1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Sử dụng phiếu học tập trong một số bài Hóa học 10

25 1,3K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 390,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN: Sử dụng phiếu học tập trong một số bài Hóa học 10

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Quản lý giáo dục  Phương pháp dạy học bộ môn:  Phương pháp giáo dục 

Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm:

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

II THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN

Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm:

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2012-2013

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Nguyễn Thị Trang

2 Ngày tháng năm sinh: 06-7-1986

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Võ Trường Toản

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: cử nhân

- Năm nhận bằng: 2009

- Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Hóa học

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Hóa học

- Số năm có kinh nghiệm: 4 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: không có

Trang 3

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết

Ban Chấp Hành TW 4 khóa VII tháng 1 năm 1993, nghị quyết Ban Chấp Hành TW

khóa 8 tháng 12 năm 1996, điều 28 Luật giáo dục 2005 đã ghi “Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” Hơn nữa, định

hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và trong dạy học hóa học nói riêng đòi hỏi người GV không chỉ truyền thụ tri thức, mà còn phải giúp HS hình thành được thói quen, khả năng phương pháp tự học Vì vậy, trong quá trình dạy học GV tổ chức cho học sinh khám phá kiến thức mới, tìm tòi, phát hiện, phân tích và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

Thiết nghĩ, việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học Hóa học nói chung và dạy học Hóa học lớp 10 nói riêng là biện pháp kết hợp giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học góp phần phát huy tính tích cực của học sinh rất hiệu quả; giúp học sinh có điều kiện rèn luyện các năng lực phân tích, tổng hợp phán đoán nhanh Mặt khác, phương tiện dạy học này giúp các em từng bước làm quen với kỹ năng làm việc phối hợp theo nhóm, rèn luyện cho học sinh kỹ năng trình bày một vấn đề khoa học trước tập thể rõ ràng, khúc chiết một cách mạnh dạn, tự tin…Đây là những kỹ năng rất quan trọng cần có ở mỗi học sinh để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kì hội nhập

Qua thực tế dạy học Hóa học ở trường THPT hiện nay cho thấy: nhiều GV còn rất lúng túng trong việc lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện hỗ trợ cho giảng dạy trong từng bài học Đặc biệt là vấn đề tổ chức cho HS tích cực, chủ động tham gia trao đổi, thảo luận trong quá trình giảng dạy của nhiều giáo viên chưa thực

sự hiệu quả chủ yếu còn mang tính hình thức Việc sử dụng các phương tiện dạy học nói chung, phiếu học tập nói riêng để giúp học sinh định hướng, khai thác và trình bày kiến thức trong quá trình giáo viên tổ chức cho các em thảo luận chưa được quan tâm đúng mức Những điều này dẫn đến hiệu quả giảng dạy chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Trong các bài dạy Hóa học lớp 10, nếu GV sử dụng linh hoạt phiếu học tập và kết hợp tốt với phương tiện dạy học khác như máy chiếu vật thể thì sẽ tiết kiệm khá nhiều thời gian cho phần củng cố bằng các bài tập trên lớp Bởi, thay vì ghi lên bảng hoặc đọc cho HS chép bài tập GV đã soạn sẵn trên phiếu học tập

Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng phiếu học tập trong một số bài Hóa học 10” để nghiên cứu với mục đích góp phần nâng cao hiệu

quả dạy học môn Hóa học nói chung và dạy học Hóa học lớp 10 nói riêng Trong quá trình nghiên cứu và trình bày không tránh được những thiếu sót rất mong được sự giúp

đỡ, đóng góp ý kiến của quý thầy, cô

Trang 4

II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

1 Thuận lợi

Phiếu học tập là một trong những phương tiện đơn giản, GV tự thiết kế sử dụng thuận tiện và phổ biến trong nhiều hình thức tổ chức dạy học và nhiều khâu của quá trình dạy học

Mặt khác, trong quá trình giảng dạy Hóa học 10 tại trường THPT Võ Trường Toản, tôi nhận thấy đa số HS chăm ngoan, hiếu học, biết lắng nghe và hợp tác với thầy

cô để việc học tập đạt kết quả cao nhất

Hơn nữa, bản thân tôi là một giáo viên đã được trang bị đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy môn Hóa học ở trường THPT luôn biết học hỏi, tìm tòi những phương tiện dạy học phù hợp với bộ môn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Cuối cùng, mặt thuận lợi không thể không nhắc đến là nhà trường luôn tạo điều kiện, hỗ trợ, khuyến khích giáo viên mạnh dạn và chủ động sử dụng các phương tiện dạy học mang lại hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay

Thứ hai, nhiều bài học nội dung quá dài, mà thời lượng dạy ít nên nhiều khi giáo viên phải dạy lướt qua, ít có thời gian cho học sinh thảo luận luyện tập Nói cách khác, giáo viên không có điều kiện để sử dụng phiếu học tập

Thứ ba, ngôi trường, nơi tôi công tác, thuộc vùng sâu, vùng xa nên đa số học sinh có lực học trung bình và yếu Trong số đó học sinh lớp 10 phần lớn đến từ các xã khác nhau, các em còn lạ lẫm chưa quen với môi trường học tập mới gây khó khăn cho việc thảo luận nhóm

3 Các số liệu thống kê

Năm học 2010-2011, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò (phụ lục) đối với học

sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Võ Trường Toản Kết quả là:

GV sử dụng phiếu học tập trong các giờ học hóa học như sau: 4,4% thường xuyên; 40,3% ít; 44,4% rất ít; 11,2% giáo viên không bao giờ sử dụng phiếu học tập Thái độ HS khi sử dụng phiếu học tập: 8,9% rất thích; 60,0% thích; 15,6% có thái

độ bình thường; 15,5% không thích sử dụng phiếu học tập

Từ những số liệu thống kê trên, tôi nhận thấy đa số học sinh hứng thú với việc sử dụng phiếu học tập để phát huy tính tích cực, sáng tạo của bản thân Và cũng phần nào cho thấy giáo viên sử dụng phiếu học tập trong dạy học hóa học chưa nhiều Vì vậy, tôi mạnh dạn sử dụng phiếu học tập trong một số bài hóa học 10 và trình bày để quý thầy cô tham khảo tùy vào đối tượng học sinh để vận dụng một cách hiệu quả

III NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Trang 5

1 Cơ sở lý luận

Từ xa xưa, người Phương Đông đã có câu: “Tôi nghe thì tôi quên, tôi nhìn thì

tôi nhớ, tôi làm thì tôi hiểu” Câu nói đó cũng gần gũi với tinh thần của việc đổi mới

phương pháp dạy học hiện nay “Tôi nghe”có nghĩa là HS chỉ lắng nghe giáo viên diễn giảng, “tôi nhìn” nghĩa là GV sử dụng các phương tiện trực quan sinh động để

HS quan sát và nhận thức được kiến thức, “tôi làm” nghĩa là GV viên sử dụng các phương tiện dạy học tạo điều kiện cho HS chủ động, tích cực thực hành những kiến thức đã được học Vì vậy, khi tự mình vận dụng thực hành những kiến thức đã được học thì HS sẽ hiểu rõ những kiến thức đó và ứng dụng vào thực tiễn

Theo trang điện tử vietbao.vn, những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại cũng

đã cho thấy, HS chỉ có thể nhớ được 5% nội dung kiến thức thông qua đọc tài liệu Nếu ngồi thụ động nghe thầy giảng thì nhớ được 15% nội dung kiến thức Nếu quan sát có thể nhớ 20% Kết hợp nghe và nhìn thì nhớ được 25% Thông qua thảo luận với nhau, HS có thể nhớ được 55% Nhưng nếu HS được trực tiếp tham gia vào các hoạt động để qua đó tiếp thu kiến thức thì có khả năng nhớ tới 75% Còn nếu giảng lại cho người khác thì có thể nhớ tới được 90% Điều này cho thấy tác dụng tích cực của việc dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc đào tạo ra những con người chủ động, tích cực, sáng tạo, tự học hỏi đáp ứng được nhu cầu càng cao của xã hội là rất cần thiết

Từ những cơ sở lí luận trên tôi đã nghiêm túc nghiên cứu và thực hiện một cách linh hoạt và hiệu quả việc sử dụng phiếu học tập trong một số bài Hóa học 10

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

2.1 Biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

- Nghiên cứu tình hình thực tế về việc sử dụng phiếu học tập của các giáo viên

Hóa học trường trung học phổ thông Võ Trường Toản

- Phương pháp thu thập xử lý thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: năm học 2011-2012, tôi đã chọn 2 lớp 10B9 và 10B10 mặt bằng nhận thức tương đương nhau để kiểm nghiệm hiệu quả của đề tài Tiến hành giảng dạy mội số tiết dạy có sử dụng phiếu học tập ở lớp 10B10 Đối chứng với lớp 10B9 không sử dụng phiếu học tập

Trang 6

- Vỏ nguyên tử gồm các hạt electron, hạt nhân gồm hạt proton và hạt nơtron

- Kích thước và khối lượng của nguyên tử

2/ Kỹ năng

- So sánh khối lượng electron với proton và nơtron

- So sánh kích thước của hạt nhân với electron và với nguyên tử

- Sử dụng các đơn vị đo lường như: u, đvđt, nm, Ao và giải các bài tập

3/ Thái độ

- Phát triển tư duy suy luận logic, tổng hợp cho HS

- Tạo niềm tin vào khoa học

- Tạo hứng thú yêu thích mô hóa học qua các mô hình, thí nghiệm

II/ Trọng tâm

- Thành phần cấu tạo nguyên tử

- Kích thước, khối lượng các loại hạt

III/ Phương Pháp: Diễn giảng - Đàm thoại - Thảo luận nhóm - Trực quan IV/ Chuẩn Bị

Giáo viên:

- Mô phỏng thí nghiệm của Tôm-xơn, Rơ-dơ-pho, máy chiếu

- Phiếu học tập củng cố

Học sinh: Soạn bài trước khi đến lớp

V/ Tiến trình bài giảng

1/ Ổn định lớp: (1 phút)

2/ Bài mới

Vào bài: Nguyên tử được tìm ra như thể nào ? Ai tìm ra hạt nhân nguyên tử, kích

thước và khối lượng các loại hạt tao nên nguyên tử Tất cả vấn đề đó có đầy đủ trong

bài 1 “Thành phần nguyên tử”

GV: electron được tìm ra như thế nào?

Do ai tìm ra ?

Hoạt động 1 (8 phút)

GV gọi 1HS đọc vài nét lịch sử trong

quan niệm nguyên tử từ thời đê-mo-crit

đến giữa thế kỉ XIX

- GV đặt vấn đề : Các chất được tạo

nên từ những hạt cực kì nhỏ bé không

thể phân chia được nữa, đó là nguyên

tử Điều đó đúng hay sai?

HS: Các chất được tạo nên từ những

I/ Thành phần cấu tạo của nguyên tử 1/ Electron

Trang 7

hạt cực kì nhỏ bé không thể phân chia

được nữa, đó là nguyên tử

GV chiếu mô phỏng TN của Tôm-xơn,

phân tích để HS rút ra kết luận

- Tia phát ra từ cực âm (catot) gọi là tia

âm cực Tia âm cực có đặc điểm gì?

- Tia âm cực là chùm hạt

- Đặt chong chóng trên đường đi 

chong chóng quay  tia âm cực có

vận tốc như thế nào? Có khối lượng

không ?

-Tia âm cực bị lệch về cực dương của

điện trường tia âm cực mang điện

âm hay dương?

HS: quan sát, lắng nghe, kết hợp với

sgk suy luận

GV: hạt tạo thành tia âm cực là hạt

electron, mang điện âm, kí hiệu là e

GV: Dựa vào sgk cho biết me, qe?

GV chiếu mô phỏng TN của

Rơ-dơ-pho, phân tích để HS rút ra kết luận

Hầu hết các hat α xuyên thẳng => ngtử

có cấu tạo như thế nào?

HS: ngtử có cấu tạo rỗng, hạt nhân có

kích thước rất nhỏ so với toàn nguyên

HS: Hạt nhân mang điện dương

GV: khẳng định lại, HS ghi bài

2/ Sự tìm ra hạt nhân nguyên tử

 TN của Rơ-dơ-pho (sgk)

 Kết luận

- Ngtử có cấu tạo rỗng

- Phần mang điện dương là hạt nhân

- Xung quanh hạt nhân có các e tạo nên vỏ ngtử

Trang 8

GV: Hạt nhân nguyên tử được cấu tạo

từ những hạt nào ?

Hoạt động 3 (10 phút)

GV: Mô tả thí nghiệm của Rơ-dơ-pho

vào năm 1918

GV: Qua thí nghiệm Rơ-dơ-pho đã

phát hiện được hạt nhân ngtử có hạt

mang một đơn vị điện tích dương, có

GV: Qua thí nghiệm Chat-uých đã

phát hiện được hạt nhân ngtử có hạt

không mang điện, có khối lượng là

c/ Cấu tạo hạt nhân nguyên tử:

- Gồm hạt Proton mang điện tích dương và hạt nơtron không mang điện

GV yêu cầu HS trong một bàn thảo luận hoàn thành phiếu học tập

Các loại hạt

Điện tích (đvđt)

HS thảo luận và trả lời

Cấu tạo nguyên tử Vỏ nguyên tử Hạt nhân nguyên tử

- Nguyên tử cấu tạo gồm 2 phần:

+ Vỏ nguyên tử: gồm các e mang điện tích âm

+ Hạt nhân: gồm proton mang điện dương và nơtron không mang điện

- Vì nguyên tử trung hòa về điện nên số hạt pron = số hạt electron

Gv các hạt p, n, e co kích thước và

khối lượng rất nhỏ Vậy để đo kích

thước và khối lượng của những hạt đó

Trang 9

Hoạt động 4 (15 phút)

GV: Đo kích thước của các loại hạt

người ta dùng đơn vị gì? Vì sao?

HS: Để đo kích thước của ngtử, e, p, n

người ta dùng đơn vị nanomet (nm);

1 1u m 1, 6605.10 kg 12

GV chia lớp thành 6 nhóm (2 bàn 1 nhóm), yêu cầu HS thảo luận làm phiếu học

tập, nêu nhận xét Nguyên tử, các

Trang 10

Oxi (O) 2,6566.10-26 15,999u~16u

Để đo khối lượng các loại hạt dùng

đơn vị khối lượng nguyên tử u;

1u=1,6605.10-27 kg

GV: Dặn dò và ra bài tập về nhà (3,5-sgk) (1 phút)

Nhận xét: Bài “Thành phần nguyên tử” là bài gắn liền với thực nghiệm, từ thực

nghiệm rút ra những kiến thức khoa học Đây là bài rất dài, rất khó dạy nhưng chỉ dạy trong phạm vi một tiết học Nguyên tử, các hạt electron, proton vô cùng nhỏ bé, bằng mắt thường không thể quan sát được, đòi hỏi HS phải tưởng tượng mới có thể nắm bắt được vấn đề Để giúp HS hiểu, nhớ bài lâu hơn ngoài sử dụng những mô phỏng thí nghiệm tôi đã sử dụng thêm phiếu học tập để HS vận dụng sau mỗi phần

Tiết 4, 5: BÀI 2: HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ, NGUYÊN TỐ HOÁ HỌC,

- Sự liên quan giữa số điện tích hạt nhân, số p và số e

- Khái niệm nguyên tố hoá học

- Nguyên tử khối; cách tính nguyên tử khối

- Định nghĩa đồng vị, cách tính nguyên tử khối trung bình

2/ Kĩ năng

- Xác định được số electron, số proton, số nơtron khi biết kí hiệu nguyên tử và

số khối của nguyên tử và ngược lại

- Giải được bài tập: Tính được nguyên tử khối trung bình của nguyên tố có nhiều đồng vị, tính tỉ lệ % khối lượng của mỗi đồng vị

- Giải các bài tập có liên quan đến : đthn, số khối, nguyên tử khối trung bình

Trang 11

II/ Trọng tâm

- Tính số proton, số electron, số nơtron từ kí hiệu nguyên tử

- Nguyên tố hóa học

- Đồng vị, nguyên tử khối trung bình

III/ Phương Pháp: Diễn giảng- phát vấn- thảo luận nhóm

IV/ Chuẩn Bị

- GV: phiếu học tập

- HS: Học bài cũ, soạn bài trước khi đến lớp

V/ Tiến trình bài giảng

Hoạt động của thầy và trò Nội Dung

Vào bài: Nguyên tử có cấu tạo gồm 2 phần là hạt nhân và lớp vỏ Trước tiên, chúng

ta sẽ tìm hiểu về hạt nhân nguyên tử Đó cũng chính là nội dung của bài học hôm

nay

Hoạt động 1 (7 phút)

GV yêu cầu HS nhắc lại cấu tạo hạt nhân

ngtử ? điện tích của các loại hạt?

Trang 12

HS: Số p=số e=số đvđt hạt nhân = 11; điện

tích hạt nhân Na là 11+

GV số khối là gì?công thức tính như thế

nào ?

Hoạt động 2: (7 phút)

GV: Yêu cầu HS dựa vào sgk cho biết số

khối là gì? Kí hiệu như thế nào? Công thức

Ví dụ 2: Nguyên tử Mg có 12 nơtron; điện

tích hạt nhân là 12+ Số khối của hạt nhân

Hoạt động 3 (6 phút)

GV: Nguyên tử có cùng số electron thì có

chung tính chất hoá học

GV: nguyên tử có cùng số proton, cùng số

đơn vị điện tích hạt nhân có tính chất hóa

học giống nhau không ?

GV yêu cầu HS trong một bàn thảo luận làm phiếu học tập để củng cố

Nối các nguyên tử ở cột A với cột B sao cho chúng cùng một nguyên tố

Ngày đăng: 11/05/2014, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w