1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Thạc Sỹ Quản Lý Kinh Tế Đề Tài Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Công Trình Thuỷ Lợi Tại Công Ty Tnhh Mtv Khai Thác Thuỷ Lợi Thái Nguyên.pdf

98 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý công trình thủy lợi tại Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên
Tác giả Hà Tuấn Anh
Người hướng dẫn TS. Trương Đức Toàn
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ (13)
    • 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi (13)
      • 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản (13)
      • 1.1.2 Đặc điểm của hệ thống công trình thủy lợi (15)
      • 1.1.3 Nội dung quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi (18)
      • 1.1.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi (22)
      • 1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi (33)
    • 1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi . 26 (34)
      • 1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi của một số doanh nghiệp trên thế giới (34)
      • 1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý công trình thủy lợi của một số đơn vị trong nước (35)
      • 1.2.3 Bài học kinh nghiệm thực tiễn rút ra cho Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên (38)
    • 1.3 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài (39)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI TẠI CÔNG TY TNHH MTV KHAI THÁC THUỶ LỢI THÁI NGUYÊN (42)
    • 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (42)
      • 2.1.1 Điều kiện tự nhiên (43)
      • 2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội (46)
    • 2.2 Giới thiệu về công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên (48)
      • 2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty (48)
      • 2.2.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của công ty (49)
      • 2.2.3 Công tác quản lý, bảo vệ kiểm tra, nâng cấp sửa chữa công trình của Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên (54)
      • 2.2.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thời gian qua (58)
    • 2.3 Thực trạng hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi tại công (63)
      • 2.3.1 Nhóm chỉ số quản lý công trình (63)
      • 2.3.2 Nhóm chỉ số quản lý nước (68)
      • 2.3.3 Nhóm chỉ số quản lý kinh tế (69)
      • 2.3.4 Nhóm chỉ số môi trường nước (74)
      • 2.3.5 Nhóm chỉ số tổ chức dùng nước (75)
    • 2.4 Đánh giá chung về hiệu quả quản lý công trình của công ty TNHH MTV (75)
    • 2.5 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế (77)
      • 2.5.1 Những hạn chế (77)
      • 2.5.2 Nguyên nhân (80)
  • CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI TẠI CÔNG TY TNHH MTV KHAI THÁC THUỶ LỢI THÁI NGUYÊN (82)
    • 3.1 Định hướng về công tác quản lý công trình thủy lợi của Công ty trong thời (82)
    • 3.2 Những cơ hội và thách thức trong quản lý công trình công trình của Công ty (82)
      • 3.2.1 Những cơ hội (82)
      • 3.2.2 Những thách thức (83)
      • 3.3.1 Nâng cao năng lực cán bộ công nhân viên của Công ty (84)
      • 3.3.2 Hoàn thiện hệ thống trang thiết bị phục vụ công tác quản lý công trình thủy lợi (86)
      • 3.3.3 Giải pháp về hoàn thiện công tác theo dõi, bảo vệ công trình (87)
      • 3.3.4 Đẩy mạnh công tác duy tu bảo dưỡng và sửa chữa công trình (89)
      • 3.3.5 Tăng cường kiểm tra và đánh giá công tác quản lý công trình thủy lợi 82 (90)
      • 3.3.6 Giải pháp tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý khai thác (90)
      • 3.3.7 Một số giải pháp hộ trợ khác (92)

Nội dung

i LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dướ[.]

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

Cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Quản lý là quá trình tác động có tổ chức của chủ thể lên đối tượng nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực và thời cơ để đạt mục tiêu trong môi trường biến động Đây là một loại lao động xã hội thực hiện ở quy mô lớn, không thể tách rời khỏi lao động Mọi hoạt động của tổ chức đều cần quản lý để phối hợp các chức năng chung, đảm bảo hoàn thành công việc thông qua nỗ lực của người khác.

Quản lý cần xác định rõ các mục tiêu cần đạt được, phương pháp thực hiện và cách thức đấu tranh với các thách thức.

Quản lý là sự kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật, đóng vai trò quan trọng trong việc phân công lao động để liên kết và phối hợp hoạt động của tập thể Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, có thể xảy ra nhiều rủi ro, và việc nhận diện cũng như xử lý những rủi ro này là cần thiết để đảm bảo sự hiệu quả trong hoạt động chung.

Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là việc phân chia nhiệm vụ và trách nhiệm trong quản lý, vận hành công trình nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả Giải pháp này đã chứng minh tính hiệu quả trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi tại Việt Nam và trên toàn thế giới.

1.1.1.2 Hệ thống công trình thủy lợi

Theo Điều 2 của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có mối liên hệ trực tiếp về khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định Quy mô của hệ thống này được xác định dựa trên các yếu tố liên quan.

6 công trình thủy lợi được phân loại thành các cấp độ khác nhau thuộc pham vi một tỉnh, huyện, xã hoặc hệ thống liên tỉnh, liên huyện, liên xã

Hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh là một mạng lưới CTTL phục vụ cho việc tưới, tiêu và cấp nước, mang lại lợi ích cho các tổ chức và cá nhân thuộc hai tỉnh hoặc các đơn vị hành chính tương đương trở lên.

Hệ thống công trình thuỷ lợi liên huyện là một mạng lưới CTTL phục vụ cho việc tưới, tiêu và cấp nước, mang lại lợi ích cho các tổ chức và cá nhân thuộc hai huyện hoặc các đơn vị hành chính tương đương trở lên.

Hệ thống công trình thuỷ lợi liên xã là một mạng lưới CTTL phục vụ cho việc tưới, tiêu và cấp nước, mang lại lợi ích cho các tổ chức và cá nhân thuộc hai xã hoặc các đơn vị hành chính tương đương trở lên.

1.1.1.3 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Công tác thủy lợi bao gồm các giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: quy hoạch, khảo sát, thiết kế

+ Giai đoạn 2: Tổ chức thi công xây dựng công trình

+ Giai đoạn 3: Tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng công trình

Quản lý khai thác các công trình thủy lợi là quá trình vận hành và sử dụng hiệu quả nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước theo kế hoạch tưới tiêu, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực và xã hội.

Sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là sản phẩm, dịch vụ do khai thác, lợi dụng công trình thủy lợi tạo ra

Khai thác tổng hợp công trình thủy lợi nhằm sử dụng hiệu quả tiềm năng của các công trình này để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là khoản tiền phải trả cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ thủy lợi

1.1.2 Đặc điểm của hệ thống công trình thủy lợi

Thủy lợi bao gồm các giải pháp để tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối và cấp nước cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sản xuất muối Nó cũng hỗ trợ cấp, tiêu và thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác, đồng thời góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh nguồn nước.

Quản lý công trình thủy lợi bao gồm các hoạt động cấp, tưới, tiêu và thoát nước, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và dịch vụ Để đạt hiệu quả cao nhất, cần có sự quản lý thống nhất và nắm vững các đặc điểm cơ bản của các công trình này.

1.1.2.1 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật:

Vốn đầu tư xây dựng thường có quy mô lớn và quá trình thu hồi vốn trực tiếp thường diễn ra chậm, thậm chí có thể không thu hồi được, dẫn đến tình trạng kinh doanh không có lãi Dù vốn đầu tư có lớn đến đâu, nó chỉ có thể phục vụ trong một phạm vi lưu vực tưới nhất định và mang tính hệ thống.

Các công trình thủy lợi được tài trợ từ ngân sách nhà nước, vốn vay, vốn địa phương hoặc từ thủy lợi phí của các công ty khai thác và sự đóng góp của nhân dân Khi hoàn thành, những công trình này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế bền vững nếu được khai thác và quản lý một cách hiệu quả.

Công trình thủy lợi nằm rải rác trên diện rộng, chịu sự tác động của thiên nhiên và con người

Công trình phải đảm bảo hệ số tưới như đã xác định trong quy hoạch, phải đủ khả năng cung cấp nước hoặc thoát nước khi cần

Kênh mương cứng hóa đáy bê tông, thành có thể xây gạch hoặc bê tông, mặt kênh có thể hình thang hoặc hình chữ nhật

Các công trình thủy lợi đa mục tiêu bao gồm tưới tiêu cho nông nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt, hỗ trợ thủy sản, phục vụ sản xuất công nghiệp, giao thông, du lịch, và chống thiên tai, đồng thời cải tạo đất và bảo vệ môi trường sinh thái.

Cơ sở thực tiễn về hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 26

1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi của một số doanh nghiệp trên thế giới

Phát triển nông nghiệp toàn diện là một chiến lược quan trọng nhằm hỗ trợ và bảo vệ sự phát triển của ngành nông nghiệp Trong đó, hệ thống thủy lợi đóng vai trò thiết yếu, góp phần vào các biện pháp phát triển nông nghiệp bền vững.

Nền kinh tế đang biến đổi, yêu cầu hệ thống quản lý thủy lợi phải điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển toàn diện Dưới đây là một số ví dụ về công tác quản lý và khai thác công trình thủy lợi trên toàn cầu, trong đó có Thái Lan.

Từ năm 1984 đến 1989, Thái Lan đã triển khai dự án “Can thiệp của Nhà nước vào các hệ thống tưới tiêu do nông dân quản lý” nhằm hỗ trợ các hệ thống tưới tiêu nhỏ lẻ do nông dân điều hành Chính phủ khuyến khích người dân thành lập các tổ chức tưới tiêu công cộng, nhóm dùng nước và các hội dùng nước, đồng thời thực hiện cải cách nông nghiệp với sự hỗ trợ tài chính từ ADB.

Sau thời gian thử nghiệm trên 5% tổng diện tích tưới tiêu toàn quốc, nông dân đã đạt được kết quả tích cực trong việc trồng nhiều nông sản trong mùa khô.

Giảm số lượng nhân viên vận hành trong lĩnh vực bảo trì và bảo dưỡng sẽ giúp giảm chi phí kinh doanh và quản lý, đồng thời tăng cường lợi ích xã hội và khả năng giao dịch với thị trường.

Trung Quốc đã thực hiện một cuộc cải cách quản lý tưới tiêu quy mô lớn, bao gồm 11 tỉnh và 6 khu tự trị, mang lại kết quả tích cực và những bài học kinh nghiệm quý giá.

Tỉnh Quảng Đông có tổng diện tích đất canh tác lên tới 634.919ha, bao gồm 757 khu tưới với diện tích trên 667ha và 65 khu tưới lớn có diện tích trên 2000ha Việc thử nghiệm xây dựng các tổ chức dùng nước (WUA) được thực hiện với các tiêu chí cụ thể.

Chính quyền các cấp đã nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò của WUA, từ đó tích cực ủng hộ việc thành lập tổ chức này.

- Những vùng có nguồn nước đầy đủ, chất lượng nước tốt, đảm bao hệ số tưới cao

Các khu vực có tổ chức quần chúng hiệu quả thường nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ nông dân đối với các công tác cải cách Người dân tại đây có độ tin cậy cao vào các dự án tưới tiêu, điều này góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

- Các khu tưới đã có một số kinh nghiệm trong việc quản lý và thu chi thủy lợi phí

- Những nơi có đặc điểm nguồn nước, loại hình công trình, quy mô, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tương đối điển hình

Thông qua việc thử nghiệm WUA trong quản lý vận hành thủy lợi và tự chủ tài chính, công tác quản lý đã đạt được kết quả tốt hơn so với trước đây, khi mà tình hình trước đó được đánh giá là rất kém.

Sau khi thử nghiệm, lãnh đạo tỉnh Quảng Đông đã nhận định rằng cải cách hệ thống quản lý công trình thông qua biện pháp WUA vượt trội hơn so với hình thức đấu giá hay cho thuê công trình thủy lợi trước đây WUA không chỉ thể hiện tính dân chủ và pháp lý cao hơn mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững trong công tác bảo vệ nguồn nước.

1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý công trình thủy lợi của một số đơn vị trong nước

Sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã chú trọng đầu tư vào việc xây dựng một hệ thống công trình thủy lợi lớn mạnh Đến nay, Việt Nam đã hoàn thành nhiều dự án thủy lợi quan trọng.

Việt Nam hiện có 28.000 hệ thống công trình thủy lợi, bao gồm 6.638 hồ chứa, hơn 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương và 25.960 km đê các loại Đầu tư vào thủy lợi đã giúp đào tạo gần trăm nghìn cán bộ từ trung ương đến địa phương, góp phần quan trọng đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Tuy nhiên, tốc độ nhanh của quá trình công nghiệp hóa đã khiến nhiều hệ thống công trình thủy lợi không còn đáp ứng kịp về quy mô và tính hiện đại.

Việt Nam là một trong năm quốc gia ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, điều này yêu cầu công tác quản lý phải được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

Một số mô hình quản lý khai thác công trình thủy lợi có thể áp dụng cho Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Thái Nguyên, trong đó mô hình quản lý của Công ty Thủy Lợi Tỉnh Đồng Tháp là một ví dụ điển hình.

Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Quản lý và khai thác CTTL là nhiệm vụ cung cấp sản phẩm công ích, liên quan trực tiếp đến nông dân và quản lý nguồn kinh phí Nhà nước hỗ trợ cho họ Việc sử dụng hiệu quả kinh phí này là yêu cầu tiên quyết, do đó, chủ đề này đã thu hút sự quan tâm của các cấp, ngành và các nhà khoa học trong nước trong thời gian qua.

Kết quả điều tra về quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi

Vào ngày 31/8/2015, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã công bố kết quả điều tra về quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi theo quyết định số 3511/QĐ-BNN-TCTL, dựa trên số liệu điều tra năm 2013 Kết quả điều tra bao gồm số liệu tổng hợp và riêng biệt của 06 vùng kinh tế, thống kê số lượng đơn vị tham gia quản lý khai thác công trình thủy lợi (CTTL) và số lượng người tham gia trên toàn quốc, cùng với các mô hình hoạt động Ngoài ra, kết quả cũng chỉ ra hiệu quả tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp theo từng vụ và loại cây trồng, cũng như số lượng và chủng loại các CTTL như hồ chứa, đập dâng, trạm bơm và kênh mương ở các cấp độ quản lý Đề án nâng cao hiệu quả quản lý khai thác CTTL đã được ban hành kèm theo quyết định số 784/QĐ-BNN-TCTL ngày 21/4/2014 của Bộ Nông nghiệp & PTNT.

Đề án đã đánh giá thực trạng quản lý khai thác công trình thủy lợi, từ quá trình xây dựng đến mô hình tổ chức quản lý Bên cạnh đó, đề án cũng chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những thành tựu và hạn chế trong công tác này.

Trong quản lý khai thác CTTL, cần xác định rõ những nhiệm vụ quan trọng cho giai đoạn tới và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác CTTL tại nước ta.

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước

Bài báo của TS Đoàn Thế Lợi tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế thủy lợi, thuộc Viện Khoa học Thủy lợi, trình bày về hiện trạng tổ chức quản lý và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho các hệ thống thủy lợi Nghiên cứu được công bố trong Tạp chí Hội Đập lớn Việt Nam vào tháng 8 năm 2007.

Tác giả phân tích tình hình hiện tại của mô hình tổ chức quản lý khai thác CTTL trên toàn quốc, nhấn mạnh bốn nhóm nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp quan trọng nhằm cải thiện tình hình này.

Bài báo của PGS.TS Nguyễn Trung Dũng tại Trường Đại học Thủy lợi phân tích chính sách thủy lợi phí (TLP) ở Việt Nam từ góc độ kinh tế học Nghiên cứu này được đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường, số 51, tháng 12/2015, nhằm làm rõ tác động của TLP đến phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên nước.

Bài viết phân tích chính sách thủy lợi phí (TLP) của Việt Nam từ năm 1949 đến nay, dựa trên thực trạng quản lý công trình thủy lợi (CTTL) và chế độ chính sách hiện hành Tác giả đề xuất một số giải pháp điều chỉnh chính sách TLP nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác CTTL.

Báo cáo nghiên cứu khoa học của PGS.TS Nguyễn Bá Uân tại Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi, trình bày phương pháp xác định hiệu quả kinh tế tổng hợp của công trình thủy lợi phục vụ tiêu thoát nước Nghiên cứu này được giới thiệu tại hội thảo khoa học thường niên của trường vào tháng 5 năm 2014.

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định hiệu quả kinh tế tổng hợp của hệ thống tiêu thoát nước phục vụ nông nghiệp trong giai đoạn quản lý vận hành Tác giả đã trình bày các cơ sở nghiên cứu, quan điểm và phương pháp để đánh giá hiệu quả kinh tế của công trình này, từ đó đề xuất các bước tính toán cụ thể cho các thành phần lợi ích trong việc xác định hiệu quả kinh tế của hệ thống tiêu thoát nước.

Các luận văn của các thạc sĩ

Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thị Vòng tại Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2013) tập trung vào các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công trình thủy nông tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Đồng thời, Mai An Đông từ Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy Lợi cũng nghiên cứu các giải pháp quản lý và khai thác hệ thống công trình thủy lợi tại thành phố Hà Nội, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Trong chương 1 của luận văn, tác giả trình bày các khái niệm cơ bản về hoạt động quản lý và đánh giá vai trò quan trọng của ngành thủy lợi đối với nền kinh tế quốc dân Việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi (CTTL) được xác định là một yêu cầu thiết yếu cho sự phát triển của đất nước và cộng đồng.

Tác giả đã trình bày các mô hình quản lý CTTL hiện tại tại Việt Nam, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về công tác quản lý và vận hành hệ thống CTTL trong giai đoạn khai thác Đồng thời, để đánh giá hiệu quả của các công trình này, tác giả cũng đã đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý khai thác CTTL.

Chương 1 đã tập trung khái quát những vấn đề cơ bản mang tính lý luận về công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi, hệ thống hóa về nội dung và các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hệ thống công trình thủy lợi Trong chương này luận văn cũng đã nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm của quốc tế và một số địa phương trên cả nước về công tác nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi Từ những nghiên cứu lý luận về hiệu quả, các tiêu chí đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi ở chương này sẽ là cơ sở, nền tảng và điều kiện quan trọng để nghiên cứu, phân tích về thực trạng hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi cho địa bàn nghiên cứu trong Chương 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI TẠI CÔNG TY TNHH MTV KHAI THÁC THUỶ LỢI THÁI NGUYÊN

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Thái Nguyên là một tỉnh ở đông bắc Việt Nam, giáp với thủ đô Hà Nội và nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Đây là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực đông bắc và miền núi phía bắc Tỉnh Thái Nguyên được tái lập vào ngày 1/1/1997, tách ra từ tỉnh Bắc Thái Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội, Thái Nguyên đang phát triển mạnh mẽ và được xem là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km², nằm ở vị trí chiến lược với các tỉnh Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang và thủ đô Hà Nội Cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, biên giới Trung Quốc 200 km, trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km, Thái Nguyên đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và giáo dục của khu vực Việt Bắc Tỉnh cũng là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi và đồng bằng Bắc Bộ, với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông phát triển, trong đó thành phố Thái Nguyên là đầu mối quan trọng.

2.1.1 Điều kiện tự nhiên Địa chất - địa hình

Khu vực Tây Bắc Thái Nguyên, bao gồm huyện Định Hóa và các xã phía Tây của huyện Đại Từ và Phú Lương, có lịch sử hình thành từ chu kỳ kiến tạo sơn Caledonia cách đây 480 triệu năm, hoàn thành trong đại cổ sinh khoảng 225 triệu năm trước Các khu vực núi khác của Thái Nguyên có lịch sử địa chất trẻ hơn, trong khi phần lớn lãnh thổ Thái Nguyên hình thành suốt Trung Sinh, kéo dài từ 240 triệu năm đến 67 triệu năm trước.

Sau khi hình thành, lãnh thổ Thái Nguyên ngày nay tồn tại dưới chế độ lục địa liên tục

Trong suốt 50 triệu năm, địa hình Thái Nguyên đã trải qua quá trình san bằng và hình thành bình nguyên Khoảng 25 triệu năm trước, khi kiến tạo sơn Himalaya diễn ra, Thái Nguyên đã được nâng cao từ 200 – 500m, làm trẻ hóa địa hình Các vùng cao bị cắt xẻ, với vật liệu trầm tích trẻ bị bóc mòn, trong khi các núi cổ bằng nham thạch cứng hơn lại lộ ra, tái lập địa hình như thời kỳ cuối Trung Sinh Địa hình tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi thấp, dần thấp xuống từ bắc vào nam, với diện tích đồi núi cao trên 100m chiếm 2/3 tổng diện tích tỉnh, phần còn lại có độ cao dưới 100m.

Núi Thái Nguyên không cao, nằm ở phía nam của dãy núi Ngân Sơn và Bắc Sơn Dãy núi Tam Đảo, với đỉnh cao nhất 1590m, là địa hình cao nhất trong khu vực Sườn đông của dãy núi này thuộc phía tây nam tỉnh Thái Nguyên, bao gồm các xã huyện Đại Từ, có độ cao khoảng 1000m trước khi giảm dần xuống thung lũng sông Công và hồ Núi Cốc.

Phía đông tỉnh, địa hình cũng chỉ cao 500m-600m, phần nhiều là các khối núi đá vôi với độ cao sàn sàn như nhau

Phía nam tỉnh Thái Nguyên có địa hình thấp, với một số núi thấp nổi bật giữa các vùng đồi Vùng đồi trung du và đồng bằng phù sa của các con sông đều có độ cao dưới 100m Địa hình tỉnh dốc theo hướng bắc-nam, phù hợp với dòng chảy của sông Cầu Hướng dốc bên hữu ngạn sông Cầu là tây bắc-đông nam, trong khi bên tả ngạn (ngoại trừ phần đông nam huyện Võ Nhai) dốc theo hướng đông bắc-tây nam.

Thái Nguyên có 4 nhóm cảnh quan hình thái địa hình với các đặc trưng khác nhau đó là:

- Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng

- Nhóm cảnh quan hình thái gò đồi

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp

- Nhóm cảnh quan địa hình nhân tác (Thái Nguyên chỉ có kiểu các hồ nước nhân tạo, rộng lớn nhất là hồ Núi Cốc)

Thái Nguyên nổi bật với con Sông Cầu, bắt nguồn từ xã Văn Lang, huyện Đồng Hỷ và chảy ra khỏi tỉnh tại xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên Ngoài Sông Cầu, còn có các phụ lưu như sông ĐU, sông Nghinh Tường, sông Công, cùng với sông Ranh và các chi lưu của nó tại huyện Võ Nhai, chảy sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, thuộc lưu vực sông Thương Đặc biệt, Thái Nguyên đã xây dựng hệ thống kênh đào nhân tạo dài 52km mang tên Sông Máng, kết nối Sông Cầu và Sông Thương.

Hồ Núi Cốc, hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh Thái Nguyên, được hình thành từ việc chặn dòng sông Công Với độ sâu 35m và diện tích 25 km², hồ có dung tích ước tính từ 160 triệu đến 200 triệu m³ Hồ không chỉ cung cấp nước mà còn là điểm đến du lịch hấp dẫn.

Tỉnh Thái Nguyên hiện có 2 trạm đo khí tượng hoạt động, bao gồm trạm Thái Nguyên và Định Hóa Mặc dù chỉ có 2 trạm khí tượng, nhưng tỉnh này lại sở hữu một mạng lưới dày đặc với 12 trạm đo mưa.

Lượng mưa phân bố trên địa bàn của tỉnh biến đổi giữa các vùng khá rõ rệt, trong khoảng từ 1.500mm đến trên 2.000mm/năm

Bảng 2.1 Tổng lượng mưa bình quân năm các khu vực tỉnh Thái Nguyên

TT Tên trạm Thời đoạn X TB (mm)

Theo Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên, những khu vực có lượng mưa khoảng 1.500mm/năm đang gặp khó khăn về nguồn nước.

Nhiệt độ trung bình tại Thái Nguyên đạt 25°C, với mức cao nhất ghi nhận là 41,5°C và thấp nhất là 3°C Thành phố này có tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ Khí hậu Thái Nguyên được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô trong các tháng còn lại.

Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 356.282ha Cơ cấu đất đai gồm:

Bảng 2.2 Cơ cấu đất đai tỉnh Thái Nguyên

TT Loại đất Diện tích chiếm so với diện tích đất tự nhiên (%) Độ cao (m)

3 Đất ruộng 20,20% Phân bố dọc theo các con suối

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Trong tổng diện tích 356.282 ha, 246.513 ha đã được sử dụng, chiếm 69,22% diện tích tự nhiên, trong khi 109.669 ha chưa được sử dụng, tương đương 30,78% Trong số đất chưa sử dụng, có 1.714 ha có khả năng sản xuất nông nghiệp và 41.250 ha có khả năng sản xuất lâm nghiệp Sự đa dạng về điều kiện đất đai đã dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý và khai thác công trình thủy lợi ở các khu vực khác nhau.

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thái Nguyên hiện có 6 khu công nghiệp được chính phủ phê duyệt và nhiều cụm công nghiệp được quy hoạch tại các địa phương trong tỉnh Tính đến cuối năm 2010, đã có 18 cụm công nghiệp được phê duyệt với tổng diện tích 620ha, trong đó diện tích đất công nghiệp chiếm 407,6ha Ngoài ra, Thái Nguyên còn có 135 chợ, trong đó 99 chợ nằm ở khu vực nông thôn.

Tỉnh Thái Nguyên sở hữu trữ lượng than lớn thứ hai tại Việt Nam, với khoảng 90 triệu tấn than đá và hơn 15 triệu tấn than mỡ Ngoài ra, khu vực này còn có nhiều kim loại màu như thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken và thủy ngân Đặc biệt, mỏ Núi Pháo ở huyện Địa Từ được đánh giá có trữ lượng vonfram khoảng 21 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới, chỉ sau một mỏ tại Trung Quốc Mỏ này cũng có trữ lượng flo lớn nhất thế giới (khoảng 19,2 triệu tấn) cùng với trữ lượng đáng kể bismuth, đồng, vàng và một số kim loại khác.

Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên

Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, được đầu tư chú trọng và phát triển mạnh mẽ.

Bảng 2.3 Các khu du lịch tỉnh Thái Nguyên

TT Tên khu du lịch Địa điểm

1 Hồ Núi Cốc Xã Phúc Trìu, TP Thái Nguyên

2 Bảo tàng Văn hóa Các dân tộc Việt Nam Trung tâm TP Thái Nguyên

3 Hang Phượng Hoàng và suối Mỏ Gà Xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai

4 Di tích lịch sử ATK Xã Phú Đình, huyện Định Hóa

5 Thác nước 7 tầng Xã Phú Đình, huyện Định Hóa

6 Đền Đuổm(Phú Lương); chùa Hang(Đồng Hỷ); chùa Phù Liễn, đền Xương Rồng(TP Thái Nguyên)

Huyện Phú Lương, h uyện Đồng Hỷ và TP Thái Nguyên

7 Núi Văn, núi Võ Xã Văn yên, huyện Đại Từ

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Giới thiệu về công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty khai thác thủy lợi Thái Nguyên được thành lập ngày 9 tháng 11 năm 1992 theo quyết định số 174/UB - QĐ của UBND tỉnh Bắc Thái

Sau khi tách tỉnh năm 1997, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt phương án phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi theo Quyết định số 514/UB-QĐ ngày 14/3/1997 Ngày 05 tháng 04 năm 1997, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ký quyết định số 94/UB - QĐ thành lập Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi Thái Nguyên, dựa trên việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh của Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Thái.

Thực hiện chủ trương của Nhà nước về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, từ năm

Năm 2006, Công ty Quản lý khai thác công trình lợi tỉnh Thái Nguyên đã được UBND tỉnh Thái Nguyên chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi Thái.

Nguyên theo quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 15/12/2005 Công ty được tổ chức theo mô hình công ty TNHH một thành viên 100% vốn Nhà nước

2.2.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của công ty

Cơ cấu tổ chức của Công ty được thể hiện qua sơ đồ Hình 2-1 Bộ máy tổ chức của Công ty hiện nay gồm:

Văn phòng công ty bao gồm Chủ tịch, Giám đốc, hai phó giám đốc và năm phòng ban chức năng, cụ thể là Phòng Quản lý nước và Công trình, Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật, Phòng Kinh tế, Phòng Tổ chức - Hành chính, và Ban Quản lý Dự án.

Các đơn vị trực thuộc bao gồm Xí nghiệp khai thác thuỷ lợi Núi Cốc, Xí nghiệp thủy sản Núi Cốc, cùng với 7 trạm khai thác thuỷ lợi tại các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương và Định Hóa.

Võ Nhai, Phổ Yên, Phú Bình

Cơ cấu tổ chức của Công ty được thể hiện qua như sau:

Hình 2.3 Mô hình tổ chức bộ máy của Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi TN

Chủ tịch công ty được bổ nhiệm bởi UBND tỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật cũng như UBND tỉnh về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty Ông thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện UBND tỉnh tại công ty theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước Chủ tịch có nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn công ty.

Ban Giám đốc, đứng đầu là giám đốc, có nhiệm vụ điều hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh cũng như các hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn Công ty Họ thực hiện việc kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và lựa chọn các phương án, đồng thời huy động các nguồn lực cần thiết để đảm bảo tổ chức thực hiện hiệu quả.

Phòng kế hoạch có nhiệm vụ xây dựng các chiến lược và kế hoạch phát triển sản xuất cho công ty, đồng thời phụ trách các sáng kiến và đề tài liên quan đến công tác kỹ thuật.

Phòng tổ chức hành chính là cơ quan hỗ trợ Giám đốc trong việc tham mưu, tổng hợp và phối hợp giữa các đơn vị trực thuộc Công ty Nhiệm vụ của phòng bao gồm thực hiện các quyết định của Giám đốc và Lãnh đạo Công ty, đồng thời tham mưu cho Giám đốc về công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, hành chính quản trị, thi đua khen thưởng, kỷ luật và bảo vệ.

Phòng Tài chính - kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tư vấn cho Giám đốc Công ty về tổ chức, quản lý và giám sát các hoạt động kinh tế, tài chính, hạch toán và thống kê Phòng này theo dõi, phân tích và phản ánh tình hình biến động tài sản, nguồn vốn của Công ty, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết về tình hình tài chính và kinh tế để Giám đốc có thể thực hiện công tác điều hành và hoạch định sản xuất kinh doanh hiệu quả.

Phòng Quản lý nước có nhiệm vụ kiểm tra và giám sát hoạt động khai thác, vận hành hệ thống công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất toàn diện cho công ty.

- Ban Quản lý dự án: Thực hiện công tác quản lý các dự án XDCB được giao theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước

Các đơn vị trực thuộc bao gồm Xí nghiệp khai thác thuỷ lợi Núi Cốc, Xí nghiệp thủy sản Núi Cốc, cùng với 7 trạm khai thác thuỷ lợi tại các huyện, thành phố, thị xã như Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai, Phổ Yên, và Phú Bình Những đơn vị này chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty, bao gồm việc đề xuất phương án, lập kế hoạch cụ thể và quản lý vận hành các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu.

Bảng 2.4 Cơ cấu lao động Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi

Khối đơn vị Văn phòng công ty

Văn phòng xí nghiệp, trạm

Quản lý vận hành trực tiếp Cộng

Trên đại học 15 5 2 30 Đại học

Trung học và dạy nghề

II Chức năng nghiệp vụ 64 72 258 402

III Cơ cấu giới tính 64 72 258 402

III Cơ cấu độ tuổi 64 72 258 402

Cơ cấu lao động của công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên còn trẻ, với độ tuổi từ 30-40 chiếm tỷ lệ cao nhất, đảm bảo năng suất làm việc tối ưu nhờ sức khỏe và kinh nghiệm Trình độ chuyên môn của nhân viên cũng rất cao, phần lớn được đào tạo đúng chuyên ngành từ trường đại học Thủy Lợi.

Công ty chú trọng xây dựng và củng cố đội ngũ quản lý, nâng cao chất lượng cán bộ với trình độ chuyên môn từ đại học trở lên Nhiều lãnh đạo có trình độ sau đại học và lý luận chính trị cao cấp Hầu hết cán bộ công nhân viên tốt nghiệp đại học hoặc đang học nâng cao, nhiều người có bằng từ hai chuyên ngành Đội ngũ quản lý thông thạo ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, và có kỹ năng tin học đáp ứng yêu cầu công việc Công ty liên tục phát triển chính sách thu hút nhân tài và đãi ngộ hợp lý để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh sang các lĩnh vực như đầu tư, thiết kế và thực hiện các dự án thủy lợi, hạ tầng nông thôn.

Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của Công ty được thể hiện ở bảng 2.5:

Bảng 2.5 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của Công ty Đơn vị tính:người; Triệu đồng

1 Số lao động bình quân 342 355 383 394 402 13 3,80 28 7,89 11 2,87 8 2,03

4 Hiệu suất sử dụng lao động (2/1) 192,92 201,53 205,37 209,82 214,83 8,61 4,46 3,84 1,90 4,46 2,17 5.01 2,38

5 Mức sinh lời của lao động (3/1) 1,31 1,32 5,46 10,56 11,06 0,01 1,07 4,13 312,17 5,11 93,55 -0.59 4,73

Nguồn: Báo cáo Kết quả Sản xuất kinh doanh của Công ty 2014-2018

Số lượng công nhân viên của công ty chưa ổn định qua các năm, mặc dù công ty đang mở rộng quy mô Hiệu suất sử dụng lao động năm 2014 đạt 192,92 triệu đồng, tăng 8,61 triệu đồng (4,46%) vào năm 2015 Năm 2016, hiệu suất tăng thêm 3,84 triệu đồng (1,9%) so với năm 2015, đạt 209,82 triệu đồng vào năm 2017, tức là tăng 4,46 triệu đồng so với năm 2016.

Năm 2018, công ty ghi nhận mức tăng 214,83 triệu đồng, tương đương 2,38% Hiệu suất sử dụng lao động tăng cho thấy công ty đã chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề của nhân viên, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Đây là một chính sách đúng đắn mà công ty cần tiếp tục phát huy trong tương lai.

Thực trạng hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi tại công

Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên đã tiến hành đánh giá hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thông qua việc phân tích và tính toán các chỉ số chính theo Bộ chỉ số tại Quyết định số 2212/QĐ-BNN-TCTL ngày 30/9/2013 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Báo cáo sử dụng năm nhóm chỉ số, bao gồm: nhóm chỉ số quản lý công trình, nhóm chỉ số quản lý nước, nhóm chỉ số quản lý kinh tế, nhóm chỉ số quản lý môi trường nước, và nhóm chỉ số tổ chức dùng nước.

Nội dung chi tiết của từng chỉ số và kết quả phân tích đánh giá được trình bày dưới đây

2.3.1 Nhóm chỉ số quản lý công trình

Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên là doanh nghiệp công ích chuyên cung cấp dịch vụ tưới tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp và thi công các công trình xây dựng hệ thống thủy lợi Giá trị tài sản dài hạn, bao gồm các công trình hỗ trợ quản lý và điều tiết nguồn nước, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty.

Công ty sở hữu nhiều tài sản cố định, bao gồm nhà văn phòng, máy móc thiết bị như trạm bơm và phương tiện vận tải, cùng hệ thống tưới tiêu với 39 hồ chứa và 37 đập dâng Trong những năm qua, công ty đã đầu tư nâng cấp công nghệ, cải tạo trạm bơm và trang bị hệ thống đóng mở cho các cống tưới tiêu Tất cả máy bơm đều hoạt động hiệu quả và được bảo trì thường xuyên Để thực hiện công nghiệp hóa, công ty đã lắp đặt thiết bị tự động cho một số trạm bơm và bắt đầu bê tông hóa kênh mương, nhờ đó sản xuất luôn ổn định.

Tình hình tài sản của Công ty qua các năm cho thấy Tài sản dài hạn có xu hướng tăng, điều này chứng tỏ Công ty đang đầu tư vào tài sản cố định để mở rộng quy mô kinh doanh.

Hình 2.5 Tốc độ gia tăng tài sản dài hạn 2013-2017

Năm 2014, một số tài sản cố định của doanh nghiệp đã hết thời gian khấu hao nhưng vẫn được sử dụng, dẫn đến việc ghi giảm tài sản cố định và làm cho tốc độ gia tăng tài sản dài hạn âm Tài sản dài hạn của Công ty năm 2014 giảm hơn 13 tỷ đồng, tương ứng với mức giảm 4% so với năm 2013 Tuy nhiên, từ năm 2015 đến 2017, tài sản dài hạn đã có sự tăng trưởng đáng kể, với mức tăng hơn 32 tỷ đồng vào năm 2015, hơn 111 tỷ đồng (tăng 31,95%) vào năm 2016, và đặc biệt là năm 2017, khi giá trị tài sản dài hạn tăng hơn 167 tỷ đồng (tăng 36,27%).

Tài sản cố định là thành phần quan trọng nhất trong tài sản dài hạn của công ty Năm 2017, tài sản cố định tăng 36,54% so với năm 2016, tương ứng với mức tăng 167.786 triệu đồng Ngược lại, các khoản mục khác như tài sản dở dang dài hạn giảm 11,54%, tương ứng với mức giảm 240 triệu đồng, và tài sản dài hạn khác giảm 6,59%, tương ứng với mức giảm 33 triệu đồng.

Hiệu suất và hiệu quả sử dụng tài sản cố định (TSCĐ) trong các công trình thủy lợi hiện đang ở mức thấp, không đáng kể Nguyên nhân chủ yếu là do các công trình này mang tính chất công ích, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn để phục vụ nền nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước.

Công trình thủy lợi bao gồm các hạng mục như đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn và chuyển nước, kè, bờ bao, cùng các công trình khác nhằm phục vụ cho việc quản lý và khai thác tài nguyên nước.

Quản lý công trình bao gồm nội dung chính:

 Đo đạc, quan trắc, giám sát, kiểm tra, kiểm định, đánh giá an toàn công trình thủy lợi;

Quản lý và tổ chức thực hiện bảo trì, nâng cấp, xây dựng mới và hiện đại hóa các công trình, máy móc, thiết bị Đồng thời, xử lý và khắc phục sự cố liên quan đến công trình, cũng như cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ cho các công trình thủy lợi.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phê duyệt và tổ chức thực hiện các phương án ứng phó thiên tai cũng như phương án bảo vệ công trình thủy lợi.

Lập và lưu trữ hồ sơ kỹ thuật về quản lý công trình thủy lợi là rất quan trọng để ổn định và phát triển kinh tế xã hội Trong những thập kỷ qua, đầu tư cho phát triển thủy lợi đã gia tăng, nhằm bảo vệ và khai thác nguồn nước, đáp ứng nhu cầu cho tất cả các ngành kinh tế Sự phát triển này đã đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, với trọng tâm là sản xuất lương thực Tỉnh Thái Nguyên, với điều kiện địa hình và khí hậu thuận lợi, đã chú trọng đầu tư cho nông nghiệp bền vững và quản lý công trình thủy lợi Đánh giá chung cho thấy, nhờ nỗ lực của cán bộ công nhân viên và ban lãnh đạo công ty, các công trình thủy lợi sau khi hoàn thành đã phát huy hiệu quả tích cực cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân.

Bảng 2.11 Bảng các chỉ số quản lý công trình

Các chỉ số QLCT/Năm Đơn vị 2015 2016 2017 2018

Suất chi phí vận hành, bảo dưỡng và SCTX Đồng/ha 998.320,42 994.127,83 993.494,50 969.789,47

Mức độ kiên cố hóa kênh mương % 86,6 88,3 91.1 93.3

Qua bảng số liệu ta thấy:

Chỉ số Suất chi phí vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thường xuyên trên diện tích tưới giảm dần qua các năm nhưng vẫn ở mức bình thường

Mức độ kiên cố hóa kênh mương và an toàn công trình ngày càng cao, cho thấy sự chú trọng của công ty vào việc ổn định và đồng bộ hóa hệ thống thủy lợi Việc kiên cố hóa không chỉ mang lại hiệu quả thiết thực cho sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần tích cực vào việc xây dựng nông thôn mới Hơn nữa, sự kiên cố hóa giúp kênh mương dẫn nước thông suốt, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc nạo vét kênh mương hàng năm.

Việc quan trắc các đối tượng nước là cần thiết để dự báo trạng thái của chúng, vì dự báo chỉ có thể thực hiện khi có thông tin về trạng thái hiện tại và quá khứ Các quan trắc này bao gồm dữ liệu về nguồn ô nhiễm, thành phần và tính chất ô nhiễm, phản ứng của thủy sinh, cũng như sự thay đổi trạng thái của các đối tượng nước Để có được những dự báo chính xác, dữ liệu quan trắc cần được so sánh với thông tin về trạng thái tự nhiên của đối tượng nước trước khi có tác động nhân sinh rõ ràng, tức là cần nắm rõ các đặc trưng nền của chất và lượng tài nguyên nước.

Mục đích chính của việc quan trắc và kiểm soát ô nhiễm nước là thu thập dữ liệu về chất lượng nước, từ đó thực hiện các biện pháp bảo vệ và sử dụng nước một cách hợp lý Việc này nhằm phục vụ cho công tác quan trắc và kiểm soát, giải quyết các nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ nguồn nước.

- quan trắc và kiểm soát mức độ ô nhiễm nước về các chỉ tiêu hóa học, vật lý và thủy sinh học;

- nghiên cứu động học các chất ô nhiễm và làm sáng tỏ các điều kiện làm tăng đột ngột dao động mức ô nhiễm;

- nghiên cứu các quy luật của các quá trình tự làm sạch và tích luỹ chất ô nhiễm trong các trầm tích đáy;

- nghiên cứu các quy luật vận chuyển qua các tuyến ra của sông để xác định cán cân các chất này trong thủy vực

Kể từ năm 2016, xí nghiệp Núi Cốc đã triển khai quan trắc chất lượng nước mặt hồ Núi Cốc để theo dõi liên tục và kiểm soát chất lượng nước phục vụ sinh hoạt cho Thành Phố Thái Nguyên, Sông Công, thị xã Phổ Yên và các khu công nghiệp Hệ thống quan trắc thực hiện lấy mẫu 4 lần mỗi ngày, cung cấp dữ liệu quan trọng cho Sở Tài nguyên và Môi trường cùng UBND tỉnh Thái Nguyên trong việc ban hành các chính sách bảo vệ chất lượng nước hồ Núi Cốc.

Hình 2.6 Hệ thống quan trắc Hồ Núi Cốc

2.3.2 Nhóm chỉ số quản lý nước

Đánh giá chung về hiệu quả quản lý công trình của công ty TNHH MTV

Để đảm bảo nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu sử dụng nước khác, Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên đã yêu cầu các trạm và cụm quản lý công trình thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng.

Cần tăng cường kiểm tra hiện trạng các công trình để kịp thời phát hiện và xử lý sự cố hư hỏng Việc chủ động có biện pháp khắc phục và xử lý ban đầu sẽ giúp ngăn chặn sự cố, bảo đảm an toàn cho công trình và không ảnh hưởng đến việc tích nước.

- Quản lý chặt chẽ nguồn nước hiện có, tích trữ và điều tiết nước hợp lý

- Các hồ chứa chỉ được tháo phục vụ sản xuất nông nghiệp, không tháo nước phục vụ bất kỳ mục đích nào khác

Các công trình thủy lợi tại tỉnh Thái Nguyên, do công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên quản lý, đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp nước tưới tiêu, phù hợp với quy định của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi.

- Công trình thủy lợi do Công ty được phân cấp quản lý đem lại hiệu quả sử dụng cao hơn so với CTTL do cấp Xã (phường) quản lý

- Điều hòa, phân phối nước hợp lý phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân

- Xây dựng và tham gia xây dựng quy trình vận hành, điều tiết hệ thống công trình

Quan trắc và theo dõi việc thu thập số liệu theo quy định là rất quan trọng; đồng thời, nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng khoa học, công nghệ vào khai thác và bảo vệ tài nguyên nước cũng cần được chú trọng Việc lưu trữ hồ sơ khai thác tài nguyên nước sẽ giúp quản lý hiệu quả hơn.

- Bảo vệ chất lượng nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; phòng, chống lũ lụt và các tác hại khác do nước gây ra

Hệ thống công trình thủy lợi tại tỉnh Thái Nguyên do công ty quản lý đã hoạt động hiệu quả và đáp ứng tốt các yêu cầu thực tế Công tác quản lý trong khu vực đã góp phần quan trọng vào hiệu quả hoạt động của hệ thống.

Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi thái nguyên đã đạt được một số kết quả hoạt động quản lý khai thác công trình như sau:

Kể từ khi triển khai hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ cấp nước tưới tiêu từ các công trình thủy lợi, kết quả phục vụ cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp đã được cải thiện đáng kể.

Năm sau, sản lượng lúa của tỉnh Thái Nguyên đã tăng rõ rệt nhờ vào việc nâng cao các chỉ tiêu của các công ty tưới tiêu Công ty đã chủ động trong việc quản lý nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới hiệu quả, đảm bảo cung cấp nước kịp thời cho từng giống cây trồng Diện tích tưới chủ động cũng được mở rộng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa.

Diện tích nghiệm thu ngày càng vượt trội so với diện tích hợp đồng tưới, cho thấy công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên đang thực hiện hiệu quả công tác quản lý và khai thác công trình CTTL mà công ty phụ trách.

Công ty chú trọng đến công tác quản lý tài sản trong vận hành để đảm bảo CTTL hoạt động theo quy trình và quy phạm kỹ thuật Việc tuân thủ các quy định về đầu tư tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản lưu động (TSLĐ) đã giúp giá trị tài sản tăng đều qua các năm Nhờ đó, năng lực sản xuất được cải thiện, nâng cao hiệu quả trong hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh.

Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

Mặc dù công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên đã đạt được nhiều hiệu quả trong quản lý vận hành CTTL, nhưng vẫn tồn tại một số vấn đề và nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả của CTTL trong thời gian qua.

Hệ thống các công trình thủy lợi (CTTL) đã được xây dựng và đưa vào sử dụng từ 10 đến 20 năm trước, nhưng hiện nay phần lớn đã hư hỏng và xuống cấp Các đoạn kênh và công trình bằng gạch cũ đã bị bong tróc, gãy đổ, dẫn đến thất thoát nước và khả năng dẫn nước kém hiệu quả Nhiều đập nước hiện tại bị nứt gãy và thấm nước, trong khi các nhà quản lý gặp khó khăn trong việc vận hành và bảo vệ các công trình cũ không còn an toàn Thêm vào đó, nhiều trạm bơm và máy móc đã lạc hậu, xuống cấp, dẫn đến công năng hoạt động kém và tiêu tốn điện năng.

Thái Nguyên có nhiều hồ lớn nhưng tỷ lệ sử dụng cung cấp nước cho các ngành kinh tế và dịch vụ khác còn ít được quan tâm

Hệ thống CTTL hiện nay chưa được đầu tư đồng bộ, dẫn đến tình trạng kênh mương không khép kín Nhiều công trình đã bị hư hỏng và xuống cấp do công tác duy tu bảo dưỡng còn hạn chế, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nguồn vốn và năng lực kiểm tra của cán bộ địa phương.

Thể chế, chính sách và quản lý nhà nước

Cải cách thể chế và hành chính đang diễn ra chậm, dẫn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước chưa đạt yêu cầu Việc duy trì cơ chế bao cấp trong quản lý khai thác CTTL trong thời gian dài cũng là một vấn đề cần được khắc phục.

Cơ chế chính sách hiện tại chưa đủ mạnh để khuyến khích người dân tham gia vào việc xây dựng và quản lý các công trình công Việc thiếu các cơ chế và động lực để thu hút nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao là một vấn đề lớn Hơn nữa, cần có các thể chế rõ ràng để ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu đối với hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và lao động của nhà nước.

Cơ chế thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động quản lý khai thác CTTL hiện chưa phù hợp, dẫn đến hiệu lực và hiệu quả chưa cao Đồng thời, việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ tưới tiêu vẫn chưa được thực hiện.

Chi phí hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, trong khi phương thức cấp phát và nghiệm thu chưa chú trọng đến chất lượng dịch vụ Hơn nữa, các dịch vụ khai thác tổng hợp chưa được phát huy hiệu quả, dẫn đến nguồn thu không tăng.

Năng lực quản lý của cán bộ còn yếu kém, cả trong tổ chức và kỹ thuật Tình hình tài chính của các tổ chức thủy lợi cơ sở gặp nhiều khó khăn, thiếu kinh phí cho việc duy tu, sửa chữa và nạo vét kênh mương, dẫn đến tình trạng công trình hư hỏng và xuống cấp nhanh chóng.

Mặc dù hệ thống CTTL đã nhận được sự đầu tư lớn, nhưng công tác quản lý và vận hành vẫn gặp nhiều hạn chế, bao gồm hiệu quả quản lý thấp, bộ máy tổ chức cồng kềnh, đội ngũ cán bộ và nhân viên tăng nhanh, năng suất lao động thấp và chất lượng quản trị chưa cao.

Cơ chế vận hành hiện tại của Công ty quản lý khai thác CTTL còn mang tính bao cấp, thiếu các biện pháp nâng cao năng suất lao động và đảm bảo chất lượng Cần thiết phải đổi mới hệ thống quản trị để cải thiện hiệu quả hoạt động.

Công tác lập kế hoạch tài chính chưa linh hoạt

Công ty gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch do không dự đoán được biến động kinh tế và thay đổi chính sách hỗ trợ dịch vụ công ích, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Trước đây, thủy lợi phí được quy định bởi Chính phủ và UBND tỉnh Thái Nguyên, dẫn đến việc điều chỉnh mức phí không kịp thời, làm giảm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến kế hoạch doanh thu Từ năm 2018, khi Luật Thủy lợi có hiệu lực, việc chuyển từ "phí" sang "giá" sản phẩm, dịch vụ thủy lợi đã thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc định giá dịch vụ.

Mặc dù doanh thu của Công ty đã tăng, nhưng mức tăng không đáng kể, đặc biệt là doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ ngoài hoạt động công ích vẫn còn thấp Cụ thể, vào năm 2014, tỷ trọng doanh thu ngoài công ích chỉ đạt 14,6% so với tổng doanh thu bán hàng, trong khi đến năm 2018, tỷ lệ này đã tăng lên 33,2%.

Tỷ trọng chi phí sản xuất kinh doanh so với doanh thu của công ty vẫn ở mức cao, với hơn 99% trong các năm 2014, 2015, 2016 và trên 96% vào năm 2017 Điều này dẫn đến các chỉ số hiệu quả hoạt động và sinh lợi thấp Để cải thiện tình hình, công ty cần thực hiện nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả trong tương lai.

Tình trạng vi phạm Pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL đang diễn ra nghiêm trọng, bao gồm việc lấn chiếm xây dựng trong hành lang bảo vệ công trình và xả rác, đổ thải sinh hoạt bừa bãi xuống lòng sông, lòng kênh Những hành động này không chỉ gây tắc nghẽn nguồn nước mà còn dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Năng lực thi công của các đơn vị xây dựng trong lĩnh vực sửa chữa và nâng cấp còn hạn chế, dẫn đến tình trạng công trình nhanh chóng xuống cấp và hư hỏng Mặc dù công ty đã thực hiện kiểm tra và giám sát, hiện tượng thi công kém chất lượng và sử dụng vật liệu không đảm bảo vẫn tiếp tục xảy ra.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI TẠI CÔNG TY TNHH MTV KHAI THÁC THUỶ LỢI THÁI NGUYÊN

Ngày đăng: 11/04/2023, 11:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2015), Quyết định số 3511/QĐ-BNN- TCTL về phê duyệt kết quả điều tra về quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi, ngày 31/08/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khai thác và sử dụng công trình thủy lợi
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2015
[4] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2014), Quyết định số 784/QĐ-BNN- TCTL về ban hành Đề án nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện có, ngày 21 tháng 4 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện có
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2014
[7] Chính phủ (2013), Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về khai thác và bảo vệ CTTL; đê điều, phòng, chống lụt, bão Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2013), Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của chính phủ về
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
[8] Nguyễn Bá Uân (2010), Kinh tế quản lý khai thác công trình thủy, Tập bài giảng, Đại học Thủy lợi Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế quản lý khai thác công trình thủy
Tác giả: Nguyễn Bá Uân
Năm: 2010
[9] Đoàn Thế Lợi Hiện trạng tổ chức quản lý và giải pháp nâng cao hiệu quả các hệ thống thủy lợ Trung tâm nghiên cứu kinh tế thủy lợi – viện Khoa học Thủy lợi.Tạp chí Hội Đập lớn Việt Nam, tháng 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng tổ chức quản lý và giải pháp nâng cao hiệu quả các hệ thống thủy lợ
[1] Pháp lệnh số 32/2001/PL -UBTVQH10 (2001) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 04 tháng 4 năm 2001 Khác
[2] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2013), Quyết định số 2212/QĐ-BNN- TCTL về ban hành Bộ chỉ số đánh giá quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi ngày 30 tháng 9 năm 2013 Khác
[5] Luật Thủy lợi (2017) số 08/2017/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2018 Khác
[6] Chính Phủ (2012), Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về Sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w