1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf

117 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

V¨n bn h­íng dÉn lµm ®Ò c­ng lu©n v¨n tèt nghiÖp 1 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Hà Nam là một tỉnh có số làng nghề cao Theo kết quả khảo sát, số làng nghề của Hà Nam từ 94 làng nghề năm 2001 lên[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hà Nam là một tỉnh có số làng nghề cao Theo kết quả khảo sát, số làng nghề của Hà Nam từ 94 làng nghề năm 2001 lên 299 làng nghề năm 2010 và phần lớn số

xã trong tỉnh có nghề phụ, với các nghề chính như: thủ công mỹ nghệ, chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, mây tre đan….Trong cơ cấu làng nghề nói chung, làng nghề dệt nhuộm chiếm vị trí quan trọng Nó không chỉ tạo ra những giá trị về mặt kinh tế xã hội mà còn tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc

Làng nghề dệt nhuộm Nha Xá, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên là một trong những làng nghề dệt nhuộm truyền thống điển hình của đồng bằng Bắc Bộ nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng Với 23 cơ sở sản xuất, ngày nay làng nghề Nha Xá

cung cấp cho thị trường khoảng 100.000m vải dệt nhuộm/tháng Đặc trưng sản xuất của các làng nghề là các cơ sản xuất thường nằm xen kẽ trong khu dân cư nên việc thu gom, xử lý chất thải cho từng cơ sở gặp nhiều khó khăn Hiện nay, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xử lý ô nhiễm môi trường ở đây còn rất lạc hậu Hàng ngày, các cơ

sở tẩy nhuộm làng nghề đã xả ra môi trường bên ngoài một lượng nước thải lớn khoảng 200 m3

/ngày, với hàm lượng các chất ô nhiễm cao như độ màu lên tới 420 Pt-Co, BOD5là 250mg/l, COD là 460mg/l,… đã và đang làm ô nhiễm môi trường nước mặt tại địa phương, theo thời gian sẽ ảnh hưởng làm ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm Tình trạng ô nhiễm môi trường đã gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường xã Mộc Nam và tác động tiêu cực rõ rệt đến sức khỏe cộng đồng Đây là nguyên nhân khiến hàng loạt các căn bệnh trong làng như bệnh hô hấp, ngoài da, tiêu hóa… tăng nhanh trong một vài năm trở lại đây

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT các cơ

sở làng nghề dệt nhuộm Nha Xá, xã Mộc Nam là đối tượng thuộc nhóm B “Các cơ

sở thuộc loại hình sản xuất có một hoặc một số công đoạn sản xuất có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường cao, không được phép thành lập mới những công đoạn này trong khu dân cư; nếu đang hoạt động thì phải đầu tư, áp dụng các biện pháp xử lý

Trang 2

nước thải tại chỗ hoặc phải di dời vào khu sản xuất tập trung để đầu tư hệ thống xử

lý nước thải đạt Quy chuẩn QCVN 13:2008/BTNMT và QCVN 40:2011/BTNMT”

Vì vậy, để phát triển sản xuất bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường cần phải di dời các cơ sở sản xuất làng nghề Nha Xá vào khu sản xuất tập trung để đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải, đảm bảo nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn

Do đó, “Nghiên cứu giải pháp cải thiện môi trường nước làng nghề dệt nhuộm Nha Xá – xã Mộc Nam – huyện Duy Tiên – tỉnh Hà Nam” là một bước đi đúng đắn và cần thiết hiện nay

2 Mục đích của đề tài

Đánh giá hiện trạng môi trường nước và đề xuất các giải pháp xử lý ô nhiễm; cải thiện môi trường nước các khu vực đã bị ô nhiễm tại làng nghề dệt nhuộm Nha Xá

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào phần gianh giới địa lý của làng

nghề dệt nhuộm Nha Xá, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên

Đối tượng nghiên cứu: Những tác động của ô nhiễm môi trường nước làng

nghề Nha Xá tới kinh tế, xã hội và sức khỏe cộng đồng

4 P hương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu

Thu thập, tổng hợp tất cả các số liệu liên quan đến quản lý môi trường làng nghề, khu vực nghiên cứu Các thông tin có thể thu thập từ các cơ quan chức năng, qua sách báo, qua nguồn tra cứu trên internet kết hợp với việc điều tra thực địa

Trên cơ sở các kết quả có được do thu thập, phân tích đánh giá tổng hợp các thông tin để đưa ra các giải pháp và kết luận

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Điều tra, khảo sát các thông tin về nguồn thải, nguồn tiếp nhận, tình hình xử

lý nước thải đang có tại làng nghề Nha Xá

Trang 3

- Phương pháp phân tích, thống kê

Qua quá trình tổng hợp số liệu, điều tra, khảo sát thực địa tiến hành phân tích, thống kê những số liệu quan trọng và có liên quan tới làng nghề Nha Xá Từ đó làm cơ sở tiến hành các phương pháp tiếp theo

- Phương pháp kế thừa

Đề tài đã kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu trước đây đã có để đề xuất, lựa chọn các giải pháp xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường nước làng nghề dệt nhuộm Nha Xá

5 Nội dung của luận văn

(1) Tổng quan về làng nghề và ô nhiễm làng nghề tại Việt Nam

(2) Giới thiệu làng nghề dệt nhuộm Nha Xá và đánh giá hiện trạng môi trường nước làng nghề dệt nhuộm Nha Xá

(3) Nghiên cứu, đề xuất giải pháp cải thiện môi trường nước làng nghề dệt nhuộm Nha Xá

Trang 4

C HƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG

NGHỀ TẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề tại Việt Nam 1.1.1 Làng nghề với phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề.

Khái niệm làng nghề

Quá trình phát triển của làng nghề là một quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp nông thôn Lúc đầu từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan rộng ra cả làng Hiện nay chưa có khái niện chính thức vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề cũng như các tiêu chuẩn để công nhận làng nghề

Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là mô hình sản xuất đặc thù trong nông

thôn, nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu Nhưng với quan niệm như vậy thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều Ví dụ như nghề Gốm chỉ có Phủ Lãng (Bắc Ninh), Bát Tràng (Hà

Nội), Đông Triều (Quảng Ninh)…Đó là những làng thuần nhất không làm ruộng, còn đại đa số là vừa làm ruộng vừa làm nghề Ở đây thủ công chỉ là nghề phụ để tăng thu nhập mà thôi

Quan niệm thứ hai: Làng nghề là cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không

nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng là người làm nông nghiệp Nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo những người thợ chuyên môn sản xuất thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề nơi khác Với quan niệm như vậy chưa đủ vì không phải bất cứ làng nào có vài gia đình làm nghề nào đó đều là làng nghề Để xác định làng đó có phải

là làng nghề hay không cần xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với thu nhập

của làng

Trang 5

Từ các quan niệm trên, trong Đề tài cấp Bộ “Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2010 đã rút ra định nghĩa như sau: Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội,

là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định Thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng

Khái niệm làng nghề truyền thống

Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư cư

trú trong một phạm vi một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi

Quan niệm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ

phận dân số làm nghề cổ truyền, nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cùng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa Đồng thời sản xuất ra những sản phẩm mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh sảo, nổi tiếng, đậm nét văn hoá dân tộc

Nhìn chung các quan điểm về làng nghề truyền thống nói trên chưa đầy đủ Các quan niệm mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời nhưng chưa đề cập đến những làng nghề mới nhưng tuân thủ các yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực

Từ việc tiếp cận trên, làng nghề truyền thống được hiểu như sau: Làng nghề truyền thống là làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời có một hay nhiều nghề thủ công được truyền từ đời này qua đời khác, trải qua thời gian của lịch sử nó vẫn được bảo tồn gìn giữ và phát triển Có sản xuất tập trung, có nhiều nghệ nhân, có quy trình công nghệ nhất định Sản phẩm làm ra tinh xảo có tính mỹ thuật nổi trội,

Trang 6

chứa đựng các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần và trở thành hàng hoá có giá trị đặc thù trên thị trường

( Nguồn: Đề tài cấp Bộ “Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững ở

Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2010)

 Tiêu chí công nhận làng nghề

Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT,

làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm

V ề phát triển kinh tế:

- Tăng trưởng kinh tế làng nghề có thể nhanh, nhưng phải mang tính ổn định;

- Luôn nâng cao hàm lượng tinh xảo trong giá trị sản phẩm;

- Có sự gắn kết cộng đồng giữa các đơn vị kinh tế trong làng nghề ( hộ gia đình, doanh nghiệp, hợp tác xã ) theo một thể chế Sản phẩm sản xuất ra có thể tăng nhanh về số lượng, nhưng chất lượng, mẫu mã phải giữ được tính nét văn hóa truyền thống của làng

Về xã hội:

- Xã hội làng nghề phải hướng tới văn minh, nề nếp và lành mạnh;

- Các hoạt động sinh hoạt xã hội trong làng nghề được gắn với tôn vinh các giá trị sản phẩm đặc trưng của làng;

Trang 7

- Tạo tạo cơ hội bình đẳng để mọi người dân trong làng nghề được tiếp cận việc làm của làng, xóa bỏ đói nghèo và làm giàu; mọi người dân đều được tham gia hưởng lợi từ các dịch vụ công như: đào tạo nâng cao kỹ năng, tay nghề, tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, chính trị diễn ra trong làng

Về bảo vệ tài nguyên môi trường:

- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn nguyên liệu đầu vào, các nguồn nhiên, vật liệu trong sản xuất ra các sản phẩm, sử dụng các nguyên liệu tái tạo;

- Khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên đất, nước, khoáng sản;

- Có hệ thống xử lý chất thải cho các hoạt động sản xuất của làng nghề

1.1.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề

Theo Báo cáo môi trường làng nghề 2008- Bộ tài nguyên và Môi trường, ở mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau:

- Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong làng Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho người dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn

- Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có Nhờ vào nhân lực đã tạo ra cho các hộ gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình Do đó, nó có thể huy động mọi người trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất của gia đình

- Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiều hộ gia đình cùng tham gia Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm

- Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt Một số trường hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng khâu trong quy trình sản xuất Nghề càng phức tạp, càng có nhiều công đoạn sản

Trang 8

xuất thì tính chuyên môn hóa càng cao Sự phân chia này không chỉ trong một làng

mà còn có thể mở rộng trong nhiều làng

Phần lớn kỹ thuật-công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu vẫn sử dụng các thiệt bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã được cải tiến một phần, đa số mua lại từ các cở sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện làm việc cho người lao động

- Biết tận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao động và

sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn

1.1.1.3 Số lượng, cơ cấu và phân bố làng nghề

Làng nghề là một trong những thực thể kinh tế-xã hội đặc thù của nông thôn Việt nam, nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm hàng hóa có giá trị, góp phần cải thiện đời sống người dân và cung cấp hàng hóa tiêu dùng cho xã hội Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của các vùng nông thôn cả nước Làng nghề phân bố trên không đồng đều trên địa bàn nông thôn cả nước

Trang 9

Hình 1.1: Hiện trạng phân bố làng nghề trên cả nước

Nguồn: Báo cáo Môi trường làng nghề 2008, Bộ Tài nguyên Môi trường

Theo số liệu điều tra của Cục Chế biến,Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và tổ chức Jica Việt Nam có

2017 làng nghề sản xuất ra các sản phẩm khác nhau và được phân bố rộng khắc cả nước nhưng không đều Số làng nghề truyền thống chiến khoảng 15% tổng số làng nghề cả nước còn lại là các nghề mới hình thành

Trang 10

Bảng 1.1: Số lượng và cơ cấu làng nghề Việt Nam theo vùng

Nguồn: Hội Thảo Mỗi làng một sản phẩm - Cục Chế biến,Thương mại NLTS

và nghề muối -Bộ NN và PTNT và tổ chức Jica Việt Nam ngày 15/9/2009

Vùng đồng bằng Sông Hồng là nơi tập trung số lượng làng nghề lớn nhất với 866 làng nghề chiếm 42,9% tổng số làng nghề cả nước, đang đặt ra yêu cầu phát triển bền vững làng nghề theo hướng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch Đây cũng là khu vực này

có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp nhà nước tham ra phát triển ngành nghề thủ công như khu công nghiệp Chương Mỹ ( Hà nội) , CCN làng nghề Bắc Ninh

Vùng Bắc Trung bộ là khu vực có số làng nghề đứng thứ hai với 341 làng nghề chiếm 16,9 % tổng số làng nghề cả nước Bắc Trung Bộ có nhiều khoáng sản quý , đặc biệt là đá vôi nên có điều kiện phát triển ngành khai thác khoáng và sản xuất vật liệu xây dưng Ngoài ra vùng còn có các ngành khác như chế biến gỗ, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm, nhưng phân bố không đồng đều

Vùng tây Bắc là nơi tập trung các sản phẩn thủ công mỹ nghệ đặc sắc mang bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc trong vùng, là vùng đúng thứ ba về số lượng với 247 làng nghề, chiếm 12,2% tổng số làng nghề của cả nước Tuy nhiên các làng nghề của khu vục này mới phát triển do trước đó người dân trong vùng chỉ

Trang 11

làm ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân, một phần dư thừa thì mang đi bán, chưa hướng đến việc tạo ra hàng hóa đề trao đổi một phần do cơ sở hạng tầng đường giao thông vùng này thấp kém, đi lại khó khăn

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vục có số làng nghề đứng thư tư cả nước với 211 làng nghề chiếm 10,5 % tổng số làng nghề cả nước, là khu vục tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng thủ công hoạt động do có nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường trong nước, thị trường ngoài nước nên các doanh nghiệp này chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu Các tổ chức cung cấp dịnh vụ phát triển kinh doanh cũng hình thành và phát triển với số lượng lớn tạo ra mạng lưới xuất khẩu hàng thủ công mạnh thúc đẩy số lượng ngành nghề và làng nghề phát triển

1.1.1.4 Phân loại và đặc trưng sản xuất của các làng nghề

Theo ngành nghề hoạt động, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ có thể chia làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính

Hình 1.2: Làng nghề Việt Nam theo nhóm ngành nghề sản xuất chính

Nguồn: BC môi trường làng nghề 2008, Bộ tài nguyên và môi trường

Nhóm làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: có số lượng lớn, chiếm

20% tổng số làng nghề, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như

ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình thành nghề Phần lớn các làng chế biến lương thực, thực phẩm nước ta có truyền thống nổi tiếng như nấu

Trang 12

rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh gai, với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu và thường gắn với hoạt động chăn

nuôi ở quy mô gia đình

Nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: chiếm 17 % tổng số làng

nghề nhiều làng có từ lâu đời, có các sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, mang đậm nét địa phương những sản phẩm như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may, không chỉ là những sản phẩm có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao Tại các làng nghề nhóm này, lao động nghề thường là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp)

Nhóm làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: chiếm 5% tổng số

làng nghề, hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng Lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ, tỉ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu về xây dựng nhà cửa, công trình ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển nhanh và tràn lan ở các vùng nông thôn

Nhóm làng nghề tái chế phế liệu: Chiếm 4% tổng số làng nghề, chủ yếu là

các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng) Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này Đa số các làng nghề nằm ở phía bắc, công nghệ sản xuất đã từng bước được cơ khí hóa

Nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ

thủy tinh mỹ nghệ; chạm khắc đá, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài,

dệt chiếu… Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ trọng lớn về số lượng (gần khoảng 39% tổng số làng nghề), có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hóa, và đặc điểm địa phương, dân tộc Quy trình sản xuất ít thay đổi, lao động thủ công đòi hỏi tay nghề cao, chuyên môn hóa, tỉ mỉ và sáng tạo

Các nhóm ngành khác: chiếm 15% tổng số làng nghề, bao gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền,

Trang 13

làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới, làm lưỡi câu,… những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương lao động phần lớn là thủ công với số lượng và chất lượng ổn định

1.1.1.5 Vai trò của làng nghề trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam

Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn các làng nghề không chỉ là nơi sản xuất kinh doanh mà là nơi tổ chức các hoạt động trưng bày sản phẩm ngành nghề truyền thống lâu đời của từng dòng họ Làng nghề mới đang giữa vai trò nồng cốt phát triển công nghiệp địa phương và phát triển văn hóa cộng đồng, du lịch sinh thái,…

(1) Các làng nghề góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động, tiền vốn, nguyên liệu… và gia tăng giá trị sản phẩm hàng hoá của nền kinh tế

Vấn đề vốn đầu tư đối với các làng nghề thông thường không đòi hỏi quá lớn, bởi nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong các làng nghề có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được Mặt khác, sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất khác của các hộ gia đình Cũng từ đặc điểm của làng nghề là các nguyên liệu sẵn có kể cả việc tận dụng các loại phế liệu, phế thải… nên chúng được sử dụng hiệu quả nhất Các làng nghề nơi sản xuất cũng là nơi ở của họ nên lực lượng lao động được tận dụng và thu hút tối đa nhiều loại lao động trong, trên, dưới độ tuổi lao động, tận dụng lao động thời vụ này nhàn, tranh thủ các thời gian nhàn rỗi Các yếu tố khác của quá trình sản xuất ở các làng nghề cũng được huy động phục vụ hiệu quả nhất như việc tận dụng đất đai, cơ sở vật

chất kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ xảo của người lao động

Ngày nay sản xuất của làng nghề phát triển theo chiều hướng chuyên môn hoá, đa dạng sản phẩm đã góp phần đáng kể vào thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông thôn Với quy mô không lớn nhưng được phân bổ rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàng năm các làng nghề sản xuất ra một khối lượng hàng hoá khá lớn đóng góp đáng

kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và từng địa phương nói riêng

Làng nghề đã tạo ra đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với quá trình

Trang 14

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và tạo cơ sở vệ tinh cho phát triển các doanh nghiệp hiện đại Hiện các làng nghề đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên Làng nghề phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn; gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống; đặc biệt tạo ra bộ mặt ĐTH mới cho nông thôn để nông dân

ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên quê hương mình Ngoài ra, khu vực kinh tế làng nghề, đặc biệt là các nghề truyền thống, còn có một ý nghĩa khác

là sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận

Làng nghề phát triển sẽ thu hút lực lượng lao động lớn và đồng thời cũng sẽ tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới Chính thông qua các lực lượng này để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, giảm giá thành nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Và khi đó tác phong công nghiệp, tính tổ chức, tính kỷ luật… của đội ngũ lao động cũng được cải thiện thích ứng với điều kiện và kỹ thuật mới Chính vì vậy, có thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất quan trọng ở nông thôn, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động Trên thực

tế, quy mô làng nghề nhìn chung thường nhỏ, chưa thực hiện được cơ chế thu hút lao động có tay nghề cao, đối với các làng nghề sản xuất theo thời vụ thì thường chỉ sản xuất vào lúc nông nhàn

(2) Các làng nghề góp phần tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề Đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định Tại nhiều làng nghề, trong

cơ cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60 - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20- 40%

Trang 15

Trong quá trình vận động và phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp

có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Thực tế trong lịch sử, sự ra đời và phát triển các làng nghề ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Sự tác động này đã tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn, với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm Làng nghề không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Chẳng hạn khi ngành nghề chế biến phát triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn Do vậy, trong nông nghiệp hình thành những khu vực nông nghiệp chuyên môn hoá, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sản phẩm hàng hoá

(3) Làng nghề góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới

Việc cải thiện đời sống nhân dân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở ổn định làm việc và nâng cao thu nhập Thực tế cho thấy, địa phương nào có làng nghề thì mức sống của người dân nơi đó thường ở mức khá Thu nhập của người lao động ở làng nghề hiện phổ biến khoảng 600.000 - 1.500.000 đồng, cao hơn nhiều so với lợi nhuận từ làm ruộng, Làng nghề Tân lễ ( Thái Bình) có tỷ lệ hộ khá giầu chiếm gần 80% tổng số hộ của địa phương, Làng Bát Tràng (Hà Nội) mức thu nhập bình quân của các hộ thấp nhất cũng đạt 10-20 triệu đồng/năm, các hộ trung bình là 40-50 triệu đồng, còn các hộ cao thì đạt đến hàng trăm triệu đồng/năm Tỷ

lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề chỉ chiếm 3,7% trong khi mức bình quân cả nước là 10,4%

Sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề hiện nay nó cùng tự đòi hỏi phả có kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đảm bảo Vì vậy, phát triển làng nghề không chỉ tạo điều kiện mà còn là nhân tố kích thíc sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao dan trí nông thôn, thúc đẩy xã hội nông thôn tiến lên văn minh hiện đại, thu hẹp khảng cách giữ thành thị và nông thôn

Trang 16

1.1.2 Thực trạng về làng nghề Việt Nam hiện nay

1.1.2.1 Về phát triển kinh tế

Các làng nghề hiện nay đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế Những thay đổi này vừa mang lại những thuận lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghề trong quá trình phát triển Mở cửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài Đó là những mặt hàng xuất khẩu mạnh của nước ta trong nhiều năm qua, mà phần nhiều có xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nước, như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ Theo thống

kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng Nếu như năm 2000 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 273,7 triệu USD, thì năm 2008 đã tăng lên hơn 850 triệu USD, sơ bộ năm

2009 đạt 900 triệu USD

Hình 1.3 : Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

Nguồn: - Cục CBTM NLTS và nghề muối; Báo cáo kế hoạch 5 năm

2011-2015 ngành NN&PTNT – Bộ NN và PTNT

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ từ cuối năm 2007 đã nhanh chóng lan rộng

ra các nền kinh tế lớn đã tác động đến kinh tế Việt Nam và làng nghề cũng không

là ngoại lệ, hàng loạt các làng nghề tại Hà Nội, Thái Bình, Quảng Nam, Đồng nai,

Ðà Nẵng, Bắc Ninh đang rơi vào tình trạng khó khăn Nhiều hộ sản xuất, doanh

Trang 17

nghiệp trong làng nghề phải bỏ nghề, một số chuyển sang sản xuất đồ thủ công đơn thuần để cầm cự ví dụ như: Làng nghề thủ công mỹ nghệ gỗ Bình Minh (Ðồng Nai) từ 100 hộ làm nghề gỗ tinh xảo như làm thuyền buồm, máy bay, tranh ghép xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn một nghìn lao động, nay chỉ còn 20 hộ làm cầm chừng Nhiều doanh nghiệp tại làng nghề đóng bàn ghế gỗ ở TP Biên Hòa, Ðồng Nai đang đứng bên bờ vực phá sản do hàng không tiêu thụ được, nguyên liệu

ứ đọng

1.1.2.2 V ề xã hội

Hiện ngay các làng nghề Việt Nam sử dụng lao động thủ công là chính Do kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất

đề do lao động thủ công đảm nhiệm kể cả các công đoạn nặng nhọc và độc hại Mặt

khác do sản phẩm của nhiều làng nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật, mỹ thuật cao, đường nét tỷ mỉ, có trình độ kỹ thuật cao và tay nghề khéo léo

Bảng 1.2: Kết quả điều tra về ngành nghề tại 14 tỉnh

1 Lao động bình quân /cơ sở 2,31 2,41 2,41 2,26 2,35 2,22

2 Lao động tham gia (%)

- Lao động chuyên môn 37,98 31,38 20,16 38,69 37,16 22,94

Trang 18

Ghi chú: HĐ1: Nhóm ngành nghề chế biến bảo quản nông lâm thủy sản; HĐ2: Sản xuất VLXD, đồ gỗ, gôm sứ dẹt may cơ khí; HĐ3: Xử lý chế biến nguyên liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; HĐ3: Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; HĐ5: Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh; HĐ6: xây dựng vận tải trong

nội bộ xã và các dịch vụ sản xuất đới sống dân cư nông thôn

Trong các làng nghề truyền thống, vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của các quá trình sản xuất và sản phẩm tạo ra Chính nghệ nhân là những người dạy nghề , truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong gia đình và dòng họ Việc dậy nghề được thực hiện theo phương thức truyền nghề từ đờn này sang đời khác Đó là bí quyết riêng mà mỗi thành viên phải có trách nhiệm gìn giữ

Nguyên nhân là nghề bị ô nhiễm do sự phát triển tự phát và sử dụng những công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ phân tán Hầu hết nước thải đều thải trực tiếp ra môi trường không qua xử lý Bên cạnh đó nguồn chất thải rắn và khí độc hại trong quá trình sản xuất cũng hầu như không được sử lý, trong khi đó công

Trang 19

tác triển khai quy hoạch làng nghề tại các địa phương chậm Qua trình thực hiện chính sách về bảo vệ môi trường còn vướng mắc ở cơ chế và giải pháp ( về cấp đất, vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, tại các khu làng nghề tập trung) Chi phí cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề như hiện nay là khá khiêm tốn, làm tăng giá thành và giảm khả năng cạnh tranh Do vậy, bảo vệ môi trường làng nghề là công việc khó khăn, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của chính sách nhà và sự tham gia tích cự của cộng đồng và các cấp chính quyền

1.1.3 Các vấn đề tồn tại trong các làng nghề hiện nay

Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề cũng mang lại nhiều bất cập, đặc biệt về vấn đề môi trường và xã hội Những tồn tại từ nhiều năm qua trong quá trình phát triển làng nghề có thể coi là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ không chỉ tới sự phát triển sản xuất bền vững ở làng nghề, mà của cả nền kinh tế đất nước Đó là:

(1) Hầu hết các làng nghề có quy mô nhỏ và vừa Các làng nghề có quy mô nhỏ chiến 60% , số lượng làng nghề có quy mô vừa chiếm 36%, còn lại số làng nghề có quy mô lớn chiếm khoảng 4% trên tổng số làng của Việt nam Trong các cơ

sở sản xuất, kinh doanh của làng nghề, chiếm phần lớn là các hộ gia đình (khoảng trên 80%), còn lại là các tổ sản xuất và hợp tác xã (khoảng 16%); số công ty và doanh nghiệp tư nhân không nhiều (khoảng 4%) Quy mô sản xuất nói chung là nhỏ

bé (phần rất lớn cơ sở có quy mô dưới 50 lao động); doanh thu thấp và không đồng đều, khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường khu vực càng xấu đi

(2) Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài, nên khó huy động tài chính và vốn đầu tư lớn từ các nguồn khác (quỹ tín dụng, ngân hàng)

(3) Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá, kiến thức

tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nhiên nguyên liệu, làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và

Trang 20

chất lượng môi trường Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí Hoàn toàn chưa có làng nghề nào có áp dụng tự động hoá

(4) Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhờ có nguồn gốc nông dân đa ảnh hưởng mạnh tới sản xuất tại làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường Không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt, các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy trình sản xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động, trình độ thấp Hơn thế, nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hoá chất độc hại (kể cả đã ấm sử dụng), không đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động, không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng mức độ ô nhiễm tại đây

1.1.4 Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015

Các yếu tố chính tác động đến sự phát triển của làng nghề bao gồm các yếu tố chủ quan như nội lực sản xuất và các yếu tố khách quan như chính sách của Nhà nước, vấn đề thị trường…

Các yếu tố chính sách tác động đến sự phát triển của làng nghề:

Có 5 yếu tố chính làm cho làng nghề có thể được hình thành, phát triển hoặc bị mai một:

(1) Nội lực sản xuất, trong đó đóng vai trò quan trọng là: người đứng đầu cơ sở sản xuất, cở sở vật chất và mặt bằng, công nghệ sản xuất, nguyên nhiên liệu, bản sắc văn hóa, vốn và năng lực kinh doanh của một cơ sở sản xuất trong làng nghề

(2) Chính sách Nhà nước, bao gồm các thể chế và chính sách của các cấp quản

lý từ TW đến địa phương, như tổ chức hiệp hội, chính sách thuế, hỗ trợ vốn, hậu thuẫn của các cơ quan quản lý địa phương

(3) Tác động của thị trường và vấn đề hội nhập quốc tế

(4) Yếu tố xã hội như tạo công ăn việc làm, đa dạng hóa loại hình kinh tế, bảo tồn giá trị văn hóa

(5) Yếu tố môi trường như tác hại của ô nhiễm tới sức khỏe cộng đồng, cảnh quan gây tổn thất kinh tế, xã hội

Các yếu tố này được lượng hóa bằng đánh giá của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực, sẽ cho biết xu thế phát triển của các loại hình làng nghề Vì quá nhiều nhân

Trang 21

tố khó có thể lường trước được nên kết quả dự đoán sẽ chỉ là xu thế trong một tương lai gần với một giả thiết nhất định

Bảng 1.3: Xu thế phát triển làng nghề ở Việt Nam tại các vùng

Vùng kinh tế

Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da

Chế biến LT-TP, chăn nuôi, giết mổ

Tái chế phế liệu

Thủ công

mỹ nghệ

Sản xuất VLXD, khai thác đá

Ghi chú: -1: suy thoái; 0: duy trì, không phát triển;

1: phát triển vừa; 2: phát triển mạnh

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2008)

Kết quả phân tích xu thế phát triển làng nghề được trình bày trong bảng, có thể nhận thấy số lượng các làng nghề ở các vùng nói chung có xu hướng tăng lên, trừ ngành VLXD có xu thế giảm 1 chút do bị cạnh tranh nhiều với sản phẩm công nghiệp Số lượng làng nghề các khu vực đồng bằng sông Hồng, Trung Bộ và Nam

Bộ có xu hướng tăng nhiều hơn so với các khu vực Đông Bắc và Tây Bắc

Khu vực đồng bằng sông Hồng có số lượng làng nghề lớn nhất (khoảng gần 60% tổng số làng nghề cả nước) và vẫn tiếp tục tăng trưởng nên khu vực này sẽ được coi là đại diện cho xu thế phát triển làng nghề trong các dựu báo tiếp theo và tải lượng mức độ ô nhiễm môi trường

Trang 22

1.2 Tổng quan về làng nghề dệt nhuộm tại Việt Nam

1.2.1 Số lượng và phân bố làng nghề dệt nhuộm tại Việt Nam

Các làng nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt nhuộm, đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nghề và làng nghề nói chung tại Việt Nam Theo Đề tài cấp Bộ “Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững ở Việt Nam” của Viện

Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2010, cả nước hiện có 173 làng nghề

dệt nhuộm, chiếm khoảng 20% tổng số làng nghề Các làng nghề dệt nhuộm tập trung nhiều nhất ở phía Bắc, chiếm tới 85,5% số làng nghề dệt nhuộm Sơn La và

Hà Tây là hai tỉnh có số làng nghề dệt nhuộm nhiều nhất là 46 làng và 22 làng Công nghệ được sử dụng tại các làng nghề dệt nhuộm khá phong phú Tại các vùng,

miền khác nhau, thường có công nghệ sản xuất và mặt hàng truyền thống khác nhau, mang nét đặc trưng riêng Có thể kể tên một số làng nghề dệt nhuộm nổi tiếng như: Làng dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông, nhuộm sợi chỉ Tân Triều - Hà Nội, dệt nhuộm khăn mặt Thái Phương - Thái Bình, dệt nhuộm Hòa Hậu - Lý Nhân-Hà Nam, ươm tơ Cổ Chất - Nam Định hay dệt nhuộm Tương Giang - Bắc Ninh…

1.2.2 Đặc trưng ô nhiễm tại làng nghề dệt nhuộm

Tại mỗi vùng miền khác nhau, sản phẩm dệt nhuộm sẽ có những nét truyền thống khác nhau Tuy nhiên, quy trình sản xuất cũng như đặc trưng về nguồn thải tại các làng nghề dệt nhuộm tại Việt Nam là gần giống nhau Theo Báo cáo môi trường làng nghề năm 2008 của Bộ TN&MT, đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của làng nghề dệt nhuộm như sau:

Đối với nước thải: Do quá trình sản xuất có sử dụng nhiều nước, hóa chất,

thuốc nhuộm nên thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải làng nghề dệt nhuộm bao gồm: các tạp chất tự nhiên (tách ra từ sợi vải), chất bẩn, dầu, sáp, hợp chất chứa nitơ, pectin (trong quá trình nấu tẩy), chuội tơ và các hóa chất (sử dụng trong quy trình xử lý vải như hồ tinh bột, NaOH, H2SO4, HCl, Na2CO3,) các loại thuốc nhuộm, chất tẩy giặt Khoảng 10 - 30% lượng thuốc nhuộm và hóa chất sử dụng bị

thải ra ngoài cùng với nước thải, gây ô nhiễm môi trường Đây là vấn đề môi trường

lớn nhất đối với các làng nghề dệt nhuộm

Trang 23

Đối với khí thải: Ở các làng nghề này chủ yếu là bụi và hơi hóa chất Bụi bông sinh ra trong quá trình giàn sợi, đánh ống, xe sợi, dệt vải Hơi hóa chất phát sinh trong quá trình nấu, tẩy, nhuộm do sử dụng hóa chất ở nhiệt độ cao và hầu hết các thiết bị sản xuất đều là thiết bị hở Hơi hóa chất chủ yếu là bazơ, HCl, Cl2,

CH3COOH, chất tẩy giặt Khí thải lò đốt chứa nhiều thành phần ô nhiễm môi trường không khí như CO2, SO2, CO, NOx và bụi

Đối với chất thải rắn: Bao gồm bụi, bông, vải vụn từ xe sợi, dệt, cắt may; bã

kén từ ươm tơ, kéo sợi; xỉ than, bao bì, thùng đựng hóa chất, phế liệu…Tuy nhiên lượng chất thải không lớn và tại các làng nghề này, chất thải rắn được tận dụng tới mức tối đa, phần còn lại có thể mang đi chôn lấp hoắc đốt thủ công (Ví dụ: làng nghề ươm tơ – Bảo Lộc – Lâm Đồng)

Các dạng ô nhiễm khác: Ô nhiễm tiếng ồn, độ ẩm, … Do cơ sở hạ tầng kỹ

thuật tại các vùng làng, nông thôn còn lạc hậu, kinh tế còn hạn chế

1.2.3 Tác h ại của ô nhiễm môi trường làng nghề dệt nhuộm đến sức khỏe cộng đồng và kinh tế xã hội

(1) Đối với sức khỏe cộng đồng:

Tại các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ tiếng ồn, bụi, nước thải chứa Javen và các hóa chất độc hại là các yếu tố gây ô nhiễm môi trường và có nguy cơ gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người Một số căn bệnh thường gặp đối với người dân sống trong khu vực làng nghề là bệnh về hô hấp, ngoài da, đau đầu, bệnh về mắt, bệnh tiêu hóa… Một kết quả điều tra tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc (Hà Nội) về tỷ lệ người mắc bệnh cấp và mãn tính về vấn đề ô nhiễm môi trường là khá cao Trong số các bệnh cấp tính thì bệnh đau đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh chiếm tỷ lệ cao nhất 41% Và trong số các bệnh mãn tính thì bệnh hô hấp cũng chiếm tỷ lệ cao nhất

32 %

Trang 24

Bảng 1.4 : Thống kê tình hình bệnh tật tại làng nghề Vạn Phúc (Hà Nội)

(Nguồn: Trung tâm y tế Quận Hà Đông năm 2010)

(2) Đối với kinh tế xã hội:

Ô nhiễm môi trường do sản xuất và hoạt động xã hội gây ra bao giờ cũng gây thiệt hại về kinh tế dù lớn hay nhỏ Xét riêng về ô nhiễm môi trường do sản xuất tại các làng nghề dệt nhuộm, thiệt hại về kinh tế chủ yếu là:

Trang 25

- Ô nhiễm môi trường gây tác động xấu tới sức khỏe người lao động và cộng đồng sống trong làng Gia tăng chi phí khám chữa bệnh, giảm năng suất lao động do nghỉ bệnh tật và chết non

- Ô nhiễm môi trường làm giảm quá trình phát triển kinh tế, giảm năn suất sản xuất nông nghiệp tại các làng nghề Nhiều ao hồ, sông ngòi, đồng ruộng…nay đều bỏ hoang do ô nhiễm nước thải, khí thải tại các làng nghề

- Ô nhiễm môi trường làng nghề làm giảm sức thu hút đối với du lịch, giảm lượng khách du lich dẫn đến các thiệt hại về kinh tế

Nguyên nhân ô nhi ễm môi trường làng nghề:

Việc QLMT tại các làng nghề của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo, chưa chú trọng tới vấn đề BVMT làng nghề

Làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các nơi dân cư đông đúc, gần các đô

thị, dọc theo bờ sông hay gần đường giao thông nên thiếu mặt bằng sản xuất Quy

mô sản xuất nhỏ, không tập trung, mang tính tự phát nên công tác quản lý, giám sát,

xử lý ô nhiễm khó khăn

Các cơ sở sản xuất nằm xen kẻ trong khu dân cư gây khó khăn cho việc bố trí thu gom và xử lý chất thải

Công nghệ sản xuất lạc hậu, chất thải ở phần lớn làng nghề chưa qua khâu xử

lý đã thải trực tiếp vào môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên và sức khỏe của người dân trong khu vực làng nghề

Dân trí tại các làng nghề còn thấp, kinh tế người dân còn eo hẹp Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường làng nghề trong khu vực còn rất yếu kém, dẫn đến người dân trong khu vực làng nghề không có ý thức BVMT

Trình độ học vấn và chuyên môn thấp: tại các làng nghề chỉ có khoảng 7%

thợ giỏi, trên 55 % lao động không có chuyên môn (Báo cáo môi trường làng nghề 2008)

Trang 26

1.2.4 Hi ện trạng quản lý môi trường làng nghề dệt nhuộm tại Việt Nam

Hiện nay, quản lý làng nghề thuộc về chức năng và nhiệm vụ của cấp Huyện,

xã Cũng như công tác quản lý môi trường làng nghề nói chung thì các chính sách phát triển bền vững làng nghề dệt lụa tơ tằm chưa được chú trọng Việc các văn bản pháp luật, chính sách về quản lý môi trường làng nghề dệt nhuộm chưa được kiện toàn, dẫn đến quá trình triển khai của các cơ quan Nhà nước tới các cấp huyện, xã, làng nghề còn rất hạn chế

Đối với các cấp Huyện, xã, làng nghề: Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường làng nghề trong khu vực chưa được triển khai một cách cụ thể và rộng khắp Dẫn đến việc người dân không biết và không có ý thức BVMT

Quá trình sản xuất và phát triển của các làng nghề đều mang tính kế thừa qua các thế hệ, các hạ tầng kỹ thuật sản xuất còn rất thô sơ, lạc hậu Khả năng kinh tế

của nhiều làng, nhiều hộ còn yếu (ít vốn) nên chưa sử dụng được các công nghệ mới

và vẫn chưa được sự đầu tư đúng mức từ Nhà nước

Trình độ văn hóa của người lao động trong làng nghề thấp nên hạn chế khả năng xây dựng kế hoạch cũng như quản lý, khả năng kiểm soát thị trường, tiếp thu cái mới, nên năng suất, chất lượng thấp, dễ bị rủi ro, lãng phí

Tại đa số các làng nghề dệt nhuộm, vẫn chưa có biện pháp cụ thể xử lý chất

thải sau quá trình sản xuất như hệ thống thu gom và xử lý chất thải, dẫn đến ô nhiễm môi trường rác thải, nước thải, khí thải ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng

1.3 Chính sách và pháp luật nhà nước trong quản lý kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề

Ô nhiễm môi trường làng nghề ở nước ta hiện nay vẫn đang là vấn đề nổi cộm Trong những năm qua, do sự phát triển mang tính tự phát lại thiếu quy hoạch, không có các giải pháp kỹ thuật về môi trường nên tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề rất phổ biến

Trang 27

Về mặt quản lý, nhà nước đã ban hành các văn bản để bảo vệ môi trường làng nghề như:

(1) Luật Bảo vệ môi trường nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005

Tại Điều 38 Chương V của Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã chỉ rõ về hướng quy hoạch xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề gắn liền với bảo vệ mồi trường; trách nhiệm, chức năng của các cơ quan chính quyền có liên quan cũng như người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề

(2) Luật Tài nguyên nước năm 2012

Tại Điều 37 Chương III Bảo vệ Tài nguyên nước đã quy định về việc “Xả nước thải vào nguồn nước” : Quy hoạch đô thị, khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải phù hợp với quy mô xả nước thải, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước và phải được cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi trình phê duyệt

Tổ chức, cở sở sản xuất, cá nhân xả nước thải vào nguồn nước phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 73 của Luật này cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước

(3) Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18 tháng 4 năm 2007 của Bộ NN&PTNT về việc đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng

chống ô nhiễm môi trường làng nghề

Trong Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN đã nêu rõ 6 việc cần phải làm để phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề và Bộ NN&PTNT có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chức năng thực hiện các việc trên

- Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, vận động người dân thực hiện tốt các quy định về vệ sinh môi trường và phòng chống ô nhiễm làng nghề

Trang 28

- Thống kê, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn và có

kế hoạch giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề

- Tổ chức di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư, đặc biệt là các cơ sở gây ô nhiễm bởi các hóa chất chưa H2SO4, H2S,

NH3,HCl, ; các kim loại nặng như Pb, Hg, As; Các hợp chất chưua SO2, CO2, CO

- Hỗ trợ đầu tư cải tạp, nâng cấp hoặc xây dựng mới hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải tập trung Xây dựng đồng bộ hệ thống cấp nước cho sản xuất và

hệ thống xử lý nước thải tại các làng nghề tập trung

- Hướng dẫn áp dụng công nghệ mới ít gây ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Xây dựng khu tập kết chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, đầu tư trang thiết bị đáp ứng nhu cầu thu gom, phân loại chất thải để không ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe người dân

- Đẩy mạng công tác kiểm tra môi trường láng nghề, kịp thời phát hiện những yếu tố gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe người dân, đặc biệt là lao động ở các cơ sở sản xuất tại làng nghề

(4) Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường làng nghề là một trong những vấn đề môi trường cấp bách được nêu trong Nghị quyết Trong giải pháp thứ 3 của phần “Giải pháp khắc phục các vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” đã nêu cụ thể: Tập trung khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường nông thôn, làng nghề

(5)“Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” của Bộ TN&MT đã được phê duyệt theo Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ

Mục tiêu Đề án đưa ra đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 là: Tăng cường mạnh mẽ công tác BVMT trong quản lý và phát triển làng nghề trên phạm vi toàn quốc, ngăn chặn việc phát sinh các làng nghề ô nhiễm môi trường mới; Từng

Trang 29

bước khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuôc sống dân cư, góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn một cách bền vững

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xác định các nhiệm vụ phải thực hiện

để hoàn thành mục tiêu đề ra là: (1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách về BVMT làng nghề; (2) Thực thi có hiệu quả các ông cụ quản lý môi trường; (3) Triển khai các

mô hình công nghệ, các biện pháp kỹ thuật nhằm định hướng cho việc xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên quy mô toàn quốc; (4) Tăng cường công tác truyền thông, đào tạo và nâng cao năng lực BVMT làng nghề

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, luận văn đã khái quát tổng quan về làng nghề truyền thống tại Việt Nam và các vấn đề ô nhiễm nổi bật của làng nghề hiện nay Khái quát về những tác động của làng nghề tới quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đưa ra xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 Bên cạnh đó, luận văn cũng đã đưa ra được tổng quan về làng nghề dệt nhuộm tại Việt Nam Dựa trên các quá trình khái quát trên, luận văn sẽ lấy đó làm cơ sở để đánh giá hiện trạng khu vực nghiên cứu

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC LÀNG NGHỀ DỆT

NHUỘM NHA XÁ

2.1 Giới thiệu khu vực nghiên cứu: Làng nghề dệt nhuộm Nha Xá

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

1 Vị trí địa lý

Làng nghề dệt nhuộm Nha Xá, thuộc xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên Huyện Duy Tiên nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Nam, là cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội Thị trấn Hòa Mạc là trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa của huyện, nằm trên tuyến quốc lộ 38 nối liền huyện Duy Tiên với huyện Kim Bảng và thành phố Hưng Yên Trung tâm huyện Duy Tiên nằm gần sông Hồng nên rất thuận tiện cho giao thương với các địa phương khác bằng đường thủy và đường bộ Ngoài ra, huyện còn có thị trấn Đồng Văn nằm trên trục đường quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc-Nam, Hiện nay, khu công nghiệp tập trung của tỉnh được đầu tư xây dựng ở địa bàn thị trấn Đồng Văn và một phần của các xã Duy Minh, Bạch Thượng đã cơ bản xây dựng xong cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 32

Hình 2.1: Vị trí địa lý xã Mộc Nam thuộc huyện Duy Tiên

Trang 33

Hình 2.2: Vị trí địa lý làng nghề Nha Xá

Trang 34

2 Địa hình, thổ nhưỡng

Xã Mộc Nam có địa hình bằng phẳng, thành phần đất chủ yếu là đất phù sa, thành phần cơ giới nhé, đất tơi xốp Nhìn chung đất đai của xã thuộc loại có độ phì nhiêu cao, thích hợp cho trồng rau màu, cây ăn quả, có điều kiện phát triển trang trai Mặt khác rất thích hợp cho nông nghiệp vì không bị ngập úng khi mưa nhiều

3 Điều kiện khí tượng – thủy văn

Khí hậu: Xã Mộc Nam nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên có đầy đủ các đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng đó là nhiệt đối gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh

Mùa đông lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trước, kết thúc vào tháng 5 năm sau, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, khô hạn Hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc và gió Đông Nam

Mùa hè bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 10, số giờ nắng trong năm khoảng 1300 giờ nắng Nhiệt độ trung bình năm 24oC, nhiệt độ cao nhất lên đên 39,8oC Chế độ mưa ở Hà Nam thay đổi nhiều trong năm, mưa tập trung vào mùa hè (mùa mưa), tổng lượng mưa trung bình trong năm là 1582mm Độ ẩm trung bình năm khoảng 82,42%

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1 Đất và tình hình sử dụng đất

Hiện nay, xã Mộc Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là: 811,11 ha Trong đó đất nông nghiệp là 577,31 ha chiếm trên 71% tổng diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp giảm so với năm 2005 là 40,23 ha (do quá trình đô thị hóa chuyển mục địch đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng), đất thổ cư là 60,57 ha chiếm 7,4% tổng diện tích đất tự nhiên

Diện tích đất chuyên dùng tăng mạnh từ 105,2 ha năm 2005 lên 143,79 ha năm 2011 Diện tích đất chuyên dùng tăng chủ yếu vào mục đích đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp

Trang 35

Như vậy, tình hình sử dụng đất của địa phương trong thời gian qua rất phù hợp với chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp

2 Dân số và lao động

Xã Mộc Nam có dân số hơn 8.000 người sống ở 5 thôn là Nha Xá, Đô Quan, Yên Lạc, Yên Ninh và Lảnh Trì Nha Xá là làng nghề dệt lụa truyền thống thuộc xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Ban đầu nghề dệt nhuộm chỉ có ở thôn Nha Xá nhưng mấy năm gần đây được nhân rộng ra toàn xã Hiện nay, làng nghề dệt Nha Xá có 230 hộ, gần 800 nhân khẩu Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đạt 0,71%, tỷ lệ sinh giảm 0,1%

3 Cơ cấu kinh tế

Xã Mộc Nam là một trong những xã có tốc độ phát triển nhanh của tỉnh Hà Nam Theo Báo cáo 02/BC-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2012 của UBND xã Mộc Nam về “Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2011, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2012” thì tốc độ tăng trưởng kinh tế

là 13%

Hình 2.3 : Cơ cấu kinh tế của xã Mộc Nam năm 2011

Trang 36

Ngành nghề chủ yếu của xã là dệt nhuộm bông, vải sợi, khăn… Hiện làng nghề Nha Xá có 7 công ty, xí nghiệp dệt nhuộm, 20 tổ sản xuất, kinh doanh với doanh thu hàng năm lên tới hàng trăm tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người trên 8 triệu đồng/năm

Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề dịch vụ,

hộ kinh tế gia đình đạt 40 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 14triệu/năm, bằng 103,7% so với kế hoạch

Tổng số máy dệt lụa đũi của toàn xã là 435 máy, trong đó Hợp tác xã Nha Xá

có 283 máy, trong đó số máy dệt lụa hoa và máy kiếm là 108 máy

Tổng sản lượng lụa + đũi cả năm đạt 1.200.000m, đạt 95% so với kế hoạch năm Thu nhập bình quân từ 1.200.000 – 1.300.000đồng/tháng/lao động

Hệ thống giao thông trong xã có khoảng 35 km với 5km trục liên huyện đều

đã được giải nhựa Apphan Hệ thống giao thông nông thôn 100% được bê tông hóa Tuy nhiên do tốc độ công nghiệp hóa khu vực, lưu lượng xe ô tô trọng tải lớn càng ngày càng cao (khoảng 800 lượt xe mỗi ngày) đã gây ra tình trạng xuống cấp nghiêm trọng cho nhiều đoạn đường trong khu vực

Năng lượng điện: hiện tại toàn xã có 4 trạm biến áp với công suất 4.700KVA, mỗi năm được cung cấp 15,7 triệu KW Hệ thống điện đã được đầu tư cải tiến liên tục nhưng vào thời điểm cao điểm lượng tiêu thụ trên địa bàn lớn nên thường xảy ra tình trạng quá tải

Trang 37

Hệ thống thủy lợi: Hệ thống tưới tiêu của xã đã được đổ bê tông với chiều dài là 16km Hệ thống thoát nước, cống rãnh được xây dựng kiên cố từ 3 năm trước đây, nhưng hiện nay do sự phát triển quy mô sản xuất lớn hơn nhiều nên tình trạng

ùn tắc, ứ đọng xảy ra thường xuyên, nhiều khi tràn lên mặt đường gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, việc đầu tư cho hệ thống này không được đồng bộ, mang tính chất chắp vá đã làm cho hệ thống bị xuống cấp nhanh chóng Đây chính là điểm cần quan tâm giải quyết vì nó có sự ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề môi trường trong xã

Đầu tư, phát triển đời sống dân sinh khác: Các công trình phúc lợi của xã đã

và đang góp những phần tích cực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Các trường học đã được đầu tư mở rộng đảm bảo đầy đủ những điều kiện học hành tốt nhất cho học sinh Trạm y tế xã ở gần trung tâm xã tạo điều kiện để mọi người dân đến khám chữa bệnh được thuận lợi nhất Xã có một trạm phát thanh trung tâm và ở mỗi thôn xóm đều có một loa phóng thanh Ngoài ra, xã đã xây dựng nhà văn hóa với diện tích trên 100m2, các thôn xóm cũng đã có nhà văn hóa Đây là nơi diễn ra mọi hoạt động văn hóa văn nghệ của làng

Ảnh 1: Làng nghề dệt nhuộm Nha Xá

Trang 38

2.2 L àng nghề dệt nhuộm Nha Xá

2.2.1 Quy mô s ản xuất

Theo thống kê của phòng địa chính - UBND xã Mộc Nam, trước đây làng Nha Xá có 26 – 28 hộ làm nghề dệt nhuộm Tuy nhiên, từ năm 2008 – 2010 do

khủng hoảng kinh tế, việc tiêu thụ sản phẩm có phần chững lại, một số hộ với quy

mô xản xuất nhỏ đã không còn duy trì hoạt động và đã không làm nghề dệt nhuộm nữa Mặc dù vậy, những năm trở lại đây, cùng với đà phát triển chung của toàn xã, dệt nhuộm Nha Xá đã phát triển trở lại Không những thế, hoạt động sản xuất dệt nhuộm tại làng nghề Nha Xá đã mở rộng ra cả thôn Lãnh Trì Theo kết quả điều tra, hiện nay có 19 hộ đang hoạt động sản xuất dệt nhuộm tại làng nghề Nha Xá và 4 hộ tại thôn Lãnh Trì Quy mô sản xuất và lượng nước cấp của các cơ sở sản xuất như sau:

Báng 2.1 : Kết quả điều tra các hộ dệt nhuộm tại làng nghề Nha Xá, xã Mộc Nam

STT Chủ hộ Địa chỉ Quy mô xưởng sản xuất (m 2 )

Lượng nước cấp (m 3 )

Trang 39

9 Phạm Thế Doãn Thôn Nha Xá 100 10

(Nguồn: Phòng địa chính - UBND xã Mộc Nam năm 2012)

Theo bảng trên, làng nghề có 23 cơ sở sản xuất với quy mô sản xuất khoảng 3.750m2 Trong đó có khoảng 3 cơ sở quy mô sản xuất lớn 300m2

, các cơ sở còn lại

có quy mô vừa và nhỏ hơn từ 100-250m2 Lượng nước sử dụng tại các cơ sở sản xuất có quy mô lớn khoảng 20-30m3/ngày/cơ sở, các cơ sở nhỏ khoảng 7-

Trang 40

10m3/ngày/cơ sở Vì vậy, trung bình một ngày các cơ sở sản xuất sử dụng khoảng 300m3/ngày đêm Trong đó từ 60 – 70% lượng nước cấp sau quá trình sản xuất trở thành nước thải Do đó, tổng lượng nước thải hàng ngày từ sản xuất ước tính khoảng 170 – 198 m3/ngày đêm 02 hộ sử dụng khối nước cấp lên tới 30 m3

/ngày đêm là hộ bà Lê Thị Mùi và ông Lê Thanh Sơn Đây cũng là 2 hộ có quy mô xưởng sản xuất lớn nhất là 300m2

Dự báo, theo quy mô phát triển làng nghề Nha Xá đến năm 2015, lưu lượng nước thải phát sinh hàng ngày khoảng 200 m3/ngày đêm Do đó, nếu đầu tư xây dựng HT XLNT tập trung cho làng nghề thì HT phải có công suất xử lý là 200

m3/ngày đêm

Ảnh 2: Xưởng sản xuất nhà ông Lê Thanh Sơn

Ảnh 3: Xưởng sản xuất nhà bà Lê Thị Mùi

Ngày đăng: 11/04/2023, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển n ông thôn (2010) - Quy hoạch phát triển NNNT đến 2015 và định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển NNNT đến 2015 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2010
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009) - Hội Thảo Mỗi làng một sản phẩm - Cục Chế biến,Thương mại NLTS và nghề muối ngày 15/9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Thảo Mỗi làng một sản phẩm
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Cục Chế biến, Thương mại NLTS và nghề muối
Năm: 2009
6. Công ty TNHH dệt nhuộm Xuân Hương - Khu công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân TP. Hồ Chí Minh (2008) - Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm
Tác giả: Công ty TNHH dệt nhuộm Xuân Hương
Năm: 2008
7. Công ty TNHH dệt nhuộm Lý Minh - Khu công nghiệp VINATEX, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (2008) - Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm
Tác giả: Công ty TNHH dệt nhuộm Lý Minh
Năm: 2008
11. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII (2012) - Luật Tài nguyên nước thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tài nguyên nước
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2012
12. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam (2 013) - Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hà Nam
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam
Năm: 2013
13. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam (2013) - Báo cáo hiện trạng chuyên đề môi trường nước khu vực nông thôn tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng chuyên đề môi trường nước khu vực nông thôn tỉnh Hà Nam
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam
Năm: 2013
14. Tiến sỹ Phạm Thị Ngọc Lan – Giảng viên trường Đại học Thủy Lợi – Bài g iảng “Công nghệ môi trường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ môi trường
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Lan
Nhà XB: Trường Đại học Thủy Lợi
16. Ủy Ban Nhân Dân xã Mộc Nam (2011) - Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2011, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2011, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2012
Tác giả: Ủy Ban Nhân Dân xã Mộc Nam
Năm: 2011
17. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương ( 2010) - Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2010
18. Viện khoa học Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng (2012) – Báo cáo quan trắc môi trường làng nghề tỉnh Hà Nam năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc môi trường làng nghề tỉnh Hà Nam năm 2012
Tác giả: Viện khoa học Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng
Năm: 2012
19. Xí nghiệp dệt may Nam Thành - Cụm công nghiệp làng nghề dệt xã Phương La - Hưng Hà - Thái Bình (2010) - Hệ thống xử lý nước thải tẩy nhuộm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống xử lý nước thải tẩy nhuộm
Năm: 2010
8. Dự án đầu tư: Xây dựng cơ sở hạ tầng và trạm xử lý nước thải làng nghề dệt nhuộm Hòa Hậu thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam năm 2012 Khác
10. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI (2005) - Luật Bảo vệ môi trường thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Khác
15. Trần Văn Nhân, Ngô Thị Nga (2006) – Giáo trình công nghệ xử lý nước thải. NXB Khoa học và kỹ thuật Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1:  Hiện trạng phân bố làng nghề trên cả nước - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 1.1 Hiện trạng phân bố làng nghề trên cả nước (Trang 9)
Hình 2.1:  Vị trí địa lý xã Mộc Nam thuộc huyện Duy Tiên - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.1 Vị trí địa lý xã Mộc Nam thuộc huyện Duy Tiên (Trang 32)
Hình 2.2:  Vị trí địa lý làng nghề Nha Xá - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.2 Vị trí địa lý làng nghề Nha Xá (Trang 33)
Hình 2.3 : Cơ cấu kinh tế của xã Mộc Nam năm 2011 - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.3 Cơ cấu kinh tế của xã Mộc Nam năm 2011 (Trang 35)
Hình 2.4:  Quy trình công nghệ dệt nhuộm - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.4 Quy trình công nghệ dệt nhuộm (Trang 41)
Bảng 2.4: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Bảng 2.4 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt (Trang 50)
Hình 2.7:  Nồng độ các chất đặc trưng trong nước thải làng nghề Nha Xá - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.7 Nồng độ các chất đặc trưng trong nước thải làng nghề Nha Xá (Trang 54)
Hình 2.8:  Nồng độ các chất ô nhiễm đặc trưng trong MT nước mặt làng Nha Xá - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.8 Nồng độ các chất ô nhiễm đặc trưng trong MT nước mặt làng Nha Xá (Trang 56)
Hình 2.9:  Sơ đồ hệ thống tổ chức QLMT làng nghề huyện Duy Tiên - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 2.9 Sơ đồ hệ thống tổ chức QLMT làng nghề huyện Duy Tiên (Trang 63)
Hình 3.2 : Sơ đồ tổ chức Ban quản lý cụm công nghiệp - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức Ban quản lý cụm công nghiệp (Trang 74)
Hình 3.3:  Quy trình sản xuất sạch hơn - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 3.3 Quy trình sản xuất sạch hơn (Trang 77)
Hình 3.5 : Hệ thống XLNT dệt nhuộm của công ty TNHH dệt nhuộm Xuân Hương - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 3.5 Hệ thống XLNT dệt nhuộm của công ty TNHH dệt nhuộm Xuân Hương (Trang 89)
Hình 3.6:  Hệ thống XLNT dệt nhuộm của công ty TNHH dệt nhuộm Lý Minh  Thuyết minh dây chuyền công nghệ: - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 3.6 Hệ thống XLNT dệt nhuộm của công ty TNHH dệt nhuộm Lý Minh Thuyết minh dây chuyền công nghệ: (Trang 91)
Hình 3.7:  Hệ thống xử lý nước thải tẩy nhuộm xí nghiệp dệt may Nam Thành - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 3.7 Hệ thống xử lý nước thải tẩy nhuộm xí nghiệp dệt may Nam Thành (Trang 92)
Hình 3.8:  Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm làng nghề Hòa Hậu Thuyết minh sơ đồ: - (Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Giải Pháp Cải Thiện Mooi Trường Nước Làng Nghề Dệt Nhuộm Nha Xá - Xã Mộc Nam - Huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.pdf
Hình 3.8 Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm làng nghề Hòa Hậu Thuyết minh sơ đồ: (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w