SKKN Vật Lí đề tài tạo hứng thú cho môn học 2023.Dành cho các thầy cô tham gia dự thi SKKN Mục tiêu của môn vật lí ở trường THCS là giúp học sinh nắm vững kiến thức vật lí ở bậc THCS, bước đầu hình thành ở học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, giúp học sinh có thói quen làm việc khoa học, đồng thời góp phần hình thành năng lực nhận thức, phẩm chất nhân cách theo đúng mục tiêu giáo dục ở bậc THCS.Tuy nhiên với việc quá đặt nặng nội dung kiến thức.Những định nghĩa rập khuôn máy móc,nhưng kết luận mang tính áp đặt.Những phần kiến thức chuyên sâu bị lược bỏ để nhồi nhét thêm thật nhiều nội dung đã dần làm mất đi bản chất khoa học của môn Vật Lí.Biến môn học trở thành một môn học khô khan,tẻ nhạt đối với học sinh.
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÌM HIỂU VÀ TẠO SỰ HỨNG THÚ HỌC MÔN VẬT LÝ CỦA HỌC SINH BẬC THCS
PHẦN A: KHÁI QUÁT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấy hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các
em Vì vậy quá trình dạy và học tích cực đòi hỏi sự biến đổi không ngừng cả tư duy
lẫn hành động của người dạy và người học Trong quá trình đó không thể thiếu niềm đam mê khoa học Qua quá trình học, học sinh được rèn luyện một số kỹ năng như: Môn Toán giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và phẩm chất trí tuệ, môn Văn giúp học sinh trình bày khả năng hiểu biết của mình cách mạch lạc, rõ ràng……… Bên cạnh đó học sinh được làm quen với một môn học mới là môn Vật Lý ở cấp THCS
Vật lý là môn khoa học mà khi học tốt môn này sẽ giúp các em có tư duy tốt hơn để học tập các môn khác, là cơ sở để các em có hứng thú trong học tập
Môn Vật Lý có vai trò rất quan trọng, là môn học nghiên cứu những hiện tượng xảy ra trong đời sống và có rất nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống hằng ngày, giúp các em làm quen với các kiến thức mới, góp phần vào việc nâng cao sự hiểu biết của học sinh về các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và cung cấp những kiến thức cơ bản giúp các em hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng cách khoa học, linh hoạt và giải thích được một số hiện tượng trong cuộc sống như : bằng kinh nghiệm cá nhân ông bà có thể rót nước vào phích (bình thuỷ) dù không nhìn thấy mực nước trong bình thuỷ vẫn biết được nước đầy hay chưa, dùng kiến thức vật lý các em có thể dễ dàng giải thích được hiện tượng này cách khoa học, hay giải thích sự tạo thành mưa trong tự nhiên ………
Môn vật lý vốn dĩ có sự cuốn hút kỳ lạ từ chính sự huyền ảo của các quy luật
tự nhiên Nhưng trong quá trình dạy và học, vì quá để tâm tới câu chữ, tới các định
lý, định luật hay rập khuôn theo sách giáo khoa mà chúng ta bỏ qua sắc màu tự nhiên của các hiện tượng Đôi khi thầy cô chỉ thông báo cho học sinh những kết
Trang 2hấp dẫn, không tạo được sự hứng thú, nghiên cứu tìm tòi ở học sinh Không chỉ riêng đối với môn Vật Lý mà bất kể các môn học khác việc tạo hứng thú học tập là
vô cùng quan trọng Nó giúp giáo viên thấy được quan niệm của học sinh về môn vật lý để từ đó điều chỉnh cách dạy, đồng thời tác động vào học sinh yêu môn học hơn
Mục tiêu của môn vật lí ở trường THCS là giúp học sinh nắm vững kiến thức vật lí ở bậc THCS, bước đầu hình thành ở học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, giúp học sinh có thói quen làm việc khoa học, đồng thời góp phần hình thành năng lực nhận thức, phẩm chất nhân cách theo đúng mục tiêu giáo dục ở bậc THCS
Bên cạnh đó, môn vật lí còn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với các môn khoa học khác Nhiều kiến thức, kĩ năng đạt được qua môn vật lí là
cơ sở cho việc học tập tốt một số môn học khác như: Toán học, sinh học, địa lí, công nghệ …
Tóm lại, vật lí là một môn khoa học đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải
nỗ lực hết mình mới đạt được kết quả như mong muốn Mỗi một người giáo viên ngoài kiến thức bộ môn, kĩ năng sư phạm thì bản thân cần phải biết khơi dậy ở người học ý thức tự giác, tích cực hứng thú và say mê trong học tập Có như vậy mới phát huy vai trò chủ động của người học và nhằm thực hiện triệt để tinh thần đổi mới phương pháp dạy học phổ thông làm cho mỗi tiết học sinh động hơn, thực
tế hơn và cuốn hút hơn
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của việc tìm hiểu và tạo sự hứng thú học tập của học sinh trong môn học Vật Lý nhằm phát hiện, đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp để nâng cao sự ham học hỏi của học sinh đối với môn học này
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tổng hợp cơ sở lý luận của vấn đề hứng thú và hứng thú học tập
- Khảo sát thực trạng tạo sự hứng thú học môn vật lý của học sinh trường THCS Ngô Quyền
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học môn Vật Lý Từ đó đề xuất những kiến nghị sư phạm cần thiết
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vì thời gian nghiên cứu có hạn, nên đề tài này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở trường THCS Ngô Quyền nơi mà tôi đang công tác
Trang 3V ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm hứng thú học tập môn vật lý của học sinh trường THCS Ngô Quyền
-Khách thể nghiên cứu: Học sinh trường THCS
VI Các phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Khi đưa ra một vấn đề hay giảng dạy cho các em một bài nào đó thì: Giáo viên phải nêu ra vấn đề, đó là vấn đề gì? thật rõ ràng để các em biết, sau đó đi vào từng khía cạnh từ cái nhỏ đến cái lớn thật kỹ càng của vấn đề nhưng tránh lan man, dài dòng
Khi phân tích xong, giáo viên phải đúc kết lại đưa ra kết luận tổng hợp nhất Thâu tóm lại từng vấn đề, làm sao cho bản chất của vấn đề được bộc lộ rõ ràng nhất, dễ hiểu nhất thì mới thu được kết quả cao trong giảng dạy
2 Phương pháp quan sát:
- Quan sát là việc con người sử dụng các giác quan để thu thập các giữ liệu,
số liệu
* Các dạng quan sát:
+ Quan sát toàn diện hay từng hoạt động
+ Sử dụng quan sát lâu dài hoặc trong một thời gian ngắn
+ Quan sát thăm dò hoặc đi sâu
+ Quan sát phát hiện và kiểm nghiệm
3 Phương pháp điều tra, tổng hợp
Trang 4Hứng thú Học tập môn vật lý: Là sự yêu thích, ham học, có cảm giác phấn chấn khi tiếp xúc môn học, phát triển tối đa trí tuệ, sức sáng tạo, tích cực tự nghiên cứu, tìm tòi dưới sự hướng dẫn của giáo viên giảng dạy.
Là những thái độ có tính chất tích cực của học sinh, làm cho kết quả dạy học
có chất lượng, không gây căng thẳng
2 Đặc điểm của hứng thú.
*Hứng thú và nhu cầu có quan hệ mật thiết nhưng có sự khác nhau:
- Nhu cầu hướng vào đối tượng nhằm đáp ứng sự thoả mãn do đó có sự bão hoà và có tính chu kỳ
- Hứng thú chủ yếu hướng vào nhận thức, tìm tòi, sáng tạo, thưởng thức nên tính thích thú say mê của nó dường như là vô tận
- Nhiều nhà hoạt động khoa học, văn hoá, văn nghệ, sáng chế đã cặm cụi làm việc suốt đời nên đã quên cả bản thân, quên cả thời gian Nhiều người tuyên bố
“Nếu tôi có hai cuộc đời tôi vẫn tiếp tục công việc này”
- Mỗi khi người ta có hứng thú say mê với hoạt động nào đó thì bản thân hoạt động ấy đã trở thành nhu cầu quan trọng của chủ thể Cũng nhiều khi hoạt động để đáp ứng một phần nhu cầu trước mắt rồi sau chính hoạt động đó trở nên hấp dẫn thành hứng thú của chủ thể
* Người ta chia hứng thú ra thành: Hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp
Hứng thú trực tiếp có ý nghĩa là chủ thể tích cực tham gia trực tiếp vào hoạt động sáng tạo
VD: HS chơi game từ ngày nay qua ngày khác không biết mệt, nhạc sĩ đam mê
sáng tác, ca sĩ say mê biểu diễn không ngại khổ để tập luyện, cầu thủ say mê đá bóng…
Hứng thú gián tiếp: Là chủ thể hướng vào thưởng thức kết quả hoạt động
Trang 5VD: Có người say mê tiểu thuyết đọc suốt thâu đêm, có người yêu thích bóng đá
đến nỗi cảm thấy đau khổ, thất vọng khi đội tuyển mình yêu thích thua cuộc
=> Khó có thể nói rằng loại hứng thú nào mãnh liệt hơn, có điều hứng thú trực tiếp hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có sự kiên trì, sáng tạo
3 Biểu hiện của hứng thú học tập.
- Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê; hấp dẫn bởi nội dung hoạt động ở bề rộng và bề sâu của hứng thú
- Hứng thú học tập môn vật lý biểu hiện cả ở trong và ngoài giờ học:
+ ở trong giờ học: Biểu hiện của hứng thú là chăm chỉ nghe giảng, xây dựng bài, hăng hái phát biểu ý kiến
+ Ngoài giờ học: Các em tìm đọc thêm các sách tham khảo môn vật lý, tìm hiểu các hiện tượng vật lý ngoài đời sống, tìm cách giải thích theo kiến thức đã học
- Tổ chức những buổi tham quan du lịch, các ảnh vật hiện tượng tự nhiên cũng tạo hứng thú học tập cho học sinh
Những biểu hiện của hứng thú học tập của mỗi học sinh về môn vật lý, ở mỗi lớp, mỗi lứa tuổi là khác nhau Tuy nhiên nếu chịu khó quan sát ta có thể nhận biết được, bởi các em thường bộc lộ cảm xúc, tình cảm ra bên ngoài nên rất dễ nhận biết
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc, sự sáng tạo vì thế: Cùng với nhu cầu hứng thú
là một trong nhân tố của hệ thống động lực nhân cách cụ thể
Hứng thú là một trong những nhân tố quan trọng: có thể khẳng định rằng tạo một hứng thú trong một tiết học, giờ học vật lý là đã tạo được 80% sự thành cộng của giờ học
Có hứng thú học thì khả năng tiếp thu bài của học sinh được tăng lên; chất lượng học tập được nâng lên rõ rệt; hứng thú học tập chi phối sự thành công hay thất bại của bài giảng
=> Người giáo viên gây được hứng thú với học sinh thì đó là một thuận lợi cho môn dạy của mình Chất lượng dạy học tăng lên rõ rệt Nó tích cực đối với tất
cả các môn học
4 Vai trò của hứng thú và hứng thú học tập.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc Vì thế cùng với nhu cầu hứng thú là một trong
Trang 6Trong bất kỳ hoạt động nào, tạo được hứng thú là điều cực kỳ quan trọng, làm cho các em hăng say với công việc của mình, đặc biệt là học tập.
Đối với môn vật lý, có hứng thú các em sẽ có tinh thần học bài, tìm thấy cái
lý thú, cái hay trong môn học, không cảm thấy khô cứng, khó hiểu nữa Từ đó tạo niềm tin say mê học tập, đồng thời nó làm cho các em nhận thức đúng đắn hơn
Học sinh sẽ biết coi trọng tất cả các môn học, có sự đầu tư, phân chia thời gian hợp lý để kết quả học tập của mình có sự đồng đều, không coi nhẹ môn phụ hay môn chính nào cả Khi các em có sự phát triển đồng đều, như vậy sẽ tạo điều kiện để phát triển nhân cách của các em
5 Phát triển hứng thú của học sinh:
* Muốn học sinh hứng thú say mê hoạt động nào thì đối tượng của nó chứa đựng những nội dung phong phú, hấp dẫn mới mẻ, càng tìm tòi học hỏi sáng tạo, càng phát hiện trong hoạt động nhiều cái mới mẻ, cái hay có giá trị
Những nội dung sinh hoạt nghèo nàn đơn điệu không thể gây hứng thú cho học sinh được Lúc đó người ta phải dùng những kích thích bên ngoài tác động để tích cực hoá hoạt động của học sinh
Cần tạo điều kiện cho hoạt động sáng tạo của học sinh:
- Có điều kiện vật chất kỹ thuật tương ứng với hoạt động sáng tạo
- Tạo không khí, môi trường hoạt động sôi nổi, lôi cuốn học sinh tham gia
Trang 7CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG
1 Thành phần học sinh ở trường
Thuận lợi
- Trình độ dân trí được nâng cao so với trước kia
- Người dân đã có ý thức về tầm quan trọng của việc học đối với con em mình
- Đời sống của nhân dân được nâng lên, người dân có điều kiện quan tâm, đầu
tư cho con em học tập
- Ý thức học tập của học sinh say mê trong bộ môn, thích tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu thí nghiệm
Khó khăn
- Học sinh trên địa bàn gồm học sinh người Kinh xen lẫn học sinh dân tộc ( 35% HS dân tộc) đa số các em là con em nông dân Trình độ, khả năng tiếp thu không đồng đều, một số học sinh dân tộc tiếp thu còn chậm, tiếng việt viết chưa chuẩn Bên cạnh đó học sinh ít học bài, làm bài tập ở nhà, dành nhiều thời gian cho việc giải trí: game, phim, cùng nhau tụ tập…… Mặt khác các em lại ít tham gia xây dựng bài nên khả năng trình bày ý kiến của mình bằng ngôn ngữ vật lý là khó khăn dẫn đến các em không theo kịp và dễ chán Ngoài ra các em không học bài cũ dẫn đến kiến thức chồng chéo lẫn nhau nên mất căn bản cũng là nguyên nhân học sinh không tập trung trong tiết học
- Ngoài giờ học trên lớp các em còn phụ giúp cha mẹ rất nhiều nên không còn nhiều thời gian giành cho học tập ở nhà
- Mặt bằng chung kiến thức không đồng đều một phần do nhận thức của đối tượng học sinh
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiểu hạn chế: chưa có phòng học bộ môn, dụng cụ thí nghiệm tính chính xác không cao…
Trang 8Năm học HS lớp 9Tổng sô Giỏi Khá Trung bình Yếu-kém2011-
50 55,6% 10 11,1%
Tổng hợp Tăng 3% Tăng 6,1% Giảm 6,8% Giảm 8,3%
Ý thức học tập của một số học sinh chưa cao
Đồ dùng thí nghiệm đã sử dụng nhiều năm nên tính chính xác không cao, hoặc đã bị hư hỏng…
4 Tìm hiểu nguyên nhân
- Trong 1 tiết học có khoảng 5 đến 7 học sinh học được nhưng rất ít em trình bày ý kiến của mình trước lớp do các em chưa được mạnh dạn
- Một số học sinh tham gia trả lời tốt các câu hỏi trong sách giáo khoa một phần do các em được biết trước đáp án qua sách giải, được các bạn lớp trước ghi kết quả vào sách nhưng khi làm bài thì điểm thấp
- Các em ít học bài, làm bài tập về nhà nhưng giáo viên chưa có biện pháp phù hợp với những đối tượng này
Trang 9- Do học sinh mất căn bản, thấy môn học quá khó.
- Do môn học không đủ sức hấp dẫn với học sinh
- Do sự chán, lười học ở học sinh: một số học sinh lười học bài không phải vì hoàn cảnh gia đình nhưng vì các trò chơi hấp dẫn bên ngoài: game, bida, bi lắc………
- Kết quả học tập không như mong đợi rồi bỏ bê, lười học
- Do gia đình tạo nhiều áp lực với học sinh
- Do học sinh thường khá bị động trong việc chuẩn bị bài vở nhà, kể cả khi giáo viên kiểm tra 1 tiết, 15phút Do lượng kiến thức nhiều mà học sinh có rất ít thời gian để học bài ở nhà, học sinh chưa chú tâm tới môn học hay chưa nắm rõ phương pháp học…
- Giáo viên chưa tận dụng, phối hợp tối đa các phương pháp giảng dạy để lôi cuối học sinh tham gia học tập cách tích cực
5 Phân tích giá trị khoa học của các vấn đề về thực trạng mà đề tài đưa ra
Chương trình vật lí THCS đã cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức
cơ bản về các lĩnh vực: Cơ, nhiệt, điện, quang và âm học Các kiến thức này được xây dựng thành hai vòng xoáy: Chương trình vật lí 6,7 gồm các phần kiến thức ở mức độ định tính, vật lí 8,9 gồm các phần kiến thức ở mức độ định lượng được xoáy trở lại nhưng ở mức độ sâu hơn, rộng hơn Hơn nữa thực trạng của xã hội hiện nay là ý thức học tập của một số em chưa cao còn lơ là trong việc học tập và kĩ năng thực hành của các em còn hạn chế dẫn đến học lực không đồng đều của các
em trong một lớp học, học sinh có học lực yếu, kém còn chiếm tỉ lệ cao trong một lớp Mặt khác do địa bàn nông thôn, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên các bậc phụ huynh chủ yếu làm kinh tế gia đình hay làm kinh tế xa, việc cải cách sách giáo khoa so với trước đây nhiều phụ huynh muốn hướng dẫn cho con cũng không giúp được…, nên việc học tập của các em ít được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mức để động viên giúp đỡ kịp thời
Qua thực tế cho thấy, các em chưa có sự hứng thú và hờ hững với môn học, chỉ một số em rất tích cực tham gia học tập tuy nhiên không ít học sinh thụ động, lười biếng dẫn đến kết quả thấp trong môn học này
Giáo viên
- Đa số giáo viên dạy theo kinh nghiệm vốn có của bản thân, cố gắng truyền thụ hết kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian yêu cầu, chưa khơi dậy tính sáng tạo của học sinh
Trang 10- Khi đặt câu hỏi giáo viên chưa gợi mở để học sinh trả lời mà giáo viên đưa ra đáp án của vấn đề tránh để mất thời gian dẫn đến học sinh có tính ỷ lại.
- Khi giải quyết vấn đề theo nhóm thì chỉ những em học sinh khá giỏi giải quyết vấn đề, học sinh yếu kém có thái độ không hưởng ứng không tham gia làm cho tiết học chưa đạt kết quả cao
- Một giờ học với không khí căng thẳng không tạo hứng thú, tính sáng tạo của học sinh
Học sinh
- Đa số học sinh coi việc học là một nhiệm vụ, không hứng thú, chỉ một ít học sinh yêu thích môn học này
- Học sinh ngại trả lời sợ sai, sợ các bạn cho rằng mình thích chơi nổi Một số
em có ý tưởng trả lời đúng vấn đề nhưng chưa biết sắp đặt ý để trả lời sao cho đúng Giáo viên cần biết khích lệ các em để những em khác cùng tham gia làm cho tiết học sinh động, thoải mái hơn giúp hiệu quả giờ dạy đạt kết quả cao
Để học sinh có niềm say mê với môn học giáo viên cần khơi dậy nơi các em tính
tự tin, sáng tạo giáo viên phải áp dụng các phương pháp sao cho thích hợp với từng đối tượng : tạo cơ hội cho những em yếu, kém, học sinh dân tộc trả lời những vấn
đề dễ kích thích tính mạnh dạn của các em Cần tạo không khí sổi nổi, thân thiện trong quá trình dạy học, có khen, chế đúng lúc giúp kích thích tính sáng tạo ở các
em, giúp các em tự tin trình bày ý kiến của mình và luôn thay đổi cách hướng dẫn giúp các em tỉm ra kiến thức để nâng cao chất lượng dạy học
Trang 11CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP – BIỆN PHÁP
1 Mục tiêu giải pháp, biện pháp
- Rèn luyện cho học sinh có kỹ năng làm thí nghiệm
- Kỹ năng thu thập xử lý thông tin từ quan sát các thí nghiệm để rút ra kết luận chung
- Khơi nguồn, động viên cho học sinh sáng tạo hơn trong việc tiếp thu bài học, vận dụng kiến thức lý thức vào bài tập, giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên xung quanh mình…
2 Nội dung và cách thực hiện
Sau khi nắm được tình hình chung của các em thì nỗi băn khoăn của tôi là làm thế nào để gây hứng thú cho các em trong môn học này để đạt chất lượng giáo dục cao hơn Qua quá trình giảng dạy, tôi đã sử dụng kết hợp một số biện pháp thể hiện qua các ví dụ sau:
- Tạo điều kiện cho các em có cảm giác tự tin, thoải mái khi bước vào giờ
học vật lý
- Học tập và làm việc theo nhóm để bổ sung kiến thức cho nhau
+ Khi tổ chức dạy học nhóm thông thường mỗi nhóm được giao một nhiệm
vụ khác nhau hoặc 2-3 nhóm cùng một nhiệm vụ…Giáo viên cần làm cho tất cả các thành viên trong nhóm đều nắm rõ nhiệm vụ của nhóm cũng như nhiệm vụ của bản thân Có thể giao nhiệm vụ cho từng nhóm chung ở giữa lớp, hoặc giao nhiệm vụ dưới dạng phiếu giao việc cho từng nhóm…Nhưng dưới hình thức nào thì cũng cần cho nhóm nêu nội dung mà nhóm cần thảo luận Đây là cơ hội để giao công việc cho các em khá, giỏi làm việc và giúp đỡ những học sinh yếu, đồng bào sau đó sẽ gọi các em đồng bào, yếu trả lời và lấy điểm cho cả nhóm Mỗi lần các em trả lời sai chúng ta nên khuyến khích đừng tạo áp lực cho các em, đừng để các em thấy sợ
và thiếu tự tin khi phát biểu mà phải khích lệ các em hơn
Ví dụ: Bài đo thể tích chất lỏng vật lý 6 ở câu C2, C3
Mỗi cá nhân học sinh lấy các ví dụ dụng cụ đo thể tích khác nhau để bổ làm phong phú thêm dụng cụ đo của nhóm thêm phong phú hơn: dụng cụ đựng xăng, dầu cho khách hàng, dụng cụ đong rượu cho khách, thùng đựng nước, chai, lon nước ngọt…
Bài lực đẩy Acsimét vật lý 8: HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm, qua đó các
em rèn luyện thêm kỹ năng thực hành,phân công công việc, hợp tác giúp đỡ nhau trong hoạt động tập thể, kỹ năng thu thập xử lý thông tin từ quan sát thí nghiệm qua các số liệu cụ thể để rút ra được nội dung của C1, C2: khi một vật nhúng chìm trong chất lỏng bị chất lỏng tác dụng một lực đẩy hướng từ dưới lên
Trang 12- Giáo viên có vai trò tổ chức nhận thức cho các em, động viên đánh giá các
hoạt động đó Trong quá trình thảo luận giáo viên không đưa ra các đánh giá
“đúng – sai” mà để học sinh tự chọn lựa
Ví dụ khi dạy bài công cơ học vật lý 8: rất nhiều học sinh nhầm lẫn có lực là có công hay có quãng đường là có công mà quên mất để có công cơ học phải bao gồm hai yếu tố là có lực tác dụng và vật phải dịch chuyển Áp dụng vào câu C3 tôi cho học sinh có thời gian suy nghĩ chọn đáp án cho minh sau đó phân tích từng trường hợp cụ thể: lực nào tác dụng lên vật, vật có chuyển động không để học sinh một lần nữa khẳng định lại đáp án của mình
- Giúp các em tìm tòi phát hiện kiến thức quan trọng trong bài học bằng
cách gợi mở đồng thời luôn tạo điều kiện để các em chủ động sáng tạo đưa ra các đề xuất với tinh thần thoải mái xây dựng bài học.
Ví dụ Lớp 6 Bài 15: Đòn Bẩy Đặt vấn đề với một thí nghiệm như sau:
Trang 13cánh tay thẳng đòn bẩy giúp nâng các vật nặng với một lực nhỏ, tạo cho bạn một lợi thế về cơ học
Lớp 8 Bài 9: Áp suất khí quyển Vì không khí không sờ được nên để học sinh
chấp nhận không khí có trọng lượng qua kiểm chứng sau đây:
Dụng cụ: 1 quả bóng rổ còn đầy hơi,1 quả xì hết hơi, cân (ghi rõ gam)
Cách làm: dùng cân để cân 2 quả bóng rổ trên ( hoặc cho hs cầm để cảm nhận được độ nặng nhẹ của 2 quả bóng rổ)
Giải thích: Mặc dù không khí cân không nặng lắm nhưng vẫn thấy sự khác
biệt nhỏ giữa một quả bóng rổ xẹp và quả bóng rổ căng Sự khác nhau này là do lượng không khí bên trong quả bóng
- Giáo viên khuyến khích, chấp nhận tính độc lập sáng tạo của học sinh
Sau khi học xong bài 11vât lý 8 Giáo viên đặt vấn đề có 3 ly nước giống nhau, làm cách nào để thả cùng một qủa trứng vào 3 ly mà có 3 hiện tượng xảy ra: trứng chìm, trứng nổi, trứng lơ lửng Mục đích để học sinh tìm cách giải quyết vấn
để Khi tiến hành bài học cần cho học sinh trả lời làm như thế nào và ghi điểm nếu đáp án hợp lý đồng thời giáo viên đưa ra đáp án của mình và tiến hành thí nghiệm tại lớp để chứng minh
Dụng cụ: quả trứng, ba cái ly, nước muối
Cách làm: cho trứng vào 3 ly nước quan sát hiện tượng xảy ra
Ly 1: để hơn ½ ly nước ( trứng chìm)
Ly 2: để hơn ½ ly nước, cho vào 3 muỗng muối và khuấy đều (trứng nổi)
Ly 3: để hơn ½ ly nước, cho vào 10 muỗng muối và khuấy đều sau đó rót thêm nước vào cho đầy ly( không khuấy) Từ từ dìm nhẹ quả trứng vào ly nước này (trứng lơ lửng)
- Đứng trước những câu hỏi, giáo viên cho học sinh thời gian để trả lời và
nên ưu tiên những câu hỏi dễ cho học sinh yếu, dân tộc vì số lượng học sinh trong một lớp khoảng 30 đến 35 học sinh, học sinh khá giỏi chiếm khoảng 3 đến 4 em vì thế khi đặt câu hỏi để tránh mất thời gian giáo viên thường gọi học sinh học sinh khá giỏi trả lời và xem như học sinh trung bình, yếu cũng đã có câu trả lời Tác động này tạo ra tính ỷ lại nơi các em
- Giáo viên cung cấp thời gian cho học sinh xây dựng mối quan hệ và phát
Trang 14-Úp ngược lon sơn còn lại và đặt nó lên lon sơn đầu tiên Đường rãnh trên lon sơn úp ngược này cần phải ở trên những viên bi Hãy xoay quanh cái lon phia trên và chú ý xem nó xoay dễ dàng như thế nào
Giải thích
Chúng ta đang thực hiện mô hình “ổ bi” là vật được dùng để làm giảm ma sát giữa hai bề mặt cọ xát với nhau Trong xe đạp luôn có những ổ bi cho phép hai bánh xe xoay tròn tự do
- Qua quá trình đứng lớp tôi thấy người giáo viên đóng vai trò quan trọng
trong việc học tập của các em, với phương châm đề ra là phải quan tâm đến chất lượng học tập của các em vì thế trước mỗi tiết học tôi giành 2 phút để kiểm tra toàn bộ bài tập về nhà của học sinh để có biện pháp kịp thời nhằm giúp các
em cũng cố kiến thức cũ.
- Khi sửa những bài tập về nhà không cần sửa nhiều, tràn lan chỉ sửa những
bài tập dễ, vừa và giải thích cặn kẽ, đặt ra nhiều câu hỏi nhỏ và gọi các em dân tộc , các em có mức học yếu trả lời để các em thấy mình không bị bỏ quên với những bạn có viên cần linh hoạt tuỳ theo bài cần đòi hỏi học sinh tham gia làm bài tập đầy đủ ở nhà còn cần phải giành thời gian đọc qua bài mới
- Đề thi, bài kiểm tra cần được giảm tải phù hợp với khả năng của học sinh
- Sau mỗi tiết học cần giành khoảng thời gian 5 phút đặt những câu hỏi
trọng tâm, dễ yêu cầu học sinh trả lời Bên cạnh đó cũng nêu một vài vấn đề để
học sinh khá giỏi về nghiên cứu tìm tòi, hướng dẫn một vài thí nghiệm đơn giản, dụng cụ dễ tìm để HS làm ở nhà nhằm cũng cố kiến thức vừa học được hay phát hiện vấn đề bài học ngày hôm sau:
Lý 8 Bài 20 Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên? ( cho HS tiến
hành thí nghiệm ở nhà trước 3 tuần)
Giải thích trong tiết học của bài này
Ban đầu xà phòng tan trong nước ( thấy lớp dung dịch xà phòng dưới đáy) Tuy nhiên các phân tử chuyển động nên các phân tử xà phòng và nước đang vận