1. Tác giả: Nguyễn Dữ Quê ở Hải Dương, sống vào nửa đầu TK XVI, thời kì chế độ phong kiến nhà Hậu Lê đãlâm vào khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực, loạn lạc triền miên. Ông học rộng tài cao, làm quan một năm rồi xin về ở ẩn tại vùng núi rừng Thanh Hóa.2. Tác phẩm: Chuyện người con gái Nam Xươnga. Xuất xứ: có nguồn gốc từ truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, là truyện 1620 truyện củatập “Truyền kỳ mạn lục” (ghi chép tản mạn những điều kì là được lưu truyền trong dângian)b. Thể loại: truyện truyền kỳ (viết bằng văn xuôi chữ Hán, có yếu tố kì ảo xen lẫn yếu tốthực).c. Tóm tắt: Nàng Vũ Nương quê ở Nam Xương đẹp người đẹp nết, lấy chồng là TrườngSinh con nhà giàu, ít học, tính đa nghi, cả ghen. Gia đình đang yên ấm hạnh phúc thìchàng Trương phải đi lính. Ở nhà, Vũ Nương sinh được con trai đặt tên là Đản. Nàng chămsóc con và mẹ chồng chu đáo, lo thuốc thang, cầu khấn thần Phật khi mẹ chồng ốm, lo machay chu tất khi mẹ chồng mất.Khi trở về, Trương Sinh nghe lời con trẻ nghi ngờ vợ phản bội. Vũ Nương một mục phântrần, giải thích nhưng Trường Sinh không nghe, thậm chí còn mắng nhiếc đánh đuổi đi. VũNương không minh oan được bèn trẫm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn..Vũ Nương tự tử nhưng không chết do được các nàng tiên cứu, Dưới thuỷ cung, tình c
Trang 1TRƯỜNG THCS THANH TRÌ
- -
TÀI LIỆU NGỮ VĂN LỚP 9
Họ và tên : Lớp : 9A6
Năm học: 2022 – 2023
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Bài 1 – Văn bản: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
- Ông học rộng tài cao, làm quan một năm rồi xin về ở ẩn tại vùng núi rừng Thanh Hóa
2 Tác phẩm: Chuyện người con gái Nam Xương
a Xuất xứ: có nguồn gốc từ truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, là truyện 16/20 truyện của
tập “Truyền kỳ mạn lục” (ghi chép tản mạn những điều kì là được lưu truyền trong dân gian)
b Thể loại: truyện truyền kỳ (viết bằng văn xuôi chữ Hán, có yếu tố kì ảo xen lẫn yếu tố
thực)
c Tóm tắt: Nàng Vũ Nương quê ở Nam Xương đẹp người đẹp nết, lấy chồng là Trường
Sinh - con nhà giàu, ít học, tính đa nghi, cả ghen Gia đình đang yên ấm hạnh phúc thì chàng Trương phải đi lính Ở nhà, Vũ Nương sinh được con trai đặt tên là Đản Nàng chăm sóc con và mẹ chồng chu đáo, lo thuốc thang, cầu khấn thần Phật khi mẹ chồng ốm, lo ma chay chu tất khi mẹ chồng mất
Khi trở về, Trương Sinh nghe lời con trẻ nghi ngờ vợ phản bội Vũ Nương một mục phân trần, giải thích nhưng Trường Sinh không nghe, thậm chí còn mắng nhiếc đánh đuổi đi Vũ Nương không minh oan được bèn trẫm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn
Vũ Nương tự tử nhưng không chết do được các nàng tiên cứu, Dưới thuỷ cung, tình cờ nàng gặp người cùng làng là Phan Lang Nghe kể chuyện nhà, Vũ Nương rơm rớm nước mắt và muốn trở về dương gian Phan Lang về nói với Trương Sinh, chàng thương hối hận,
lập đàn giải oan cho nàng: Vũ Nương trở về lộng lẫy, rực rỡ giữa dòng sông, nói với chồng
vài lời cảm tạ rồi biến mất
II Phân tích tác phẩm:
1 Nhân vật Vũ Nương:
a Những phẩm chất tốt đẹp: Vũ Nương là người phụ nữ thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp
* Vũ Nương là người vợ thuỷ của chung:
- Khi chồng ở nhà: Hiểu rõ tính chồng hay ghen, đối với vợ lại phòng ngừa quá sức, Vũ
Nương hết mực giữ gia khuôn phép, cư xử dịu dàng, đúng mực nên vợ chồng chưa từng xảy ra bất hoà
- Khi tiễn chàng Trương đi lính :
+ Nàng không trông mong vinh hiển mà chỉ cầu mong chồng “ngày về mang theo được hai
chữ bình yên”
+ Nàng cảm thông và lo lắng trước những gian nan nguy hiểm mà chồng sẽ phải chịu đựng
nơi chiến trận: “chỉ e việc quân khó liệu thế giặc khôn lường”
+ Bày tỏ sự khắc khoải, nhớ nhung da diết của mình: “nhìn trăng soi thành cũ lại sửa soạn
áo rét, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình thương người đất thú”
- Những ngày tháng xa chồng:
+ Nhớ chồng da diết, khắc khoải, triền miên theo thời gian (bướm lượng đầy vườn, mây
che kín núi )
+ Một mực thủy chung “cách biệt ba năm giữ gìn một tiết đợi chờ ngày chồng trở về
+ Đêm đến trỏ bóng mình trên vách nói với con đó là cha Đản; -> vơi đi nỗi nhớ chồng, thể hiện sự gắn bó của nàng với chồng như hình với bóng và khát khao sum họp gia đình
- Khi bị nghi oan :
+ Nàng nhẫn nhục, cố hàn gắn tình cảm vợ chồng đang có nguy cơ tan vỡ (lời thoại 1)
Trang 4+ Nàng đau đớn thất vọng khi bị đối xử bất công, khi hạnh phúc gia đình tan vỡ lời thoại 2) + Lời độc thoại trước trời cao ở bến Hoàng Giang: lời thề ai oán và phẫn uất, quyết lấy cái chết để chứng minh cho sự thủy chung của mình (lời thoại 3)
- Sống ở thủy cung: Nàng vẫn nặng tình với chàng Trương (khi nghe Phan Lang kể về
chồng con, “nàng rơm rớm nước mắt” luôn mong có ngày được trở về)
* Vũ Nương là người con dâu hiếu thảo:
+Thay chồng chăm sóc mẹ
+ Mẹ chồng ốm, nàng bốc thuốc, lễ bái, nói lời ngọt ngào khuyên lơn
+ Mẹ chồng mất: nàng hết lòng thương xót, lo việc ma chay như với cha mẹ đẻ +Lời trăng
trối của mẹ chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ” là một
lời đánh giá khách quan nhân cách và công lao của Vũ Nương đối với gia đình chồng, chứng minh tấm lòng hiếu thảo hết mục của nàng
* Vũ Nương là người mẹ hiểu biết và yêu thương con; Nàng hết lòng chăm sóc và nuôi
dạy con, không muốn con thiếu vắng tình cha nên đã chỉ vào bóng mình và nói là cha Đản – lời nói dối đầy yêu thương
* Vũ Nương là người phụ nữ trọng nhân phẩm và nghĩa tình:
- Khi bị chồng nghi oan: Chọn cái chết để tự minh oan cho mình, để bảo vệ nhân phẩm
của người phụ nữ
- Khi ở dưới thuỷ cung:
+Tuy sống trong nhung lụa nhưng luôn nhớ về chồng con, vẫn nặng lòng với quê hương +Dù sống ở một thế giới khác vẫn khát khao được phục hồi danh dự
+ Nàng thương chồng nhớ con nhưng vẫn không quay trở về bởi “cảm ơn đức của Linh
- Cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu
- Một người vợ trẻ “có cái thú vui nghi gia nghi thất” mà luôn phải sống xa chồng trong cô
đơn
- Bị chồng nghi ngờ là thất tiết và phải chết một cách oan uống, đau đớn
- Dù ở kết thúc truyện, Vũ Nương đã được sống ở một thế giới khác, giàu sang, được tôn trọng, được yêu thương, dù cho Vũ Nương có trở về trong rực rỡ, uy nghi, nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh, người đã chết không thể sống lại, hạnh phúc thực sự đâu có thể làm lại được nữa Đó chính là bi kịch
=> Bi kịch của Vũ Nương là lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu
và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với
số phận oan nghiệt của người phụ nữ
* Nguyên nhân của những bất hạnh
- Nguyên nhân trực tiếp: Từ chiếc bóng trên vách và lời nói ngây thơ của bé Đản khi
không nhận cha
- Nguyên nhân gián tiếp:
+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng: Vũ Nương vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu
+ Tính cách của Trương Sinh: “đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” Thêm nữa là tâm trạng của chàng cũng có phần không vui: “Cha về, bà mất lòng cha buồn khổ lắm rồi”
+ Cách cư xử hồ đồ và độc đoán của Trương Sinh (không đủ bình tĩnh để phân tích đúng sai, nhất quyết không nói duyên cớ để vợ có cơ hội minh oan; bỏ ngoài tại những lời phân trần của vợ, lời bênh vực của họ hàng, làng xóm):
+ Lễ giáo phong kiến hà khắc: trọng nam khinh nữ
+ Chiến tranh phong kiến dẫn đến sinh li– hiểu lầm -> cái chết thương tâm
2 Nhân vật Trương Sinh:
- Con nhà giàu, ít học, đa nghi
Trang 5- Hồ đồ, độc đoán, vũ phu, tàn nhẫn
- Sống thiếu niềm tin và tình thương
- Nhân vật Trương Sinh là hiện thân của chế độ phong kiến phụ quyền bất công Sự độc đoán chuyển quyền đã làm tê liệt lí trí, giết chết tình người dẫn tới bi kịch
3 Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc:
a Các chi tiết kì ảo trong truyện: (Đoạn truyện dưới thuỷ cung; sáng tạo của – Nguyễn
Dữ)
-Vũ Nương được Linh Phi cứu sống và gặp Phan Lang ở thủy cung
- Phan Lang gặp nạn được Linh Phi cứu, gặp lại Vũ Nương, được sứ giả của Linh Phi rẽ
đường nước đưa về dương thế
- Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa khung cảnh lung linh huyền ảo nói lời từ tạ với Trương Sinh rồi lại biến mất
* Cách đưa các chi tiết kì ảo:Xen kẽ giữa các yếu tố thực với yếu tố kì ảo làm cho thế giới lung linh, mơ hồ trở nên gần gũi -> tăng độ tin cậy cho người đọc
* Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo
- Thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì, làm truyện thêm sâu sắc, hấp dẫn
- Góp phần hoàn thiện thêm vẻ đẹp của Vũ Nương: nặng tình nghĩa với cuộc đời, quan tâm
đến chồng con, khao khát phục hồi danh dự
- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ về lẽ công bằng của nhân dân ta
- Chi tiết kì ảo vẫn không làm mất đi tính bi kịch của tác phẩm; Vũ Nương không thể trở
về để chăm sóc gia đình như ước nguyện của nàng, người chết không thể sống lại, hạnh
phúc thực sự đâu có thể làm lại được nữa
=> Khẳng định niềm thương cảm của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ trong xã hội cũ, tố cáo chế độ phong kiến đã không cho người phụ nữ được hưởng hạnh phúc, thể hiện thái độ trân trọng với họ
b Chi tiết cái bóng:
* Có tác dụng thắt nút và mở nút câu chuyện:
Chiếc bóng gây nên nỗi oai và nó cũng giải oai cho Vũ Nương, chiếc bóng gây nên nghi ngờ cho Trương Sinh và cũng giúp chàng nhận ra sai lầm của mình
* Góp phần thể hiện tính cách nhân vật:
- Đối với Vũ Nương:
+ Gợi cảnh ngộ cô đơn của người vợ trẻ
+ Là vẻ đẹp của tình yêu thương, thuỷ chung và khát khao sum họp gia đình
+ Là lòng thương yêu con, muốn bù đắp cho con sự thiếu vắng tình cha
* Đối với bé Đản: chiếc bóng là sự ngộ nhận về một người cha đặc biệt: đêm nào cũng
đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi, chỉ im thin thít, chẳng bao giờ bế Đản ->bé Đản
ngây thơ, hồn nhiên
- Đối với Trương Sinh: Lời nói của bé Đản về một người cha khác (chính là cái bóng) đã
làm nảy sinh sự nghi ngờ, ghen tuông để rồi dẫn đến thảm kịch -> Trương Sinh cả ghen, hồ
đồ, thiếu niềm tin và trí tuệ
* Góp phần tô đậm chủ đề của câu chuyện:
- Hạnh phúc của con người mong manh như chiếc bóng, chỉ có thể giữ được bằng tình yêu thương và niềm tin
- Số phận của người phụ nữ thật bất hạnh, họ có thể bị oan vì bất cứ lí do gì, mà nhiều khi
gây nên bị kịch ấy lại chính là những người họ yêu thương
=> Cảm hứng phê phán và ngợi ca đều kết tinh ở chi tiết cái bóng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Dữ
4 Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
* Nội dung
- Giá trị hiện thực
+ Phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền
+ Phản ánh số phận người phụ nữ, chịu nhiều oan khuất, bế tắc
Trang 6+ Phản ánh sự suy tàn của xã hội phong kiến với các cuộc chiến tranh phi nghĩa
- Giá trị nhân đạo
+ Thể hiện niềm thương cảm đối với số phận người phụ nữ
+ Thể hiện ước mơ, khát vọng về cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho họ
+ Khẳng định và ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ
* Nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng truyện: dựa trên cốt truyện có sẵn, tác giả tạo thêm và sắp xếp các tình tiết éo le, bất ngờ làm cho diễn biến của truyện hợp lí, sinh động
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: khắc họa tính cách thông qua đối thoại và độc thoại
- Sử dụng yếu tố kỳ ảo một cách sáng tạo
B CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP:
Câu 1 Hãy trình bày vài nét về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” (xuất xứ, thể loại và tóm tắt)
Câu 2 Phân tích những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương
Câu 3 Phân tích số phận bất hạnh và nguyên nhân dẫn đến nỗi oan khuất của Vũ Nương
Câu 4 Trong truyện có những yếu tố kỳ ảo nào, ý nghĩa của các yếu tố đó?
Câu 5 Chi tiết cái bóng có vai trò gì tư thế nào trong câu chuyện?
Câu 6 Hãy nên giá trị hiện thực, nhân đạo và nghệ thuật của tác phẩm
Câu 7 Câu chuyện có thể kết thúc khi qua lời bé Đản, Trương Sinh hiểu được nỗi
oan của vợ Thế nhưng Nguyễn Dữ lại có thêm phần Vũ Nương ở dưới thuỷ cung, trở
về trần gian rồi ra đi
1 Hãy kể lại ngắn gọn chi tiết ấy bằng một đoạn văn từ 3 đến 5 câu
2 Phần kết truyện đó có ý nghĩa gì?
3 Nhận xét về chi tiết kết thúc truyện, cảnh Vũ Nương trở về trên chiếc kiệu hoa, đứng giữa dòng nói lời tạ từ Trương Sinh rồi ra đi mãi mãi, có ý kiến cho rằng: Tính bi kịch của
truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cảnh lung linh kỳ ảo Nhận xét đó có đúng không? Hãy
viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về kết thúc đó
4 Kể tên hai tác phẩm khác viết về đề tài người phụ nữ dưới chế độ phong kiến mà em đã được học trong chương trình Ngữ văn THCS và ghi rõ tên tác giả
Câu 8: Từ nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”,
em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp và thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến? (viết thành đoạn văn khoảng 1 trang giấy)
Câu 9: Qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” ta thấy Vũ Nương là một người con hiếu thảo Từ đó, con hãy viết 1 đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy nêu suy nghĩ của mình về vấn đề này trong thanh thiếu niên hiện nay
Gợi ý:
- Giải thích khái niệm: Hiếu thảo là gì?
- Vai trò, ý nghĩa của lòng hiếu thảo
- Bàn luận nâng cao, mở rộng vấn đề (phản đề -> nêu nguyên nhân – giải pháp)
- Liên hệ bản thân
Trang 7Bài 2:
HOÀNG LÊ NHẤT THÔNG CHÍ – Hồi 14
Ngô Gia Văn Phái
A KIẾN THỨC CƠ BẢN:
I Khái quát về tác giả, tác phẩm:
1 Tác giả: Ngô văn gia phái: Là nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì nổi tiếng về văn
học, ở Thanh Oai – Hà Tây Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1758 – 1788), Ngô Thì Du (1772 – 1840)
2 Tác phẩm:
a Nhan đề: “Hoàng Lê nhất thống chí” là ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà
Lê
b Thể loại: Chí (một lối văn ghi chép sự vật, sự việc), cũng có thể xem tác phẩm được viết
theo kiểu tiểu thuyết lịch sử chương hồi
c Xuất xứ: Văn bản trích từ hồi thứ 14 (viết về sự kiện vua Quang Trung đại phá quân
Thanh)
d Tóm tắt đoạn trích hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống chí”:
Quân Thanh kéo vào thành Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về Tam Điệp Quang Trung lên ngôi vua ở Phú Xuân và tự đốc suất đại binh tiến ra Bắc diệt Thanh Dọc đường, vua Quang Trung cho kén thêm binh lính, mở cuộc duyệt binh lớn, chia quân thành các đạo, chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng chạp, hẹn
đến ngày mồng 7 Tết thắng giặc mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long Đội quân của Quang
Trung đánh đâu thắng đó khiến quân Thanh đại bại Ngày mồng 5 Tết Quang Trung tiến
quân vào thành Thăng Long, tướng Thanh là Tôn Sĩ Nghị vội tháo chạy về nước, vua Lê
Chiêu Thống cùng gia quyến chạy trốn theo
b Trí tuệ nhạy bén, sáng suốt
* Sáng suốt trong việc lên ngôi
- Lên ngôi hoàng đế để “chính vị hiệu” tập hợp sức mạnh đoàn kết, “yên kẻ phản trắc, giữ
lấy lòng người”
* Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc: thể hiện qua lời phủ dụ ở Nghệ An
- Khẳng định chủ quyền của dân tộc: đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng
- Lên án tội ác của giặc trong quá khứ: giết hại nhân dân, vơ vét của cải
- Nêu bật dã tâm của giặc trong lần này: mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện
- Nhắc lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta để khích lệ quân sĩ
- Kêu gọi tướng sĩ đồng tâm hiệp lực
- Ra kỉ luật nghiêm: chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng không tha một ai
+ Lời phủ dụ như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ sâu xa -> kích thích lòng yêu nước và truyền thống quật cường của dân tộc
* Sáng suốt trong việc dùng người
- Khi Sở và Lân “mang gươm trên lưng xin chịu tội”, ông hiểu việc rút quân của hai vị tướng là do không địch nổi quân hùng tướng mạnh nhà Thanh nên phải rút về Tam Điệp để bảo toàn lực lượng và gây cho giặc sự chủ quan Ông cũng hiểu đây là kế của Ngô Thì
Nhậm nên 2 tướng không bị phạt mà còn được khen ngợi
Trang 8- Ông đánh giá rất cao Ngô Thì Nhậm, coi như một vị quân sư “đa mưu túc trí” khen chê đúng người, đúng việc
c Có tầm nhìn xa trông rộng
- Thể hiện ở kế sách vừa tiến quân vừa tuyển binh sĩ, tạo nên cuộc tiến công thần tốc khiến cho kẻ địch không ngờ được mà đối phó
- Vừa mới khởi binh đánh giặc, vậy mà Quang Trung tuyên bố “phương lược tiến đánh đã
có tính sẵn”, “chẳng qua hơn mười ngày có thể đuổi giặc Thanh
- Biết trước kẻ thù “lớn gấp 10 nước mình”, bị thua 1 trận “ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo
thù khiến việc binh đao không bao giờ dứt” nên ông còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao
sau chiến thắng để có thời gian yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng” vì hoà bình và sự phát
triển của dân tộc
đ Có tài tổ chức, dụng binh như thần
- Vừa hành quân, vừa đánh giặc, theo kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng
sẽ ăn tết ở Thăng Long, thực tế đã vượt mức 2 ngày cuộc hành quân thần tốc - Hành quân
xa, liên tục những đội quân vẫn chỉnh tề cũng do tài tổ chức của người cầm quân
- Cách đánh: bí mật, thần tốc, bất ngờ, linh hoạt
+ Ở Phú Xuyên: bắt sống toàn bộ quân giặc → giữ bí mật
+ Tại Hà Hồi: bí mật bao vây, bắc loa truyền gọi – địch sợ hãi, xin hàng
+ Trong trận Ngọc Hồi ghép ván làm mộc che, dàn trận nhất tề xông tới đánh
2 Vua Quang Trung oai phong lẫm liệt trong chiến trận
- Hoàng đế Quang Trung là một tổng chỉ huy đến nay vẫn còn làm cho chúng ta kinh ngạc Ông vừa hoạch định chiến lược, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ bài binh bố trận, vừa tự mình thống lĩnh một mũi tiến công, xông pha nơi trận tiền -> Vua Quang Trung là linh hồn của chiến công vĩ đại
- Hình ảnh người anh hùng Quang Trung được khắc hoạ thật lẫn liệt: “trong cảnh khói toả
mù trời, cách gang tấc không thấy gì”, nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc”
Đây là hình ảnh người anh hùng chiến trận đẹp vào bậc nhất trong văn học Trung đại Việt Nam -> Hoàng đế Quang Trung là một hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho khí phách dân tộc
* Các tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà lại viết khắc và hay như vậy về vua Quang Trung vì:
- Với ý thức tôn trọng lịch sử, các tác giả Ngô gia văn phái – những tri thức, cựu thần của nhà Lê đã không thể bỏ qua sự thật vua Lê hèn nhát cõng rắn cắn gà nhà và chiến công lừng lẫy của nghĩa quân Tây Sơn
- Với niềm tự hào dân tộc, là những trí thức yêu nước, họ không thể không ngợi ca chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà linh hồn chiến thắng đó là hoàng đế Quang Trung
- Thể loại tiểu thuyết lịch sử chương hồi cũng góp phần tạo nên cảm hứng cho các tác giả viết nên những trang văn thực mà đẹp đến như vậy
2 Sự đại bại của quân Thanh và số phận của vua tôi Lê Chiêu Thống
a Quân Thanh
- Kiêu căng, tự mãn, chủ quan vì vào Thăng Long quá dễ dàng
- Hèn nhát, bất tài: bị quân Tây Sơn tấn công bất ngờ, không kịp trở tay “rụng rời sợ hãi", chống không nổi “bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng giặc Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử => Cả đội binh hùng tướng mạnh chỉ biết đường ai nấy chạy, “đêm
ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”
b Vua tôi Lê Chiêu Thống
- Khi có biến, quân Thanh tan rã, cả bọn vội vàng rời cung điện chạy trốn, cướp cả thuyền đánh cá của dân để qua sông
- May mắn gặp được người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy thoát
thân Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, chúng chỉ biết “nhìn nhau than thở, oán giận đến chảy nước
mắt”
=> Chúng như những kẻ cướp đường, một đám ăn mày, một bọn vong quốc
Trang 9* So sánh sự giống và khác nhau trong phần miêu tả cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống
* Giống nhau: đều là kể chuyện xen kẽ với những chi tiết tả thực rất cụ thể, sinh động
* Khác nhau:
- Đoạn văn miêu tả cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh:
+Nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù
+Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứa tâm trạng hả hê sung sướng của người viết cũng như của cả dân tộc trước thắng lợi của quân Tây Sơn
- Đoạn văn miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống:
+ Nhịp điệu chậm hơn gây được ấn tượng mạnh
+ Ngòi bút đượm chút ngậm ngùi xót thương của tác giả - bề tối của nhà Lê
B CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP:
Câu 1 Trình bày vài nét về nhóm tác giả Ngô văn gia phái và tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí”
Câu 2 Tóm tắt đoạn trích hồi thứ 14 của “Hoàng Lê nhất thống chí”
Câu 3 Phân tích hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ qua hồi thứ 14 của “Hoàng Lê nhất thống chí”
Câu 4 Hãy làm rõ sự lại bại của quận Thanh và số phận của vua tôi Lê Chiêu Thống Câu 5 Chỉ ra sự giống và khác nhau trong phần miêu tả cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và của vua tôi Lê Chiêu Thống
Câu 6 Cho đoạn văn sau:“ - Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh
đã có tính sẵn Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh, Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy Đến lúc ấy chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì chúng?”
1 Đoạn văn là lời của ai, nói trong hoàn cảnh nào? Những lời nói đó giúp ta hiểu gì về nhân vật ?
2 Khát vọng mang lại “phúc cho dân”, “điếu dân phạt tội” cũng đã được đề cập đến trong một văn bản ở chương trình Ngữ văn 8 Hãy ghi lại hai câu văn thể hiện tư tưởng đó
Câu 7 Cho những câu văn sau: “Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân Các
quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón, đều mang gươm trên lưng mà xin chịu tội ”
1 Nêu tên tác giả và tác phẩm có chứa đoạn trích trên
2 Trước hành động của hai tướng Sở và Lân, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã có quyết định như thế nào ? Vì sao vị Hoàng đế lại có quyết định như vậy? Quyết định ấy cho ta hiểu gì
về nhân vật ?
Câu 8 Từ hình tượng vua Quang Trung trong hồi thứ 14 của “Hoàng Lê nhất thống chí”, em có suy nghĩ gì về vai trò của người lãnh đạo đối với vận mệnh mỗi quốc gia?
Trang 101 Thời đại: Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội
phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn => Những thay đổi kinh thiên động địa ấy đã tác động mạnh tới tình cảm, nhận thức của Nguyễn Du để ông hướng ngòi bút vào hiện thực
2 Gia đình: Thuộc dòng dõi đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn
học, Cha đỗ tiến sĩ, từng làm quan tể tướng trong triều Lê và là người say mê nghệ thuật
=> Hoàn cảnh gia đình đã ảnh hưởng đến sự nảy nở thiên tài Nguyễn Du
3 Cuộc đời
- Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi
- Trong những biến động dữ dội của lịch sử, nhà thơ đã sống nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, Con người khác nhau
- Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, ông làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn và từng được cử đi
sứ Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nền văn hoá rực rỡ
- Nguyễn Du là người thông minh, tài trí, hiểu biết sâu rộng về văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc
- Sự từng trải trong cuộc đời đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và một trái tim biết yêu thương, thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân Chính nhà thơ đã
từng viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Truyện Kiều) Ông cũng được Mộng Liên Đường đề cao “ có con mắt trông thấu cả sáu cõi tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời ”
4 Sự nghiệp văn học: Là một thiên tài văn học, ông có nhiều tác phẩm có giá trị lớn bằng
chữ Hán và chữ Nôm
- Các tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục, Nam trung tại ngâm
- Các tác phẩm chữ Nôm: Văn chiều hôn, Truyện Kiều, Thác lời trai phường nón, Văn tế
Trường Lưu nhị nữ
II TRUYỆN KIỀU
1 Nguồn gốc: Mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung
Quốc
2 Nhan đề:
- Đoạn trường tân thanh (do tác giả đặt)
- Truyện Kiều (do nhân dân đặt, theo tên nhân vật chính)
3 Sự sáng tạo của Nguyễn Du
- Nội dung: Từ câu chuyện tình ở Trung Quốc đời Minh biến thành một khúc ca thương
người bạc mệnh (vượt xa Thanh Tâm Tài Nhân ở tinh thần nhân đạo)
- Nghệ thuật: thể loại (chuyển thể từ văn xuôi thành thơ lục bát gồm 3254 câu), ngôn ngữ,
nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả thiên nhiên, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình
-> “Truyện Kiều” mãi là sáng tác văn chương đích thực của thiên tài văn học Nguyễn Du
4 Tóm tắt Truyện Kiều
Phần 1: Gặp gỡ và đính Ước
Gia đình Vương viên ngoại thuộc tầng lớp trung lưu, có ba người con: Thuý Kiều, Thuý Vân và Vương Quan Thuý Kiều nổi tiếng tài sắc Trong tiết thanh minh, nàng gặp Kim Trọng, một người hào hoa phong nhã Sau đó hai người thề nguyện đính ước thuỷ chung với nhau suốt đời
Phần 2: Gia biến và lưu lạc
Khi Kim Trọng về hộ tang chú, gia đình Kiều Mắc oan Kiều phải dứt tình với Kim Trọng, bán mình cứu cha và em Nàng rơi vào tay Mã Giám Sinh, Tú Bà, bọn trùm lầu xanh Đau khổ, Kiều tự vẫn nhưng không chết Nàng bị lừa trốn cùng Sở Khanh, bị bắt lại, bị đánh
Trang 11đập, nàng đành chịu tiếp khách Ở lầu xanh, nàng gặp Thúc Sinh, một người buôn bán giàu
có, chuộc nàng làm vợ lẽ Nhưng chưa được một năm lại bị mẹ con Hoạn Thư - vợ cả, bày mưu bắt về đánh đập và bắt làm con ở Khi Thúc Sinh trở về, nàng bị bắt hầu đàn, hầu rượu rồi ra ở Quan Âm các Lo sợ, Kiều lại bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư nhưng lại rơi vào lầu xanh khác Ở đó, Kiều gặp Từ Hải, người anh hùng trí dũng Nhờ uy danh Từ Hải, Kiều đã báo ân trả oán Chẳng được bao lâu, Từ Hải mắc mưu Hồ Tôn Hiến chết đứng, Kiều bị làm nhục, ép gả cho viên thổ quan Quá tủi nhục, Kiều tự vẫn ở sông Tiền Đường nhưng được sư Giác Duyên cứu sống
Phần 3: Đoàn tụ
Lại nói về Kim Trọng, khi biết Thuý Kiều đã bán mình, cho dù gia đình đã gả Thuý Vân cho nhưng chàng vẫn không nguôi nhớ Kiều Sau khi đã đỗ đạt làm quan, Kim Trọng đã cất công đi tìm Kiều Đến sông Tiền Đường biết nàng tự vẫn, Kim Trọng đã lập đàn giải oan Tình cờ sư Giác Duyên đi ngang qua giúp Kiều đoàn tụ với gia đình Gia đình ép Kiều nối lại duyên xưa với Kim Trọng Từ chối không được, nàng đành thuận tình nhưng xin Kim Trọng đổi tình vợ chồng thành tinh bạn bè
- Phơi bày nỗi khổ đau của con người, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ
b Giá trị nhan đạo
- Bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của con người
- Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của những người lương thiện
- Trân trọng, đề cao vẻ đẹp và khát vọng chân chính của con người
5.2 Giá trị nghệ thuật
* Về ngôn ngữ: Tiếng Việt đã đạt tới đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật
* Về nghệ thuật tự sự: có sự phát triển vượt bậc
Ngôn ngữ kể chuyện có cả 3 hình thức: Trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trực tiếp (lời tác giả nhưng mang suy nghĩ và giọng điệu của nhân vật)
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lí tưởng hoá, được miêu tả bằng bút pháp ước lệ, nhưng vẫn rất sinh động
- Nhân vật phản diện được khắc hoạ theo lối hiện thực hoá, bằng bút pháp tả thực, cụ thể
* Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đa dạng: bên cạnh những bức tranh thiên nhiên chân
thực, sinh động là những bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc
Trang 121 Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần thứ nhất của tác phẩm “Truyện Kiều” (Gặp gỡ và đính
ước), giới thiệu gia cảnh Vương viên ngoại
2 Bố cục:
- 4 câu đầu: Giới thiệu khái quát 2 chị em
- 4 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân
- 12 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều
- 4 câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của 2 chị em
=> Kết cấu chặt chẽ, thể hiện cách miêu tả nhân vật tinh tế của Nguyễn Du
3 Bút pháp ước lệ:
+ Sử dụng những quy ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên đẹp
để nói về vẻ đẹp của con người
+ Không miêu tả tỉ mỉ, cụ thể là chủ yếu gợi, tác động tới trí tưởng tượng của người đọc
II Phân tích tác phẩm:
1 Giới thiệu chung (4 câu thơ đầu)
- Cách giới thiệu ngắn gọn, đầy đủ: Hai người con gái đầu lòng của gia đình họ Vương đều
đẹp (tố Nga)
- Câu 3,4: sử dụng nghệ thuật tiểu đối, thành ngữ, bút pháp ước lệ -> vẻ đẹp thanh cao, duyên dáng, trong trắng => Đó là vẻ đẹp hoàn hảo cả hình thể lẫn tâm hồn, cả hai đều đẹp
đến độ hoàn mĩ: “mười phân vẹn mười” nhưng mỗi người có một vẻ đẹp riêng
2 Vẻ đẹp của Thúy Vân.(4 câu tiếp theo)
- “Vân xem trang trọng khác vời” – > vừa giới thiệu, vừa khái quát đặc điểm nhân vật: vẻ
đẹp cao sang, quý phái
- Hình ảnh ước lệ, nghệ thuật so sánh, ẩn dụ: lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả từng nét đẹp của Thúy Vân: khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn như trăng, lông mày sắc nét, nụ cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo, mái tóc đen, óng ả hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết
- Thủ pháp liệt kê: khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói -> nổi bật vẻ đẹp riêng: phúc hậu, đoan trang
- Nhân hóa “mây thua”, “tuyết nhường”: vẻ đẹp của Vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với tự
nhiên -> Nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ -> chân dung mang tính cách số phận
3 Vẻ đẹp của Thúy Kiều (12 câu )
- “Kiều càng sắc sảo mặn mà”: khái quát đặc điểm nhân vật: sắc sảo về trí tuệ và mặn mà
+Tài đàn là sở trường, vượt lên trên mọi người (Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương)
- Tâm hồn: Cung đàn Bạc mệnh do Kiều sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một
Trang 13trái tim đa sầu, đa cảm
+ Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả tài – sắc – tình vẻ đẹp ấy khi khiến tạo hóa đố kị,
hờn ghen -> Nàng sẽ có cuộc đời éo le, đau khổ -> chân dung mang tính cách số phận
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Thủ pháp đòn bẩy (chân dung Vân được miêu tả trước
để làm nổi bật Kiều, tác giả chỉ dùng 4 câu đế tả Vân trong khi hành tới 12 câu đố cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình, của Kiều là cả nhan sắc, tài năng, tâm hồn)
B CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP:
Câu 1 Giới thiệu vị trí và bố cục đoạn trích?
Câu 2 Phân tích 4 câu thơ đầu của đoạn trích
Câu 3 Chân dung Thúy Vân được tác giả khắc họa như thế nào trong đoạn trích? Câu 4 Vẻ đẹp của Thúy Kiều hiện lên trong đoạn trích như thế nào?
Câu 5 Cho hai câu thơ sau:
“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
1.Mỗi câu thơ trên nói về nhân vật nào?
2 Cách miêu tả sắc đẹp của hai nhân vật ấy có gì giống và khác nhau
Sự miêu tả khác nhau ấy có liên quan như thế nào đến tính cách và số phận của mỗi nhân
vật?
3 Qua đoạn trích có chứa 2 câu thơ trên, em có nhận xét gì về nghệ thuật tả người của tác
giả?
Câu 6 Nguyễn Du - một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn (SGK
Ngữ văn 9- tập 1) đã từng viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Truyện Kiều)
1 Qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, hãy chỉ rõ biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở
Nguyễn Du
2 Trong “Chị em Thúy Kiều”, Nguyễn Du rất thành công khi sử dụng bút pháp nghệ thuật
ước lệ để miêu tả các nhân vật
a Em hiểu thế nào là bút pháp ước lệ?
b Hãy chép lại một câu thơ lục bát tả Thúy Kiều và chỉ ra các hình ảnh ước lệ trong câu thơ đó
3 Với Thúy Kiều, Nguyễn Du không chỉ gợi tả vẻ đẹp hình thức mà nhà thơ còn nhấn mạnh vẻ đẹp tài năng, tâm hồn của nàng
Lấy câu văn trên là câu chủ đề, hãy viết tiếp đoạn văn (khoảng 10 câu) theo cách lập luận diễn dịch Trong đoạn có sử dụng một câu phủ định và lời dẫn trực tiếp (chỉ rõ)
Trang 141 Vị trí đoạn trích : thuộc phần 2 của tác phẩm “Truyện Kiều” (Gia biến và lưu lạc) Sau
khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn Tú Bà vờ hứa hẹn, đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới
2 Bố cục
- 6 câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều
- 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương Kim Trọng và cha mẹ của nàng
- 8 câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật
II Phân tích tác phẩm:
1 Hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích 46 câu đầu)
Cách nói ẩn dụ: khóa xuân cho thấy thực chất Kiều đang bị giam lỏng
- non xa, trăng gần: hình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi, đơn độc giữa mênh mang trời nước
- bốn bề bát ngát xa trông: sự rợn ngợp của không gian
-> Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt, cái lầu chơi vơi ấy đang giam hãm một thân phận trơ trọi, không sự giao lưu giữa người với người
- Hình ảnh non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng vừa có thể hiểu là cảnh thực, cũng có thể
hiểu là hình ảnh mang tính ước lệ -> gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian
- Cụm từ mây sớm đèn khuya -> thời gian tuần hoàn, khép kín, giam hãm con người
Từ “bẽ bàng” tâm trạng xấu hổ, buồn tủi xót xa cho thân phận mình
- Cả không gian và thời gian đều giam hãm, bủa vây lấy con người -> Kiều rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối
2 Nỗi nhớ người thân của Kiều Khi ở lầu Ngưng Bích (8 câu thơ tiếp)
a Nỗi nhớ Kim Trọng
- Kiều nhớ tới Kim Trọng trước vì nàng đã bán mình chuộc cha, phần nào làm tròn chữ hiếu, nhưng nàng lại cảm thấy mình là kẻ phụ tình, lỗi hẹn với Kim Trọng -> phù hợp với
quy luật tâm lí, thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du - Kiều nhớ tới lời thề đôi lứa
(Tưởng người dưới nguyệt chén đồng); tưởng tượng cảnh Kim Trọng đang đau đáu chờ tin
mà uổng công vô ích (Tin sương luống những rày trông mai chờ) -> Nhớ về Kim Trọng
với tâm trạng đau đớn xót xa
- Câu thơ Bên trời góc bể bơ vơ -> mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông và không
gian ấy càng làm nổi bật sự cô đơn của nàng
- Tấm son là hình ảnh ẩn dụ, có 2 cách hiểu:
+ Tấm lòng son là tấm lòng thương nhớ Kim Trọng không bao giờ nguôi quên
+Tấm lòng son của Kiều bị vùi dập hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa được
=> Kiều thật sâu sắc, thủy chung, thiết tha
b Nỗi nhớ cha mẹ
- Nàng xót xa cha mẹ sớm chiều tựa cửa ngóng trông con (Xót người )
- Nàng lo lắng cha mẹ tuổi già sức yếu mà nàng không được tự tay chăm sóc (Quạt nồng
ấp lạnh )
- Nàng tưởng tượng cha mẹ ngày một thêm già yếu (Có khi gốc tử đã vừa người ôm)
- Thành ngữ, câu hỏi tu từ, điển cố sân Lai, gốc tử -> tâm trạng thương nhớ, lòng hiếu thảo của Kiều - Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa chỉ thời gian cách xa bao mùa mưa nắng,
vừa nói lên sức mạnh tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với cảnh vật và con người
=> Kiều luôn xót thương, day dứt vì mình không thể chăm sóc cha mẹ
=> Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng đã quên đi cảnh ngộ bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ → Kiều là người tình
Trang 15thủy chung, người con hiếu thảo, người có tấm lòng vị tha, nhân hậu
- Ngôn ngữ độc thoại nội tâm -> khắc họa rõ nét tâm trạng của nhân vật
3 Tâm trạng buồn lo của Kiều – Bức tranh tâm cảnh (8 câu cuối)
- Đây là bức tranh tâm cảnh, mỗi cảnh đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều:
+ Hình ảnh “cánh buồm thấp thoáng”: thân phận nhỏ bé, chìm nổi vô định, sự cô đơn, khơi gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương
+ Hình ảnh “hoa trôi man mác”: thân phận lênh đênh vô định, không biết đi về đâu
+ Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu”: tâm trạng bị thương về tương lai mịt mờ
+ Hình ảnh gió cuốn mặt duềnh, ầm ầm tiếng sóng”: sự bàng hoàng lo sợ, hãi hùng trước
những tai ương đang rình rập
- Cảnh được nhìn qua tâm trạng Kiều: từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh tới động, nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ
- Điệp ngữ buồn trông đứng đầu 4 cấu tạo âm hưởng trầm buồn
- Điệp ngữ kết hợp với các từ láy, câu hỏi tu từ đã diễn tả nỗi buồn nhiều sắc độ, dằng dặc,
triền miên như những lớp sóng đang dồn dập, tới tấp xô đến cuộc đời Kiều -> buồn trông
trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng
- Nghệ thuật ẩn dụ, tả cảnh ngụ tình đặc sắc
B CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP:
Câu 1 Xác định vị trí và nêu bố cục của đoạn trích?
Câu 2 Trình bày hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích?
Câu 3 Nỗi nhớ người thân của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích được thể hiện như thế nào qua đoạn trích?
Câu 4 Phân tích 8 câu cuối của đoạn trích
Câu 5 Cho câu thơ: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”
1 Chép chính xác 7 câu tiếp theo để hoàn thành đoạn thơ
2 Đoạn thơ vừa chép nằm ở đoạn trích nào? Thuộc tác phẩm nào? Xác định vị trí của đoạn trích trong tác phẩm
3 Giải nghĩa các cụm từ sau: chén đồng, tấm son, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai, gốc tử
4 “Người dưới nguyệt chén đồng” và “người tựa cửa hôm mai” trong đoạn trích là những
ai? Biện pháp tu từ nào đã được sử dụng ở hai hình ảnh này? Tác dụng của biện pháp tu từ
ấy?
5 Có thể đảo vị trí hai từ “tưởng” và “xót” trong đoạn trích cho nhau được hay không? Vì sao?
6 Viết khoảng 12 câu văn nối tiếp câu mở đoạn sau để hoàn thành một đoạn văn theo cách
tổng phân hợp: Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Kiều hiện lên là người con gái
thủy chung, hiếu thảo, vị tha,
Câu 6 Từ hai nhân vật Vũ Nương và Thúy Kiều trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) và Truyện Kiều (Nguyễn Du), em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp và số
phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến?
Câu 7 Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Kiều hiện lên là người con gái
thủy chung, hiếu thảo, vị tha Từ văn bản, bằng hiểu biết của mình hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ về lòng vị tha của con người trong cuộc sống
Trang 16Bài 5 - LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA
(Trích “Lục Vân Tiên”)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu (1822- 1888)
- Là người thầy giáo, thầy thuốc nổi tiếng với nghị lực ý chí, tình yêu nước, khí tiết cao đẹp
- Là nhà thơ nổi tiếng của Nam Bộ với những tác phẩm nêu cao đạo lý làm người và cổ vũ tình yêu nước chống ngoại xâm
2 Tác phẩm “Lục Vân Tiên”
- Hoàn cảnh sáng tác : được viết vào những năm 50 của thế kỷ XIX
- Thể loại : truyện thơ Nôm
- Nội dung tóm tắt : SGK
3 Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”
- Vị trí: Ở phần đầu của tác phẩm, có nội dung giới thiệu về các nhân vật chính
* Tác giả đã khắc họa vẻ đẹp anh hùng của nhân vật này qua việc đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga và cách ứng xử với Nguyệt Nga sau đó
a Hành động đánh cướp của Lục Vân Tiên trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của chàng
- Trên đường đi thi, chàng gặp bọn cướp, bất bình vì thấy chúng hoành hành, làm nhân dân khốn khổ
Vân Tiên nổi giận lôi đình
Hỏi thăm lũ nó còn đình nơi nao
Tôi xin ra sức anh hào
Cứu ngườI cho khỏi lao đao buổi này
- Chàng chỉ có một mình, trong tay không có một thứ vũ khí, trong khi đó bọn cướp đông ngườI, gươm giáo đủ đầy Đặc biệt có tên tướng cướp hung tợn “Phong Lai mặt đỏ phừng phừng” Vậy mà chàng vẫn bẻ cây làm gậy xông vào đánh chúng
→ Điều đó thể hiện lòng dũng cảm quên mình vì việc nghĩa của chàng
- Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh rất đẹp Nhà thơ không tả nhiều mà chỉ dùng một hình ảnh so sánh :
“ Vân Tiên tả đột hữu xông
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang”
Với việc so sánh Lục Vân Tiên với nhân vật Triệu Tử Long, người anh hùng trong Tam
Quốc, tác giả đã khắc họa được hình ảnh người anh hùng xông pha giữa vòng vây của lũ
cướp với những động tác vừa nhanh nhẹn vừa dứt khoát
→ Đây là một hinh ảnh so sánh rất đạt, thể hiện được cả đức và tài của anh hùng Vân Tiên
- Với tấm lòng sẵn sàng làm việc nghĩa, Vân Tiên đã tạo nên sức mạnh chiến thắng thế lực bạo tàn, chàng nhanh chóng đánh tan lũ cướp:
Trang 17Lâu la bốn phía vỡ tan
Đều quăng gươm giáo tìm đường chạy ngay
Phong Lai trở chẳng kịp tay
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong
➔ Nhịp điệu và kết quả của trận đánh thể hiện rõ cảm hứng ngợi ca người anh hùng
của Nguyễn Đình Chiểu
b Thái độ cư xử của Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lạI bộc lộ
tư cách con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài
- Trừ hết lũ cướp, Lục Vân Tiên có thể lên đường đi thi ngay, nhưng chàng nán lại vì
thấy hai cô gái, nạn nhân bọn cướp còn chưa hết hãi hùng Chàng an ủi họ để họ bớt sợ
hãi
→ Quả là con người có tấm lòng nhân hậu
- Khi nghe họ nói muốn được gặp để tạ ơn, Vân Tiên đã vội gạt đi:
“Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai ”
→ Hành động giữ ý của chàng một phần là do quan niệm lễ giáo phong kiến nhưng
chủ yếu là do chàng khiêm nhường không muốn coi hành động đánh cướp của mình
là làm ơn cho người
- Bởi vậy, khi Kiều Nguyêt Nga tỏ ý muốn lạy tạ chàng và mời chàng về thăm nhà nàng
để được cảm tạ thì chàng đã từ chối ngay Lí giảI sự từ chối của mình, chàng nói:
“ Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”
Chàng quan niệm: thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là người anh hùng
→ Đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên Đó là cách cư
xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán
2 Hình ảnh Kiều Nguyệt Nga
→ cách xưng hô khiêm nhường, lễ độ, bày tỏ sự trân trọng với người đã giúp đỡ mình
qua cơn nguy khốn
- Đặc biệt, nàng vô cùng biết ơn Lục Vân Tiên vì đã cứu nàng khỏi lũ cướp
+ Nàng giãi bày lòng cảm kích của mình qua một đề nghị cảm động:
“Trước xe quân tử tạm ngồi
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa”
+ Nàng bối rối vì không có gì đền ơn Lục Vân Tiên:“Của tiền không có, bạc vàng cũng
không”
+ Nàng tha thiết mời chàng về nhà để cha nàng đền ơn cho chàng
➔ Là cô gái mang những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
➔ Kiều Nguyệt Nga cũng là một biểu tượng cho những con người trọng đạo nghĩa
“Ơn ai một chút chẳng quên”, “Uống nước nhớ nguồn”
Trang 18III.Tổng kết:
1.Nội dung: Đoạn trích bày tỏ khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả, khắc hoạ những
phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài;
Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình
2 Nghệ thuật:Nghệ thuật kể chuyện, miêu tả rất giản dị, mộc mạc, giàu màu sắc Nam Bộ
Trang 19
PHẦN THỨ HAI THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Bài 1- Văn bản: “ĐỒNG CHÍ” – Chính Hữu
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Chính Hữu, tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê: Can Lộc, Hà Tĩnh
- 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
- 1947,ông bắt đầu sáng tác thơ và thơ ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh với
cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ cô đọng
- 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật
- Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo (1966), Ngọn đèn đứng gác
2 Tác phẩm:
a Hoàn cảnh sáng tác:
-Bài thơ “Đồng chí”được sáng tác vào đầu năm 1948 - từ trải nghiệm của chính nhà thơ sau khi cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947)
- Bài thơ được in trong tập “Đầu súng trăng treo”(1966) - tập thơ phần lớn viết về người
lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
b Bố cục: 3 phần
+ Bảy câu thơ đầu: Cơ sở hình thành tình đồng chí
+ Mười câu thơ tiếp: Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí
+ Ba câu thơ cuối: Bức tranh đẹp về tình đồng chí, biểu tượng cao cả của cuộc đời người chiến sĩ
c Chủ đề: Ngợi ca tình đồng đội, đồng chí cao cả, thiêng liêng của các anh bộ đội Cụ Hồ -
những người nông dân yêu nước mặc áo lính trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
d Mạch cảm xúc
- Khơi nguồn từ vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội trong chiến tranh Cảm
xúc đặc biệt được tổn tụ ở các câu 7 (Đồng chí!); câu 17 (Thương nhau tay nắm lấy bàn
tay) và 20 Đầu súng trăng treo)
- Sáu câu đầu là sự lí giải về cơ sở của tình đồng trí Dòng thứ 7 có cấu trúc đặc biệt chỉ có một từ và dấu chấm than như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh tình cảm của
tình đồng chí Mười dòng tiếp theo mạch cảm xúc sau khi được dồn tụ ở câu 7 lại tiếp tục
được khơi mở trong những hình ảnh, chi tiết biểu hiện cụ thể, thấm thía tình đồng đội và sức mạnh của nó Ba dòng thơ cuối được tách ra thành đoàn kết, đọng lại và ngân rung với hình ảnh đặc sắc “đầu súng trăng treo” như là một biểu tượng giàu chất thơ về người lính
e.Nhan đề:
- Hình thức: là một nhan đề ngắn gọn, súc tích, cô đọng, hàm súc với hai tiếng “Đồng chí”
- Ý nghĩa:
+ “Đồng chí” là tên gọi những người chung chí hướng, lí tưởng, mục đích
+ Đặt tên bài thơ là “Đồng chí” tác giả muốn ca ngợi tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn
bó, thắm thiết của những người lính trong thời kì chống Pháp
+ Không những thế “đồng chí còn là tên gọi phổ biến chỉ những người cùng chung 1 tổ chức, đoàn thể chính trị Tên gọi này thưởng xuất hiện sau CMT8
II – đọc - hiểu văn bản:
1 Cơ sở hình thành tình đồng chí:
a Chung cảnh ngộ, giai cấp - Hai câu đầu:
+ Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình
+ Thành ngữ “nước mặn đồng chua” gợi ra hình ảnh quê hương vùng chiêm chũng đất đai nhiễm phèn, nhiễm mặn khó làm ăn
+ Hình ảnh “đất cày lên sỏi đá” – phép nói quá ->gợi vùng quê nghèo nơi đồi núi trung du đất đai khô cằn, khó canh tác, trồng trọt
Trang 20->“Quê anh và “làng tôi”đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ
-Phép đối -> tạo nên sự tương ứng, song song, đồng đẳng giữa hai người lính -> khẳng định họ đều xuất thân từ nông dân - từ những miền quê nghèo khó lam lũ
*Tác giả đã mượn thành ngữ, phép nói quá, đối để nói về làng quê, nơi chôn rau cắt rốn thân yêu của những người chiến sĩ Điều ấy làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân
dã đúng như con người vậy - những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí
b Chung nhiệm vụ, lí tưởng - 3 câu thơ tiếp;
Từ “đôi người xa lạ” mỗi người một phương trời “chẳng hẹn quen nhau” Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng biết bao kỉ niệm: “Súng bên
súng, đầu sát bên đầu”
“Súng bên súng” là cách nói hàm súc, giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung
lí tưởng chiến đấu Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn
nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc - Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
Hình ảnh “Đầu sát bên đầu” lại diễn tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người
đó
c Chung mọi gian lao, thiếu thốn - 2 câu tiếp:
“Đêm rét chung chăn thành đối tri kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khó,
cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa - Chăn sui đắp cùng”Và như thế mới thành
“đôi tri kỉ” để rồi đọng kết lại là “Đồng chí!” “Tri kỉ” là hiểu bạn như hiểu mình, ý nói
những người bạn rất thân
=> Tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị, nhưng rất chuẩn xác: “bên”, “chung” Từ
- “bên” qua “sát” đến “chung” là cả một hành trình Trong hành trình ấy tình cảm cứ
đượm dần lên thành tình đồng chí
Đồng chí!
“Đồng chí” - hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao! Nó diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ
ngân vang lên mãi Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất của một tình bạn thắm thiết, đẹp
đẽ Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của những con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước mơ Câu thơ được tách riêng, độc lập,
là một câu đặc biệt gồm một từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm than, như nốt nhấn trong một bản đàn, một phát hiện, một vỡ lẽ bất ngờ, một chiêm nghiệm chín chắn, một lời khẳng định tình cảm của những người đồng đội, tình cảm cách mạng, tình cảm chỉ có ở thời đại mới
“Đồng chỉ” - ấy là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp: tình giai cấp, tình bạn,
tình người trong chiến tranh Hai tiếng “đồng chí bởi vậy mà giản dị, đẹp đẽ, sáng ngời và
thiêng liêng
Câu thơ còn như bản lề gắn kết hai phần của bài thơ, khép lại cảm xúc ở 6 câu đầu nói về
cơ sở của tình đồng chí, đồng thời mở ra cảm xúc ở 10 câu tiếp theo nói về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí
2 Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:
a Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu, chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì gắn bó thân thương nhất: ruộng nương”
nhà", "giếng nước”, “gốc đa” Họ ra đi để lại sau lưng những băn khoăn, trăn trở, những
bộn bề, lo toan của cuộc sống đời thường
Hai chữ “mặc kệ” đã diễn tả sâu sắc vẻ đẹp và chiều sâu đời sống tâm hồn người lính Vì nghĩa lớn, họ sẵn sàng ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa “Mặc kệ” mang
dáng dấp của những trượng phu, tráng sĩ đầy mạnh mẽ, dứt khoát ra đi vì nghĩa lớn Song
dù có dứt khoát thì vẫn nặng lòng với quê hương Gác tình riêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp
Trang 21ấy thật đáng trân trọng và tự hào Trong bài thơ “Đất nước", ta bắt gặp điểm tương đồng
trong tâm hồn những người lính:
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thêm năng lá rơi đầy”
Mặc dù đầu không ngoảnh lại nhưng các anh vẫn cảm nhận được “Sau lưng thềm nắng lá
rơi đây” cũng như người lính trong thơ của Chính Hữu, nói “mặc kệ” nhưng tấm lòng
luôn hướng về quê hương
“Giếng nước gốc đa” là hình ảnh hoán dụ diễn tả một cách tinh tế tâm hồn người chiến sĩ,
tô đậm sự gắn bó của người lính với quê nhà “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay
chính là tấm lòng của người ra đi không nguôi nhớ về quê hương nhân hóa - chữ gạch chân) Quả thật, giữa người chiến sĩ và quê hương có mối giao cảm vô cùng sâu sắc, đậm
đà Người đọc cảm nhận từ hình ảnh thơ một tình quê ăm ắp và đây cũng là nguồn động viên, an ủi, là sức mạnh tinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua mọi gian lao, thử thách suốt một thời máu lửa, đạn bom
Như vậy, những người lính đã chia sẻ với nhau mọi tâm tư, nỗi niềm, cùng sống với nhau trong kỉ niệm, nỗi nhớ và cùng vượt lên những nhớ nhung để chiến đấu và chiến thắng
b Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, chia sẻ những khó khăn, thiếu thốn của cuộc đời người lính:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”
- Bằng những hình ảnh tả thực “rách”, “vá”, hình ảnh sóng đôi “anh” - “tôi”, tác giả đã
tái hiện chân thực những khó khăn thiếu thốn trong buổi đầu kháng chiến: thiếu lương thực, thiếu vũ khí, quân trang, thiếu thuốc men
- Người lính phải chịu “từng cơn ớn lạnh”, những cơn sốt rét rừng hành hạ, sức khỏe giảm sút,
song sức mạnh của tình đồng chí đã giúp họ vượt qua tất cả
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
- Nếu như hình ảnh “Miệng cười buốt giá” làm ấm lên, sáng lên tinh thần lạc quan của
người chiến sĩ trong gian khổ thì hình ảnh “tay nắm lấy bàn tay”, một hình ảnh rất thực, rất đời thường, giản dị, lại thể hiện tình đồng chí, đồng đội thật sâu sắc!
+ Đó là cử chỉ cảm động, chứa chan tình cảm chân thành, gợi tả sự gắn bó bền chặt, không
- Vì “thương” là vị muối của tình người, là chất keo của mối gắn bó, là cội rễ của đức hi sinh Thương nhau người ta có thể thủy chung với nhau và hi sinh cho nhau
=> Câu thơ không chỉ nói lên tình cảm sâu nặng của những người lính mà còn nói đến sức mạnh của tình cảm ấy
* Như vậy, mười câu thơ trên là những biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí
và sức mạnh của tình cảm ấy
3 Biểu tượng đẹp của tình đồng chí:
- Bài thơ khép lại với bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội, là biểu tượng cao đẹp về cuộc đời người chiến sĩ:
“Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Trang 22+ Nổi lên trên cánh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên
nhau chờ giặc tới” Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng
thẳng của những giây phút "chờ giặc tới” trong tư thể chủ động Tình đồng chí đã sưởi ấm
lòng họ, xua tan cái giá lạnh của rừng hoang mùa đông, cái rét buốt nhức của sương muối Tình đồng chí đã giúp họ vượt lên tất cả
+ Câu kết là một hình ảnh thơ rất đẹp: “Đầu súng trăng treo” Cảnh vừa thực, vừa mộng
+ Đây là hình ảnh có thật trong cảm giác của nhà thơ Đêm khuya, vầng trăng hạ thấp ngang người, trong tầm ngắm người lính bất ngờ phát hiện một điều thú vị: trăng 1ơ lửng như trên đầu mũi súng Hình ảnh này được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích chờ giặc của chính tác giả
+ Đây là hình ảnh lãng mạn nhịp thơ 2/2 gợi lên nhịp lắc của một cái gì chông chênh, lơ
lửng trong sự bát ngát, nó vừa thực vừa là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, gợi nhiều liên tưởng phong phú
Chữ “treo” rất thơ mộng, nối mặt đất với bầu trời Vậy là giữa giây phút hiểm nguy, người lính vẫn say sưa với nét đẹp trong đời – một vầng trăng treo
+ Súng gợi hình ảnh của chiến tranh khốc liệt; trăng lại là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình Sự hòa hợp giữa súng và trăng vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và tình đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc kháng chiến Người lính cầm súng là để bảo vệ cuộc sống thanh bình cho quê hương, đất nước
+ Súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chiến sĩ và thi sĩ, chất chiến đấu và chất trữ tình Đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hòa với nhau của cuộc đời người lính cách mạng Xa hơn đó cũng có thể xem là biểu tượng cho thơ ca kháng chiến - nền thể kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn
Hình ảnh vầng trăng, một hình ảnh thuộc về ánh sáng, đứng ở vị trí chót cùng của bài thơ tỏa chiếu ánh sáng lên toàn bài xua tan đi Như vậy, sự kết hợp hai yếu tố, hiện thực và lãng mạn đã tạo nên cái vẻ đẹp độc đáo cho hình tượng thơ Và phải chăng, cũng chính vì lẽ đó, Chính Hữu đã lấy hình ảnh làm nhanh để cho cả tập thơ của mình - tập
“Đầu sáng trăng treo” như một bông hoa đầu mùa trong vườn thơ cách mạng
III Tổng kết:
- Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc Bài thơ đã làm sống lại một thời khổ cực của cha anh ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt Bài thơ khơi gợi lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được
- Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân thuộc, với biện pháp sóng đôi, đối ngữ được sử dụng rất thành công, Chính Hữu đã viết nên một bài ca với những ngôn từ chọn lọc, bình dị mà có sức ngân vang Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng, như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng không bao giờ tắt, ngọn lửa thắp sáng đêm đen của chiến tranh
Trang 23Bài 2- Văn bản: “BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH”
- Phạm Tiến Duật- I- Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê Thanh Ba, Phú Thọ
- 1964, sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông gia nhập binh đoàn I vận tải Trường Sơn và hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ
- Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Phong cách thơ: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc
- Đề tài chủ yếu: Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn
- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính nằm trong chùm thơ của Phạm Tiến Duật được tặng giải
Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969
-Sau này bài thơ được đưa vào tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” (1970) của tác giả
c Chủ đề: Vẻ đẹp hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong những năm chống Mĩ
d Ý nghĩa nhan đề bài thơ:
Bài thơ có một nhan để khá dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng chính nhan để ấy lại thu hút người đọc ở cái vẻ lạ, độc đáo của nó
+Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật hình ảnh của toàn bài: những chiếc xe không kính, Hình ảnh này là một sự phát hiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó và am hiểu của nhà thơ
về hiện thực đời sống chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn
+ Hai chữ “bài thơ nói lên cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà chủ yếu là Phạm Tiến Duật muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam dũng cảm, hiện ngang, vượt lên những thiếu thốn, gian khổ, khắc nghiệt của chiến tranh Nhan để bài thơ đã thể hiện chủ đề
e Mạch cảm xúc
Bắt nguồn từ hình ảnh độc đáo - những chiếc xe không kính vẫn băng băng ra chiến trường Từ đó, tác giả làm nổi bật hình ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn: thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu lại là hoàn cảnh để họ bộc lộ phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của mình
g.Bố cục: 2 phầnm (tham khảo, vì có nhiều cách chia khác nhau)
- Bốn khổ đầu: Miêu tả hiện thực chiến tranh gian khổ, khốc liệt và tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan của những người lính lái xe Trường Sơn
- Ba khổ cuối: Ca ngợi sức mạnh của tình đoàn kết, lòng yêu nước và ý chí chiến đấu của những người lính lái xe
II Đọc hiểu văn bản
1.Hình ảnh những chiếc xe không kính:
- Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ thì đều được “ mĩ lệ hóa”, “lãng mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả cụ thể, chi tiết rất thực Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoá nhất là trong địa hình hiểm trở Trường Sơn
Trang 24thì xe phải có kính mới đúng Ấy thế mà chuyện “xe không kính” lại là một thực tế, là hình ảnh thường gặp trên tuyến đường Trường Sơn
- Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải thích cho “sự cố” có phần không bình thường ấy:
Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi
+Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của các chàng trai lái xe dũng cảm Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ
+ Bằng những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động từ mạnh “giật”, “rung” -> Tác giả đã lí giải nguyên nhân không có kính của những chiếc xe Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở nên biến dạng không có kính”, “không
có đèn”,”không có mui xe”, “thùng xe có xước” Từ đó, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cun khổ mà người lính phải trải qua
-Kết thúc bài thơ thì những chiếc xe “Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe,
thùng xe có xước.” Sự thay đổi đã vẽ ra sự khốc liệt của chiến tranh gian khổ dường như
mỗi lúc một tăng Sự khốc liệt ấy làm biến dạng, méo mó khiến xe thiếu đi tất cả bộ phận quan trọng để đảm bảo sự an toàn cho chiếc xe được lưu hành Đó là mối nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của những người lính lái xe Một vấn đề hệ trọng như vậy nhưng lại được nói với giọng thơ bình thản, dửng dưng như không có gì đáng quan tâm Trước một vấn đề lớn lao như vậy đã biến những chiếc xe không kính trở thành biểu tượng trước sự thách thức, trước sự tàn phá, hủy diệt Nó đã tô đậm hình ảnh những chiếc xe gan góc, kiên cường, đi xuyên qua mưa bom bão đạn, xuyên qua cái chết, hiện lên hình ảnh những chiếc xe tràn trề sức sống trước thử thách, cam go
=> Hình ảnh những chiếc xe không kính vốn chẳng hiếm trong chiến tranh, song phải có một hồn thơ nhạy cảm, có nét tinh nghịch, ngang tàng như Phạm Tiến Duật mới phát hiện
ra được đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ ca thời chống Mĩ
2 Hình ảnh người lính lái xe:
a Vẻ đẹp của người lính lái xe trước hết thể hiện ở tư thế hiên ngang, ung dung, đường hoàng, tự tin và tâm hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời:
Ung dung buông lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
+Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật
điệp ngữ với từ “nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai, nhịp thơ 2/2/2 Giọng
thơ mạnh mẽ, đĩnh đạc -> nhấn mạnh từ thế ung dung, bình tĩnh, tự tin của người lính + Cái nhìn của các anh là cái nhìn bao quát, rộng mở “nhìn đất”,”nhìn trời”, vừa trực diện, tập trung cao độ “nhìn thẳng”
+ Nhìn thẳng còn là hơi ẩn dụ -> gợi cái nhìn thẳng vào khó khăn, gian khổ, hi sinh mà không hề run sợ, né tránh - một bản lĩnh vững vàng
* Trong tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có những cảm nhận rất riêng khi được
tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài:
Nhìn thấy giỏ vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
- Nhịp thơ chắc đều, trôi chảy như bánh xe lăn Câu thơ diễn tả được cảm giác về tốc độ trên chiếc xe đang lao nhanh Xe băng qua những chặng đường cheo leo đèo dốc, gió thả sức ùa vào buông lái làm mắt cay xè Những người chiến sĩ ấy có được cảm giác như bay lên, hòa mình với thiên nhiên rồi được tự do giao cảm, chiêm ngưỡng thế giới bên ngoài
- Ý thơ “gió vào xoa mắt đắng là cách viết tài hoa với nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác Đây là một hình ảnh đầy thi vị Trong thực tế, xe không kính, mọi thứ có thể
va đập, quăng quật vào buồng lái nhưng người lính cảm nhận hiện thực đó bằng một tâm hồn trẻ trung, lãng mạn Các anh cảm nhận gió như xoa dịu đôi “mắt đắng” vì thiếu ngủ Vậy là, với người lính Trường Sơn, gió táp không còn là khó khăn trở ngại, gió đã trở
Trang 25thành người bạn đồng hành, sẻ chia cùng họ Cách viết nghệ thuật ấy đã thể hiện tinh thần vững vàng, sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gian khổ của người lính trẻ
- Con đường chiến lược phía trước là “con đường chạy thẳng vào tim”:
+ Đó không chỉ là con đường mang nét nghĩa thực - con đường Trường Sơn huyền thoại, nơi những chiếc xe đang lăn bánh Hình ảnh này còn mang nét nghĩa ẩn dụ Đó là con đường chiến đấu vì chính nghĩa, vì độc lập tự do của dân tộc; con đường của ý chí, niềm tin, khát vọng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước - con đường cách mạng luôn ở trong tim mỗi người chiến
- Nghệ thuật nói quá trong câu thơ “Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” còn làm nổi bật tốc độ phi thường của chiếc xe quân sự đang vút nhanh trên những ngả đường mặt trận, vượt qua bom đạn để bắt nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc
-> Những câu thơ tả thực đến từng chi tiết cùng với sự kết hợp hài hòa giữa thanh bằng -
trắc, điệp ngữ “nhìn thấy” và nhịp thơ nhanh gợi ấn tượng về tiểu đội xe không kính nối
đuôi nhau hành quân ra chiến trường
* Qua khung của xe đã không còn kính chắn gió, người lính phải đối mặt với bao khó khăn, bất lợi khi gió bụi, cành cây đột ngột va đập như quăng ném vào buồng lái Nhưng với tâm hồn lãng mạn, trẻ trung, lạc quan, yêu đời, các anh đã biến khó khăn, trở ngại thành điệu thi vị, bay bổng Nhà thơ diễn tả chính xác cái cảm giác mạnh, đột ngột của người ngồi trong buồng lái, khiến người đọc có thể hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác ấy như chính mình đang ở trên chiếc xe không kính:
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái
- Hai câu thơ với hình ảnh thơ đẹp, lãng mạn bay bổng:
- Nghệ thuật liệt kê, so sánh, nói quá, điệp từ “như” được lặp lại
- Nhịp thở nhanh, dồn dập, giọng thơ sôi nổi
-> Tất cả đã thể hiện một niềm sảng khoái bất tận, Người lính trẻ mở rộng tâm hồn đón nhận cả thế giới thiên nhiên với gió, cánh chim chiều và cả ảnh sao đêm “như sa, như ùa” vào buồng lái
=> Những câu thơ cho ta thấy vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, kiểu bạc, lãng mạn, yêu đời và bản lĩnh cách mạng của những người lính trẻ nơi tuyến lửa Trường Sơn năm xưa
b Một vẻ đẹp nữa là nên bức chân dung tinh thần của người lính trong bài thơ chính là tinh thần lạc quan, sôi nổi, bất chấp khó khăn và nguy hiểm:
Khổ 3: Tiểu đội xe không kính hành quân trong gió bụi chiến trường
Không có kính ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
- Những câu thơ giản dị như lời nói thường ngày
- Giọng điệu thản nhiên, hóm hỉnh
- Cấu trúc: “không có ”, “ừ thì ”, được lặp đi lặp lại,
- Các từ ngữ tượng hình, tượng thanh: “phì phèo”, “ha ha”
-> Tiếng cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu gợi vẻ đẹp ngang tàng, sôi nổi, đậm chất lính, thể hiện thái độ bất chấp khó khăn gian khổ, coi thường hiểm nguy
- Trong thực tế, gió bụi Trường Sơn có thể gây ra bao khó khăn cho người chiến sĩ khi lái những chiếc xe không kính Nhưng người lính lái xe đã bình thường hóa cái không bình thường ấy, các anh vượt lên tất cả với tinh thần trách nhiệm cao, chấp nhận những gian khổ như một tất yếu
- Ta thấy hình ảnh người lính trẻ vừa mang nét giản dị, dày dạ, phong trần lại vừa có nét kiêu hùng, lãng mạn
- Người lính lái xe cũng là những chàng trai sôi nổi, vui nhộn, lạc quan Đằng sau những câu thơ lấp lánh ánh mặt tinh nghịch và tiếng cười đùa tếu táo – tiếng cười “ha ha” sảng
Trang 26khoái, tự hào
Đó là tiếng thơ, là khúc nhạc vui, tiếng cười của tuổi trẻ với tâm hồn lạc quan phơi phới
Khố 4: Tiểu đội xe không kính hành quân trong mưa:
Không có kính,ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay lái trăm cây số nữa Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi
- Lại một lần nữa, người đọc bắt gặp hình ảnh người lính lái xe trong cái vẻ ngang tàng, sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách
- Hoàn cảnh gian khổ cũng không làm nhụt ý chí của họ, không gì ngăn nổi những chiếc xe lăn bánh, không gì cản được trái tim người chiến sĩ hướng về tiền tuyến lớn
- Nhiệt tình của người lính cách mạng không còn là trừu tượng nữa mà được tính bằng
chặng đường cụ thể “lái trăm cây số nữa” Để vượt qua chặng đường dài trong mưa bom bão đạn, người chiến sĩ lái xe phải đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu, mất mát, hi sinh
Gian khổ, hiểm nguy là vậy nhưng các anh vẫn phơi phới niềm tin, tràn đầy nghị lực
- “Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” là một câu thơ khá đặc biệt Cả dòng thơ 7 tiếng mà
có đến 6 thanh bằng diễn tả sự lâng lâng, bay bổng, cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm trong
tâm hồn Hiện thực đường hành quân với mưa tuôn xối không làm các anh ngại ngần, chùn
bước Trái lại, trong gió mưa, trong thử thách, các anh càng dày dạn, vững vàng Đối với những người lính ấy, gian khổ khó khăn, mưa rừng ướt áo, mưa xối mưa tuôn chỉ là chuyện thường mà thôi Câu thơ không chỉ miêu tả, không chỉ là lời tự động viên, ẩn chứa trong câu thơ ấy là một tâm hồn yêu đời, lạc quan, một tính cách trẻ trung đậm chất lính, là bản lĩnh của những chàng trai tuổi mười tám đối mươi dũng cảm, can trường
=> Sự lặp lại cấu trúc các câu thơ “không có ừ thì ” và kết cấu phủ định “chưa cần rửa chưa cần thay ” ở cả hai khổ thơ 3 và 4 đã biểu hiện mạnh mẽ thái độ bất chấp khó khăn, gian khổ hiểm nguy của người lính lái xe Trường Sơn Phải vô cùng dũng cảm, giàu bản lĩnh, phải có sức mạnh tinh thần lớn lao thì các anh mới có thể nghĩ và nói như vậy giữa chiến trường
ác liệt
c Tình đồng chí đồng đội của những người lính lái xe không kính:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
*Tình đồng chí được thể hiện qua cái bắt tay trong phút giây gặp mặt
Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên tiểu đội xe không kính Những chiếc xe từ khắp mọi miền Tổ quốc về đây họp thành tiểu đội
Cái “bắt tay” thật đặc biệt “Bắt tay qua cửa kính, vỡ rồi”
-> Xe không kính lại trở thành điều kiện thuận lợi để các anh thể hiện tình cảm Cái bắt tay thể hiện niềm tin, truyền cho nhau sức mạnh, bù đắp tinh thần cho những thiếu thốn về vật chất mà họ phải chịu đựng Cái bắt tay thể hiện sự trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch của người lính trẻ thời chống Mĩ Đó cách họ chào hỏi, động viên nhau, truyền cho nhau tình cảm, niềm tin, ý chí và sức mạnh Đó là cái bắt tay của tinh thần đoàn kết, gắn bó keo sơn bền chặt; cái bắt tay của tình cảm nồng ấm, thắm tình đồng đội
- Có sự gặp gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí”; “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn
-> Đó là quá trình trưởng thành của thơ ca, của quân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc
- Những câu thơ giàu chất liệu hiện thực, hình ảnh thơ chân thực, giản dị mà sâu sắc chứa đựng nhiều ý nghĩa Như vậy, đội ngũ trùng trùng điệp điệp những người lính Trường Sơn
ra trận đã là đồng chí, là bạn bè của nhau
Trang 27*Tình đồng chí, đồng đội còn được thể hiện một cách ấm áp, giản dị qua những giờ phút sinh hoạt của họ:
Bếp Hoàng cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi lại đi trời xanh thêm
+ Qua bữa cơm thời chiến:
+ Hình ảnh Bếp Hoàng cầm: một loại bếp dã chiến, mang tên người anh hùng nuôi quân Hoàng cầm, bếp đặt dưới lòng đất khi đun khói tản ra, địch không phát hiện được, đã thể hiện chân thực hiện thực cuộc chiến và sự am hiểu đời sống chiến trường của nhà thơ
+ Cách định nghĩa về gia đình thật lính, thật tếu hóm mà thật chân tình sâu sắc: Chung bát
đĩa nghĩa là gia đình đấy Đó là gia đình của những người lính cùng chung nhiệm vụ, lí
tưởng chiến đấu
+ Từ chung” được dùng rất gợi, nó gợi ra tình cảm gắn bó thân thương giữa những người lính Chỉ cần “chung bát đũa”, cùng nhau ăn một bữa cơm tại một trạm dừng chân dã chiến dọc đường hành quân, họ đã trở nên thân thiết như ruột thịt Như vậy, với người lính lái xe, tình đồng chí đồng đội cũng là tình thân, giống như tình cảm ruột thịt gắn bó bền chặt, tự nhiên, chân thành Và thực sự, họ đã trở thành những thành viên của đại gia đình người lính Trường Sơn
+ Qua những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng “chông chênh”:
- Chông chênh” là một từ láy tượng hình, giàu giá trị biểu cảm, Từ “chông chênh” gọi tả tư thể không thăng bằng, không chắc chắn, không vững chãi, gợi những nguy hiểm mà người lính có thể gặp phải trên đường ra tiền tuyến -> Đây là một nét vẽ hiện thực qua đó Phạm Tiến Duật tái hiện cuộc đời gian khổ của người lính lái xe Trường Sơn Trong điều kiện chiến tranh, giữa mưa bom bão đạn, các anh phải thay nhau ngủ những giấc ngủ chập chờn ngay trên chiếc võng mắc ở thùng xe Hay đó là khoảnh khắc chợp mắt ngắn ngủi trên võng mạc ở trạm dừng chân dã chiến, dưới tán cây rừng Ngay cả lúc nghỉ ngơi, người lính vẫn cảm nhận thấy nhịp lắc lư, chông chênh như xe đang lăn bánh
-> Song từ láy “chông chênh” còn gợi tả sự trẻ trung, tinh nghịch và bản lĩnh của người lính lái xe, Dù cho chiến tranh gian khổ, dù con đường có gập ghềnh hố bom, dù giấc ngủ
có chông chênh chập chờn nhưng tinh thần người lính luôn vững vàng, kiên định, những chiếc xe vận tải vẫn lăn bánh trên khắp các ngả đường mặt trận bởi tình đồng chí đã là điểm tựa tinh thần cho họ
- Điệp ngữ: “lại đi, lại đi”, gợi vòng quay liên tục của bánh xe lăn, cho ta thấy mặc dù hiện thực gian khổ nhưng các anh không hề ngại ngần chùn bước,
- Câu thơ “Lại đi, lại đi trời xanh thêm” với nhịp 2/2/3, giọng thơ nhanh, dồn dập, sôi nổi, thể hiện thái độ hăm hở, quyết tâm của người lính lái xe, tất cả vì “trời xanh” phía trước -
“Trời xanh”:
+ Nghĩa thực: qua khoảng rừng âm u, bầu trời xanh sẽ hiện ra, bên cạnh đó
+ Nghĩa ẩn dụ: màu xanh là màu của hòa bình, niềm tin, khát vọng, bởi vậy “trời xanh là
ẩn dụ cho hòa bình và cuộc sống tươi đẹp - đó cũng là cái đích cuối cùng của cuộc kháng chiến Câu thơ thể hiện niên lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng
+ Điệp ngữ “lại đi” và hình ảnh “trời xanh thêm” tạo âm hưởng thanh thản, nhẹ nhàng, thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng của người lính về sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống
Mỹ Câu thơ trong vắt như tâm hồn người chiến sĩ, như khát vọng, tình yêu họ gửi lại cho cuộc đời
=> Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại
Trang 28d Khổ thơ cuối đã hoàn thiện vẻ đẹp của người lính, đó là lòng yêu nước, ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam:
Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Hai câu đầu: Hiện thực chiến trường
- Hai câu thơ với giọng điệu sôi nổi, ngang tàng, giàu tính khẩu ngữ gợi ra dồn dập những
mất mát, khó khăn Trải qua bom đạn chiến trường, những chiếc xe không chỉ “không có
kính” mà còn “không có đèn”, “không có mui”; thùng xe thì xước, méo mó, Xe đâu chỉ vỡ
vì miền Nam phía trước”, vì cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, vì tiếng gọi của miền Nam – một nửa Tổ quốc yêu thương
- Câu tứ đối lập: đối lập với tất cả những cái “không có” về vật chất, phương tiện là một cái “có” về tinh thần Câu thơ cuối bài là sự lí giải đầy bất ngờ về động lực mạnh mẽ sâu
xa tạo nên sức mạnh phi thường của những chiếc xe không kính, đó là “Chỉ cần trong xe có một trái tim”, Câu thơ đối lập giữa vẻ bề ngoài và cái bên trong xe, giữa tinh thần và vật chất, giữa cái không và cái có Các từ ngữ tương ứng “vẫn chạy, “chỉ cần” “có” đã làm cho giọng thơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ hào hùng, khẳng định được quyết tâm chiến đấu và chi khí anh hùng của người lính không có bom đạn nào của quân thủ có thể lay chuyển được Bởi vì xe chạy bằng trái tim, một trái tim cầm lái Hình ảnh “trái tim” là một hình ảnh hoán
dụ, ẩn dụ có ý nghĩa sâu sắc, đó là trái tim người lính, trái tim nồng nàn yêu nước, là trái tim với ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, niềm lạc quan và niềm tin vững chắc vào sự nghiệp thống nhất đất nước Chiếc xe có thể thiếu nhiều thứ nhưng không thể thiếu một trái tim can trường, không thể thiếu một quyết tâm chiến đấu, một khát vọng giải phóng miền Nam Một cái “có” ấy đủ sức đượng đầu với bao nhiêu cái “không” kia Trong gian khổ hiểm nguy người lính vẫn hiên ngang chắc tay lái đưa xe ra tiền tuyến Hai câu kết bài có thể được coi là câu thơ hay nhất, nó bật sáng chủ đề, khẳng định chân lý vĩnh hằng Cái làm nên chiến thắng không phải vũ khí hay bom đạn mà là những con người nồng nàn yêu
nước, dũng cảm và có niềm tin chiến thắng
Trang 29Bài 3 - Văn bản: "ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ" - Huy Cận I- Tìm hiểu chung:
1.Tác giả:
- Huy Cận (1919-2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê: tỉnh Hà Tĩnh
- Là nhà thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng (1940)
- Là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945:
+ Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông giàu chất triết lí, thấm thía bao nỗi buồn, tràn ngập cái sầu nhân thế
+ Sau Cách mạng, thơ Huy Cận dạt dào niềm vui, là bài ca vui về cuộc đời, là bài thơ yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống
- 1996, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Hai khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống
- Bốn khổ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp
- Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển
II- Đọc hiểu văn bản
1 Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống (Khúc hát ra khơi):
Khổ 1:
Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Ca hát căng buồm cùng gió khơi.”
+ Hai câu thơ đầu tả cảnh hoàng hôn trên biển, cũng là thời điểm đoàn thuyền đánh cá ra khơi:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
-> Phép tu từ so sánh: mặt trời được ví với hòn lửa đem đến cho bức tranh hoàng hôn một
vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ, và ấm áp chứ không hiu hắt, ảm đạm như trong thơ cổ
- Phép nhân hóa, ẩn dụ “Sóng đã cài then đêm sập cửa”
-> Người đọc cảm nhận thiên nhiên, vũ trụ, biển cả như đi vào trạng thái tĩnh lặng, nghỉ ngơi, thư giãn Vũ trụ giờ đây như một ngôi nhà khổng lồ Những lượn sóng dài như chiếc then cài, còn màn đêm đang buông xuống là cánh cửa
-> Hình ảnh thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu mến cuộc đời của nhà thơ Huy Cận
+ Thiên nhiên vũ trụ là cái phông, cái nền cho con người xuất hiện:
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
- Hình ảnh, nhạc điệu trong câu thơ diễn tả khí thế khỏe khoắn, phấn chấn của những người lao động khẩn trương làm việc bất kể ngày đêm
- Trong buổi ra khơi đó, không phải từng chiếc thuyền đơn lẻ mà là cả một “đoàn thuyền đánh cá” Đó là sức mạnh mới của cuộc đời đổi thay - sức mạnh tập thể
- Đoàn thuyền lại ra khơi, tuần tự, nhịp nhàng như cái nhịp sống không bao giờ ngừng nghỉ Chữ “lại” trong câu thơ đã diễn tả điều đó, cho ta hiểu đây là công việc, là hoạt động
Trang 30hằng ngày, thường xuyên, trở thành một nếp sống quen thuộc của những người ngư dân vùng biển
- “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” là hình ảnh ẩn dụ mang tính chất khoa trương Tiếng hát khỏe khoắn tiếp sức cho gió làm căng cánh buồm Tiếng hát ấy, làm nổi bật khí thể hồ hởi của người lao động trong buổi xuất quân chinh phục biển cả
Khổ 2:
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cơ ơi!”
- Khổ hai của bài thơ là tiếng hát của người dân chài lúc ra khơi Đó là tiếng hát ngợi ca sự
giàu đẹp của biển cả, thể hiện niềm vui lao động phơi phới và ước mơ đánh bắt được nhiều
cá tôm
- Nhà thơ đã nhắc đến tên loài cá bạc má, cá thu đồng thời có sự liên tưởng, so sánh thú vị
“Cá thu biển đông như đoàn thoi” Sở dĩ Huy Cận So sánh như vậy là vì loài cá thu có thân dẹt, hình thoi Hơn nữa, cá bơi thành từng đàn, vây cá phản chiếu ánh trăng tạo nên muôn luồng sáng lấp lánh Trong trí tưởng tượng bay bổng, nhà thơ thấy như cá đang bơi lội dọc ngang trên biển tựa đoàn thoi đang dệt lên tấm thảm biển đêm tráng lệ bằng muôn ngàn sợi ánh sáng lấp lánh,
- Người dân chài còn cất cao tiếng hát gọi mời “Đến dệt lưới ta đoàn cả ơi!” Có thể thấy
ước mở giản dị, đánh bắt được nhiều cá tôm, được thể hiện bằng giọng điệu say sưa của lời hát, những hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ đã khẳng định vẻ đẹp tâm hồn, tư thế của người lao động trong thời đại mới
2 Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp:
Khố 3:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng”
- Nổi bật lên là hình ảnh đoàn thuyền cũng tức là tư thế của con người giữa bao la trời biển
Cả vũ trụ với biển trời, gió trăng đều quây quần xung quanh đoàn thuyền và con người Gió làm lái, trăng làm buồm, con thuyền lướt đi giữa biển và trời như nối liền “mây cao với biển bằng” Như vậy, con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ, khổng lồ hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ
-> Có thể nói, hai câu đầu của khổ thơ này là một bức tranh thật đặc sắc và tráng lệ Bức tranh ấy thâu tóm được cả không gian vũ trụ vào trong một hình ảnh thơ, đồng thời nâng tầm vóc con người và đoàn thuyền lên kích thước sánh ngang tầm vũ trụ
- Ở hai câu sau, con người không chỉ sánh ngang với thiên nhiên vũ trụ mà còn làm chủ nó Đoàn thuyền lướt như bay trên mặt biển đến ngư trường “dò bụng biển” Ngư dân “dàn đan thế trận lưới vây giăng Cuộc đánh cá thực sự là một trận đánh mà ngư dân là người chiến
sĩ, con thuyền và mái chèo, lưới, đèn trở thành vũ khí của họ Chữ “lướt” đặc tả đoàn thuyền ra khơi với vận tốc phi thường Thiên nhiên đã góp sức cùng con người trên hành trình lao động chinh phục biển cả,
- Thủ pháp liệt kê kết hợp với sự phối sắc tài tình qua việc sử dụng các tính từ chỉ màu sắc
“đen hồng”, “vàng chóe” , đã tạo nên một bức tranh sơn mài nhiều màu sắc, ánh sáng,
Trang 31lung linh huyền ảo như trong câu chuyện cổ tích Mỗi loài cá là một kiểu dáng, một màu
sắc: “Cá nhu cá chim cùng cá đé/ Cá song lấp lánh đuốc đen hồng” làm nên sự giàu đẹp
của biển cả quê hương
- Trong câu thơ “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”, tác giả sử dụng nghệ thuật so sánh, ẩn
dụ Đây là một hình ảnh đẹp, một nét vẽ tài hoa được tạo nên bằng sự quan sát và nhạy cảm của tác giả Con cá song thân dày và dài, trên thân có những chấm tròn màu đen, màu hồng gợi ra hình ảnh một cây đuốc lấp lánh trên mặt biển như đêm hội rước đuốc-> gợi một cảnh tượng lộng lẫy và kì thú trên biển đêm
- Ở câu thơ “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” có nghệ thuật nhân hóa tài tình Tác giả vừa làm cho bức tranh thêm sống động với động tác quẫy đuôi của con cá lại vừa làm ánh lên màu vàng sóng sánh, lấp loáng của trăng phản chiếu trên mặt nước, hòa hợp với sắc đỏ
và đen trong câu thơ thứ ba để hoàn thành một bức tranh với những họa sắc lung linh như một bức tranh sơn mài rực rỡ, lộng lẫy
* Cảnh đẹp không chỉ ở màu sắc, ánh sáng, mà còn ở âm thanh Nhìn bầy cá bơi lội, nhà thơ lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rầm:
"Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long"
+Bằng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nhân hóa, biển cả như một sinh thể sống động Tiếng sóng
vỗ dạt dào dâng cao hạ thấp là nhịp thở trong đêm của biến và hàng ngàn ánh sao đêm lấp lánh in vào đầu ngọn sóng vỗ vào bờ Cách viết “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” thật độc đáo, tài tình làm sao?
*Có thể nói, bằng tâm hồn hết sức tinh tế, tác giả đã cảm nhận được hơi thở của thiên nhiên, vũ trụ Chính không khí say sưa xây dựng đất nước của những năm đầu khôi phục
và phát triển kinh tế là cơ sở hiện thực của những hình ảnh lãng mạn trên
Khổ 5:
Bút pháp lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú của tác giả đã sáng tạo tiên những hình ảnh đẹp khiến công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
- Lần thứ ba tiếng hát ngân vang trên biển cả, tiếng hát ngợi ca công cuộc lao động hăng say của ngư dân Tiếng gõ mạn thuyền xua cá vào lưới hòa cùng với sóng biển, vầng trăng
Sở xuống mặt biển, muôn ngàn ánh vàng tan ra theo làn sóng vỗ vào mạn thuyền “Gõ tuyển đã có nhịp trăng cao” Công việc đánh cá vốn nặng nhọc nhằn đã trở thành bài ca lao động tràn đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên, biển trời
- Biển sâu nặng ân tình Biển hào phóng ban tặng cho con người nguồn hải sản đồi dào Biển như lòng mẹ nuôi sống dân chài từ bao đời nay, biển là nguồn sống So sánh biển với lòng mẹ, nhà thơ đã thể hiện sự gắn bó sâu sắc, niềm tự hào và lòng biết ơn của người dân chài với biển cả quê hướng
Khổ 6:
Là những thu vén cuối cùng sau một đêm lao động trên biển của những ngư dân:
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
- Một đêm trôi nhanh trong nhịp điệu lao động hào hùng, hăng say, khẩn trương, gấp gáp Trên bầu trời, sao đã thưa và mờ, những cánh tay rắn chắc của ngư dân đang kéo lưới, “kéo xoăn tay” là một hình ảnh đặc tả công việc kéo lưới của ngư dân đang kéo rất mạnh mẽ, khỏe và đẹp Biết bao nhiêu là cá mắc vào lưới, trĩu nặng đôi tay “Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”
Trang 32- Hình ảnh “chùm cá nặng” là một ẩn dụ độc đáo có ý nghĩa gợi tả cảnh được mùa cá - đó
là thành quả của người lao động Khoang thuyền đầy ắp cá, màu bạc của vảy cá, màu vàng của đuôi cá, ánh hồng lóe rạng đông Có thể thấy nghệ thuật sử dụng màu sắc của tác giả rất tải tình, sắc cá dưới ánh trăng, sắc cá dưới ánh rạng đông đều được miêu tả tuyệt đẹp, đầy ấn tượng
Có thể nói, cảnh lao động đánh cá trên biển như bức tranh sơn mài rực rỡ Người kéo lưới là trung tâm của cảnh được khắc họa rất độc đáo với thân hình gân guốc, chắc khỏe cùng thành quả thu về “vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông” Màu hồng của bình minh làm ấm sáng bức tranh lao động Thiên nhiên và con người cùng nhịp nhàng trong sự vận hành của vũ trụ
3.Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển, (Khúc hát
trở về)
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng tuôn dặm phơi
- Câu đầu của khổ thơ lặp lại gần như nguyên vẹn câu cuối của khổ thứ nhất, chỉ thay có một từ (từ “với”) đem đến kết cấu đầu - cuối tương ứng, tạo sự hài hòa cân đối Cấu trúc lặp lại ấy trở thành điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu đẹp quê hương và khắc họa đậm nét vẻ đẹp khỏe khoắn cùng niềm vui phấn khởi của người ngư dân trong khúc ca khải hoàn
- Đoàn thuyền và mặt trời được nhân hóa: “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” Đoàn thuyền lướt sóng như bay về bến, hùng dũng chạy đua với thiên nhiên bằng tốc độ phi thường
- Nghệ thuật nhân hóa đã nâng tầm vóc của con người và đoàn thuyền sánh ngang với tầm vóc vũ trụ Cảnh tượng tráng lệ, huy hoàng, nhịp điệu của cuộc sống lao động khẩn trương
vô cùng Nhà thơ ca ngợi tầm vóc của con người lao động chinh phục biển khơi khi họ được làm chủ cuộc đời mới
- “Mặt trời đội biển nhô màu mới”, tỏa ánh sáng chan hòa, một màu mới bao trùm biển khơi Tác giả nhân hóa mặt trời thiên nhiên vĩ đại như đang đội cả biển khơi mênh mông bao la
- “Màu mới” trong câu thơ này là ánh bình minh rạng rỡ báo hiệu một ngày mới bắt đầu, ngày mới với ánh hồng rạng rỡ tinh khôi, với niềm vui thắng lợi của người dân chài sau công cuộc chinh phục biển cả “Màu mới” còn mang ý nghĩa ẩn dụ, là sự bắt đầu của cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc khi con người được làm chủ cuộc sống mới, làm chủ biển trời quê hương
- Câu thơ “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” là câu thơ hay nhất trong bút pháp lãng mạn đặc sắc của tác giả Hình ảnh hoán dụ “mắt cá huy hoàng” là hình ảnh giàu ý nghĩa, miêu
tả muôn triệu mắt cá li ti được phản chiếu ánh rạng đông càng trở nên huy hoàng - vẻ đẹp rực rỡ, lấp lánh của những khoang thuyền đầy ắp cá dưới ánh ban mai như trải ra muôn dặm Hình ảnh ấy còn gián tiếp thể hiện niềm vui của người lao động Câu thơ vừa tả cảnh biển tráng lệ lúc rạng đông vừa tả cảnh được mùa cá thật đẹp
-> Có thể nói lao động là niềm vui sáng tạo, biển cả quê hương giàu đẹp khi người lao động làm chủ cuộc đời thì mới có ấm no hạnh phúc
Trang 33Bài 4 - Văn bản: "BẾP LỬA" - Bằng Việt
I - Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Bằng Việt, tên khai sinh Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941
- Quê: Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội)
- Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ
- Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc, đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ
2 Tác phẩm:
a Hoàn cảnh sáng tác
- Sáng tác năm 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành Luật tại nước Liên Xô (cũ) - In trong tập “Hương cây - bếp lửa” -1968 tập thơ đầu tay của Băng Việt in chung với Lưu Quang Vũ
b Mạch cải xác:
- Mạch cảm xúc: Đi từ hồi tưởng về quá khứ đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm Từ đó diễn tả niềm kính yêu vô hạn và những suy ngẫm sâu sắc của người cháu về bà và bếp lửa quê hương
- Bố cục bài thơ đi theo mạch cảm xúc, hồi tưởng => hiện tại, kỉ niệm => suy ngẫm Lựa chọn bố cục như thế nào là thích hợp với việc khắc họa kỉ niệm tuổi thơ Bố cục đó còn cho thấy hình ảnh của bà khắc sâu vào tâm khảm của người cháu, thành chỗ dựa tinh thần
để người cháu trưởng thành
c Bố cục chia 4 phần:
+ Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà
+ Ba khổ thơ tiếp: (Tiếp đến “niềm tin dai dẳng”): Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà
+ Khổ tiếp: (Tiếp đến “bếp lửa”): Suy ngẫm của người cháu về bà, về hình ảnh bếp lửa + Khổ cuối: Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết
II- Đọc-hiểu văn bản
1.Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
- Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định hình ảnh “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ
- “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm ấp iu nồng đượm”
+ Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng, chập chờn
Trang 34của ngọn lửa trong kí ức
+ Từ láy “ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể
- Trong lòng người cháu ở nơi xa trào dâng một cảm xúc thương bà mãnh liệt, thương người bà lặng lẽ, âm thầm trải “biết mấy nắng mưa”
- Rất tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy tình yêu thương: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản
dị Đằng sau sự giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà
+Chữ “thương” đi với “bà” là hai thanh bằng đi liền nhau, tạo ra âm vang như ngân dài xao xuyến, như nỗi nhớ trải dài của người cháu dành cho bà
+Cụm từ “biết mấy nắng mưa” vừa gợi sự trôi chảy của dòng thời gian, vừa là hình ảnh ẩn
dụ gợi nghĩ về cuộc đời khó nhọc, vất vả, lo toan của bà
=>Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà
2 Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà:
a Kỉ niệm tuổi thơ bên cạnh bà là cuộc sống nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
- Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 Hơn hai triệu người dân Việt Nam chết đói vì chính sách cai trị dã man của giặc Nhật, giặc Pháp Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”
- Hình ảnh “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” cũng phần nào diễn tả được hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình tác giả trong cái khốn khó chung của những người dân lao động
- Cụm từ “Đối mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy” - những chi tiết thơ đậm chất hiện thực
đã tái hiện lại hình ảnh xóm làng xơ xác, tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh Không trải qua cái đói quay, đói quắt thì Bằng Việt chẳng thể viết được những câu thơ chân thực đến thế!
- Nhưng ấn tượng nhất đối với cháu trong những năm đói khổ là mùi khói bếp của bà - mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay” Cái cay vì khói bếp của cậu bé bốn tuổi và cái cay bởi xúc động của người cháu đã trưởng thành khi nhớ
về bà hòa quyện Quá khứ và hiện tại đồng hiện trên những dòng thơ Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có sức ám ảnh, làm lay động cả thể chất và tâm hồn cháu
b Nhớ về những kỉ niệm là nhớ về bếp lửa, nhớ về tình bà trong suốt tám năm bên bà:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
- Kháng chiến bùng nổ, “Mẹ cùng cha công tác bận không về, bà vừa là cha, lại vừa là mẹ:
Trang 35“bà bảo cháu nghe - Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học” Chính bà là người đã nuôi dưỡng, dạy dỗ cháu nên người Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế để nhắc nhở cháu về truyền thống gia đình, về những đau thương mất mát và cả những chiến công của dân tộc
Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên
+ Các từ “bà” và “cháu” được điệp lại bốn lần gợi tả tình bà cháu quấn quýt, yêu thương +Nghệ thuật liệt kê, điệp ngữ, các cụm từ “bà hay kể chuyện”, “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” vừa diễn tả một cách sâu sắc tình thương bao la, sự chăm chút hết mình của người
bà dành cho cháu, vừa thể hiện được lòng biết ơn của cháu đối với bà
+Tình yêu và sự kính trọng là của tác giả được thể hiện thật chân thành, sâu sắc: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
- Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc dành cho cháu Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm tuổi thơ - kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về:
Tu Hú ơi sao mà tha thiết thế!
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
-Tiếng chim tu hú gợi nhắc nhà thơ về những kỉ niệm ấu thơ được sống bên bà Tiếng chim
tu hú - âm thanh quen thuộc của làng quê Việt Nam mỗi độ hè về, báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cây
+Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy
những hoài niệm, nhớ mong Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà/ Kêu chi hoài
trên những cánh đồng xa?” mới thấm thía làm sao, xót xa làm sao? Nó diễn tả nỗi lòng da
diết của tác giả khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về bà => Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò chuyện với bà trong tâm tưởng, cháu trò chuyện với chim tu hú trong tình yêu thương Và tất cả đều là sự bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu
=>Hình ảnh của bà, hình ảnh của bếp lửa và âm thanh của chim tu hú vang vọng trong một không gian mênh mông khiến cả bài thơ nhuốm phủ sắc bàng bạc của không gian hoài niệm, của tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích
c Và đọng lại trong cháu là hình ảnh bà nghị lực, kiên cường, giàu đức hi sinh, giàu tình yêu thương con cháu
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về làm lại
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
- Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” -> Đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh Trên cái nền của sự tàn phá hủy diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu
-Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn Bà mạnh mẽ, kiên cường trước hiện thực ác liệt
-Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm người sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:
Mày có viết thư chở kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên
-Một mình bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vũng chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc
d Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chữa niềm tin dai dẳng
- Câu thơ “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen”
Trang 36=> Điệp ngữ, phó từ “lại” => sự tảo tần, cần mẫn, bền bỉ của bà Bà vẫn ngày ngày nhóm lên bếp lửa của đời thực Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể được nhen bằng nguyên liệu củi rơm, tác giả chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trong lòng bà Như thế, bếp lửa không chỉ được nhen lên bằng nhiên liệu củi rơm mà còn được nhen lên bằng nhiên liệu của sức sống, lòng yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt -Điệp ngữ “một ngọn lửa”, nghệ thuật ẩn dụ=> ý thơ thêm sâu sắc cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào: ngọn lửa ấy đã cháy lên trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời, soi sáng tâm hồn người cháu.Ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương, niềm tin
mà bà truyền cho cháu
=> Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa - ngọn lửa của
sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp
3 Suy ngẫm của người cháu về bà và hình ảnh bếp lửa:
Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về hình ảnh bếp lửa:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
a Suy ngẫm về cuộc đời bà:
- “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa” Cụm từ “biết mấy nắng mưa”, từ láy “lận đận” vừa gợi sự trôi chảy của dòng thời gian, vừa là hình ảnh ẩn dụ gợi nghĩ về cuộc đời khó nhọc, vất vả, lo toan của bà
->Bà mang vẻ đẹp muôn thuở của người phụ nữ Việt Nam cả một đời long đong, vất vả, tần tảo, nhẫn nại, hi sinh vì con vì cháu
- Câu thơ thứ hai với cách tính thời gian khái quát từ quá khứ đến hiện tại thật độc đáo và giàu ý nghĩa: thời gian có thể trôi, mọi vật có thể thay đổi, duy chỉ có sự bất biến, đó là tình
bà ấm áp, tình bà không phôi phai, thể hiện trong thói quen “dậy sớm”, trong công việc
“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”
-> Chính những suy ngẫm, những chiêm nghiệm ấy đã giúp Bằng Việt nhận ra sự gắn bó bền vững giữa bếp lửa và bà, nhận ra bà là chỗ dựa, là điểm tựa, là mái ấm tình thương của con cháu trong mấy chục năm qua
- Điệp từ “nhóm” trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp, nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể:
+ “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm” -> để sưởi ấm cho bà và cháu qua cái lạnh buốt của sương sớm
+ Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”->Bà vừa nhóm bếp luộc khoai, sắn cho cháu
ăn đỡ đói lòng mà như đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của khoai sắn, của tình yêu thương vô hạn của bà
+ Đến câu thơ tiếp theo “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” ->thì lòng bà mở rộng hơn cùng với “nồi xôi gạo mới” mùa gặt là tình làng xóm đoàn kết, gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi + Đến câu thơ “Nhóm dạy cả những tâm tình tuổi nhỏ”-> thì hoàn toàn mang ý nghĩa biểu tượng, bà đã khơi dậy, thắp lên trong lòng cháu nhưng khát vọng, ước mơ của tuổi thơ -> Điệp từ nhóm”: nhấn mạnh, khẳng định giá trị lớn lao của công việc nhóm lửa mà bà đã làm và ý nghĩa lan tỏa của công việc đó Từ công việc nhóm bếp giản dị, bà đã khơi dậy một thế giới tình cảm đẹp đẽ trong cháu
=> Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp
b Suy gẫm về hình ảnh bếp Lửa”: “Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”
Trang 37- Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa Trong bài thơ, có tới mười lần tác giả nhí lửa
Và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà
- Câu cảm thán “Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!” chứa đựng nhiều cảm xúc và suy ngẫm:
- Bếp lửa thân thuộc trong mỗi gia đình đã trở thành “kỳ lạ”, “thiêng liêng”:
+ “Kì lạ” - vì bếp lửa được, bà nhen lên không phải chỉ bằng nhiên liệu ở bên ngoài mà còn chính là được nhen nhóm lên từ ngọn lửa của lòng bà - ngọn lửa của sức sống, tình yêu thương, niềm tin
+ “Thiêng liêng” - vì bếp lửa luôn hiện diện cùng hình ảnh người bà - người phụ nữ Việt Nam với vẻ đẹp tảo tần, nhẫn nại và đầy yêu thương, bếp lửa đã là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bà chăm chút, bếp lửa gắn với những khó khăn gian khổ đời bà; bếp lửa thân thuộc bình dị là hình ảnh của gia đình, quê hương, đất nước trong lòng người cháu nơi xa
- Bếp lửa kì lạ, thiêng liêng có sức tỏa sáng, sưởi ấm và nâng đỡ tâm hồn cháu trong suốt cuộc đời
4, Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, Niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
- NT: Dấu chấm giữa dòng thơ, liệt kê=> khép lại dòng hồi tưởng, diễn tả cảm xúc nghẹn ngào, mở ra cảm xúc của hiện tại
- Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay cao, bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả” Tuy thế, cháu vẫn khôn nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương, nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời
- Câu hỏi tu từ và dấu chấm lửng cuối bài thơ: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? ”
thể hiện nỗi nhớ khắc khoải, thường trực, đau đáu của cháu về bà - nhớ về bà chính là nhớ
về quê hương, cội nguồn, nói lên tình cảm kính trọng, biết ơn và nỗi nhớ da diết của cháu
=> Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha
mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất
Trang 38Bài 5 - Văn bản “ÁNH TRĂNG” - Nguyễn Duy
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả:
- Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa
- Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu
- Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam
- Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
2 Tác phẩm:
a Hoàn cảnh sáng tác:
- Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978
- Ba năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất
- Khi đó nhà thơ đang sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh - nơi đô thị có cuộc sống tiện nghi hiện đại
- In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy - tập thơ đạt giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984
b Bố cục: 3 phần:
- Hai khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ
- Hai khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại
- Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng
c Mạch cảm xúc:
Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người Theo dòng tự sự ấy mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái "giật mình" cuối bài thơ
- Ánh trăng: là phần ánh sáng thuần khiết, đẹp đẽ, trong trẻo nhất của vầng trăng
- Ánh trăng sáng soi chiếu vào góc tối sâu thẳm trong tâm hồn để con người tự nhận thức bản thân, “giật mình” thức tỉnh, từ đó hoàn thiện nhân cách
- Dưới ánh sáng của trăng, thiên nhiên trở nên tươi đẹp và thơ mộng, tâm hồn con người cũng được thanh lọc trở nên hoàn hảo hơn
=>Vì vậy, đặt tên “Ánh trăng” mới thể hiện rõ chủ đề bài thơ gợi nhắc người đọc thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ
II Đọc - hiểu văn bản:
1 Vầng trăng trong quá khứ:
-> Điệp từ “với” được lặp lại ba lần càng tô đậm thêm sự gắn bó chan hòa của con người với thiên nhiên, với những tươi đẹp của tuổi thơ
- “Hồi chiến tranh ở rừng”- những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh, “vầng trăng thành tri kỉ”
-> Nghệ thuật nhân hóa -> trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng chia
sẻ những vui buồn trong chiến trận với người lính - nhà thơ Trăng ở bên, bầu bạn, cùng trải qua bao gian khổ của cuộc sống chiến đấu, cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ; cùng hân hoan trong niềm vui thắng trận, cùng xao xuyến, bồn chồn, khắc khoải mỗi khi người lính nhớ nhà, nhớ quê…
“Trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ”
-Phép liên tưởng đầy tính nghệ thuật “trần trụi với thiên nhiên”
Trang 39So sánh độc đáo “hồn thiên như cây cỏ” -> cho ta thấy rõ hơn vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng Đó cũng chính là hình ảnh con người lúc bấy giờ: vô tư, hồn nhiên, trong sáng
-> Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành, cả trong hạnh phúc và gian lao
- Hình ảnh “Vầng trăng”là h/ả ẩn dụ ->Trăng là vẻ đẹp của đất nước bình dị, hiền hậu; của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ mộng Trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ nghĩa tình, là người bạn tri âm tri kỉ Với sự gắn bó tình nghĩa ấy, người lính đã tâm niệm
“không bao giờ quên”
- Trong mạch hồi tưởng đều đặn, từ “ngỡ” ở đầu câu thơ như báo trước một tình huống, một sự biến chuyển bất ngờ trong câu chuyện giữa con người và vầng trăng Vì ngỡ là nghĩ như vậy nhưng không phải vậy
2 Vầng trăng trong hiện tại:
Khổ thơ 3
- Hoàn cảnh sống thay đổi “Từ hồi về thành phố” -> Đất nước hòa bình Con người xa rời cuộc sống giản dị của quá khứ, được sống sung túc trong “ánh điện cửa gương”- cách nói hoán dụ chỉ cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên
-> “Vầng trăng đi qua ngõ/như người dưng qua đường”:
+ Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó
+ Biện pháp nhân hóa, so sánh -> “Vầng trăng tình nghĩa” trở thành “người dưng qua đường” -> con người đã quên trăng, hờ hững, lạnh nhạt, dửng dưng đến vô tình Vầng trăng giờ đây bỗng trở thành người xa lạ, chẳng còn ai nhớ, chẳng cũng ai hay biết
=> Rõ ràng, khi thay đổi hoàn cảnh, con người có thể dễ dàng quên đi quá khứ, có thể thay đổi về tình cảm Nói chuyện quên nhớ ấy, nhà thơ đã phản ánh một sự thực trong xã hội thời hiện đại
+ Khổ thơ thứ 4 là một tình huống bất ngờ xảy ra làm chuyển mạch cảm nghĩ của nhân
vật trữ tình
Thình lình đèn điện tắt phòng buyn- đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn
+ Bốn câu thơ với hai từ láy “thình lình, đột ngột” được đảo trật tự, tạo nên nhịp thở nhanh, nhấn mạnh sự việc bất thường: đèn điện tắt, phòng tối om
+ Hành động “vội bật tung cửa sổ”, tìm nguồn sáng là hành động bản năng, là phản xạ tự nhiên - khi căn phòng tối om, ngột ngạt Bốn dòng thơ tạo ra hai không gian đối nghịch nhau: không gian trong phòng chật hẹp, tối om; không gian bên ngoài cửa sổ rộng mở, bát ngát
+ Lúc này con người nhận ra vầng trăng của thiên nhiên không phải chỉ đến khi đèn điện tắt mới “đột ngột” xuất hiện Thực ra, trăng không phải ở một nơi xa xôi đồng sông bể rừng, trăng vẫn luôn ở ngoài ngõ, âm thầm, lặng lẽ tỏa sáng bên ngoài cửa sổ, chỉ có con người là thờ ơ, vô tình
+ Từ “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc thảng thốt, bất ngờ của nhân vật trữ tình khi nhận ra vầng trăng tròn vẫn tỏa sáng, bạn đồng hành cùng con người bấy lâu nay mà con người không hề nhận ra
-> Gặp lại người bạn - vầng trăng xưa giữa cuộc sống hối hả hôm nay, tâm hồn con người được đánh thức, trỗi dậy bao cảm xúc Chính vì vậy đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ toàn bài
3 Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng
-Khổ 5
- Câu thơ tạo “Ngửa mặt lên nhìn mặt” ->Từ “mặt” thứ nhất được dùng với nghĩa gốc và từ
Trang 40“mặt” thứ hai nghĩa được dùng theo nghĩa chuyển, mặt người – mặt trăng cùng đối diện đàm tâm trong tư thế im lặng, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại
vầng trăng: “có cái gì rưng rung” Rưng rung của những niềm thương nỗi nhớ, của những
lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh, trong rưng rung của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rung rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính
-Hai câu thơ tiếp theo là những kỉ niệm ùa về: “như là đồng là bể/ như là sông là rừng” -> phép so sánh, liệt kê, lặp cấu trúc, điệp từ kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng Đồng, bể, sông, rừng là những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm thật đẹp xưa kia
-> Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu đồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như có cái gì rưng rưng”, đoạn thơ
đã làm lay động tình cảm nơi người đọc
-Khổ 6
- Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, bao dung, nhân hậu
- Ánh trăng được nhân hóa “im phăng phắc” gợi liên tưởng đến cái nhìn nghiêm khắc mà
bao dung, độ lượng chính là người bạn - nhân chứng nghĩa tình đang nhắc nhở nhà thơ Sự
im lặng của trăng khiến nhà thơ “giật mình” thức tỉnh Đó là cái “giật mình” của lương
tâm đáng trân trọng Nó thể hiện sự suy nghĩ, trăn trở tự đấu tranh với chính bản thân để nhận ra phần khuất tối trong tâm hồn mình và hướng thiện để sống tốt hơn
- Dòng thơ cuối dồn nén biết bao niềm tâm sự, lời sám hối ăn năn của tác giả
- Gửi đến mọi người lời nhắc nhở về lẽ sống, về đạo lý ân nghĩa thủy chung “uống nước
nhớ nguồn”