1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu vấn đề lãi suất trong tài chính vi mô, giải pháp cho Việt Nam hiện nay.

26 840 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 463,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu vấn đề lãi suất trong tài chính vi mô, giải pháp cho Việt Nam hiện nay.

Trang 1

Đề tài: Tìm hiểu vấn đề lãi suất trong tài chính vi mô, giải pháp cho Việt

Nam hiện nay.

Đặt vấn đề:

Tài chính vi mô được F.W Raiffeisen sáng lập và áp dụng đầu tiên ở Đức vào những năm 1860 để đối phó với vấn đề tín dụng trong nông nghiệp, nghề thủ công, công nghiệp nhỏ ở các vùng nông thôn Đến cuối thập niên 90, tài chính vi

mô phát triển mạnh mẽ ở khắp các châu lục, đặc biệt là sau khi mô hình ngân hàng người nghèo Grameen của giáo sư Muhammad Yunus (Bangladesh) ra đời

Mô hình này hiện nay đang phục vụ hàng triệu lượt khách hàng Theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Tin dụng vi mô tại Washington tháng 2 năm 1997: ‘’Tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tượng người nghèo, với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ’’

Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): ‘’Tài chính vi

mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính như tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp rất nhỏ’’ Nó được coi là công cụ hiệu quả trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của các quốc gia

Trên thế giới và tại cả Việt Nam, các tổ chức tài chính vi mô thường áp dụng lãi suất cho vay đối với khách hàng ở mức cao hơn lãi suất cho vay kinh doanh của các ngân hàng thương mại Hiện nay, với mức lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tài chính vi mô đã có tác dụng tăng tính cạnh tranh giữa tổ chức, giảm chi phí vay vốn của khách hàng, thể hiện rõ sự ưu tiên của chính phủ đối với các khu vực ưu tiên Nhưng đây cũng đang là vấn đề tranh luận của các nhà phân tích Bài viết này dựa trên các nghiên cứu, số liệu có sẵn sẽ trình bày về các nội dung sau:

• Một số chính sách lãi suất của các nước trên thế giới, và bài học cho Việt Nam

• Thực trạng chính sách về lãi suất trong tài chính vi mô ở Việt Nam

• Khuyến nghị một số giải pháp

I Một số chính sách lãi suất của các nước trên thế giới, và bài học cho Việt

Nam.

1

Trang 2

Hiện nay trên thế giới có hai trường phái ủng hộ cho hai chính sách lãi suất khác nhau: Trợ cấp lãi suất và lãi suất thương mại.

1. Trường phái ủng hộ trợ cấp lãi suất

Trường phái thực hiện lãi suất bao cấp phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước Minh chứng

cụ thể cho trường phái này đó là ‘’Cuộc cách mạng xanh’’ ở Ấn Độ Bối cảnh lúc này, cả ba châu lục đang phải đối mặt với nạn đói hoành hành Với chính sách trợ cấp lãi suất, cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng trong nông nghiệp, theo đó các nước cần cải tiến giống cây trồng, phương pháp canh tác và ứng dụng các khoa học kỹ thuật mới nhất vào nông nghiệp nhằm thâm canh tăng

vụ, nâng cao sản lượng và chất lượng cây trồng Kết quả, nạn đói đã được đẩy lùi, nhiều hộ gia đình đã tự tạo thu nhập cho mình

Trong số tiền bơm vào chương trình này , một phần được chuyển thành các khoản vay ưu đãi cho người dân nhằm giúp họ có đủ vốn để mua giống mới

và các tràng thiết bị trong nông nghiệp Số tiền vay khá đa dạng theo mỗi nước nhưng con số trung bình thì số tiền không dưới 100$ Lãi suất áp dụng với những khoản vay này rất nhỏ, chỉ khoảng 1 đến 2% một năm

2. Trường phái thực hiện lãi suất thương mại

Trên thế giới, các tổ chức tài chính vi mô thường áp dụng lãi suất cho vay đối với khách hàng ở mức cao hơn lãi suất cho vay kinh doanh của các ngân hàng thương mại, trong khoảng từ 20-40%, tùy từng quốc gia và tùy từng khu vực (Morduch, 2008; Duflos, 2013), nhưng mức lãi suất này thường bằng hoặc thấp hơn một chút mức lãi suất mà ngân hàng thương mại cho vay tiêu dùng, và thấp hơn 10-25% so với mức lãi suất của người cho vay tư nhân (Morduch, 2008; Rosenberg, 2009; Duflos, 2013)

Bên cạnh đó, có một số tổ chức lại cho vay với một mức lãi suất rất là cao Ví dụ, tổ chức Compartamos ở Mexico cho vay với mức lãi suất 85%/năm Điều này đã đặt ra câu hỏi rằng: Tại sao các tổ chức tài chính vi mô chủ yếu hỗ trợ cho người nghèo, lại đưa ra mức lãi suất cao như vậy?

Một trường hợp khác là Bancosol thành lập vào năm 1992 và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cho vay đối với các doanh nghiệp rất nhỏ thuộc khu vực

Trang 3

phi chính thức và các hộ gia đình sản xuất.

Lãi suất trung bình áp dụng cho các dịch vụ tín dụng là khoảng từ 12% đến 24% một năm, trong năm 2008 mức lãi suất huy động phổ biến nhất được các ngân hàng đưa ra có mức từ 17,2% đến 17,8%/năm Trên thực tế, lãi suất cho

vay trung bình của tổ chức này thương cao hơn lãi suất trung bình của thị trường từ 4 đến 5% Đối với các khoản tiết kiệm, để thu hút và khuyến khích lượng vốn này, BancoSol thực hiện lãi suất huy động tương đương hoặc cao hơn một chút so với lãi suất huy động trên thị trường

Tính tới cuối năm, BancoSol có khoảng 85.000 tài khoản vay vốn, trong

đó, số tài khỏan cho vay với số dư dưới 300USD chiếm khoảng 67% Tỷ lệ phụ

nữ vay vốn chiếm khoảng 48%.Tốc độ tăng trưởng dư nợ cũng như số lượng các thành viên tham gia vay vốn tăng ổn định qua các năm (bảng 2.2)

Số liệu của bảng 2.2 được lấy từ các báo cáo hàng năm của BancoSol

qua các năm thuộc giai đoạn 2000 – 2005 Mặc dù luôn duy trì mức lãi suất cao nhưng số lượng khách hàng đến với tổ chức này không hề giảm Quy mô của các khoản tín dụng và tiết kiệm liên tục tăng và số lượng khách hàng tới với tổ chức ngày càng nhiều là một minh chứng rõ ràng nhất Tỷ lệ thành viên mới tham gia thường chiếm khoảng 1.2% tổng khách hàng trong năm của tổ chức

Dư nợ qua các năm đều tăng, tuy có hơi chậm trong giai đoạn 2000 –

2002 Cũng trong giai đoạn này, số dư các tài khoản tiết kiệm giảm trong năm

2001 Điều này là tương đối dẽ hiểu bởi trong năm 2001 đến 2003, Bolivia phải trải qua một cuộc khủng hoảnh kinh tế lớn, rất nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế

bị ảnh hưởng Tuy nhiên, tổ chức vẫn giữ được hoạt động của mình Đặc biệt là trong năm 2003, năm khó khăn nhất sau cuộc khủng hoảng, tổ chức đã có sự tăng trưởng ấn tượng cả về số dư các tài khoản cho vay và tiết kiệm

Cùng với vịêc thực hiện lãi suất cho vay cao và khả năng mở rộng hoạt động qua các thời kỳ, BancoSol đã có một kết quả kinh doanh ấn tượng Các số liệu về lợi nhuận của BancoSol trong giai đoạn 2000 – 2005 đều có bước tiến triển tốt Đặc biệt là trong năm 2003, tổ chức đã có bước đột phá mạnh mẽ (bảng 2.3)

3

Trang 4

Tài sản 91,894,090 98,076,802 104,341,553 117,736,244 138,355,023 175,651,375Lợi nhuận

số ấn tượng BancoSol đã thích nghi và vượt qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế

nhanh chóng trong khi rất nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế Bolivia phải mất

tới hơn 1 năm sau mới phục hồi và phát triển Sự nhanh nhạy nắm bắt thì trường

để tạo ra sự đột phá với các khỏan vay nhỏ và thời hạn ngắn, chủ yếu dưới 6

tháng, có lẽ là một nguyên nhân quan trọng giúp BancoSol có sự đột phá thần kỳ

trong năm2003, ROE đạt 13% trong khi chỉ số này chỉ là 1.72% trong năm trước

đó Dù thực hiện lãi suất cao nhưng với tỷ lệ hoàn trả lên tới trên 95% cùng với

những kết quả kinh doanh ấn tượng như thế này thực sự là một minh chứng cho

thành công của chính sách lãi suất thương mại Rõ ràng là người nghèo cũng là

những khách hàng tiềm năm và cần được khai thác Thị trường các dịch vụ tài

chính vi mô cho người nghèo và người có thu nhập thấp thức sự là một khoảng

trống hấp dẫn

Từ ví dụ điển hình của tổ chức tài chính vi mô thực hiện theo chính sách lãi suất thương mại, ta thấy một minh chứng cho những nhận định mới về

người nghèo là rất đúng đắn Ngừơi nghèo vẫn thoát được nghèo mà không cần

tới lãi suất trợ cấp

Chúng ta cũng có thể so sánh chi phí vay vốn của khách hàng từ ngân hàng thương mại với tổ chức tài chính vi mô như sau:

Trang 5

Khoản

Lãi suất

Lãi phải trả

Chi phí giao dịch

Chi phí cơ hội

Tổng chi phí

Lãi suất thực(%)

(triệu VND) (triệu VND) (triệu VND)

có lợi hơn

I. Thực trạng về chính sách lãi suất trong tài chính vi mô ở Việt Nam

VN là nước có dân số và tỉ lệ hộ nghèo khá cao Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cả nước là 21.75% (2010) Các hộ nghèo thường tập trung ở nông thôn

(trên 70% và đang giảm) và rất khó tiếp cận được nguồn vốn

Hình : Các Nhà cung cấp Dịch vụ TCVM

5

Trang 6

Hinh : Phân đoạn thị trường tài chính vi mô ở Việt Nam.

Vì là một loại hình TCTD nên lãi suất của các TCTCVM chính thức theo chính sách của NHNN (33/2012/TT–NHNN), cho phép lãi suất trần của các TCTCVM được phép cao hơn lãi suất trần của các TCTD khác 1% Và hiện theo thông tư 16/2013 tháng 6/2013 các TCTCVM áp dụng mức trần lãi suất ngắn hạn 10% đối với 5 lĩnh vực ưu tiên Lãi suất cơ bản được giữ nguyên mức 9% Như vậy lãi suất tối đa cho các TCTCVM là 13,5%

Lãi suất hiện hành của các TCTCVM khoảng 12-14%, theo phương thức trả dần lãi và gốc Như vậy về danh nghĩa lãi suất cao hơn trần 2% và so với mức

Trang 7

mà các NH đang cho vay 1-3% Các TCTCVM bán chính thức vẫn nằm trong trần cho phép

Với NHCSXH, mức vay thấp nhất là 1 triệu đồng, tổng mức vay cao nhất

là 75 triệu đồng, tổng mức vay trung bình khoảng 15,6 triệu đồng Trong số 345 khách hàng của NHCSXH có 25% vay không quá 8 triệu đồng; 25% vay từ 8 đến

11 triệu; 25% vay từ 11 đến 20 triệu và 25% còn lại vay trên 20 triệu Mức lãi vay trung bình của NHCSXH thấp nhất trong ba tổ chức khoảng 0,7%/tháng, lãi vay cao nhất lên tới 9%/năm Với TDND, tổng giá trị vốn vay lớn hơn rất nhiều

so với NHCSXH, mức vay cao nhất lên tới 570 triệu, thấp nhất là 2 triệu, mức vay trung bình cũng vào khoảng 98,36 triệu – cao hơn hẳn so với mức vay tối đa tại NHCSXH và TCVM Và khoảng tứ phân vị cũng cho ta thấy trong số 263 quan sát, có 25% khách hàng vay không quá 25 triệu và có 25% vay trên 120 triệu Mức lãi vay trung bình tại TDND cũng khá cao, cao nhất trong ba tổ chức,

7

Trang 8

lãi suất thấp nhất là 0,56%/tháng, lãi suất cao nhất là 2.18%/tháng, trung bình là 1,56%/tháng.

Với nhóm TCVM, tổng mức vay thấp hơn hẳn Mức vay thấp nhất cũng là

1 triệu đồng, nhưng cao nhất chỉ đạt 34 triệu đồng, trung bình vào khoảng 6,74 triệu đồng Điều này cũng dễ hiểu khi quy mô vốn của nhóm TCVM nhỏ, hạn mức của từng khoản vay cũng thấp mức lãi suất trung bình khoảng 1,14%/tháng

Chủ yếu các khoản vay nhằm mục đích sản xuất là chiếm tỷ lệ cao nhất tới 56,72% trong tổng số khoản vay, tương ứng với tổng nguồn vốn lên tới 13428 triệu đồng – khoảng 40,43% trên tổng giá trị vốn vay Như vậy, hầu như khách hàng vay vốn cho mục đích tự phát triển sản xuất của gia đình Họ đều là các khách hàng thu nhập thấp, hoặc hộ kinh doanh siêu nhỏ Điều này hoàn toàn đúng với giả thuyết H3 đưa ra ở trên, và phù hợp với dữ liệu thứ cấp về khách hàng tài chính vi mô

Trang 10

Khó khăn trong hoàn trả là điều đáng lo lắng cho NHCSXH Lý do chính của vấn đề này là: Thứ nhất, các khách hàng của NHCSXH thường trong diện hộ nghèo có sổ, có “văn hóa” nhận đồ miễn phí hơn là vay mượn có trả lại do nhiều chương trình tài trợ cho không đã được nhận từ trước Thứ hai, chính sách lãi suất thấp, gần như cho không, kèm với các chính sách hỗ trợ việc sử dụng vốn hầu như không có, đã khiến cho các khách hàng của NHCSXH sử dụng vốn thường không hiệu quả, dẫn tới sự khó khăn tất yếu khi đến kỳ trả nợ Thứ ba, kỳ hạn trả nợ gốc và lãi hiện tại còn chưa hợp lý, đôi khi quá dài, dẫn đến khoản thu

nợ khi đến hạn thường quá lớn Điều này không phù hợp với dòng tiền của khách hàng nghèo

Trở lại kết quả một nghiên cứu được công bố mới đây của Nhóm Công tác TCVM về mức độ bền vững của các TCTCVM tại Việt Nam: có tới trên 90% đối tượng khảo sát cho biết họ hài lòng khi vay tại TCTCVM vì sự thuận tiện và phù hợp; 95,30% người được hỏi cho biết muốn tiếp tục được vay vốn từ các tổ chức này Những con số ấy dù có thể chưa nói lên tất cả, nhưng cho thấy phần nào nhu cầu rất lớn của nhiều người dân nghèo từ nguồn vốn vay của các TCTCVM Và thường các TCTCVM ở VN có lãi suất cao hơn 2-3 lần so với các tổ chức khác trên thế giới (TS Lê Thanh Tâm)

Trong 15 năm qua, VN là nước có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất thế giới (Ajay Chhiber) Tỷ lệ nghèo ở VN (mức sống dưới 1USD/ngày) đã giảm từ 58%

Trang 11

năm 1993 còn 16% năm 2006 với khoảng 34 triệu người đã thoát nghèo Tăng trường nhanh và liên tục, mỗi năm khoảng từ 7-8% cũng là 1 yếu tố quan trọng trong việc giảm nghèo Chứng minh: 18.1% (2006) còn 14.75% (2007), 12.1% (2008) và 11% (2009) Nhưng theo chuẩn trên vẫn có rất nhiều hộ thoát nghèo nhưng vẫn không đủ sống và họ vẫn muốn trong diện nghèo để được hưởng các trợ cấp, an sinh xã hội.

II Chính sách và giải pháp ở Việt Nam

1 Giải pháp trước mắt, ngắn hạn.

Thời gian vừa qua,đặc biệt là sáu tháng đầu năm 2010, điều hành CSLS cũng như CSTT nói chung của NHNN đã đưa lại những dấu hiệu tích cực trong kinh tế vĩ mô Lạm phát đang được kiềm chế, thanh khoản của hệ thống NHTM tốt, tốc độ tăng trưởng huy động đến cuối tháng 6/2010 tiếp tục tăng cao hơn tốc

độ dư nợ; đồng thời NHNN đã có những động thái nhằm hạ dần mặt bằng lãi suất theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ để kích thích tăng trưởng và trả dần lãi suất về với đúng giá trị thị trường của nó Trong thời gian tới, tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất, ổn định mặt bằng lãi suất và cơ cấu lại thị trường tài chính nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế cũng như kiểm soát lạm phát

là nhiệm vụ trọng tâm của NHNN trong việc điều hành CSLS Chúng tôi xin đưa

ra một vài kiến nghị với NHNN hướng tới mục tiêu nói trên

Thứ nhất, cần tiếp tục duy trì trần lãi suất huy động trong thời điểm hiện nay.CSLS cũng như CSTT nói chung phụ thuộc rất lớn vào thể trạng của hệ thống NHTM Cho đến thời điểm hiện nay, có thể thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt, tuy nhiên, năng lực tài chính, năng lực quản trị và khả năng cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền vững trong phát triển chưa cao Với một cấu trúc thị trường có tồn tại nhiều các NHTM có vốn và thị phần thấp vậy thì những hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh là khó tránh khỏi Tính đến hết quý II/2010, tăng trưởng tín dụng không cao, nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng lên, điều đó cho thấy vốn của các NHTM là không khan hiếm Do vậy, với mức lãi suất huy động mà NHNN đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội 11

Trang 12

Ngân hàng là 10,5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền, nhưng phản ứng của các NHTM là vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức Mặt khác, còn rất nhiều NHTM đang tìm cách lách luật trong việc sử dụng nguồn vốn huy động bổ sung vào vốn điều lệ để đáp ứng con số 3.000 tỷ đồng theo quy định của Nhà nước Không chỉ thế, những NHTM nhỏ một mặt huy động vốn với lãi suất cao, tìm cách bổ sung vào vốn điều lệ, mặt khác để duy trì lợi nhuận buộc họ phải đẩy mạnh cho vay những dự án phiêu lưu mạo hiểm như bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng với lãi suất cao, làm tăng rủi ro cho hoạt động của hệ thống NHTM.

Trang 13

Do đó, nếu Ngân hàng Nhà nước dỡ trần lãi suất huy động trong thời điểm này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ chạy đua lãi suất huy động, có thể lên tới 14 - 15% , khiến các NHTM lớn đang duy trì lãi suất tiền gửi ổn định, vì không muốn mất khách hàng sẽ lao vào cuộc đua, nếu không sẽ bị khan vốn và buộc NHNN tiếp tục bơm vốn vào Thêm vào đó, lãi suất thực huy động

có thể làm cho lạm phát kỳ vọng gia tăng Như vây, vô hình chung các động thái này lại làm thổi bùng lên ngọn lửa lạm phát và kịch bản chạy đua lãi suất tồi tệ năm 2008 có thể tái diễn Tóm lại, việc duy trì lãi suất trần trong thời gian này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất

Tuy nhiên, khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét, nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng cần được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự do hóa lãi suất Chúng tôi cho rằng, tiến tới dỡ bỏ trần lãi suất huy động mà tránh không để xảy ra tình trạng chạy đua lãi suất, cạnh tranh không lành mạnh ngoài việc chọn thời điểm nền kinh tế ổn định và đi vào guồng quay, NHNN nên tiến hành những bước đệm nhằm minh bạch hoá thông tin của các NHTM Ví dụ như thành lập các tổ chức độc lập công khai xếp hạng NHTM, đi kèm với đó là tăng cường việc kiểm tra, giám sát hoạt động ngân hàng, hay nâng cao vai trò của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi nhằm dẫn dắt hành vi người gửi tiền Khi đó, người gửi tiền sẽ có sự cân nhắc không hoàn toàn chỉ chạy theo bề mặt lãi suất huy động công bố của NHTM, cũng như các NHTM thực sự phải cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao uy tín nếu muốn thu hút tiền gửi

Thứ hai, tiếp tục tiến hành điều chỉnh hạ dần mặt bằng lãi suất và hướng dòng vốn vào khu vực đầu tư sản xuất Thực tế hiện nay, các nhân tố đều tác động đến lãi suất theo xu hướng giảm Trước hết, nền kinh tế vừa qua khỏi giai đoạn suy thoái, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn với lãi suất thấp để tiếp tục phục hồi và phát triển sản xuất Bên cạnh đó, lạm phát có xu hướng đi xuống từ tháng 4 đến nay; tín dụng tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước và tốc độ tăng trưởng vốn huy động tiếp tục cao hơn dư nợ; lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm do hỗ trợ thanh khoản của NHNN và quy định về tỷ lệ an toàn hoạt động theo Thông tư 13/2010/TT-13

Ngày đăng: 11/05/2014, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình : Các Nhà cung cấp Dịch vụ TCVM - Tìm hiểu vấn đề lãi suất trong tài chính vi mô, giải pháp cho Việt Nam hiện nay.
nh Các Nhà cung cấp Dịch vụ TCVM (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w