1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ chính sách công thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện hà quảng, tỉnh cao bằng

93 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thạc sĩ chính sách công thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng
Tác giả Dương Viết Long
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Để thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”, tác giả luận văn nghiên cứu cá

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi thực hiện từ tháng 7 năm 2020 và hoàn thành vào tháng 2 năm 2021 Các

số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nào khác

NGƯỜI CAM ĐOAN

Dương Viết Long

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 12

1.1 Chính sách xây dựng nông thôn mới 12 1.2 Quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 17 1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 20 1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương và bài học cho huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 22

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG 29

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 29 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 37 2.3 Kết quả thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 51 2.4 Đánh giá chung về việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 62

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG TRONG THỜI GIAN TỚI 68

3.1 Phương hướng, mục tiêu thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 68 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 70

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

PTDTNT Phát triển dân tộc thiểu sô

Trang 4

Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về việc thực hiện công tác phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 42 Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về công tác phân công, phối hợp thực hiện 44 chính sách xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 44

Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về công tác duy trì chính sách xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 45 Bảng 2.6 Kết quả khảo sát về công tác điều chỉnh thực hiện chính sách

xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 46 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 50 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát về công tác đánh giá tổng kết thực hiện 50 chính sách xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 50

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong 10 năm qua, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành một phong trào sôi nổi, rộng khắp trên cả nước và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tạo nên bước ngoặt lớn trong phát triển nông thôn nước ta Bộ mặt nông thôn khởi sắc rõ rệt, từng bước gắn phát triển toàn diện nông thôn với cơ cấu lại và đổi mới mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân, tạo nền tảng ổn định chính trị, xã hội Giai đoạn 2011 -

2015, trong điều kiện kinh tế còn khó khăn, ngân sách hạn hẹp, Nhà nước vẫn ưu tiên hàng năm tăng nguồn lực đầu tư cho Chương trình với số tiền huy động được là khoảng 851.380 tỷ đồng đầu tư cho Chương trình này Trong đó: vốn huy động từ ngân sách nhà nước là 266.785 tỷ đồng (chiếm 31,3%), từ nguồn tín dụng là 434.950 tỷ đồng (chiếm 51,1%), từ doanh nghiệp là 42.198 tỷ đồng (chiếm 5,0%) và từ cộng đồng dân cư là 107.447

tỷ đồng (chiếm 12,62%) Riêng ngân sách Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình là 98.664 tỷ đồng (11,6%), trong đó, ngân sách trung ương 16.400 tỷ đồng, ngân sách địa phương các cấp 82.264 tỷ đồng Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp trong giai đoạn 1 chưa được chủ động bố trí và hàng năm thông báo chậm nên ảnh hưởng nhiều đến tiến độ

và hiệu quả triển khai chương trình, cũng như phần nào dẫn đến tình trạng

nợ đọng xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới Giai đoạn 2016 - 2019: Tính đến tháng 9/2019, tổng nguồn lực huy động thực hiện Chương trình khoảng 1.567.091 tỷ đồng, bao gồm: Vốn ngân sách Trung ương: 37.900 tỷ đồng (2,4%), trong đó: vốn đầu tư phát triển là 27.960 tỷ đồng, vốn sự nghiệp 9.940 tỷ đồng Vốn ngân sách đối ứng trực tiếp của địa phương: 182.724 tỷ đồng (11,7%) Vốn lồng ghép từ Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững và các chương trình, dự án khác triển khai trên địa bàn nông thôn: 182.709 tỷ đồng (11,7%) Vốn tín dụng:

Trang 6

958.859 tỷ đồng (61,2%) Vốn doanh nghiệp: 76.411 tỷ đồng (4,9%) và Vốn huy động người dân và cộng đồng đóng góp: 128.488 tỷ đồng (6,2%) Tính chung trong cả 9 năm qua, cả nước đã huy động được 2.418.471 tỷ đồng (tương đương khoảng 110 tỷ USD) Trong đó, ngân sách nhà nước các cấp hỗ trợ trực tiếp cho chương trình là 319.289 tỷ đồng (bình quân khoảng 35,9 tỷ đồng/xã trong 9 năm), chiếm 13,2%; chủ yếu là ngân sách địa phương các cấp (264.988 tỷ, chiếm 83% tổng ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp), ngân sách trung ương là 54.300 tỷ (chiếm 17% ngân sách nhà nước các cấp) [49]

Tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đến tháng 10/2019, cả nước đã có 4.665 xã (52,4%) đã được cấp có thẩm quyền công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 35,3% so với cuối năm 2015 (là thời điểm tổng kết giai đoạn 1) và hoàn thành vượt 2,4% so với mục tiêu 10 năm (2010 - 2020) của Đảng, Quốc hội và Chính phủ giao cho trong thời gian đầu thực hiện Chương trình Trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng (đạt 84,86%), Miền núi phía Bắc (đạt 28,6%) đã hoàn thành vượt mục tiêu 5 năm (2016 - 2020) được Thủ tướng Chính phủ giao; có 36/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã hoàn thành sớm và vượt mục tiêu 5 năm được Thủ tướng Chính phủ giao; có 08 tỉnh, thành phố đã

có 100% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương và Cần Thơ) Trong số các xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, có 87 xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 và 42 xã vùng bãi ngang ven biển, hải đảo

Đồng thời, đã có 63 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và đã có

xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu theo quy định của Thủ tướng Chính phủ Bình quân cả nước đạt 15,32 tiêu chí/xã, hoàn thành vượt mục tiêu 5 năm (2016 - 2020) được Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó, có 02/7 vùng

và 19/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành và vượt mục

Trang 7

tiêu 5 năm (2016 - 2020) được Thủ tướng Chính phủ giao Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn cho thấy những thành tựu đạt được của Việt Nam trong quá trình xây dựng NTM giai đoạn vừa qua chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của các vùng nông thôn hiện nay Kết cấu hạ tầng tại các khu vực nông thôn như: điện, nước, đường xá, trường học, trạm y tế, chợ dân sinh, thủy lợi còn nhiều yếu kém chưa được khắc phục; sản xuất nông nghiệp tại nhiều địa phương trên cả nước còn manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng các sản phẩm hàng hóa nông sản còn thấp, công tác bảo quản và chế biến trước khi đưa ra thị trường chưa gắn với thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các vùng nông thôn gắn với cơ cấu lao động, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến

và tiêu thụ sản phẩm còn chậm chưa được triển khai

Năm 2011, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng bắt đầu triển khai thực

hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM” Tính đến hết tháng

6/2019, trên địa bàn huyện có 3/18 xã đạt chuẩn NTM đó là: xã Trường

Hà, Đào Ngạn và xã Phù Ngọc; số tiêu chí bình quân là 10,94 tiêu chí trên

xã So với năm 2011 tăng 7,83 tiêu chí/xã và thu nhập bình quân toàn huyện đạt 13,9 triệu đồng/năm, tăng 6,9 triệu đồng Có 10 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí (Vần Dính, Lũng Nặm, Nội Thôn, Cải Viên, Vân An, Kéo Yên, Sỹ Hai, Hồng Sỹ, Tổng Cọt, Quý Quân); 05 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí (Mã Ba, Sóc Hà, Nà Sác, Thượng Thôn, Hạ Thôn); 03 xã đạt từ 15 - 19 tiêu chí (Trường Hà, Đào Ngạn, Phù Ngọc)

Từ năm 2011 đến nay bằng sự hỗ trợ của Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam và các nguồn hỗ trợ khác, 100% các xã có đường ô tô được nhựa hóa đến trung tâm xã Thông qua phong trào “Hà Quảng chung sức xây dựng NTM”, từ năm 2016 đến tháng 6/2019 tổng nguồn vốn từ các chương trình,

dự án đầu tư cho chương trình là trên 509 tỷ đồng, tăng 120,2% so với giai đoạn 2011-2015 Theo đó, thực hiện được 137 tuyến đường giao thông nông thôn, với tổng chiều dài 161,31 km/324,86 km đạt 49,66%, trong đó

Trang 8

mở mới 97 tuyến, sửa chữa nâng cấp được 22 tuyến; nhân dân đóng góp được 54.084 ngày công, hiến 147,810 m2 đất, nhà nước hỗ trợ 1.992 tấn xi măng Đến nay 192/213 xóm có đường ô tô đến trung tâm xóm chiếm 90,1% Đầu tư xây dựng được 125 công trình thủy lợi, trong đó mương thủy lợi; 119 công trình, tổng chiều dài 92,81 km và 06 công trình trạm bơm, đập tích trữ nước phục vụ sản xuất Có 11 trường đạt chuẩn quốc gia; xây dựng 05 nhà văn hóa xã, xây mới, nâng cấp, sửa chữa 93 nhà văn hóa xóm; Toàn huyện có 13/19 Trạm y tế xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế

Tuy nhiên, cũng như toàn tỉnh và cả nước, trong quá trình thực hiện xây dựng NTM tại Hà Quảng còn những tồn tại và bất cập, đó là: nhận thức của cấp ủy, chính quyền và người dân về xây dựng NTM còn hạn chế; công tác phối kết hợp để tổ chức thực hiện xây dựng NTM chưa hiệu quả, việc huy động sự đóng góp của người dân và doanh nghiệp còn hạn chế, nguồn lực trong xây dựng NTM còn gặp nhiều khó khăn, nợ đọng trong xây dựng

cơ bản của một số xã còn cao, đặc biệt, trình độ của cán bộ cơ sở còn hạn chế, cho nên quá trình tổ chức thực hiện xây dựng NTM cấp cơ sở còn lúng

túng Xuất phát từ những phân tích ở trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành chính sách

công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Để thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”, tác giả luận văn nghiên cứu các công trình khoa học, cụ thể:

Trong cuốn sách chuyên khảo: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020, Nguyễn Thị

Tố Quyên (2019), đã chỉ ra một số điểm trọng tâm nổi bật về thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến 2011; chỉ ra những cơ hội và thách thức mới đặt ra cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong

Trang 9

mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2020 Từ đó, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó có vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động, đó là: Phân bổ nguồn lực trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn (với hai nguồn lực cơ bản là lao động và đất đai); quy hoạch vùng, quy hoạch nông thôn - đô thị; Chuyển đổi hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn sang nông nghiệp kinh doanh hàng hoá và nông thôn hiện đại; Nâng cao thu nhập cho người nông dân; Thay đổi tư duy, cách thức thực hiện khuyến nông; Chính sách xã hội đối với nông dân; nâng cao năng lực của

hệ thống chính quyền nông thôn - phát triển dân chủ và xã hội pháp quyền

Luận án Tiến sĩ Kinh tế bảo vệ tại Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế

trung ương: Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam của Đoàn Thị Hân (2017), đã làm rõ thực trạng huy

động và sử dụng nguồn lực tài chính cho XDNTM trên địa bàn vùng trung

du và miền núi phía Bắc Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho XDNTM trên địa bàn nghiên cứu

Trang 10

Đề xuất định hướng và giải pháp huy động hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc

Tác giả Huỳnh Văn Hiệp (2020), Vai trò của phát triển văn hóa nông thôn trong xây dựng nông thôn mới Trong đề tài nghiên cứu của

mình tác giả cho rằng việc phát triển văn hóa nông thôn gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới vừa là mục tiêu, động lực, là yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng mang tính nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Hà Tiến Thăng (2019), Chuyển dịch cơ cấu lao động trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Bình, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã tổng quan kết quả nghiên cứu trong các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, từ đó xác định những khoảng trống và vấn đề khoa học cần được tập trung nghiên cứu trong luận án Làm rõ cơ sở lý thuyết của chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình xây dựng nông thôn mới, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hưởng Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình xây dựng nông thôn mới một số địa phương, đúc rút những bài học cho tỉnh Thái Bình có thể tham khảo vận dụng trong CDCCLĐ trong xây dựng nông thôn mới Đánh giá, phân tích thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình giai đoạn 2011 - 2015, rút ra những thành tựu, hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của các thành tựu hạn chế đó Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy CDCCLĐ trong xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035

Tác giả Vũ Văn Phúc (2018), Xây dựng nông thôn mới - những vấn

đề và thực tiễn [34] Tác giả đã tổng hợp các bài viết của các nhà khoa học

Trang 11

về vấn đề xây dựng nông thôn mới, với nội dung gồm những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới; với thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Một số tác giả, trong bài viết của mình, đã đề cập những vấn đề liên quan tới chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, như: vấn đề an sinh xã hội đối với dân cư nông thôn (tác giả Nguyễn Trọng Đàm); thực trạng về phụ nữ nông dân, nông thôn (của Nguyễn Linh Khiếu)

Tác giả Nguyễn Văn Út (2017), với luận văn thạc sĩ: Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã làm rõ cơ sở lý

luận về xây dựng nông thôn mới, chính sách và việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới dưới góc độ khoa học chính sách công Mặt khác, tác giả Nguyễn Văn Út cũng đã phân tích quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện U Minh Thượng, một địa phương mang những đặc thù của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Qua những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế tìm được, luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp cụ thể mang tính thực tiễn, gắn với đặc điểm xây dựng nông thôn mới tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhằm thực hiện một cách khoa học các chu trình thực hiện chính sách trong xây dựng mô hình nông thôn mới, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2020 [61]

Bên cạnh các tác giả trên, cùng nghiên cứu về thực hiện chính sách công, tác giả Hoàng Văn Vĩ (2018), trong luận văn thạc sĩ của mình đã làm

rõ vấn đề trên tại huyện Yên Dũng, cụ thể với tên đề tài: Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, đã làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách xây

dựng nông thôn mới của một số địa phương để làm tiền đề nghiên cứu thực trạng trên địa bàn huyện Yên Dũng; nghiên cứu thực trạng thực hiện chính

Trang 12

sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Dũng với nhựng kết quả đạt được và nguyên nhân được xác định cho những hạn chế được rút ra trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện,

từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Dũng trong giai đoạn đến năm 2025 và những năm tiếp theo[62]

Tiểu kết:

- Những kết quả đạt được: Những công trình nêu trên của các tác

giả, nhà khoa học đã cung cấp phần nào những luận cứ, luận chứng, những

dữ liệu rất quan trọng cho việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước

ta nói chung và ở một số địa phương cụ thể

- Khoảng trống chưa nghiên cứu: Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng

hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng dưới góc độ khoa học chính sách công, để làm rõ được những thành công, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách này tại một huyện miền núi còn nhiều khó khăn như Hà Quảng

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, khi tác giả đi sâu vào nghiên cứu các nội dung liên quan đến chính sách xây dựng nông thôn mới hay thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn nghiên cứu thì đề tài luận văn sẽ tiếp tục hướng nghiên cứu chuyên sâu của khoa học chính sách công, nhằm bổ sung cho những lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách xây dựng NTM ở một địa phương cụ thể là huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (đây là một địa phương đang trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới) Việc tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc trong quá trình phân tích các mục tiêu đã đặt ra của luận văn gắn với nghiên cứu thực tiễn một địa phương cụ thể

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận, làm rõ thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới, đề xuất các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá các nội dung của thực trạng thực hiện chính

sách xây dựng NTM ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, chỉ rõ được những thành công, ưu điểm, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

- Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ

thể, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là chính sách và thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2016 đến 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng cách tiếp cận theo hệ thống, đa ngành, liên ngành về khoa học xã hội, tiếp cận dựa trên phương pháp nghiên cứu quy phạm về

Trang 14

chu trình thực thi và đánh giá chính sách công

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Có nhiều phương pháp để thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn nhưng do đặc thù của đề tài gắn với khoa học chính sách công và đặc thù của chính sách xây dựng nông thôn mới nên học viên đã chọn các phương pháp cụ thể sau để thực hiện nghiên cứu đề tài:

Đề tài sử dụng phương pháp này để tìm các thông tin cần thiết để chứng minh cho những luận điểm được đề xuất trong quá trình nghiên cứu Việc thu thập thông tin dữ liện liên quan đến thực hiện chính sách xây dựng NTM có thể qua nhiều kênh phương tiện khác nhau như: trên mạng internet; qua các báo cáo tổng kết của Trung ương, tỉnh Cao Bằng, huyện

Hà Quảng; qua các quy định pháp luật về nông nghiệp, nông thôn, về xây dựng NTM đặc biệt là các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước

Đề tài sử dụng phương pháp trên nhằm so sánh, đánh giá các kết quả thông tin đã thu thập được, qua đó phân tích chứng minh cho các luận điểm, các vấn đề được nêu ra trong nghiên cứu của luận văn

Bên cạnh đó, luận văn đã sử dụng phương pháp đánh giá để đưa ra các luận điểm của mình về các vấn đề nghiên cứu, qua đó rút ra được các nhận định khách quan về quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

Để thu thập thêm các dữ liệu khách quan phục vụ quá trình nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, đề tài sử dụng phương pháp khảo sát điều tra bằng bảng hỏi (Mẫu bảng hỏi tại Phụ lục 1), nội dung bảng hỏi được xây dựng nhằm hướng tới các đối tượng là cán bộ quản lý liên quan đến vấn đề thực hiện xây dựng nông thôn mới của huyện Hà Quảng (30 người), các bộ tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện (HĐND, UBND, các tổ chức đoàn thể như Ủy ban MTTQ, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân ) (90 người) Đề tài phát ra 120 phiếu hỏi bằng cách phỏng vấn trực

Trang 15

tiếp và gọi điện thoại cho các đối tượng khảo sát, kết quả thu về 96 phiếu hợp lệ được sử dụng để tổng hợp, phân tích đánh giá (cán bộ cấp huyện 30/30 phiếu, cán bộ cấp xã 66/90 phiếu), kết quả phân tích, so sánh được vận dụng tại Chương 2

Cùng với phương pháp trên, đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập các nhận định, quan điểm của các bên liên quan: Đề tài thực hiện phỏng vấn một số lãnh đạo của các xã, thị trấn; chủ tịch MTTQ, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ các chuyên gia kinh tế, chuyên gia tư vấn chính sách xây dựng nông thôn mới để thu thập các nhận định về thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

trong giai đoạn vừa qua

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn được mô tả một cách chính xác về việc thực hiện chính sách xây dựng NTM, đề xuất các giải pháp các biện pháp hoàn thiên xây dựng NTM của huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng nói riêng, của tỉnh và cả nước nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn có bố cục như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới;

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng;

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng thời gian tới

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Chính sách xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Quan niệm về chính sách xây dựng nông thôn mới

Nông thôn Việt Nam là danh từ gần gũi dành để chỉ những khu vực, vùng đất mà ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất chú trọng xây dựng “đời sống mới” và coi đó là biện pháp có hiệu quả nhằm xóa bỏ tàn

dư lạc hậu do chế độ cũ để lại Đó là tiền đề đầu tiên để tiến hành xây dựng nông thôn mới trong suốt quá trình chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn được hiểu là tâp hợp các chủ trương, chiến lược và hành động của Nhà nước thông qua chính phủ nhằm tạo cho nông thôn phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng…Tác động tới đầu vào và đầu ra ở nông thôn, tác động về việc thay đổi tổ chức Trong đó thị trường đầu vào và đầu ra của khu vực nông thôn được thực hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực này [43, tr.25]

1.1.2 Mục tiêu và nội dung của chính sách xây dựng nông thôi mới

1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách xây dựng nông thôi mới

Mục tiêu tổng quát: Xây dựng nông thôn mới để đời sống vật chất

và tinh thần của người dân nông thôn giàu có và thịnh vượng, tiệm cận với khu vực đô thị; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ, hiện đại

và kết nối chặt chẽ với quá trình đô thị hóa; kinh tế nông thôn phát triển mạnh mẽ, trình độ sản xuất tiên tiến, nông dân chuyên nghiệp, sản phẩm có sức cạnh tranh cao, sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển thương mại,

Trang 17

dịch vụ, du lịch và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường, cảnh quan, không gian nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp; hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường; quốc phòng và an ninh trật tự được

giữ vững

Mục tiêu đến năm 2025: Phấn đấu đến năm 2025, Cấp tỉnh, cả nước

có ít nhất 15 tỉnh được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm

vụ xây dựng nông thôn mới (Miền núi phía Bắc: 01 tỉnh, Đồng bằng sông Hồng: 08 tỉnh, Bắc Trung Bộ: 01 tỉnh, Nam Trung Bộ: 01 tỉnh, Tây Nguyên: 01 tỉnh; Đông Nam Bộ: 04 tỉnh, Đồng bằng sông Cửu Long: 04 tỉnh)

Cấp huyện, cả nước có 40% huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (Miền núi phía Bắc: 20%, Đồng bằng sông Hồng: 80%, Bắc Trung Bộ: 30%, Nam Trung Bộ: 30%, Tây Nguyên: 20%; Đông Nam Bộ: 70%, Đồng bằng sông Cửu Long: 35%), mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó, có ít nhất 10% số huyện đạt chuẩn được công nhận là huyện nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu

Cấp xã, 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (Miền núi phía Bắc: 60%, Đồng bằng sông Hồng: 99%, Bắc Trung Bộ: 87%, Nam Trung Bộ: 80%, Tây Nguyên: 68%; Đông Nam Bộ: 95%, Đồng bằng sông Cửu Long: 80%), trong đó có ít nhất 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; không còn xã dưới 10 tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025

Cấp thôn, 80% số thôn, bản, ấp thuộc các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo các tiêu chí nông thôn mới áp dụng đối với cấp thôn theo quy định

Trang 18

Chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được nâng cao, thu nhập

bình quân tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2020

1.1.2.2 Nội dung của chính sách xây dựng nông thôi mới

Thứ nhất, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ bản đồng bộ, đảm

bảo kết nối nông thôn - đô thị và kết nối các vùng miền

Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống hạ tầng cơ bản phục vụ sản xuất và dân sinh ở nông thôn, theo hướng đáp ứng yêu cầu, nâng cao chất lượng; chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị, từng bước bắt kịp tốc độ phát triển chung của vùng, tạo kết nối đồng bộ, nhất là kết nối liên xã, liên huyện; mở rộng và hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng trung tâm cấp huyện, trong đó, chú trọng đầu tư hình thành và phát triển hệ thống cung ứng, kết nối nông sản hiện đại cấp huyện; chủ động giải pháp ứng phó với thiên tai và biến đổi khí Thiết chế hạ tầng nông thôn của các khu đô thị, thành phố lớn phải yêu cầu cao hơn (về kỹ thuật, quy mô, nội dung, mỹ thuật ) so với các khu vực khác, đảm bảo kết nối đồng bộ với đô thị Đồng thời, có cơ chế đột phá đầu tư phát triển hệ thống giao thông cho những địa bàn khó khăn do đặc thù về điều kiện địa hình, địa chất (vùng Miền núi phía Bắc, vùng Đồng bằng sông Cửu Long), tạo sức bật để các địa phương khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế sẵn có

Thứ hai, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập người dân theo

hướng bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó, chú trọng khai thác được lợi thế của mỗi vùng, miền

Tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phù hợp với điều kiện thực tế; thực hiện tốt việc chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng các loại cây, con khác có hiệu quả cao hơn; xây dựng vùng nguyên liệu nông sản tập trung quy mô lớn gắn với cấp mã vùng trồng, mã

Trang 19

vạch sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn quản lý chất lượng (VietGap, GlobalGap) và truy xuất nguồn gốc đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp Tận dụng lợi thế về điều kiện địa hình, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, hạ tầng kinh tế xã hội để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, trong đó chú trọng đến các mô hình du lịch nông thôn, du lịch sinh thái, gắn với đẩy mạnh phát triển các sản phẩn OCOP truyền thống… Quan tâm đến trồng rừng, bảo vệ rừng và phát triển lâm nghiệp bền vững; phát triển các mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng, nhất là những loại đặc sản của vùng, miền, có giá trị kinh tế cao Phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường khâu bảo quản và chế biến hàng nông sản; hình thành hệ thống trung tâm kết nối, xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm gắn với chuỗi các chợ đầu mối hoặc trung tâm cung ứng hàng nông sản Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình Mỗi xã một sản phẩm theo hướng đa dạng hóa và nâng cao hơn nữa chất lượng gắn với xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi hơn để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, bao tiêu sản phẩm và lĩnh vực phi nông nghiệp tạo nhiều việc làm cho lao động

Thứ ba, bảo vệ môi trường và cải tạo cảnh quan nông thôn

Phải đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường ở nông thôn (tăng tỷ lệ chất thải rắn, nước thải sinh hoạt, bao gói thuốc bảo vệ thực vật được phân loại, thu gom và xử lý); thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư các khu xử lý rác tập trung quy mô liên huyện, liên tỉnh, đồng thời khuyến khích phát triển các mô hình xử lý nước thải sinh hoạt quy mô hộ, cấp thôn trong cộng đồng dân cư

Tiếp tục phát động và duy trì các phong trào nói không với rác thải nhựa, tái sử dụng chất thải nông nghiệp đảm bảo đúng quy định về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, cải tạo cảnh quan môi trường; tập trung phát triển các mô hình thôn, xóm xanh, sạch, đẹp làm tiền đề cho phát triển

Trang 20

du lịch nông thôn trên địa bàn tỉnh về lâu dài Đẩy mạnh xử lý môi trường

ở những nơi gây ô nhiễm nghiêm trọng (làng nghề, bãi tập trung chôn lấp,

xử lý rác, nước thải )

Thứ tư, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa cơ sở và bảo tồn, phát huy

các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế du lịch nông thôn; Giữ gìn an ninh và trật tự xã hội nông thôn

Chú trọng nâng cao hơn chất lượng y tế, giáo dục, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao ở nông thôn; bảo tồn và phát huy sự đa dạng, phong phú về các giá trị văn hóa ở nông thôn, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình du lịch trải nghiệm, du lịch nông thôn; tăng cường phát huy vai trò tự quản, sự tham gia của người dân đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn

và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn và an ninh quốc phòng khu vực biên giới

1.1.3 Nguyên tắc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới

Thực hiện chính sách là việc triển khai chính sách, bao gồm việc cụ thể hóa chính sách hay chương trình thành một kế hoạch và được hành động theo từng cấp, từng ngành và từng địa phương; được tuyên truyền, phổ biến thông tin đến từng cấp cơ sở; phân cấp các hoạt động; chuẩn bị các nguồn lực để triển khai thực hiện và tổ chức thực hiện Cùng với đó là

sự kiểm tra, giám sát các hoạt động, chuẩn bị các nguồn lực để đánh giá tình hình thực hiện cũng như kết quả của việc thực hiện chính sách Từ việc thực hiện chính sách, rút ra những bài học kinh nghiệm cho những công việc và kế hoạch tiếp theo, sửa đổi, điều chỉnh chính sách cho phù hợp [35, tr.14]

Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách là khâu trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách Việc tổ chức thực thi chính sách xây dựng NTM được thực hiện từ cấp chính quyền trung ương đến chính quyền địa phương, mỗi cấp chính quyền điều có

Trang 21

những nhiệm vụ khác nhau, để thực hiện mục tiêu mà chính sách đã đề ra, trong đó cấp chính quyền địa phương việc thực thi thường được thể hiện rỏ nét hơn

Như vậy, theo cách hiểu tại luận văn này, thực hiện chính sách xây dựng NTM là các biện pháp mà Nhà nước tác động vào vùng nông thôn nhất định nhằm đạt được các mục tiêu mới do Nhà nước đặt ra

1.2 Quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Kế hoạch phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống các cơ quan triển khai từ trung ương đều phải lập kế hoạch gồm

những nội dung sau [16, tr.32]: Kế hoạch về tổ chức, điều hành: Gồm

những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ thể và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi,

cơ chế thực thi, ; Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như: nguồn lực về tài chính, trang thiết bị hỗ trợ, ; Kế hoạch về thời gian triển khai thực hiện: Dự kiến thời gian duy trì chính sách, dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm

Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách xây dựng NTM như là kim chỉ nay, bản đồ đối chiếu trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM Các chủ thể thực hiện chính sách cũng như các đối tượng chính sách căn cứ vào đó để triển khai hiệu quả các nội dung, các bước trong quá trình triển khai thực hiện chính sách này

1.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Để chính sách xây dựng NTM được triển khai hiệu quả vào thực tiễn thì các chủ thể thực hiện chính sách là các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn cần nghiên cứu các nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền, phố biến chính sách xây dựng NTM đến các đối tượng liên quan Đặc biệt đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa thì vấn đề tuyên truyền, phố biến chính sách càng trở lên cấp thiết, nội dung

Trang 22

thực hiện chính sách cần lựa chọn phù hợp, hình thức đơn giản, phương pháp thích hợp để người dân thấu hiếu được lợi ích của chính sách xây dựng nông thôn mới, qua đó cùng với chính quyền các cấp đồng lòng triển khai các nội dung chính sách trên địa bàn [15, tr.28]

1.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Để thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới, UBND các cấp cần nghiên cứu các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị chức năng, các ban ngành, tổ chức liên quan để nắm rõ những nội dung cần thiết qua đó phân công các đơn vị này thực hiện các nhiệm vụ phù hợp nhất trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Bên cạnh đó, UBND các cấp cũng cần ban hành những hướng dẫn nhằm tăng cường sự phối hợp của các đơn vị trong triển khai các hoạt động, chương trình, đề án liên quan đến xây dựng nông thôn mới Việc phân công, phối hợp trong triển khai các nội dung của chính sách xây dựng NTM mới sẽ giúp chính sách đi vào thực tiễn, qua đó giúp đặt được các mục tiêu chính sách đề ra ban đầu, góp phần vào phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân [15]

1.2.4 Duy trì chính sách

Bên cạnh việc triển khai chính sách mới thì việc duy trì các chính sách đã và đang triển khai là việc rất quan trọng nhằm bảo đảm các nội dung chính sách được triển khai liên tục gắn với thực tiễn, bối cảnh mới trong xây dựng NTM tại từng địa phương Việc giúp chính sách xây dựng NTM được tồn tại, phát triển bên các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách giảm nghèo giúp khu vực nông thôn nhanh chóng ổn định, rút ngắn khoảng cách thành thị và nông thôn Việc duy trì chính sách được thực hiện bởi cả cơ quan quản lý nhà nước và người dân trên địa bàn Chính sách có thành công, hiệu quả thì mới nhận được sự ủng hộ của người

Trang 23

dân, được dân duy trì, ủng hộ qua đó thúc đẩy hiệu quả thực thi chính sách [16, tr.35]

1.2.5 Điều chỉnh chính sách

Chính sách xây dựng NTM luôn được thực hiện trong một môi trường cụ thể, gắn với địa bàn cụ thể trong một bối cảnh có sự tác động của cả trong nước và quốc tế Chính vì vậy, quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM cần được thực hiện liên tục nhưng luôn cần có sự điều chỉnh thích hợp để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của địa bàn và thời điểm triển khai Tuy nhiên, việc điều chỉnh chính sách không được lệch chủ trương, đường lối của Nhà nước về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, không được xa rời mục tiêu thực hiện chính sách xây dựng NTM của Nhà nước và địa phương Việc điều chỉnh chính sách chỉ xảy ra khi các cấp có thẩm quyền cho phép, nhằm đặt được những hiệu quả cao hơn trong triển khai chính sách [16, tr.39]

1.2.6 Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Để quá trình triển khai chính sách xây dựng NTM mới được theo dõi thường xuyên qua đó nhanh chóng phát hiện ra những khuyết tật, hạn chế của chính sách nhằm điều chỉnh, khắc phục kịp thời Bên cạnh đó, các chủ thể thực hiện chính sách cũng cần thường xuyên đôn đốc các đơn vị triển khai chính sách nhằm bảo đảm thực hiện đúng kế hoạch, tiến độ đặt ra Hơn nữa, công tác kiểm tra, đôn đốc này còn giúp cho các đơn vị triển khai thực hiện chính sách xây dựng NTM nắm bắt được những hạn chế, khuyết điểm của mình để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện Giúp họ nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của mình trong quá trình chính sách để yên tâm thực hiện

có trách nhiệm công việc được giao và giúp cho người dân nắm chắc quyền lợi, nghĩa vụ của mình để yêu cầu, giám sát cơ quan nhà nước thực hiện đầy đủ theo quy định.Thực hiện tốt vấn đề trên vừa kịp thời hoàn thiện, bổ sung chính sách vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách góp phần nâng cao hiệu lực hiệu quả việc thực thi chính sách

Trang 24

1.2.7 Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm

Bất kỳ một hoạt động nào cũng cần có sự tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm sau khi triển khai thực hiện và thực hiện chính sách xây dựng NTM là một nội dung qua trong trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn Việc đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách nhằm

so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch đề ra, đánh giá hiệu quả vận dụng nguồn lực trong triển khai chính sách, đánh giá những chỉ tiêu đặt ra trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách xây dựng NTM Trên cơ sở đó, các chủ thể thực hiện chính sách dễ dàng có thể rút ra được các kinh nghiệm thành công, thất bại trong triển khai thực hiện chính sách, qua đó có những giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm cải tiến thực hiện chính sách trong chu kỳ thực hiện tiếp theo

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới

1.3.1 Môi trường thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới

Như đã trình bày tại mục điều chỉnh chính sách, bất kỳ chính sách nào đều được triển khai trong một môi trường cụ thể Đối với chính sách xây dựng NTM, thì quá trình triển khai của chính sách sẽ diễn ra trên một địa bàn với những điều kiện về tự nhiên, địa hình, khí hậu các điều kiện

về kinh tế, xã hội, văn hóa và con người riêng Các yếu tố của môi trường thực hiện chính sách này sẽ tác động đến hiệu quả, tiến độ thực hiện chính sách xây dựng NTM theo nhiều mức độ khác nhau Nếu các địa phương có lợi thế về phát triển sản xuất, kinh doanh sẽ tạo điều kiện để huy động các nguồn lực kinh tế trong triển khai chính sách, các địa phương có trình độ dân trí cao, dễ dàng nắm bắt, thấu hiểu chủ trương của Nhà nước thì sẽ phối hợp triển khai hiệu quả các nội dung chính sách xây dựng NTM

Thực trạng điều kiện KT-XH của các địa phương cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng NTM Chẳng hạn như, tình trạng thu nhập bình quân của người dân địa phương, khoảng cách giàu nghèo, mật độ phân bố

Trang 25

dân cư, trình độ dân trí, phong tục tập quán… có ảnh hưởng không nhỏ tới việc triển khai các chính sách xây dựng NTM tại địa phương

1.3.2 Mối quan hệ giữa các chủ thể và các bên liên quan thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới

Để triển khai thực hiện chính sách xây dựng NTM, Nhà nước huy động tổng thể các nguồn lực với sự tham gia của rất nhiều các đơn vị, tổ chức từ Trung ương đến địa phương:

Một là, quan hệ giữa Nhà nước, các lực lượng xã hội liên quan đến

thực hiện chính sách xây dựng NTM và chủ thể là người dân tại khu vực nông thôn Để thực hiện được tổng thể các nội dung trong Chương trình xây dựng NTM thì Nhà nước với vai trò chủ đạo, cùng với các lực lượng

xã hội, người dân cần thống nhất trong nhận thức để triển khai có hiệu quả các nội dung được đề xuất trong quá trình thực hiện chính sách

Hai là, mối quan hệ thống nhất giữa sự chỉ đạo của cơ sở Đảng, sự

thực hiện chính sách của chính quyền, sự phối hợp và thụ hưởng chính sách

là người dân tại địa phương Tổ chức cơ sở đảng có một vị trí hết sức to lớn trong tiến trình xây dựng NTM, vừa đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, vừa là nhân tố thúc đẩy tiến trình thực hiện NTM; chính quyền cơ sở (đặc biệt là chính quyền cấp xã) là nhân tố chính yếu triển khai thực hiện chương trình, là một nhân tố quyết định đến chất lượng, nội dung, tiến độ của tiến trình NTM cơ sở; hơn ai hết, nhân dân mà cụ thể là người nông dân với địa vị là chủ thể, có vai trò động lực cũng là người được thụ hưởng những thành quả của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

1.3.3 Nguồn lực thực hiện chính sách

* Nhân lực

Qua đó, nghiên cứu quá trình tổ chức thực thi chính sách của cơ quan chức năng, đơn vị có thẩm quyền thì mới có thể biết chính sách đó được đại đa số nhân dân chấp thuận hay không, đi vào cuộc sống hay không Trước tiên ta cần hiểu về các chủ thể có liên quan trong việc thực hiên

Trang 26

chính sách xây dựng NTM Việc thực hiện chính sách xây dựng NTM ở nước ta hiện nay được thực hiện theo 4 cấp, cụ thể:

Đối với cấp trung ương: Chính phủ, Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, các bộ ngành có liên quan chịu trách nhiệm thực hiện ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện các quy định, các tiêu chí, cơ chế chính sách, để thực hiện xây dựng NTM

Ở cấp tỉnh, thành phố (thuộc Trung ương): Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu xây dựng kế hoạch, hướng dẫn tổ chức thực hiện các chính sách trên địa bàn

Ở cấp huyện, xã: là cấp thực hiện trực tiếp truyền tải các chính sách đến cán bộ đảng viên và nhân dân, ở cấp huyện thì phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cơ quan thường trực) giúp BCĐ huyện và Ủy ban nhân dân huyện tổ chức triển khai và thực hiện chính sách theo 19 tiêu chí đến tận người dân, hướng dẫn các xã đăng ký thực hiện từng tiêu chí cũng như lộ trình thực hiện của từng đơn vị

Chủ thể thụ hưởng: Chủ thể thụ hưởng là hệ thống chính trị và của mọi người dân với mục đích cuối cùng là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

* Tài chính: Đối với nguồn hỗ trợ từ ngân sách bao gồm: các nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình; ngân sách tỉnh hỗ trợ; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án Nguồn vốn tín dụng được huy động chủ yếu thông qua hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; Ngân hàng phát triển Việt Nam Vốn huy động từ DN được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức hỗ trợ tiền mặt hoặc sản phẩm của DN (như xi măng, sắt thép, gạch, ngói ), tham gia đầu tư trực tiếp Các hình thức huy động từ cộng đồng bao gồm tiền mặt; hiện vật (như đất đai, hoa màu và các tài sản gắn liền với đất…) ngày công lao động, và các hình thức xã hội hoá khác

Trang 27

1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương

1.4.1 Kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại thành phố Cao Bằng

Sau gần 10 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), Thành phố đạt được nhiều thành quả quan trọng, hạ tầng cơ sở được cải thiện, đời sống, dân trí khu vực nông thôn ngày càng nâng cao Hiện nay, Thành phố tiếp tục duy trì chuẩn các tiêu chí đã đạt, hướng đến xây dựng NTM nâng cao gắn với các tiêu chí phát triển đô thị

Chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 được Thành phố triển khai tại các xã: Chu Trinh, Vĩnh Quang, Hưng Đạo Khi mới bắt đầu thực hiện năm 2011, xã Chu Trinh chỉ đạt 2/19 tiêu chí, xã Vĩnh Quang đạt 3/19 tiêu chí, xã Hưng Đạo đạt 6/19 tiêu chí, bình quân Thành phố đạt 3,67 tiêu chí NTM/xã

Xác định xây dựng NTM là việc làm khó, lâu dài, thành phố tập trung chỉ đạo quyết liệt, ban hành nghị quyết chuyên đề với mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cho từng năm Đồng thời, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương như: Lồng ghép các chương trình, dự án; giao quyền chủ động cho người dân và cộng đồng trong thực hiện xây dựng NTM; hỗ trợ đầu tư xây dựng giao thông nông thôn; thu gom, xử lý rác thải, chất thải;

hỗ trợ lãi vay tín dụng phục vụ phát triển sản xuất; huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, nhất là huy động từ người dân , nhằm huy động tổng lực thực hiện các tiêu chí NTM

Là xã điểm thực hiện xây dựng NTM của Thành phố, xã Hưng Đạo đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nhận thức đúng về ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trong xây dựng NTM UBND xã thành lập ban phát triển, nhóm khảo sát ở các tổ, xóm đánh giá nhu cầu đầu tư xây dựng Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân hưởng thụ”, người dân chủ động đề xuất để thực hiện các tiêu chí NTM hiệu quả Tập

Trang 28

trung huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội, khai thác hiệu quả hợp lý nguồn nhân lực sẵn có trong nhân dân

Giai đoạn 2011 - 2016, xã Hưng Đạo huy động trên 56 tỷ đồng, trong

đó ngân sách nhà nước cấp trên 25 tỷ đồng, xã hội hóa hơn 31 tỷ đồng, vận động nhân dân hiến trên 8.100 m2 đất, đóng góp 250 tấn xi măng, 13.000 ngày công lao động đầu tư hạ tầng cơ sở nông thôn Qua đó, bộ mặt nông thôn thay đổi toàn diện Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 57 triệu đồng/ha/năm, đưa mức thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt trên 22 triệu đồng/người

Đến cuối năm 2016, xã Hưng Đạo được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn NTM trong niềm phấn khởi, hân hoan của nhân dân Bí thư Đảng ủy

xã Hưng Đạo Nông Thị Hoài Thanh cho biết: Hiện nay, xã tập trung duy trì

và nâng cao chất lượng các tiêu chí, phấn đấu đến năm 2025 hoàn thành các tiêu chí NTM nâng cao, đưa xã Hưng Đạo phát triển bền vững

Phát huy những kết quả đạt được, giai đoạn 2016 - 2020, Thành phố tiếp tục có những điều chỉnh phù hợp trong thực hiện chương trình tại 2 xã Vĩnh Quang, Chu Trinh Các phong trào, cuộc vận động của Trung ương, tỉnh được Thành phố cụ thể hóa bằng các phong trào thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh Triển khai phong trào “Thành phố Cao Bằng chung sức xây dựng NTM”, kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, các tổ chức, cá nhân, con em thành đạt trên địa bàn đóng góp ủng hộ xây dựng NTM Đến hết năm 2019, xã Vĩnh Quang được công nhận đạt chuẩn NTM; xã Chu Trinh đạt 15/19 tiêu chí; bình quân Thành phố đạt 17,3 tiêu chí NTM/xã

Thực hiện Chương trình xây dựng NTM, Thành phố huy động nguồn lực 60 tỷ 236 triệu đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ trên 36 tỷ đồng, doanh nghiệp đóng góp trên 10 tỷ đồng; nhân dân đóng góp trên 3,4

tỷ đồng, hiến trên 17.000 m2 đất, vật liệu xây dựng và 44.760 ngày công

Trang 29

lao động thực hiện các công trình Từ năm 2011 đến nay, 3 xã xây dựng, hoàn thiện trên 150 tuyến đường nông thôn với tổng chiều dài trên 105 km,

cơ bản bê tông hóa các tuyến giao thông chính, đường ngõ xóm

Hệ thống kênh mương nội đồng được kiên cố hóa trên 100 km; 85% diện tích đất sản xuất nông nghiệp chủ động tưới, tiêu nước; 99% hộ được

sử dụng điện thường xuyên, an toàn Công tác vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các cơ sở sản xuất truyền thống được quan tâm, chú trọng Trạm y tế 3 xã đạt chuẩn quốc gia

về y tế, duy trì tốt việc điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Các trường học được đầu tư xây dựng khang trang, đáp ứng nhu cầu dạy và học; duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ tại các xã NTM Phong trào văn hóa, thể thao được đẩy mạnh, nhân dân tích cực hiến đất, đóng góp ngày công sửa chữa, nâng cấp, xây dựng nhà văn hóa xã, xóm

Người dân mạnh dạn áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, nâng cao thu nhập Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của nhân dân về sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, tạo tiền đề cho xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh có quy mô lớn Qua đó, thu nhập bình quân đầu người từ 11,42 triệu đồng/người (năm 2011) tăng lên 28 triệu đồng/người (năm 2019)

Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,0% (năm 2011) xuống còn 4,5% (năm 2018) Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh tăng lên 96,83%; tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh tăng lên 81,1% (năm 2018) Công tác vệ sinh môi trường nông thôn được cải thiện, ý thức của người dân trong việc thu gom, phân loại và xử lý rác ngày càng cao

Thành phố phấn đấu đến hết năm 2020, cả 3 xã hoàn thành xây dựng NTM; giai đoạn 2021 - 2025, tiếp tục hoàn thiện, duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, phấn đấu xây dựng xã NTM nâng cao và NTM kiểu

Trang 30

mẫu Để đạt được mục tiêu đề ra, Thành phố tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện các cuộc vận động; tập trung huy động lồng ghép các nguồn lực hiệu quả kết hợp phát huy nội lực

Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân, nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo và mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật, tập trung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập Khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi thu hút doanh nghiệp, các nhà đầu

tư vào lĩnh vực nông nghiệp tạo ra các mô hình liên kết theo chuỗi sản xuất giá trị, đảm bảo ổn định lâu dài [59]

1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Huyện Nghi Xuân là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh với diện tích hơn 222km2 và dân số hơn 100 ngàn người Toàn huyện có 17 xã và

2 thị trấn Trước năm 2010, huyện Nghi Xuân luôn là một huyện nghèo của tỉnh Khi bắt đầu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ và Nhân dân huyện Nghi Xuân đã xác định rõ đây là con đường, là mục tiêu, là giải pháp duy nhất lúc này để phát triển huyện nhà vươn lên thoát nghèo, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc cho người dân

Thực tế trong thời gian qua, Nghi Xuân đã làm rất tốt việc này và phong trào xây dựng nông thôn mới trở thành phong trào của toàn dân Hàng vạn ngày công, hàng trăm ha đất, hàng trăm tỷ đồng được huy động, hàng ngàn km đường giao thông nông thôn đã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, hệ thống điện, đường, trường, trạm, trụ sở làm việc của tất cả các xã được sửa chữa nâng cấp, xây mới khang trang, hiện đại và đạt chuẩn Đặc biệt, cùng với hệ thống phòng họp trực tuyến về tận từng xã, thị trấn, tất cả các thôn đều có nhà văn hóa khang trang với các thiết chế văn hóa đạt chuẩn Mỗi nhà văn hóa đều có máy tính kết nối internet, có tủ sách dùng chung đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin, góp phần hình thành văn hóa đọc, xây dựng xã hội học tập

Trang 31

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng được duy trì và phát triển sôi nổi, công tác quản lý tổ chức lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều lễ hội dân gian được khôi phục, bảo tồn Thông qua các dòng họ, các hương ước, các giá trị di sản văn hóa tinh thần như tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - quê hương đất nước; lòng nhân ái, trọng tình nghĩa, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống được bảo tồn và thấm sâu vào toàn bộ đời sống của Nhân dân, vào mỗi con người

Đây cũng chính là mục tiêu trọng tâm của xây dựng nông thôn mới Người dân cũng chỉ thật sự vào cuộc khi họ nhìn thấy được, cảm nhận được, hấp thụ được những giá trị của nông thôn mới, khi nhưng giá trị của nông thôn mới làm thay đổi cuộc sống của gia đình họ, bản thân họ Thu nhập đầu người, giá trị sản xuất, số lao động có việc làm phải tăng, các chế

độ chính sách và phúc lợi xã hội phải được bảo đảm

Để làm được điều này, thời gian qua, huyện Nghi Xuân rất chú trọng phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của huyện; tập trung chăm lo phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch một cách mạnh mẽ với bước đi, cách làm năng động, sáng tạo; tập trung cho phát triển các mô hình kinh tế, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp Từng bước thay đổi tập quán sản xuất nông nghiệp truyền thống, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Hiện nay, các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao như trồng rau thủy canh, dưa lưới, nuôi tôm trên cát, các mô hình trang trại trồng trọt và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà theo công nghệ… đã mang lại việc làm và nguồn thu nhập cao cho người dân

Bên cạnh đó, cùng với việc làm tốt công tác quy hoạch tổng thể, cải cách hành chính, xây dựng một bộ máy chính quyền phục vụ, Đảng bộ và Nhân dân huyện Nghi Xuân quyết tâm đưa huyện trở thành vùng đất hấp dẫn và thu hút đầu tư Cùng với hệ thống hàng trăm đền chùa miếu mạo,

Trang 32

các khu di chỉ khảo cổ với những di tích có niên đại từ 4.000 đến 5.000 năm, khu di tích đặc biệt Đại thi hào Nguyễn Du, khu du lịch biển Xuân Thành với hệ thống sân golf 18 lỗ, trường đua chó, tiềm năng phát triển du lịch dịch vụ vui chơi giải trí ven bờ sông Lam, ven chân núi Hồng Lĩnh, thông qua các hoạt động quảng bá và xúc tiến đầu tư đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhìn thấy được những tiềm năng kinh tế trên mảnh đất đầy ắp các giá trị văn hóa này Nhờ đó, tổng thu hút đầu tư trên địa bàn huyện trong 3 năm gần đây đạt 9.000 tỷ đồng Năm 2018, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn đạt 5.030 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 16,7%, tổng

số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 1.900 tỷ, thu ngân sách đạt trên 300

tỷ tỷ lệ hộ nghèo (tính theo chuẩn nghèo nông thôn mới) giảm còn 2,6%

An sinh xã hội, công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe Nhân dân ngày càng được chú trọng, chất lượng sống ngày càng tăng [58]

Tiểu kết chương

Thực hiện chính sách xây dựng NTM là một nội dung thực hiện chính sách công của Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Nội dung chương 1 của luận văn đã làm rõ các khái niệm cơ sở, công cụ như Nông thôn mới, chính sách xây dựng NTM, thực hiện chính sách xây dựng NTM là nền tảng nghiên cứu các bước thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên một địa bàn cụ thể Nội dung chương 1 cũng làm rõ quy trình

07 nước thực hiện chính sách sách công gắn với chính sách xây dựng NTM, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách qua đó nhằm xác định được những nguyên nhân có thể xảy ra trong quá trình thực hiện chính sách Bên cạnh cơ sở lý luận thì chương 1 của luận văn cũng làm rõ cơ sở thực tiễn từ việc nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng NTM tại một số địa phương, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng trong thực hiện chính sách này tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hà Quảng là huyện miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm tỉnh Cao Bằng 40 km về hướng bắc; tiếp giáp với các huyện: Hòa

An, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Bảo Lạc của tỉnh Cao Bằng và huyện Nà

Po, thành phố Tịnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc Với diện tích tự nhiên 810,9399 km2

Đơn vị hành chính: Huyện có 21 đơn vị hành chính, gồm 19 xã và 02 thị trấn, gồm các xã: Ngọc Đào, Sóc Hà, Trường Hà, Quý Quân, Lũng Nặm, Cải Viên, Nội Thôn, Tổng Cọt, Hồng Sỹ, Mã Ba, Thượng Thôn, thị trấn Xuân Hòa, Thanh Long, Cần Yên, thị trấn Thông Nông, Lương Can, Cần Nông, Yên Sơn, Ngọc Động, Đa Thông, Lương Thông Huyện Hà Quảng có 8 xã biên giới giáp biên với Trung Quốc, với tổng chiều dài đường biên giới là 74,871 km, bao gồm các xã: Sóc Hà, Trường Hà, Lũng Nặm, Cải Viên, Nội Thôn, Tổng Cọt, Cần Nông, Cần Yên Huyện có cửa khẩu Sóc Giang (thuộc xã Sóc Hà) và nhiều đường mòn dân sinh

Huyện Hà Quảng có địa hình phức tạp do kiến tạo địa chất, do đó Huyện phân thành nhiều vùng khác nhau

- Tiểu vùng thấp: Đây là tiểu vùng có các thung lũng tương đối bằng phẳng, đất canh tác chủ yếu là đất trồng lúa, có hệ thống sông suối cơ bản đáp ứng được nhu cầu về nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Trang 34

- Tiểu vùng cao: Đây là tiểu vùng hầu như không có sông suối, không đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất, đất canh tác chủ yếu là đất trồng hoa màu, kết cấu hạ tầng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa của nhân dân

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong giai đoạn 2016 – 2020, Đảng bộ, chính quyền nhân dân các dân tộc huyện Hà Quảng đã nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực, sáng tạo vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tìm hiểu thực tiễn kết quả đạt được liên quan đến chỉ tiêu đề ra của huyện trong giai đoạn 05 năm vừa qua thì có 14/22 chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện đều đạt và vượt kế hoạch đề ra

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,46% năm; thu nhập bình quân đầu người đạt 20,4 triệu đồng/năm Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 30.637 tấn; giá trị nông nghiệp đạt 38,4 triệu đồng/ha, đạt 104% kế hoạch

Đã hình thành được vùng sản xuất thuốc lá chất lượng cao tại xã Ngọc Đào, thị trấn Xuân Hoà Các cây trồng có thế mạnh của huyện tiếp tục được mở rộng diện tích như ngô, lạc, gừng, ớt, nghệ… đem lại thu nhập ổn định cho người dân Chăn nuôi tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng đàn gia súc đạt và vượt so với kế hoạch

Giai đoạn 2016 – 2020, giá trị thu nhập từ chăn nuôi đạt trên 228 tỷ đồng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ, cả hệ thống chính trị vào cuộc, nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia; đã huy động được trên 509 tỷ đồng từ các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Đến nay, bình quân toàn huyện đạt 10,6 tiêu chí nông thôn mới/xã và đã có 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới (năm 2020, thêm xã Lương Can đạt chuẩn) Đến nay, 100% các xã có đường ô tô đến trung tâm

và được nhựa hoá Bên cạnh đó, nghiên cứu thực tiễn tại huyện Hà Quảng cho thấy tỷ lệ dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 97,2%

Trang 35

100% trạm y tế có bác sỹ Công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng được chú trọng, trồng rừng sản xuất được 79,6 ha; trồng rừng tập trung được 876 ha; tỷ lệ che phủ rừng hết năm 2020 đạt 50,9%, vượt 3,8% kế hoạch Đã di dời được 1.882 hộ chăn nuôi gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở, trong đó có 5

xã, thị trấn đạt 100% Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tính đến hết năm 2020 đạt trên 634 tỷ đồng, chiếm 15,8% trong cơ cấu kinh

tế Toàn huyện có 36 hợp tác xã, 16 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh Đến nay, đã có 96,3% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia Tổng mức lưu chuyển hàng hóa hết năm 2019 đạt trên 200 tỷ đồng Giá trị thương mại – dịch vụ đạt gần 1.300 tỷ đồng Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua địa bàn giai đoạn 2015 – 2020 đạt 3.112 triệu USD

Hoạt động du lịch có chuyển biến tích cực, lượng khách đến với Khu

di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó ngày càng tăng, chỉ tính riêng năm 2019 đạt 243.511 lượt người Doanh thu du lịch đạt trên 3 tỷ đồng, tăng 114,2%

so với năm 2015 Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 5 năm đạt trên 1.327 tỷ đồng, thực hiện 520 công trình trên các lĩnh vực: giao thông, thủy lợi, điện sinh hoạt, trường học, công trình văn hóa thể thao, nước sinh hoạt Thu ngân sách nhà nước được tập trung chỉ đạo quyết liệt, năm 2019 đạt trên 41

tỷ đồng, hằng năm tăng bình quân 15%, đạt 105,1% kế hoạch Chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm đúng quy định theo dự toán giao Tổng dư nợ của các ngân hàng giai đoạn 2016 – 2020 đạt trên 900 tỷ đồng Các lĩnh vực văn hóa – xã hội được đẩy mạnh

Chất lượng giáo dục, đào tạo không ngừng được nâng lên, toàn huyện có 22 trường đạt chuẩn quốc gia Có 84 bác sĩ/1 vạn dân; 19/21 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã

Với đặc thù huyện miền núi, biên giới có hơn 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống, những năm qua, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng đã từng bước cụ thể hóa và vận dụng tốt các chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn của địa phương đem lại hiệu quả rõ

Trang 36

rệt Từ đó góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị, làm thay đổi căn bản diện mạo vùng đồng bào DTTS

Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở thiết yếu được cấp ủy, chính quyền địa phương coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng đã lồng ghép, triển khai hiệu quả nguồn vốn các chương trình hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh với dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, nhất là ở các vùng đặc biệt khó khăn

Giai đoạn 2015 – 2019, thông qua các chương trình, dự án, huyện được hỗ trợ 123 tỷ đồng theo nguyên tắc phân bổ vốn cho từng xã và dựa trên nhu cầu thực tế của người dân bảo đảm công khai, công bằng, mang lại hiệu quả xã hội cao Các xã được cấp 107 tỷ đồng để phát triển hạ tầng cơ

sở và hỗ trợ sản xuất, trong đó, đầu tư 82 tỷ đồng xây dựng 66 công trình giao thông, nước sinh hoạt, trường học, thủy lợi

Huyện được cấp hơn 124,4 tỷ đồng theo Nghị quyết 30a, trong đó, trên 28 tỷ đồng hỗ trợ phát triển sản xuất, trên 13 tỷ đồng thực hiện duy tu, bảo dưỡng 14 hạng mục công trình Có 1.299 hộ dân được vay vốn ưu đãi với tổng số tiền trên 10 tỷ đồng phát triển sản xuất, chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương Được hưởng lợi từ chương trình

hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg, đến nay, Hà Quảng đã được hỗ trợ hơn 6,7 tỷ đồng, 67,5 tấn giống cây trồng cho 70.000 lượt hộ nghèo vùng khó khăn có điều kiện phát triển kinh tế

Từ năm 2016 đến nay, huyện đã tổ chức, phối hợp tổ chức 80 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt cho 5.729 lượt người là hộ nghèo, cận nghèo Đến nay, hàng trăm lượt hộ nghèo, cận nghèo là đồng bào DTTS có thêm vốn, tư liệu sản xuất cũng như được trang bị kiến thức để phát triển kinh tế Nhiều mô hình trồng trọt, chăn nuôi của bà con đã được hình thành, phát triển như mô hình nuôi lợn, bò và các

Trang 37

mô hình phát triển vùng trồng gừng, lạc, thuốc lá đem lại nguồn thu nhập

ổn định cho nhiều hộ dân

Nhận thức được vai trò người có uy tín trong tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà, gặp mặt, tham quan, học tập kinh nghiệm cho những người có uy tín; lựa chọn các đại biểu là người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS tham dự các hội nghị, lễ tuyên dương, qua đó động viên người có uy tín phát huy tinh thần trách nhiệm, tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân

Trưởng Ban công tác Mặt trận xóm Bản Pò, xã Lũng Nặm cho biết: Ban Công tác Mặt trận luôn phối hợp với cấp ủy, chính quyền tuyên truyền, vận động người dân chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chấp hành quy ước, hương ước xóm và sử dụng hiệu quả các nguồn hỗ trợ từ chính sách dân tộc vào sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, từng bước giảm nghèo

Thông qua thực hiện các dự án giảm nghèo, Chương trình xây dựng nông thôn mới, Đề án hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào DTTS… đã tác động tích cực, làm thay đổi mạnh mẽ nhận thức cho người dân và là động lực để nhiều hộ tự nguyện viết đơn xin thoát nghèo, vươn lên phát triển kinh tế Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, nhất là các xóm, xã đặc biệt khó khăn 100% xã có đường ô tô đến trung tâm; 90% phòng học được kiên cố; thu nhập bình quân đầu người đạt 13,5 triệu đồng/năm; 98% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 96% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% người DTTS được cấp thẻ bảo hiểm y tế…

Có thể khẳng định, các chính sách đặc thù cho vùng DTTS được thực hiện trong thời gian qua đã đem lại nguồn lực to lớn, giúp huyện hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển vùng DTTS nói riêng Thời gian tới, huyện tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã, thị trấn tập trung nguồn lực thực hiện hiệu quả các chính sách cho đồng bào

Trang 38

DTTS, tạo điều kiện để đồng bào DTTS vươn lên thoát nghèo, giúp địa phương hoàn thành mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS tích cực, chủ động thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy dân chủ ở cơ sở; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; phát huy nội lực, nỗ lực vươn lên thoát nghèo Bên cạnh đó, huyện chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người DTTS; chăm lo xây dựng và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; nâng cao vị trí, vai trò của người có uy tín trong cộng đồng

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các chính sách dân tộc được triển khai ngày càng phát huy hiệu quả, đời sống nhân dân các dân tộc từng bước được cải thiện và nâng cao Đồng bào các dân tộc huyện Hà Quảng ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, đoàn kết giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ đường biên, mốc giới và chung tay xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo bền vững

2.1.2 Chủ thể thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng

Ngay từ đầu năm UBND huyện đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM năm 2020; giao chỉ tiêu hoàn thành các tiêu chí và vốn cho các xã, các đơn vị và chỉ đạo UBND các xã xây dựng kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2020

Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các xã thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia Chỉ đạo lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình khác trên địa bàn huyện thực hiện xây dựng nông thôn mới theo đồ án, đề án đã được phê duyệt Đặc biệt là việc kiểm tra, đôn đốc, hỗ trợ xã Lương Can thực hiện các tiêu chí đảm bảo đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2020 Sau sáp nhập giữa hai huyện Thông Thông

và huyện Hà Quảng các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện, Ban chỉ đạo các Chương trình MTQG huyện, UBND các xã đã ban hành 06

Trang 39

Quyết định, 25 kế hoạch, và các công văn để chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện các Chương trình MTQG

Trên cơ sở Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 656/KH-UBND ngày 15/3/2017 thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 05/5/2017 ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2017-2020; Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 04/4/2019 ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2019-2020; Quyết định

số 376/QĐ-UBND ngày 05/4/2019 ban hành Bộ tiêu chí thôn đạt chuẩn nông thôn mới của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2019-2020,…

Giai đoạn 2016-2020, thành lập BCĐ thực hiện các Chương trình MTQG cấp tỉnh, cấp huyện; cấp xã thành lập 01 Ban Quản lý thực hiện các Chương trình MTQG Tổ chức bộ máy chỉ đạo thực hiện chương trình được thành lập và kiện toàn theo quy định tại Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chương trình MTQG

Bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp được thành lập thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 05/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp, cụ thể như sau:

- Văn phòng Điều phối NTM cấp tỉnh gồm 9 người: Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT làm Chánh Văn phòng; Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn làm Phó Chánh Văn phòng, có 04 cán bộ chuyên trách và

03 cán bộ kiêm nhiệm, công chức, viên chức Văn phòng thuộc biên chế của

Sở Nông nghiệp và PTNT Văn phòng Điều phối NTM cấp tỉnh đặt tại Sở Nông nghiệp và PTNT

- Văn phòng Điều phối nông thôn mới cấp huyện, thành phố gồm: Phó Chủ tịch UBND huyện làm Chánh Văn phòng; Trưởng phòng Nông

Trang 40

nghiệp và PTNT, Trưởng phòng Kinh tế thành phố làm Phó Chánh Văn phòng; mỗi huyện bố trí từ 3-5 cán bộ kiêm nhiệm

- Đối với cấp xã không có biên chế công chức chuyên trách về xây dựng nông thôn mới chủ yếu là công chức văn phòng hoặc địa chính kiêm nhiệm

Việc thống nhất quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức

bộ máy của Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp theo quy định của Thủ tướng Chính phủ đã hình thành và củng cố bộ máy giúp việc cho BCĐ thực hiện Chương trình các cấp, từng bước chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn; với chức năng nhiệm vụ của Văn phòng điều phối các cấp đã tham mưu cho BCĐ thực hiện các nội dung của Chương trình và phối hợp với các sở, ngành, huyện, thành phố trong công tác xây dựng kế hoạch, cụ thể các cơ chế chính sách, phân bổ sử dụng nguồn lực, rà soát, hướng dẫn đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí,…

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về các chủ thể thực hiện chính sách xây

dựng NTM tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

TT Nội dung/ tiêu chí đánh

Ngày đăng: 11/04/2023, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu (2000), Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam
Tác giả: Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2000
3. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
6. Nguyễn Sinh Cúc (2003),Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
7. Phạm Ngọc Dũng (2011), CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1976
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1986
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
14. Frans Ellits (1994), “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”
Tác giả: Frans Ellits
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
15. Nguyễn Duy Gia (2008), Chính sách công, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công
Tác giả: Nguyễn Duy Gia
Năm: 2008
16. HĐND huyện Hà Quảng (2011), Nghị quyết số 05/2011/NQ-HĐND ngày 27/7/2011 về việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2011-2020, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2011/NQ-HĐND ngày 27/7/2011 về việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2011-2020
Tác giả: HĐND huyện Hà Quảng
Năm: 2011
17. HĐND huyện Hà Quảng (2013), Nghị quyết số 02/2013/NQ-HĐND ngày 09/8/2013 về phát triển giao thông nông thôn theo Chương trình xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2013-2020, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2013/NQ-HĐND ngày 09/8/2013 về phát triển giao thông nông thôn theo Chương trình xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2013-2020
Tác giả: HĐND huyện Hà Quảng
Năm: 2013
18. HĐND huyện Hà Quảng (2014), Nghị quyết số 04/2014/NQ-HĐND ngày 18/7/2014 về phát triển vùng nguyên liệu rau, củ, quả xuất khẩu góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/2014/NQ-HĐND ngày 18/7/2014 về phát triển vùng nguyên liệu rau, củ, quả xuất khẩu góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: HĐND huyện Hà Quảng
Năm: 2014
19. HĐND huyện Hà Quảng (2015), Nghị quyết số 07/2015/NQ-HĐND, ngày 18/12/2015 NQ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2011/NQ-HĐND ngày 17/7/2011 của HĐND huyện Hà Quảng về việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2011-2020, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 07/2015/NQ-HĐND, ngày 18/12/2015 NQ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2011/NQ-HĐND ngày 17/7/2011 của HĐND huyện Hà Quảng về việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2011-2020
Tác giả: HĐND huyện Hà Quảng
Năm: 2015
20. Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên năm 2006), Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công
Nhà XB: Nxb Giáo dục
24. Hồ Xuân Hùng (2011), Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta,http://www.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 2011
25. Huyện ủy Hà Quảng (2011), Nghị quyết số 06-NQ/HU ngày 19/12/2011 về xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2011 – 2020, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 06-NQ/HU ngày 19/12/2011 về xây dựng NTM huyện Hà Quảng giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Huyện ủy Hà Quảng
Năm: 2011
26. Huyện ủy Hà Quảng (2015), Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 31/8/2015 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Hà Quảng lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 31/8/2015 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Hà Quảng lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Huyện ủy Hà Quảng
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w