bộ quản lý đa ngành phù hợp với thực tiễn đất nước Cần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành để tập trung vào quản lý nhà nước, khắc phục chồng chéo và bỏ trống trong chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa các Bộ và cơ quan ngang Bộ, đảm bảo nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì.
Chính phủ sẽ thực hiện các điều chỉnh cần thiết trong tổ chức của một số Bộ, bao gồm việc thành lập các tổng cục mới và khắc phục những hạn chế trong quản lý đa ngành Đồng thời, sẽ nghiên cứu việc thành lập tổ chức có chức năng chủ sở hữu, quản lý và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.
Nghị quyết số 18-NQ/TW đề ra các giải pháp nhằm đổi mới và sắp xếp tổ chức bộ máy hoạt động một cách tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả Đối với toàn hệ thống chính trị, cần thực hiện rà soát, kiện toàn và tinh giản đầu mối bên trong các tổ chức, gắn liền với việc tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Cần kiên quyết giảm thiểu và không thành lập mới các tổ chức trung gian, đồng thời giải thể hoặc sắp xếp lại các tổ chức hoạt động không hiệu quả, đảm bảo rằng việc sắp xếp tổ chức bộ máy không làm tăng đầu mối và biên chế.
Tiếp tục rà soát và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm khắc phục tình trạng trùng lắp, chồng chéo Mỗi tổ chức, cá nhân chỉ đảm nhiệm một việc và chịu trách nhiệm chính Cần quy định số lượng biên chế tối thiểu và số lượng cấp phó tối đa dựa trên đặc điểm từng cấp, ngành Đối với hệ thống tổ chức của Đảng, cần cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của cấp ủy Tổ chức nghiên cứu tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn cấp ủy viên, đồng thời sắp xếp lại bộ máy và đổi mới cơ chế hoạt động của các ban Đảng Đối với tổ chức Nhà nước, thực hiện đổi mới và kiện toàn bộ máy theo hướng tập trung vào quản lý vĩ mô, nâng cao năng lực chỉ đạo.
Cần hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các bộ, ngành, đồng thời phân cấp mạnh mẽ để phát huy tính chủ động và sáng tạo Cần khắc phục sự trùng lặp trong chức năng, nhiệm vụ và sắp xếp lại tổ chức bộ máy để tinh gọn, giảm biên chế và loại bỏ cấp trung gian Đối với chính quyền địa phương, cần sửa đổi và bổ sung thể chế, rà soát tổ chức bên trong các sở, ngành, cắt giảm số lượng đơn vị hành chính và điều chỉnh các văn bản pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động.
Nội dung tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy (TCBM) bao gồm một quy trình tuần tự với 7 bước Việc thực hiện tốt bước đầu tiên là yếu tố quan trọng để đảm bảo các bước tiếp theo diễn ra thuận lợi và hiệu quả Các bước thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được tiến hành theo trình tự nhất định.
Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
Phân công, phối hợp thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
Duy trì chính sách chính sách sắp xếp TCBM
↓ Điều chỉnh chính sách sắp xếp TCBM
Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
↓ Đánh giá tổng kết việc thực chính sách sắp xếp TCBM
Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là bước đầu tiên và quan trọng trong chu trình thực hiện chính sách công Đây là khâu then chốt giúp hiện thực hóa chính sách vào cuộc sống Quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM phức tạp và kéo dài, đòi hỏi lập kế hoạch và chương trình cụ thể để chủ động ứng phó với mọi biến đổi.
Trong kế hoạch triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, cần xác định rõ ràng các nội dung như kế hoạch tổ chức và điều hành, bao gồm nhân sự, cơ quan chủ trì và cơ chế thực thi chính sách Đồng thời, dự kiến các nguồn lực cần thiết như cơ sở vật chất, tài chính và trang thiết bị Kế hoạch cũng phải chỉ rõ thời gian triển khai, bao gồm thời gian bắt đầu, kết thúc và điều chỉnh chính sách Ngoài ra, cần có kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách với các hình thức giám sát cụ thể Cuối cùng, dự kiến các nội quy, quy chế tổ chức và trách nhiệm của công chức, viên chức, cùng các biện pháp khen thưởng và kỷ luật trong quá trình thực thi chính sách.
Việc xây dựng kế hoạch triển khai chính sách là rất quan trọng để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả Mỗi cơ quan, đơn vị cần lập kế hoạch một cách chi tiết và cụ thể, nhằm giảm thiểu việc điều chỉnh và bổ sung trong quá trình thực hiện.
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Sau khi kế hoạch triển khai chính sách sắp xếp TCBM được thông qua, việc tuyên truyền và vận động sự tham gia của mọi người là rất quan trọng Việc phổ biến chính sách một cách hiệu quả sẽ giúp đối tượng chính sách và người dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của chính sách, từ đó đảm bảo chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước được truyền đạt đầy đủ Điều này sẽ tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và ý thức tôn trọng pháp luật Hơn nữa, việc tuyên truyền cũng giúp cán bộ công chức viên chức (CCVC) có trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách, nhận thức rõ ràng về mục đích và quy mô của chính sách, từ đó chủ động tìm kiếm giải pháp thực hiện.
Để nâng cao chất lượng tuyên truyền vận động, cần tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị và trang thiết bị kỹ thuật Nhiều cơ quan, đơn vị thiếu năng lực tuyên truyền đã dẫn đến việc chính sách bị biến dạng, làm giảm lòng tin của người dân vào nhà nước Việc phổ biến và tuyên truyền chính sách sắp xếp TCBM được thực hiện qua nhiều hình thức như truyền thông trên đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, tổ chức hội nghị, cuộc họp và tập huấn Hình thức tuyên truyền cần được lựa chọn phù hợp với yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của từng loại chính sách và điều kiện cụ thể.
Để công tác phổ biến và tuyên truyền chính sách sắp xếp TCBM đạt hiệu quả cao, các cấp, ngành và người dân cần nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào quá trình này.
1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Chính sách sắp xếp TCBM được thực hiện trên quy mô rộng lớn từ Trung ương đến địa phương, với số lượng cá nhân và tổ chức tham gia rất lớn Để đảm bảo hiệu quả trong việc thực hiện chính sách này, cần có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương và các yếu tố liên quan Việc phân công cần có quy định rõ ràng, xác định tổ chức cá nhân chủ trì và chịu trách nhiệm chính, đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho từng tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM.
Hiện nay, việc sắp xếp TCBM tại Việt Nam được thực hiện dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ, nhằm đảm bảo tổ chức bộ máy hành chính nhà nước hiệu quả Bộ Nội vụ, là cơ quan thuộc Chính phủ, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý công tác tổ chức bộ máy hành chính.
1.3.4 Duy trì chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Để duy trì chính sách sắp xếp TCBM, cần có sự đồng lòng và hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân và môi trường xã hội Các cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên tuyên truyền và vận động sự tham gia tích cực của toàn xã hội Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khó khăn, cần xây dựng các công cụ và giải pháp hỗ trợ Hiện nay, nhiều chính sách dù được ban hành đúng nhưng thiếu giải pháp điều chỉnh, dẫn đến hiệu quả thấp và gây lãng phí, không đáp ứng được mục tiêu đề ra.
1.3.5 Điều chỉnh chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy Điều chỉnh chính sách sắp xếp TCBM là hoạt động cần thiết được diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách và được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều chỉnh) Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách sắp xếp TCBM diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lý nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy cấp trung ương và các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách sắp xếp TCBM, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách
Một nguyên tắc quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách sắp xếp TCBM là chỉ được điều chỉnh các biện pháp và cơ chế thực hiện mục tiêu của chính sách, hoặc bổ sung và hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu có sự điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, điều này đồng nghĩa với việc chính sách tổ chức bộ máy sẽ không còn hiệu lực, dẫn đến việc chính sách sắp xếp TCBM không còn tồn tại.
1.3.6 Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Kiểm tra và đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là hoạt động quan trọng trong chu trình thực hiện chính sách công, đảm bảo các hoạt động diễn ra theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam Hoạt động này nhằm tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân, công chức, viên chức và người lao động hiểu rõ quan điểm, chính sách và pháp luật về sắp xếp TCBM của Đảng và Nhà nước Thực tế cho thấy, không phải bộ phận nào cũng thực hiện chính sách này một cách hiệu quả và nhanh chóng, do đó cần có hoạt động theo dõi, kiểm tra để phát hiện những hạn chế và bất cập, từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh kịp thời.
20 yếu tố tạo điều kiện cho chính sách đạt hiệu quả cao, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách.
Việc kiểm tra và đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là cần thiết để kịp thời tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế và sai sót trong tổ chức điều hành Điều này không chỉ nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách mà còn giúp các cơ quan nhà nước và nhà quản lý nắm vững tình hình thực hiện, từ đó đưa ra những kết luận chính xác về nội dung chính sách.
Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là một quá trình dài và phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố Các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách này bao gồm:
1.4.1 Tính chất vấn đề của chính sách
Mỗi chính sách đều có tính chất riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạch định và thực thi Chính sách đơn giản với phạm vi hẹp dễ thực hiện hơn so với những chính sách phức tạp, có phạm vi rộng Đặc biệt, chính sách sắp xếp TCBM có tính phức tạp cao, tác động đến toàn bộ hệ thống tổ chức, nhân sự và lợi ích của từng CCVC Nếu không quản lý tốt công tác cán bộ trong quá trình thực hiện chính sách này, sẽ dẫn đến mất ổn định tổ chức và ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ của tổ chức.
1.4.2 Hệ thống thể chế pháp luật, chính sách của Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy
Hệ thống thể chế pháp luật và chính sách của Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Khi các quy định về tổ chức bộ máy được thiết lập một cách chặt chẽ, đầy đủ và đồng bộ, nó sẽ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện chính sách Ngược lại, sự thiếu hụt trong hệ thống thể chế pháp luật có thể cản trở quá trình này.
Sự thiếu rõ ràng và đồng bộ trong 22 sách của nhà nước về tổ chức bộ máy sẽ gây khó khăn và cản trở cho việc thực hiện chính sách.
Hệ thống thể chế pháp luật và chính sách tổ chức bộ máy tại Việt Nam đang được đổi mới và hoàn thiện, với Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật cụ thể hóa Hiến pháp này đóng vai trò quan trọng Những văn bản pháp lý này tạo cơ sở vững chắc cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước.
1.4.3 Môi trường thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Môi trường thực hiện chính sách sắp xếp TCBM có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của chính sách Một môi trường thuận lợi sẽ giúp chính sách dễ dàng được thực hiện, trong khi môi trường xấu sẽ cản trở quá trình này Các yếu tố như kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng, tự nhiên và xã hội đều tác động đến chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy Tại Việt Nam, việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM diễn ra thuận lợi nhờ vào hệ thống chính trị và xã hội ổn định, nền kinh tế tăng trưởng tốt, cùng với sự đồng thuận cao từ người dân đối với chính sách mở cửa hội nhập Để thích ứng với tình hình hội nhập và phát triển, Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc cải cách hành chính quan trọng nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
1.4.4 Quy mô hoạt động của tổ chức
Quy mô hoạt động của tổ chức được thể hiện qua các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, bộ máy, nhân sự và không gian tác động Khi nói đến quy mô, chúng ta đề cập đến sự lớn nhỏ của tổ chức, ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Hệ thống tổ chức có quy mô rộng hay hẹp sẽ tác động đến hiệu quả trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ quản lý.
Để tổ chức hiệu quả, cần xây dựng các phương án sắp xếp cụ thể về nguồn lực vật chất và nhân sự Tổ chức có quy mô lớn yêu cầu nhiều chức năng và nhiệm vụ hơn, dẫn đến số lượng vị trí việc làm cũng tăng so với tổ chức có quy mô nhỏ hơn.
1.4.5 Tiềm lực của nhóm đối tượng chính sách
Tiềm lực của nhóm đối tượng chính sách là sức mạnh và tiềm năng mà mỗi nhóm có trong mối quan hệ so sánh với các nhóm khác, thể hiện qua các khía cạnh kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội Tiềm lực này có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện chính sách Do đó, các nhóm đối tượng thực hiện chính sách cần chuẩn bị kỹ lưỡng, nghiên cứu và trau dồi kiến thức để tích lũy tiềm lực, từ đó hoàn thành nhiệm vụ và đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện chính sách.
1.4.6 Năng lực của công chức, viên chức trong thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Năng lực của CCVC đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của chính sách Các tổ chức có đội ngũ CCVC có trình độ chuyên môn và kỹ năng làm việc cao sẽ đạt được kết quả tốt hơn so với những tổ chức có năng lực yếu Năng lực này được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, kiến thức, khả năng lập kế hoạch, phối hợp công việc, và kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện chính sách Hơn nữa, khả năng phân tích và dự báo tác động đến quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy cũng là yếu tố quan trọng Do đó, năng lực của CCVC là yếu tố then chốt quyết định đến hiệu quả thực hiện chính sách sắp xếp TCBM.
Cần lựa chọn đội ngũ công chức viên chức (CCVC) có đủ năng lực và trình độ chuyên môn để thực hiện hiệu quả các chính sách hiện hành.
1.4.7 Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất cho quá trình thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Chúng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thực thi mà còn mở rộng số lượng đối tượng thụ hưởng, tạo cơ hội tiếp cận sự hỗ trợ cho các đối tượng chính sách Tuy nhiên, nhiều chính sách hiện nay gặp khó khăn trong việc truyền tải nội dung đến người tham gia và đối tượng thụ hưởng do thiếu hụt nguồn lực này.
Trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, nguồn lực tài chính đóng vai trò quyết định, đảm bảo hiệu quả của chính sách.
1.4.8 Sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng chính sách
Chính sách hiệu quả phụ thuộc vào sự đồng tình và ủng hộ của các đối tượng chính sách, đóng vai trò quyết định trong thành bại của chính sách Việc sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhằm tạo ra một bộ máy tinh gọn và hoạt động hiệu quả, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức (CCVC) trong bộ máy hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập Do đó, sự ủng hộ của CCVC là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện các mục tiêu chính sách và quyết định hiệu quả của chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy.
Chương 1 tác giả đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách sắp xếp TCBM bao gồm các khái niệm cơ bản về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách sắp xếp TCBM và thực hiện chính sách sắp xếp TCBM các ĐVSNCL; nêu ra một số quan điểm, mục tiêu, giải pháp của Đảng và Nhà nước vềsắp xếp tổ chức bộ máy; trình bày các nội dung cơ bản của tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Từ kết quả nghiên cứu ở Chương 1 sẽ là cơ sở để phân tích thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp TCBM của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ở Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Khái quát chung về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển tổ chức bộ máy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, hay còn gọi là Vietnam Academy of Social Sciences (VASS), được thành lập từ Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học vào ngày 02/12/1953 Từ ngày 22/02/2012, viện chính thức mang tên Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Sự hình thành và phát triển của tổ chức này gắn liền với các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam.
Vào ngày 2 tháng 12 năm 1953, Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học được thành lập theo Quyết định số 34/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Đến năm 1954, ban này được đổi tên thành Ban Nghiên cứu Văn học - Lịch sử - Địa lý.
Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa được tổ chức thành 5 tổ nghiên cứu: Tổ Cổ sử, Tổ Lịch sử hiện đại, Tổ Văn học, Tổ Địa lý và Tổ Quan hệ quốc tế Mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng 5 năm, Ban đã đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho lộ trình thành lập Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của ngành khoa học xã hội tại Việt Nam sau này.
Vào ngày 4 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 01/SL để thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước trực thuộc Hội đồng Chính phủ Đến năm 1960, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập ba đơn vị nghiên cứu, bao gồm Viện Văn học, Viện Sử học và Viện Kinh tế, đồng thời trong giai đoạn này cũng hình thành thêm một số đơn vị khác.
Tổ nghiên cứu bao gồm Tổ Triết học và Tổ Luật học đã được thành lập để chuẩn bị cho việc thành lập các Viện Đến năm 1965, tổ chức này được mở rộng với sự bổ sung của Tổ Ngôn ngữ học, Tổ Luật học, Tổ Từ điển Bách khoa, Tổ Dân tộc học và Đội Khảo cổ học.
Vào ngày 19/6/1967, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Quyết định số 47/TVQH, đổi tên Viện KHXH Việt Nam thành Ủy ban KHXH Việt Nam Tổ chức bộ máy của Ủy ban bao gồm 05 đơn vị nghiên cứu: Viện Triết học, Viện Kinh tế, Viện Sử học, Viện Văn học, và Viện Luật học; cùng với 02 đơn vị phục vụ nghiên cứu là Thư viện KHXH và Nhà xuất bản KHXH, cùng 02 đơn vị chức năng hỗ trợ Chủ nhiệm là Văn phòng và Vụ Tổ chức - Cán bộ Đến năm 1968, Ủy ban KHXH Việt Nam đã thành lập thêm 03 đơn vị nghiên cứu mới theo Nghị định số 59/CP ngày 14/5/1968, bao gồm Viện Khảo cổ học, Viện Dân tộc học, và Viện Ngôn ngữ học Năm 1973, Chủ nhiệm Ủy ban KHXH Việt Nam quyết định thành lập một số đơn vị mới như Ban Thông tin KHXH, Ban Đông Nam Á, và Ban Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ.
Vào tháng 12 năm 1975, Trung ương Cục miền Nam đã quyết định thành lập Viện KHXH miền Nam nhằm sắp xếp lại tổ chức nghiên cứu khoa học tại khu vực này Đồng thời, Viện Thông tin KHXH cũng được thành lập, kết hợp giữa Thư viện KHXH và Ban Thông tin KHXH thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam.
Năm 1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập từ Ban Hán Nôm trước đó Đến năm 1983, Ủy ban KHXH Việt Nam đã có 16 Viện Nghiên cứu khoa học, đánh dấu sự phát triển của hệ thống các Viện Khoa học xã hội và nhân văn tại Việt Nam Hệ thống tổ chức bao gồm các đơn vị như Viện Triết học, Viện Kinh tế, Viện Luật học, Viện Xã hội học, Viện Sử học, Viện Khảo cổ học, Viện Văn hóa dân gian, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cùng với các viện khác như Viện Từ điển Bách khoa thư, Viện KHXH thành phố Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế thế giới, Viện Đông Nam Á, và Viện Châu Á - Thái Bình Dương Ngoài ra, còn có Tạp chí khoa học xã hội phục vụ nghiên cứu và hai cơ quan chức năng hỗ trợ Ủy ban là Vụ Kế hoạch tổng hợp và Vụ Hợp tác quốc tế.
Vào ngày 31/3/1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Nghị quyết số 244/NQ-HĐNN, phê chuẩn việc chuyển Ủy ban KHXH Việt Nam thành Viện KHXH Việt Nam Thời điểm này, cơ cấu tổ chức của Viện KHXH Việt Nam bao gồm 16 Viện và 02 Trung tâm.
28 tâm nghiên cứu chuyên ngành và một số cơ quan phục vụ nghiên cứu, cơ quan chức năng giúp việc Viện trưởng
Ngày 22/5/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/CP quyết định thành lập Trung tâm KHXH&NV Quốc gia trên cơ sở tổ chức lại Viện KHXH Việt Nam
Cơ cấu tổ chức ban đầu của Trung tâm KHXH&NV Quốc gia bao gồm 16 đơn vị nghiên cứu khoa học, 03 cơ quan phục vụ nghiên cứu khoa học và 05 cơ quan chức năng, hỗ trợ Chủ nhiệm Ủy ban KHXH Việt Nam.
Trong vòng 10 năm từ 1983, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia đã mở rộng bộ máy tổ chức bằng cách phát triển thêm 07 Trung tâm nghiên cứu, bao gồm Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Mỹ, SNG và Đông Âu, cùng với Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, và Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam Đồng thời, Viện Nghiên cứu Con người cũng được thành lập, và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã tách ra khỏi Viện Dân tộc học vào năm 1995.
1993), Chính phủ đã ra Quyết định thành lập mới 08 Trung tâm và 01 Viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Trung tâm KHXH&NV Quốc gia [30, tr.50]
Vào ngày 15/01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/2004-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện KHXH Việt Nam Theo đó, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia được đổi tên thành Viện KHXH Việt Nam Trong giai đoạn này, Viện KHXH Việt Nam đã thành lập thêm 05 đơn vị nghiên cứu mới, bao gồm Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, Viện KHXH vùng Trung Bộ, Viện KHXH vùng Tây Nguyên, Trung tâm Phân tích và Dự báo, cùng với một đơn vị chức năng hỗ trợ Chủ tịch Viện là Ban Quản lý khoa học.
Vào ngày 22/4/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2008/NĐ-CP, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện KHXH Việt Nam Theo nghị định này, Viện KHXH Việt Nam bao gồm 29 đơn vị nghiên cứu khoa học và 05 đơn vị chức năng hỗ trợ Chủ tịch Viện.
Sau khi Nghị định số 53/2008/NĐ-CP có hiệu lực, Viện KHXH Việt Nam đã thành lập 04 đơn vị nghiên cứu mới, nâng tổng số đơn vị lên 32 Các đơn vị mới bao gồm Viện Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ (2009), Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin (2009), Học viện KHXH (2010) và Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á (2011) Đến năm 2012, Viện KHXH Việt Nam được đổi tên thành Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam theo Nghị định số 109/2012/NĐ-CP, và đã thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy cho phù hợp với tên gọi mới Các viện phát triển bền vững cũng được đổi tên thành Viện KHXH vùng tương ứng, nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu và phát triển.
Vào ngày 26/12/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 217/2013/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2012/NĐ-CP Nghị định này quy định rằng Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có 32 đơn vị nghiên cứu khoa học, 04 đơn vị sự nghiệp công lập và 06 cơ quan chức năng hỗ trợ Chủ tịch Viện Ngoài ra, Chủ tịch Viện cũng đã thành lập thêm 03 tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ mới.
Ngày 18/8/2017, Chính phủ ban hành Nghị định quy định số 99/2017/NĐ-
Tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm
Để đánh giá khách quan về việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, tác giả đã tiến hành khảo sát và điều tra thông qua bảng hỏi nhằm thu thập ý kiến đóng góp của cán bộ công chức viên chức.
Bài viết đề cập đến cuộc điều tra của 34 người lao động tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam về thực trạng tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Nghiên cứu tập trung vào các vấn đề quan trọng như xây dựng kế hoạch triển khai, phổ biến và tuyên truyền chính sách, phân công phối hợp thực hiện, duy trì và điều chỉnh chính sách, cũng như theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và đánh giá kết quả thực hiện chính sách.
Trong nghiên cứu này, 200 bảng hỏi đã được phát ra đến các đối tượng như thủ trưởng đơn vị, viên chức, người lao động và các đầu mối viên chức làm công tác tổ chức cán bộ tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Kết quả thu về là 186 phiếu hợp lệ Nội dung điều tra và khảo sát được trình bày chi tiết ở phụ lục 2, trong khi tổng hợp kết quả khảo sát có thể tìm thấy ở phụ lục 3.
Kết quả điều tra và khảo sát cho thấy tác giả đã thu thập được mức độ hài lòng của cán bộ công chức viên chức (CCVC) và người lao động trong tổ chức về việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
2.2.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã lập kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trước khi đưa vào thực tiễn Kế hoạch này bao gồm các bước quan trọng như xây dựng kế hoạch điều hành, cung cấp nguồn lực, kiểm tra và xác định thời gian triển khai chính sách, cùng với việc xây dựng nội quy và quy chế thực hiện Đánh giá kết quả của kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được thể hiện rõ ràng.
Bảng 2.1 Đánh giá thực trạng xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
TT Nội dung đánh giá
Mức độ đánh giá
Tốt Trung bình Chưa tốt
SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ
Xây dựng kế hoạch tổ chức điều hành thực hiện chính sách sắp xếp
Xác định kế hoạch cung cấp các nguồn lực thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
3 Xác định thời gian triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM 127 68,2% 41 22,2% 18 9,6%
4 Xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách sắp xếp TCBM 126 68,0% 45 24,0% 15 8,0%
Xây dựng nội quy, quy chế điều hành tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
Kết quả khảo sát tháng 5.2019 cho thấy Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã thực hiện tốt kế hoạch triển khai chính sách sắp xếp TCBM, với hơn 60% đánh giá tích cực Đặc biệt, khâu xây dựng nội quy và quy chế tổ chức điều hành được đánh giá cao nhất, đạt 73,3% (137/186 phiếu), trong khi mức độ trung bình là 19,3% (36/186 phiếu) và chưa tốt là 7,3% (13/186 phiếu).
Kế hoạch tổ chức điều hành thực hiện chính sách sắp xếp TCBM đã được đánh giá tích cực, với 69,3% phiếu bầu (129/186) cho mức độ tốt, 21,6% phiếu bầu (40/186) cho mức độ trung bình, và chỉ 9,1% phiếu bầu (17/186) cho mức độ chưa tốt.
- Xác định thời gian triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM mức độ tốt với 127/186 phiếu (chiếm 68,2%), trung bình 41/186 phiếu (chiếm 22,2%), chưa tốt 18/186 phiếu (chiếm 9,6%);
- Xác định kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách sắp xếp TCBM lần lượt là 126/186 phiếu (chiếm 68%), trung bình 45/186 phiếu (chiếm 24%), chưa tốt 15/186 phiếu (chiếm 8,0%);
- Xác định kế hoạch cung cấp các nguồn lực thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, mức độ tốt 124/186 phiếu (chiếm 66,7%), trung bình 47/186 phiếu (chiếm 25,3%), chưa tốt 15/186 phiếu (chiếm 8,0%)
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã triển khai kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM một cách cụ thể và hiệu quả.
Ban Tổ chức - Cán bộ là đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tổ chức điều hành, phối hợp với Văn phòng Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các đơn vị chức năng Các đơn vị này bao gồm 34 đơn vị nghiên cứu khoa học, 4 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và thông tin truyền thông, cùng 2 tổ chức khoa học công nghệ do Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam thành lập.
Toàn thể CCVC tại Ban Tổ chức - Cán bộ tham gia vào quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, đặc biệt là các viên chức được giao nhiệm vụ chuyên quản về tổ chức bộ máy Thủ trưởng và các viên chức phụ trách công tác tổ chức cán bộ trong các ĐVSNCL trực thuộc cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Kế hoạch cung cấp nguồn lực cho việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM bao gồm xác định cơ sở kiến trúc và trang thiết bị kỹ thuật tại trụ sở chính của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cùng các trụ sở làm việc tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Buôn Ma Thuột Nguồn tài chính cho chính sách này được xác định từ ngân sách nhà nước hàng năm, 5 năm và giai đoạn, được trích từ ngân sách của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã xác định thời gian triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM thông qua việc dự kiến thời gian duy trì chính sách và các bước từ tổ chức tuyên truyền đến công tác đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước trong quá trình này đều có mục tiêu cụ thể và thời gian để đạt được những mục tiêu đó.
* Kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách, xác định:
Ban Tổ chức và cán bộ dự kiến sẽ tập trung vào việc xác định tiến độ, hình thức, và phương pháp kiểm tra, giám sát quy trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM.
Kế hoạch tài chính dự kiến cần đảm bảo tiến độ, phương pháp kiểm tra và giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng kinh phí Việc này giúp thực hiện điều chỉnh và bổ sung kịp thời, hiệu quả.
Thủ trưởng các đơn vị được giao nhiệm vụ bởi Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cần thực hiện các dự kiến liên quan đến tiến độ, hình thức, phương pháp, cũng như kiểm tra và giám sát quá trình sắp xếp TCBM trong phạm vi thẩm quyền quản lý của mình.
Đánh giá chung về thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
2.3.1.1 Kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Hệ thống tổ chức các ĐVSNCL tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam hiện nay tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước về thành lập, giải thể và tổ chức lại ĐVSNCL Theo Nghị định số 55/2012/NĐ-CP, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã triển khai Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy các ĐVSNCL trực thuộc, gửi các Bộ quản lý chuyên ngành thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Bảng 2.7 Số lượng ĐVSNCL trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
TT Tổ chức bộ máy Năm
1 Các ĐVSNCL thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học 32 32 33 00 +01
2 Các ĐVSNCL thuộc lĩnh vực khác 09 08 06 -01 -01
Trong giai đoạn 2013 - 2015, số lượng ĐVSNCL trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam duy trì ổn định với 32 đơn vị Tuy nhiên, số lượng ĐVSNCL thuộc lĩnh vực khác đã giảm từ 09 đơn vị vào năm 2013 xuống còn 08 đơn vị vào năm 2015.
Số lượng ĐVSNCL giảm 01 đơn vị nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn và hiệu quả, theo chỉ đạo tại Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã thực hiện Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, theo Kết luận số 64/KL-TW ngày 28/5/2013, nhằm đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động, Viện đã rà soát và tổ chức lại các đơn vị không còn phù hợp, khắc phục sự cồng kềnh và chồng chéo trong nhiệm vụ Đến cuối năm 2013, Viện đã hoàn tất thủ tục sáp nhập Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Nhà xuất bản Từ điển bách khoa thành một nhà xuất bản duy nhất, được xác nhận tại Nghị định số 217/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 Quá trình tổ chức lại Nhà xuất bản KHXH được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012.
Công tác tái cơ cấu Nhà xuất bản KHXH đã được Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam thực hiện nhằm giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến kinh phí, cơ sở vật chất và quy định chức năng Việc sắp xếp lại nhân sự phù hợp với nhu cầu công việc và đảm bảo quyền lợi cho người lao động đã giúp Nhà xuất bản KHXH hoạt động hiệu quả hơn Sự kiện hợp nhất hai Nhà xuất bản thành một đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam khẳng định việc thực hiện chỉ thị số 24-CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao chất lượng hoạt động xuất bản.
Giai đoạn từ 2015 - 2018, số lượng ĐVSNCL thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học tăng từ 32 đơn vị (năm 2015) lên 33 đơn vị (năm 2018); ĐVSNCL thuộc
Trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018, 53 lĩnh vực khác đã giảm từ 08 đơn vị xuống còn 07 đơn vị Việc sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện cụ thể bởi Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Triển khai Kết luận số 64/KL-TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã thực hiện nhiều bước quan trọng trong việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở Năm 2016, Viện đã kiện toàn một số tổ chức nghiên cứu khoa học theo Luật Khoa học và Công nghệ, dẫn đến việc giải thể Trung tâm Nghiên cứu Chính sách phát triển bền vững do hoạt động không hiệu quả Việc giải thể này đã hoàn tất các công việc thanh quyết toán và tổ chức lại nhân sự Đồng thời, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam - Nhật Bản đã được đổi tên thành Trung tâm Giao lưu Nghiên cứu và hợp tác về nhân lực Khoa học xã hội Việt Nam - Đông Á Năm 2017, Viện đã triển khai Quyết định số 2218/QĐ-TTg về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, đồng thời xây dựng Đề án sửa đổi Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện Đề án này tập trung vào việc rà soát và hoàn thiện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như tổ chức lại bộ máy Cuối cùng, Trung tâm Nghiên cứu Kinh Thành đã được đổi tên thành Viện Nghiên cứu Kinh Thành theo Nghị định số 99/2017/NĐ-CP.
Công tác kiện toàn và sắp xếp tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Kinh Thành được thực hiện với nguyên tắc không thay đổi cơ cấu tổ chức và không gia tăng biên chế.
Số lượng biên chế tăng lên nhưng không làm gia tăng số lượng vị trí việc làm và số lượng người lao động, phù hợp với quy định của Đảng và Nhà nước.
2.3.1.2 Kết quả sắp xếp tổ chức cấp phòng bên trong các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã tiến hành kiện toàn và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các ĐVSNCL, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCVC và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Trong giai đoạn 2013-2018, qua rà soát, Viện đã giảm đáng kể số lượng tổ chức cấp phòng, đảm bảo tính tinh gọn và hiệu quả.
Bảng 2.8 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học
TT Tổ chức bộ máy Năm
1 Các đơn vị thuộc khối khoa học nhân văn 112 107 91 -5 -16
2 Các đơn vị thuộc khối khoa học vùng, quốc tế 132 129 100 -3 -29
3 Các đơn vị thuộc khối khoa học xã hội 142 133 104 -9 -29
Nguồn: Số liệu của Ban Tổ chức - Cán bộ
Khối Khoa học nhân văn Khối khoa học vùng, quốc tế Khối khoa học xã hội
Biểu đồ 2.1 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Bảng 2.9 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực khác
TT Tổ chức bộ máy Năm
1 Đơn vị thuộc lĩnh vực văn hóa, giáo dục 47 47 41 0 -6
2 Đơn vị thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông 17 15 11 -2 -4
Nguồn: Số liệu của Ban Tổ chức - Cán bộ
60 Đơn vị thuộc lĩnh vực văn hoá, giáo dục Đơn vị thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông Đơn vị khác
Biểu đồ 2.2 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực khác
Trong giai đoạn 2013-2015 và 2015-2018, số lượng tổ chức cấp phòng bên trong các ĐVSNCL của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có sự giảm sút rõ rệt Cụ thể, từ 462 phòng vào năm 2013, số lượng đã giảm xuống còn 445 phòng vào năm 2015, với 17 tổ chức cấp phòng được giải thể Tiếp theo, trong giai đoạn 2015-2018, đã có 74 tổ chức cấp phòng được sáp nhập và giải thể.
+ Tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn giảm từ 112 phòng (năm 2013) xuống 107 phòng (năm 2015), đến năm 2018 giảm còn 91 phòng
+ Tổ chức cấp phòng thuộc khối khoa học vùng, quốc tế giảm 29 phòng, từ
Từ năm 2013 đến năm 2018, số lượng phòng trong tổ chức cấp phòng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội đã giảm đáng kể Cụ thể, số phòng giảm từ 142 xuống 133 vào năm 2015 và tiếp tục giảm xuống còn 104 vào năm 2018 Tương tự, tổng số phòng cũng giảm từ 132 phòng năm 2013 xuống 129 phòng năm 2015, và chỉ còn 100 phòng vào năm 2018.
Trong giai đoạn 2013-2015, số lượng tổ chức cấp phòng thuộc các ĐVSNCL là 76 phòng, nhưng đến năm 2018, con số này đã giảm xuống còn 61 phòng.
+ Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục trong năm 2013-2015 là 47 phòng, đến năm 2018 giảm xuống còn 41 phòng;
+ Trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông năm 2013 là 17 phòng giảm xuống còn 15 phòng năm 2015 và giảm còn 11 phòng năm 2018;
+ Tổ chức cấp phòng các đơn vị khác giai đoạn năm 2013-2015 là 14 phòng, đến năm 2018 giảm xuống còn 5 phòng
Trong giai đoạn 2015-2018, số lượng tổ chức cấp phòng bên trong các ĐVSNCL thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã giảm nhiều hơn so với giai đoạn 2013-2015 Nguyên nhân là do trong giai đoạn 2013-2015, việc sắp xếp tổ chức cấp phòng chỉ được thực hiện tại một số đơn vị khi có nhu cầu điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy.
Từ năm 2015 đến 2018, số lượng tổ chức cấp phòng thuộc các ĐVSCL đã giảm đáng kể do Nghị định số 99/2017/NĐ-CP ban hành ngày 18/8/2017, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Viện đã thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo chủ trương đổi mới, yêu cầu các đơn vị đánh giá kết quả thực hiện chức năng và cơ cấu tổ chức để xây dựng quy định mới Nguyên tắc sắp xếp được thực hiện dựa trên tình hình thực tế và số lượng người làm việc tại các tổ chức cấp phòng.