1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn đáp lới trong giao tiếp ( hương ) 18 19

26 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Nói Lời Đáp Trong Giao Tiếp
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Trường học Trường Tiểu học Quảng Cát
Chuyên ngành Môn Tiếng Việt
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 62,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN THỨ NHẤT SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH NÓI LỜI ĐÁP TRONG GIAO TIẾP PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2 Người[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH NÓI LỜI ĐÁP TRONG GIAO TIẾP PHÂN MÔN

TẬP LÀM VĂN LỚP 2

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Cát SKKN thuộc lĩnh vực: Môn Tiếng Việt

Trang 2

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 3

MỤC LỤC

1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu: 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu: 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Điểm mới của Sáng kiến kinh nghiệm 3

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 14

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 15

3.1 Kết luận 15

3.2 Kiến nghị 16

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

1.MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Trong điều 23 Luật giáo dục đã quy định mục tiêu giáo dục ở Tiểu học:

"Giáo dục Tiểu học giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự pháttriển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng

cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa,bước đầu xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinhtiếp tục học lên Trung học cơ sở". Chính vì thế Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyếtđịnh chính thức đổi mới chương trình giáo dục từ lớp 1 đến lớp 5 quả là vấn đềrất quan trọng vì các kiến thức được tích hợp, tinh giản chú trọng nhiều đến khảnăng giao tiếp của học sinh Chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 gồm cácbài học thuộc 6 phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tậpviết, Tập làm văn Trong các phân môn nói trên, Tập làm văn là phân môn cónhiều đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học Khi thực hiện chương trìnhmới, tôi thấy tâm đắc nhất là phân môn "Tập làm văn" mà tôi đang trực tiếpgiảng dạy Vì phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việchoàn thiện và nâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt, đặc biệt là kỹ năng sảnsinh văn học (văn bản nói và văn bản viết) cho học sinh Tiểu học Như vậy, nóirằng phân môn Tập làm văn góp phần to lớn trong việc hiện đại hoá mục tiêuquan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học là hình thành,phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập trong nhàtrường và giao tiếp một cách đúng đắn, tự nhiên, tự tin trong các môi trườnghoạt động của lứa tuổi. Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trườngnói chung và của bậc Tiểu học nói riêng, hiện nay vấn đề cải cách giảng dạykhông phải là mối quan tâm của một cá nhân nào, mà đó là nhiệm vụ chung củatoàn xã hội.Chính sự đổi mới phương pháp giáo dục bậc tiểu học sẽ góp phầntạo con người mới một cách có hệ thống và vững chắc

Như chúng ta đã biết Tiếng Việt vừa là môn học chính, vừa là công cụgiúp học sinh tiếp thu các môn học khác được tốt hơn Đối với người Việt Namthì Tiếng Việt rất quan trọng trong cuộc sống, trong giao tiếp, trong học tập vàsinh hoạt Dạy Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và dạy Tập làm văn nói riêngkhông phải là dạy lý thuyết ngôn ngữ, mà đó là việc dạy hoạt động ngôn ngữ.Bởi thế các yếu tố cuả tình huống giao tiếp rất được quan tâm Nếu như trongdạy câu, tình huống giao tiếp mới chỉ được chú ý một phần thì trong dạy Tậplàm văn, tình huống giao tiếp được chú ý một cách toàn diện và đầy đủ hơn, cáctình huống hiện ra cũng cụ thể và rõ ràng hơn Nếu như trong dạy câu, ta có thểlướt nhanh qua những tình huống giao tiếp, thì ngược lại, trong làm văn khôngthể không đề cập tình huống Nếu như trong việc dạy câu, việc đánh giá câuđúng, câu sai cần phải chú ý đến quy tắc ngôn ngữ, vừa cần phải chú ý đến quytắc giao tiếp

Các em học sinh lớp 2 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất

sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết văn câu còn cụt ngủn Hoặc câu có thể

có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng Việc trình bày, diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược Vì vậy ngay

từ đầu năm học tôi đã định hướng và cùng các em mở rộng hiểu biết về Tiếng

Trang 5

Việt qua các phân môn trong môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập làm

văn Cho nên tôi chọn cho mình đề tài :“Một số kinh nghiệm hướng dẫn học

sinh nói lời đáp trong giao tiếp phân môn Tập làm văn lớp 2 ”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Qua đề tài này tôi mong muốn được góp một phần nhỏ vào việc rèn cho họcsinh ba kỹ năng chính:

- Sử dụng đúng nghi thức lời nói

- Tạo lập văn bản phục vụ đời sống hàng ngày

- Nói viết những vấn đề theo chủ điểm

Hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt(như nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt độngcủa lứa tuổi

Dạy Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và dạy Tập làm văn nói riêng khôngphải là dạy lý thuyết ngôn ngữ, mà đó là việc dạy hoạt động ngôn ngữ Bởi thếcác yếu tố cuả tình huống giao tiếp rất được quan tâm Nếu như trong dạy câu,tình huống giao tiếp mới chỉ được chú ý một phần thì trong dạy Tập làm văn,tình huống giao tiếp được chú ý một cách toàn diện và đầy đủ hơn, các tìnhhuống hiện ra cũng cụ thể và rõ ràng hơn Nếu như trong dạy câu, ta có thể lướtnhanh qua những tình huống giao tiếp, thì ngược lại, trong làm văn không thểkhông đề cập tình huống Bài văn viết ra bao giờ cũng hướng tới đối tượngngười đọc, người nghe cụ thể với những nội dung và mục đích cụ thể Không thể

có một bài văn viết chung chung, không rõ đối tượng, không rõ nội dung và mụcđích giao tiếp Bởi thế, việc dạy Tập làm văn cho học sinh cần phải chú ý tớiviệc dạy các em nói, viết đúng quy tắc giao tiếp, đúng nghi thức lời nói, nghĩa làphải chú ý đầy đủ tới những yếu tố ngoài ngôn ngữ nhưng lại để lại dấu ấn đậmnét trong ngôn ngữ

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh lớp 2 trường Tiểu học Quảng Cát Thành phố Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

* Thu thập, nghiên cứu và phân tích các tài liệu:

Thông qua đọc sách như: Sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, vở bài

tập và các tài liệu phục vụ giảng dạy khác có liên quan đến vấn đề Học sinh

nói lời đáp trong giao tiếp phân môn Tập làm văn lớp 2.

* Khảo sát thực tế:

Tôi đã lựa chọn các biện pháp sau:

+ Điều tra giảng dạy tại trường Tiểu học Quảng Cát Thành phố ThanhHóa

+ Trao đổi với giáo viên về phương pháp dạy tập làm văn khối lớp 2+ Dự giờ trao đổi với giáo viên

+ Khảo sát chất lượng học sinh bằng nhiều hình thức:

- Kiểm tra với nhiều hình thức như: Viết một đoạn văn , Viết hội thoại …

* Dạy thực nghiệm:

Đây là hình thức kiểm tra để vận dụng những kiến thức đã nêu ra vào thực

tiễn, từ đó xác định được tính khả thi của “Rèn kỹ năng nói lời đáp trong giao

tiếp phân môn Tập làm văn lớp 2”

Trang 6

Với lý do trên của đề tài này tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm bài: Đáp lới

đồng ý – QS tranh và trả lới câu hỏi ( Tuần 25 Tiết 25)

* Kiểm tra đánh giá:

Để đánh giá được kết quả trong quá trình tiến hành đề tài này được thực thitôi đã ra một số đề kiểm tra (có thang điểm cụ thể) để đánh giá quá trình viếtcủa các em theo hai dạng bài kiểm tra

- Kiểm tra miệng ( Hội thoại)

- Kiểm tra viết để học sinh tự tìm hiểu nội dung bài và phát hiện ra nóitrong giao tiếp

1.5 Điểm mới của Sáng kiến kinh nghiệm.

“ Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh nói lời đáp có giao tiếp phân mônTập làm văn lớp 2” mà tôi đã nghiêm cứu và đã dạy thực nghiệm, áp dụng tạitrường rất có hiệu quả trong năm học 2019 - 2020 SKKN này đã được đánh giáxếp loại B tại Phòng Giáo dục Mặc dù, năm học này do dịch Covid 19 vẫn tiếptục làm ảnh hưởng lớn đến việc dạy và học của học sinh và giáo viên trên toànquốc, nhưng dưới sự chỉ đạo của Bộ giáo dục, Sở giáo dục và Phòng Giáo dụcthành phố đã khắc phục mọi khó khăn, tiếp tục giảng dạy học sinh tiếp thunhững kiến thức của năm học một cách đầy đủ Năm học 2020 – 2021 này cũng

từ sáng kiên kinh nghiệm trên tôi đã nghiên cứu tiếp và bổ sung thêm về lý do

chọn đề tài và bổ sung thêm giải pháp 4: “Các hình thức nêu tình huống”

và giải pháp 5: “Các trò chơi vận dụng” về hướng dẫn học sinh nói lời đáp

trong giao tiếp Tôi hy vọng với SKKN này sẽ góp phần nào giúp giáo viên vàbản thân có thêm phần nhỏ kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy phân mônTập làm văn đạt hiệu quả cao hơn

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Điều kiện kinh tế - xã hội đã có những thay đổi quan trọng, nhiều thành tựuđổi mới của các ngành khoa học đã xuất hiện những điều kiện đòi hỏi phải xâydựng lại chương trình môn Tiếng Việt Bước vào thế kỷ XXI, thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là một quá trình lâu dài, gian khổ, phứctạp, từ đây trên thế giới cũng như đất nước ta bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề mớinhư kinh tế, tri thức, sự phát triển của công nghệ thông tin, hội nhập vào nềnkinh tế - văn hóa của thế giới. Học sinh nắm được chương trình mới đạt đượckết quả tốt là vấn đề nan giải vì chương trình cũ Tập làm văn đưa ra kiến thức cósẵn, học sinh dựa vào kiến thức đã đưa ra để học sinh điền vào, hoạt động tíchcực của học sinh còn rất ít, học sinh chưa có sự sáng tạo trong học tập, giao tiếpnghi thức tối thiểu như: chào hỏi, lời động viên, an ủi là rất xa lạ đối với trẻ Khikhách đến nhà, học sinh chưa biết có lời chào như thế nào,khi 

bố mẹ bảo "Con chào bác đi!" con trẻ chỉ đáp lại với lời chào chưa gãy gọn,ngượng ngùng Lời cảm ơn, xin lỗi đối với trẻ là rất viễn vông Nhưng đối vớichương trình mới tôi rất hài lòng và hứng thú, học sinh nắm được nghi thức sửdụng chúng trong mọi tình huống giao tiếp ở gia đình, trong trường học và nơicông cộng Qua đó bồi dưỡng và hình thành nhân cách con người Việt Nam xãhội chủ nghĩa. 

* Vị trí của phân môn Tập làm văn:

Trang 7

Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học được dạy cho học sinh bắt đầu từ lớp 2,sau khi các em học song lớp 1(biết đọc, biết viết) Nội dung, kiến thức về phânmôn Tập làm văn được thiết kế theo chương trình đồng tâm, mức độ kiến thức,nội dung được nâng cao và mở rộng khi các em học lên các lớp trên Ngoài kiếnthức về phân môn Tập làm văn, việc học môn này cũng giúp các em học tốt cácmôn học khác, bởi môn học này là cụng cụ để học tập một số môn học khác Khicác em đọc đúng, đọc hiểu, viết đúng sẽ giúp các em hiểu đúng nội dung, yêucầu trong một văn bản từ đó các em thực hiện yêu cầu của văn bản một cáchchính xác

Ở tiểu học, nhất là lớp 2, Tập làm văn là một trong những phân môn có tầm

quan trọng đặc biệt (ở lớp 1 các em chưa được học, lên lớp 2 học sinh mới bắtđầu được học, được làm quen )

* Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn:

Môn Tập làm văn giúp học sinh có kỹ năng sử dụng Tiếng Việt được pháttriển từ thấp đến cao, từ luyện đọc cho đến luyện nói, luyện viết thành bài văntheo em từ những việc nhỏ nhặt, tưởng như không quan trọng đó

- Bên cạnh đó, do quan niệm tiếp thu văn bản cũng là một kỹ năng nghe, nói,đọc, viết về văn bản cần được rèn luyện, Một số tiết Tập làm văn từ giữa học kỳ

II trở đi bồi dưỡng những thái độ,tình cảm lành mạnh, tốt đẹp cho các em

* Nội dung phân môn Tập làm văn lớp 2.

Nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em học sinh thựchành rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe, phục vụ cho việc học tập và giao tiếphằng ngày, cụ thể:

* Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi; tự giớithiệu; cảm ơn; xin lỗi; khẳng định; phủ định; mời, nhờ , yêu cầu, đề nghị; chiabuồn, an ủi; chia vui, khen ngợi; ngạc nhiên, thích thú; đáp lại lời chào, lời tựgiới thiệu; đáp lời cảm ơn; đáp lời xin lỗi; đáp lời khẳng định; đáp lời phủ định;đáp lời đồng ý; đáp lời chia vui; đáp lời khen ngợi; đáp lời từ chối; đáp lời an ủi

* Thực hành về một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày,như: viết bản tự thuật ngắn, lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thờikhoá biểu, nhận và gọi điện thoại, viết nhắn tin, lập thời gian biểu, chép nội quy,đọc sổ liên lạc

* Thực hành rèn luyện về kỹ năng diễn đạt (nói, viết ) như: kể về ngườithân trong gia đình, về sự vật hay sự việc được chứng kiến; tả sơ lược về người,vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi

* Thực hành rèn luyện về kỹ năng nghe: dựa vào câu hỏi gợi ý để kể lạihoặc nêu được ý chính của mẩu chuyện ngắn đã nghe mà còn là việc nắm các kỹnăng giao tiếp thông thường khác; tạo lập văn bản phục vụ đời sống hằng ngày;nói, viết những vấn đề theo chủ điểm quen thuộc

Trong từng bài học, để rèn những kỹ năng trên, các nhân tố ngoài ngônngữ bao giờ cũng được chú ý Do mục đích, nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể của mỗibài tập làm văn mà việc dạy Tập làm văn có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn

Nó trở thành một trong những mục tiêu quan trọng khi dạy học ở trường tiểuhọc

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trang 8

* Thuận lợi: Đối với lớp 2, dạy Tập làm văn trước hết là rèn luyện cho học sinh

các kĩ năng phục vụ học tập và giao tiếp hằng ngày

Hơn nữa sách Tiếng Việt 2 mới khác với sách Tiếng Việt 2 cũ, trong mỗitiết học, thậm chí cả một giai đoạn học tập chỉ dạy đơn điệu một nội dung (Vídụ: Điền từ (nửa đầu học kỳ I ) Quan sát tranh trả lời câu hỏi (nửa cuối học kỳ I)Trả lời câu hỏi dựa vào bài văn (nửa đầu học kỳ II ) Dùng từ đặt câu (nửa cuốihọc kỳ II ), trong sách Tiếng Việt 2 mới, các bài tập thiết thực hơn về nội dung;

đa dạng, phong phú hơn về kiểu loại Trong một tiết học, các loại bài tập được

bố trí xen kẽ, gắn kết với nhau, làm nổi rõ thêm chủ điểm

Cả năm học có 35 tuần thì học sinh được học 31 tiết Tập làm văn (Mộttuần học sinh được học 1 tiết Tập làm văn).Trong 4 tuần ôn tập giữa học kỳ I vàgiữa học kỳ II, cuối học kỳ I và cuối học kỳ II (mỗi tuần có 10 tiết) cũng có rấtnhiều bài tập thuộc phân môn Tập Làm Văn

* Khó khăn: Do thực tế học sinh mới được làm quen với phân môn Tập làm

văn ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có phương pháp học tập bộmôn một cách khoa học và hợp lý

Về đồ dùng dạy học, phương tiện chủ yếu là tranh trong sách giáo khoa; hạnchế, sử dụng chưa thường xuyên các phương tiện hiện đại như máy chiếu hắt,băng hình làm cho chất lượng giờ học Tập làm văn chưa cao

* Kết quả thực trạng

Tôi tiến hành khảo sát thực trạng và thu được kết quả như sau

Kết quả của lớp 2B như sau: ( 40 em ) Tên bài H thành

tốt thành Hoàn C hoàn thành

Đáp lời khẳng định, phủ định (Tuần 6) 7 17,5% 26 65% 7 17,5%Mời nhờ ,yêu cầu đề nghị (Tuần 8 ) 9 22,5% 25 62,5% 6 15%

Kết quả của lớp 2C như sau: (39 em ) Tên bài H Thành tốt Hoàn thành C Hoàn thành

Đáp lời khẳng định, phủ định (Tuần 6) 7 17,9% 25 64,2% 7 17,9%Mời nhờ ,yêu cầu đề nghị (Tuần 8 ) 8 20,5% 25 64,1% 6 15,4%

- Từ kết qủa thực trạng đó tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

* Giải pháp chung.

Nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em học sinh thực hành

rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe, phục vụ cho việc học tập và giao tiếp hằngngày, cụ thể:

* Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi; tự giới thiệu; cảmơn; xin lỗi; khẳng định; phủ định; mời, nhờ , yêu cầu, đề nghị; chia buồn, an ủi;

Trang 9

chia vui, khen ngợi; ngạc nhiên, thích thú; đáp lại lời chào, lời tự giới thiệu; đáplời cảm ơn; đáp lời xin lỗi; đáp lời khẳng định; đáp lời phủ định; đáp lời đồng ý;đáp lời chia vui; đáp lời khen ngợi; đáp lời từ chối; đáp lời an ủi Như vậy, phầnTập làm văn trong SGK Tiếng Việt 2 không phải chỉ giúp học sinh nắm các nghithức tối thiểu của lời nói và biết sử dụng các nghi thức đó trong những tìnhhuống khác nhau, như nơi công cộng, trong trường học, ở gia đình với nhữngđối tượng khác nhau, như bạn bè, thầy cô, bố mẹ, người xa lạ mà còn là việcnắm các kỹ năng giao tiếp thông thường khác; tạo lập văn bản phục vụ đời sốnghằng ngày; nói, viết những vấn đề theo chủ điểm quen thuộc.Trong từng bài học,

để rèn những kỹ năng trên, các nhân tố ngoài ngôn ngữ bao giờ cũng được chúý

Ví dụ: Để luyện việc sử dụng đúng nghi thức lời nói, sách đã ra một bài tập như

sau: Có một người lạ đến nhà em gõ cửa và tự giới thiệu: “Chú là bạn bố

cháu Chú đến thăm bố mẹ cháu.” Nội dung cũng như mục đích giao tiếp hiện

lên qua cách hỏi của bài tập bố mẹ có nhà hoặc bố mẹ không có nhà Với những

yếu tố

ngoài ngôn ngữ như vậy đòi hỏi học sinh phải biết cân nhắc, lựa chọn trước khinói những từ ngữ, những kiểu câu sao cho phù hợp Việc lựa chọn lời nói trongtừng tình huống giao tiếp như vậy không thể tuỳ tiện, hay chỉ bảo đảm đúngquy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ

Do mục đích, nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể của mỗi bài tập làm văn mà việcdạy Tập làm văn có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn Nó trở thành một trongnhững mục tiêu quan trọng khi dạy học ở trường tiểu học

* Các giải pháp cụ thể.

Giải pháp 1: Tác dụng của các nghi thức lời nói tối thiểu:

Trước hết GV cần cho HS thấy được sự cần thiết và tác dụng của các nghithức lời nói tối thiểu, Ví dụ:

- Lời chào khi mới gặp nhau cũng như trước khi chia tay là phép lịch sự, thểhiện người có văn hoá trong tiếp xúc, khiến cho mọi người thấy thân mật, gầngũi nhau hơn

- Việc tự giới thiệu một đôi điều cần thiết về bản thân giúp cho những ngườimới gặp nhau lần đầu thấy thân thiện, hoà đồng hơn

- Cảm ơn và xin lỗi là những tình huống giao tiếp thường gặp trong cuộc sống.Một người nào đó (có thể là người thân trong gia đình, có thể là thầy cô hay bạn

bè ở trường, có thể là người hàng xóm láng giềng hay những người xa lạ ta mớigặp ) đã giúp ta một điều gì đó (có thể là một lời khuyên, một việc làm, một vậttặng… ) ta đều phải cảm ơn Ngược lại, ta phải xin lỗi khi trót để xảy ra mộtđiều gì đó gây hậu quả không hay cho người khác Ví dụ một lời nói, một việclàm dẫu vô tình hay khi nóng nảy…làm xúc phạm, gây ảnh hưởng không tốt đếnngười khác Đấy là lý do vì sao ta phải cảm ơn hay xin lỗi

Trang 10

Ví dụ: Bạn đến thăm nhà Em mở cửa và mời bạn vào chơi

- Nhờ có nhiều nghĩa nhưng nghĩa thông thường ở đây là yêu cầu người kháclàm giúp cho một việc gì đó

Ví dụ: Em thích một bài hát mà bạn đã thuộc Em nhờ bạn chép lại cho mình

- Yêu cầu có nhiều nghĩa nhưng nghĩa thông thường ở đây là nêu ra một điều, tỏ

ý muốn người khác làm mà công việc đó thuộc trách nhiệm, khả năng của ngườiấy

- Đề nghị cũng có nhiều nghĩa mà nghĩa thông thường ở đây là đưa ra ý kiến vềmột việc nên làm hoặc một yêu cầu muốn người khác phải làm theo

Ví dụ: Bạn ngồi bên cạnh nói chuyện trong giờ học Em yêu cầu (hoặc đề nghị )bạn giữ trật tự để nghe cô giáo giảng

- Chia buồn là muốn cùng chịu một phần cái buồn với người khác

- An ủi thường là dùng lời khuyên giải để làm dịu nỗi đau khổ buồn phiền

ở người khác

- Chia vui: Chia sẻ niềm vui với người khác

- Khen hay chê là việc biểu lộ nhận xét tốt xấu của mình đối với mộtngười, một vật, một việc nào đó Khen là sự đánh giá tốt về ai đó, về cái gì, việcgì…mình thấy vừa ý, hài lòng

- Ngạc nhiên là phản ứng rất lấy làm lạ, cảm thấy điều trước mắt, điềudiễn ra là hoàn toàn bất ngờ

- Thích thú là cảm giác hài lòng, vui vẻ, là việc cảm thấy một đòi hỏi nào

đó của mình đã được đáp ứng

- Đồng ý là có cùng ý kiến như ý kiến đã nêu, tức cùng một ý kiến như nhau

* Khi thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu phải chú ý cả cử chỉ, thái độ,

tình cảm.

* Khi chào hỏi hoặc tự giới thiệu: lời nói, giọng nói, vẻ mặt, ánh mắt, nụcười…phải tuỳ từng đối tượng mình gặp gỡ và những điều này cũng chứa đựngnội dung tiếp xúc Cách chào hỏi, cách xưng hô phải phù hợp với từng người,từng hoàn cảnh cụ thể Lời chào hỏi cần tự nhiên, lịch sự, cử chỉ thân mật

+ Khi chào hỏi người trên (bố, mẹ thầy ,cô ) em cần thể hiện thái độ nhưthế nào? Để thể hiện thái độ đó, em cần chú ý gì về: vẻ mặt, giọng nói, cử chỉ?

+ Khi chào hỏi bạn bè, em cần thể hiện thái độ gì đối với bạn?

Ví dụ: Chào bạn khi gặp nhau ở trường: - Chào bạn!

*Lời cảm ơn hay xin lỗi khi nói phải chân thành, lịch sự, lễ phép và điliền với cách biểu hiện, tình cảm, thái độ củả mình khiến mọi người thông cảm,

bỏ qua cho lỗi của em

Em nhớ xác định rõ đối tượng cần cảm ơn:

+ Nếu là bạn bè (cùng lứa tuổi ), lời cảm ơn cần thể hiện thái độ chânthành, thân mật

Trang 11

Ví dụ: Chị cảm ơn em.

Trước hết phải để cho người được cảm ơn hay xin lỗi thấy được sự chânthành của mình Rồi tuỳ đối tượng là người thân hay xa lạ, là bề trên hay bạnbè….mà ta có cử chỉ, lời lẽ cho phù hợp

Từng cử chỉ, nét mặt, giọng nói đều góp phần bộc lộ nội dung của lờicảm ơn hay xin lỗi

Nội dung của lời cảm ơn hay xin lỗi đều có ba phần:

Thứ nhất là các từ ngữ biểu hiện như cảm ơn, chân thành cảm ơn, xin

lỗi,vô cùng xin lỗi Thứ hai là ta cảm ơn hay xin lỗi ai? Thứ ba là cảm ơn hay

xin lỗi về điều gì, việc gì?

Cách diễn đạt lời cảm ơn hay xin lỗi cũng rất phong phú, đa dạng

Ví dụ: Em lỡ bước, giẫm vào chân bạn Em nói:

Ví dụ: Khi cây hoa do ông bà ( trồng ) bị chết Em nói:

- Bà ơi! Bà đừng buồn Cháu sẽ cùng bà trồng lại cây khác, bà nhé!

Hoặc: - Bà đừng buồn, con sẽ nhờ bố kiếm cây khác trồng lại để bà vui

*Khi nói lời chia vui cần chú ý: người mình chia vui là ai? Chia vui vềchuyện gì?Tình cảm, thái độ, cử chỉ khi nói phải như thế nào cho phù hợp?

Chúng ta cần nói với thái độ chân thành, tự nhiên, vui vẻ nhằm thể hiện

sự chia vui hay khâm phục, tự hào, phấn khởi

Ví dụ: Nói lời chúc mừng của em với chị Liên:

- Em xin chúc mừng chị!

Hoặc: - Chúc chị học giỏi hơn nữa!

- Chúc chị năm sau được giải cao hơn

- Chị học giỏi quá! em rất tự hào về chị

*Khi khen, trong câu thường dùng các từ rất, quá, thật làm sao, và khi viếtdùng dấu chấm than ở cuối câu

Ví dụ: Bạn Nam học rất giỏi:

- Bạn Nam học mới giỏi làm sao!

- Bạn Nam học giỏi ghê!

- Bạn Nam học giỏi thật!

* Thể hiện sự ngạc nhiên, thích thú:giọng nói, vẻ mặt cần thể hiện sự ngạcnhiên, vui mừng, thích thú, nhấn giọng vào các từ thể hiện sự ngạc nhiên: Ôi! Ồ!A! Ôi chao! Ối! Á! và chú ý hơi lên cao giọng ở cuối câu nói

Ví dụ: Được bố tặng một cái vỏ ốc biển đẹp Em nói:

- Đây là món quà con rất thích, cảm ơn bố

- Sao cái vỏ ốc đẹp thế, lạ thế, con cảm ơn bố

- Cái vỏ ốc biển mới to và đẹp làm sao!

- Con chưa bao giờ thấy một cái vỏ ốc đẹp đến thế

Trang 12

*Đáp lại lời chào, cần nói thế nào để tỏ thái độ lịch sự, thân mật? Đáp lạilời tự giới thiệu cần nói thế nào để tỏ thái độ vui vẻ, phấn khởi, đón chào.

Chú ý khi nói lời đáp lại lời chào, lời tự giới thiệu chúng ta cần xác định

từ xưng hô của em với người đối thoại sao cho phù hợp

Ví dụ: - Chào các em!

- Chào chị ạ! (Chúng em chào chị ạ! )

- Chị tên là Hương, chị được cử phụ trách sao của các em

- Ôi, thích quá! Chúng em mời chị vào lớp ạ!

(Thế thì thích quá! Chúng em mời chị vào lớp chúng em ạ! )

*Đáp lời cảm ơn cần chú ý ngữ điệu, cách xưng hô:

+ Lời người lớn tuổi: chân tình

+ Lời bạn bè: lễ phép, khiêm tốn

+ Với bạn bè thân quen lời đáp cần thể hiện thái độ gần gũi, quan tâm.+ Với người lạ (khách ) lời đáp cần thể hiện thái độ lịch sự, lễ phép

Ví dụ: Em rót nước mời khách đến nhà Khách nói:

- Cảm ơn cháu Cháu ngoan quá!

Em đáp:

- Dạ, thưa bác, không có gì đâu ạ!

Hoặc: - Dạ, có gì đâu Bác uống nước đi cho đỡ khát ạ!

- Dạ, cháu cảm ơn bác đã khen

* Đáp lời xin lỗi:

- Với những sự việc nhỏ, không đáng kể thì lời đáp của em cần thể hiệnthái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, sẵn sàng bỏ qua

- Với những sự việc đáng buồn hay đáng tiếc xảy ra, lời đáp của em cầnthể hiện thái độ lịch sự, nhẹ nhàng nhưng cũng có thể kèm theo ý nhắc nhở đểlần sau họ không mắc lỗi như vậy nữa

Ví dụ: Một bạn vô ý đụng vào người em, vội nói:

- Xin lỗi Tớ vô ý quá!

Trang 13

Hoặc: - Nhưng con chưa nghĩ được, bố gợi ý để con tự vẽ vậy.

*Lời an ủi thể hiện sự động viên và lời đáp lại phải thể hiện sự chânthành, làm cho con người thêm thông cảm, gần gũi nhau hơn

Ví dụ: Em rất tiếc vì mất con chó, bạn em an ủi:

- Thôi cậu đừng buồn rồi bố cậu sẽ kiếm cho cậu một con khác mà

Em đáp:

- Mình cảm ơn bạn

Hoặc: - Tớ chỉ tiếc con chó ấy rất khôn

- Có bạn chia sẻ, mình cũng thấy đỡ buồn

Chú ý: Khi nói hay trả lời, cần nhìn vào người hỏi chuyện, nói to đủ nghevới thái độ tự nhiên, nét mặt tươi vui

Giải pháp 3: Các hình thức HD thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu:

a Làm việc cá nhân:

- Xác định yêu cầu của bài

- Xác định rõ đối tượng để thực hành nói cho phù hợp

- Tập nói theo yêu cầu: cố gắng tìm được nhiều cách diễn đạt khác nhau

- Phát biểu trước lớp nối tiếp nhau (nhiều HS nói )

- HS khác nhận xét, bổ sung, bình chọn người nói đúng và hay nhất

Ví dụ: Bài 4: Cảm ơn, xin lỗi

Bài tập 1: + Trường hợp cần cảm ơn: Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa + Lời cảm ơn: - Cảm ơn bạn nhé!

- Cho đại diện các cặp lên trình bày trước lớp

- Đại diện các cặp khác nhận xét, bổ sung, bình chọn người nói đúng vàhay nhất

Ví dụ: Bài 19: Đáp lời chào, lời tự giới thiệu

Bài tập 3:

HS1: - Chào cháu

HS2: - Cháu chào cô ạ! (Dạ, cháu chào cô! )

HS1: - Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?

HS2: - Dạ, thưa cô, đúng đấy ạ! (Dạ, cháu chính là Nam đây ạ! )

HS1: - Tốt quá Cô là mẹ bạn Sơn đây

HS2: -Thế ạ! Cô có điều gì bảo cháu ạ? (Dạ, thưa cô, cô có việc gì cần ạ? ) HS1: - Sơn bị sốt Cô nhờ cháu chuyển giúp cô đơn xin phép cho Sơn nghỉ học

Ngày đăng: 11/04/2023, 00:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w