CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN Tác giả: Nguyễn Quang Hưng, Trần Bình Trọng Nguyễn Văn Tiến, Vũ Văn Bích Nguyễn Ngọc Tuấn, Đào Sỹ Dũng Tô Văn Né, Nguyễn
Trang 1CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN
Thuộc đề tài: "Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện
Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa" do TS Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm
6383-6
23/5/2007
HÀ NỘI, 2006
Trang 2CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng, Trần Bình Trọng
Nguyễn Văn Tiến, Vũ Văn Bích Nguyễn Ngọc Tuấn, Đào Sỹ Dũng
Tô Văn Né, Nguyễn Đức Long Nguyễn Thái Sơn và nnk
BÁO CÁO
ĐẶC TRƯNG TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM
CÁC NGUYÊN TỐ PHÓNG XẠ VÀ NGUYÊN TỐ ĐI KÈM
VÙNG VÙNG NÔNG SƠN (QUẢNG NAM)
TỶ LỆ 1/50.000 VÀ 1/10.000
Thuộc đề tài: "Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện
Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề
xuất giải pháp phòng ngừa" do TS Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm
Chủ nhiệm đề tài
Liên đoàn trưởng
TS Đào Mạnh Tiến
Chủ nhiệm chuyên đề Liên đoàn trưởng
TS Nguyễn Quang Hưng
HÀ NỘI, 2006
Trang 3MỞ ĐẦU
Cơ sở pháp lý
- Căn cứ vào Quyết định số 1771/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ Khoa học
và Công nghệ ngày 28-9-2004 về việc phê duyệt các tổ chức, cá nhân trúng tuyển
và chủ trì thực hiện các đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005
- Căn cứ vào Hợp đồng số10/2005/HĐ-ĐTĐL ngày 8/4/2005 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Liên đoàn Địa chất Biển về việc thực hiện nội dung khoa học và kinh phí của đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005
- Căn cứ vào Hợp đồng hợp tác nghiên cứu khoa học công nghệ số ĐTĐL-2005/10 ngày 15/8/2005 giữa Liên đoàn Địa chất Biển và Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm về việc điều tra khảo sát thực địa và lấy mẫu vùng Nông Sơn
- Theo đề cương chuyên đề "Nghiên cứu mức độ ô nhiễm phóng xạ tại Nông Sơn (Quảng Nam) và đề xuất giải pháp phòng ngừa"
Dưới sự chỉ đạo của ông chủ nhiệm đề tài TS.Đào Mạnh Tiến - Liên đoàn trưởng Liên đoàn Địa chất Biển và chủ nhiệm chuyên đề TS.Nguyễn Quang Hưng
- Liên đoàn trưởng Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm, các cán bộ Tổ đề án Địa chất Môi trường đã tiến hành khảo sát thực địa tại vùng Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam ở tỷ lệ 1:50/000 và các diện tích chi tiết 1/10.000
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu về địa chất tai biến và tác động của chúng đối với môi sinh đã và đang được Ngành Địa chất quan tâm Một trong những kết quả đáng chú ý là báo cáo kết quả điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ, khả năng ảnh hưởng và biện pháp khắc phục trên một số mỏ phóng xạ,
mỏ có chứa phóng xạ vùng Quảng Nam do Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm thực hiện
đã xác định được hiện trạng môi trường phóng xạ, khoanh định được các diện tích
có ảnh hưởng của phóng xạ đến môi sinh và đề ra các biện pháp khắc phục
Nhằm tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống hiện trạng môi trường trên các
mỏ phóng xạ, sự ảnh hưởng của môi trường phóng xạ đối với dân sinh, bảo vệ sức khoẻ con người khỏi sự tác động của của chúng và xây dựng các qui hoạch phát triển dân sinh khác lân cận các khu vực mỏ phóng xạ, Thực hiện nhiệm vụ của đề tài “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện: Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa” đã được thực hiện, chúng tôi tiến hành thi công các công trình khảo sát địa chất môi trường phóng xạ tại vùng Nông Sơn - Quảng Nam trên các huyện: Nam Giang, Đại Lộc, Hiên (nay là huyện Đông Giang và Tây Giang) với các mục tiêu nhiệm vụ và nội dung như sau:
Mục tiêu nhiệm vụ
- Xác định hiện trạng môi trường phóng xạ tại các vùng mỏ và các vùng dân
cư lân cận
- Đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ và tác động của chúng đến môi sinh
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác hại đến môi sinh
Các phương pháp kỹ thuật chủ yếu:
- Thu thập, phân tích, xử lý và tổng hợp các tài liệu đã có
- Đo đạc bổ sung một số phương pháp phóng xạ môi trường: đo suất liều, đo
Trang 4- Lộ trỡnh quan sỏt địa chất mụi trường bổ sung, lấy cỏc loại mẫu: đất, mẫu nước, mẫu thực phẩm, thực vật, mẫu túc…và điều tra xó hội học dõn cư trong vựng
Sản phẩm giao nộp
1) Bản đồ địa chất khoỏng sản tỷ lệ 1:50.000
2) Bản đồ địa chất khoỏng sản tỷ lệ 1:10.000
3) Bản đồ đẳng trị tổng cường độ và dị thường bức xạ gamma tỷ lệ 1:50.000 4) Bản đồ đẳng trị tổng cường độ và dị thường bức xạ gamma tỷ lệ 1:10.000 5) Bản đồ đẳng trị liều chiếu ngoài tương đương bức xạ gamma tỷ lệ 1/50.000
6) Bản đồ đẳng trị liều chiếu ngoài tương đương bức xạ gamma tỷ lệ 1/10.000
7) Bản đồ đẳng trị nồng độ radon trong khụng khớ tỷ lệ 1/50.000
8) Bản đồ đẳng trị nồng độ Radon trong khụng khớ tỷ lệ 1/10.000
9) Bản đồ đẳng trị liều chiếu trong tỷ lệ 1/50.000
10) Bản đồ đẳng trị liều chiếu trong tỷ lệ 1/10.000
11) Bản đồ đẳng trị hàm lượng và dị thường cỏc nguyờn tố kali, urani, thory
tỷ lệ 1/50.000
12, Bản đồ đẳng hàm lượng và dị thường cỏc nguyờn tố kali, urani, thory tỷ lệ 1/10.000
13) Bản đồ tổng liều chiếu tương đương tỷ lệ 1/50.000
14) Bản đồ tổng liều chiếu tương đương tỷ lệ 1/10.000
15) Bản đồ hiện trạng và phõn vựng mụi trường phúng xạ tỷ lệ theo cỏc mức
độ khỏc nhau 1/50.000
16) Bản đồ hiện trạng và phõn vựng mụi trường phúng xạ tỷ lệ theo cỏc mức
độ khỏc nhau 1/10.000
17) Bỏo cỏo thuyết minh
18) Tài liệu nguyờn thuỷ
19) Sơ đồ tài liệu thực tế đo ngoài trời tỷ lệ 1/50.000 và tỷ lệ 1/10.000
20) Sơ đồ tài liệu thực tế lấy mẫu: mẫu đất đỏ, mẫu nước, mẫu thực vật, mẫu thực phẩm
22) Sổ đo thực địa
23) Bỏo cỏo kết quả đo thực địa
24) Cỏc loại mẫu: mẫu đất, mẫu đỏ, mẫu nước, mẫu thực vật
Thời gian thực hiện: theo kế hoạch từ thỏng 01 năm 2005, hoàn thành bỏo
cỏo tổng kết thỏng 12 năm 2005
Thực tế thực hiện: từ thỏng 03 năm 2005, hoàn thành bỏo cỏo tổng kết thỏng
12 năm 2005
Kinh phớ thực hiện đề tài: 216 660.000 đồng
Trong quỏ trỡnh lập đề cương, thi cụng thực địa tập và lập bỏo cỏo tổng kết tập thể tỏc giả chuyờn đề đó nhận được sự chỉ đạo sỏt sao, giỳp đỡ tận tỡnh và tạo mọi điều kiện thuận lợi của lónh đạo Bộ Khoa học Cụng nghệ, lónh đạo Cục Địa chất và Khoỏng sản Việt Nam, chủ nhiệm đề tài TS.Đào Mạnh Tiến và chủ nhiệm chuyờn đề TS.Nguyễn Quang Hưng, cỏc cơ quan chớnh quyền và nhõn dõn địa phương
Tập thể tỏc giỏc xin chõn trọng cảm ơn những sự chỉ đạo và giỳp đỡ quý bỏu
đú
Trang 5CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1- Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý toạ độ
Diện tích nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ và đề xuất giải pháp phòng ngừa vùng Nông sơn (tỉnh Quảng Nam) có diện tích 580km2, thuộc các huyện: Đại Lộc, Quế Sơn, Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang được giới hạn bởi: Toạ độ:
15o38’12” - 15o54’53” vĩ độ Bắc
107o33’04” - 108o06’00” kinh độ Đông
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Đây là vùng núi cao hiểm trở, địa hình phân cắt mạnh, độ cao tuyệt đối từ 600m đến 900m, các dãy núi chủ yếu kéo dài theo phương á kinh tuyến, với độ dốc sườn từ 20o đến 40o, có nơi đạt tới 60o
Trong vùng gồm các loại đá: chủ yếu là các trầm tích lục nguyên, magma xâm phập bị phong hoá, bào mòn mạnh, nên thường gây ra hiện tượng sạt lở làm ảnh hưởng tới giao thông sinh hoạt của nhân dân trong vùng
1.1.3 Khí hậu
Vùng Nông Sơn nói riêng và khu vực miền Trung Trung Bộ nói chung chịu ảnh hưởng của khí hậu miền núi ven biển nhiệt đới gió mùa và chia thành 2 mùa: mùa khô kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11
- Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,80,từ tháng 9 đến tháng 12 nhiệt
độ từ 10 đến 15o, từ tháng 3 đến tháng 8 nhiệt độ trung bình khoảng 250 đến 27o,cao nhất 38o
- Độ ẩm trung bình trong năm khoảng 62% Những tháng mưa nhiều độ ẩm trung bình 89%, các tháng nắng ráo độ ẩm hạ xuống 34% Lượng mưa trung bình hàng năm 2208 mm Đặc biệt năm 1999 lượng mưa đạt tới 3900mm Các tháng 9, 10,11 lượng mưa từ 390-1374mm, những tháng này thường gây lũ lụt, ách tắc giao thông, việc đi lại nghiên cứu địa chất gặp nhiều khó khăn Từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau, lượng mưa ít từ 0-52mm; từ tháng 6 đến tháng 8 lượng mưa
từ 160-204mm Các tháng này nói chung ít mưa, thuận lợi cho công tác nghiên cứu địa chất
1.1.4 Thuỷ văn
Mạng lưới sông, suối vùng nghiên cứu khá dày, gồm các sông lớn như sông Côn, sông Vu Gia, sông Vàng, sông Bung, sông Cái, sông A Vương, sông Thu Bồn Các dòng sông về mùa mưa nước sông dâng cao, lưu lượng nước rất lớn, thường gây ra ngập lụt, sạt lở; mùa khô dòng sông thu hẹp với nhiều thác ghềnh hiểm trở Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn trạm Hội Khách, đặt trên sông Cái, mực nước thấp nhất từ tháng 2 đến tháng 9 từ 843cm - 871cm, mực nước cao nhất từ tháng 10 đến tháng 1 từ 931cm-1782cm, lưu lượng mưa hàng năm các sông như sau:
- Sông Bung: mùa khô 35m3/s, mùa mưa từ 350-370m3/s
- Sông Cái: mùa khô 49m3/s, mùa mưa từ 400-450m3/s
Hệ thống suối chủ yếu trong vùng có phương á kinh tuyến Trừ suối lớn nhất
Trang 6các suối nhánh thường là khe cạn, lòng suối sâu, nhiều bậc thác, rất dốc chỉ có nước vào mùa mưa
1.1.5 Động - thực vật
- Động vật: phong phú nhiều loài quý hiếm như: báo, gấu, lợn rừng, hươu, nai, hoẵng, sơn dương, trĩ,… gà lôi
- Thực vật: đa dạng nhiều loại cây gỗ quý có giá trị kinh tế cao như: lim, chò
chỉ, lát, gụ …Song hiện tại phần lớn rừng Quảng Nam đều bị khai thác bừa bãi,
trái phép, động thực vật bị săn bắn làm cho tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt
Hình 1.1 Bản đồ các vùng khảo sát môi trường phóng xạ vùng Nông Sơn
1.1.6 Ảnh hưởng của điều kiện địa lý tới môi trường phóng xạ
Vùng trũng Nông Sơn gồm 5 huyện miền núi, tồn tại nhiều loại hình mỏ mục đích sử dụng, khai thác khác nhau, một số mỏ đang được tiến hành thăm dò và khai thác Đặc biệt đáng chú ý là những mỏ chứa chất phóng xạ urani như mỏ than Nông Sơn, Sườn Giữa, Ngọc Kinh và những mỏ phóng xạ urani như mỏ urani: Khe hoa – Khe Cao, Pà Rồng, An Điềm, Đông Nam Bến Giằng …
Địa hình núi cao sườn dốc, phân cắt mạnh, độ cao thay đổi từ 100m đến 1050m, có xu hướng cao dần về phía Tây Các dãy núi kéo dài theo phương vĩ tuyến, sườn núi dốc, có khi đạt tới 60o Các thung lũng giữa núi là các cánh đồng
xã Đại Hoà, Đại Minh, Đại Phong, Đại Tân, Đại Hồng, Đại Sơn, Đại Lãnh, đặc điểm địa hình, địa mạo đã nêu trên, cộng với thảm thực vật ngày càng thưa thớt, mức độ che phủ từ trung bình tới kém chủ yếu là đồi trọc và cây bụi vì nạn phá
Trang 7rừng ngày càng tràn lan trên diện rộng, riêng khí hậu vùng trũng Nông Sơn là khí hậu miền núi ven biển mùa khô kéo dài thường có gió Lào thổi qua gây nắng nóng,
oi bức Mùa mưa thường ngắn hơn lượng mưa lớn đạt từ 2208mm/năm trở lên thường gây ra lũ lụt, sạt lở làm đẩy nhanh quá trình phong hóa nham thạch trong vùng
Như vậy, vấn đề ô nhiễm chất phóng xạ dưới tác động của tự nhiên các mỏ
có chứa chất phóng xạ, và các mỏ phóng xạ trong các điều kiện địa hình, địa mạo, không khí, khí hậu, nước, và đã nêu trên là rất lớn Ảnh minh hoạ: 110103,
110301, 120105, 120204, 110206
Các chất phóng xạ sẽ bị rửa trôi hòa tan trong môi trường nước được vân chuyển đi xa, hoặc thẩm thấu theo các hệ thống khe nứt, đứt gẫy của đất đá làm ô nhiễm chất phóng xạ trong môi trường nước ngầm Theo kết quả phân tích mẫu nước theo hướng dòng chảy, các hàm lượng radon, thoron tương đối cao so với giới hạn cho phép tại H:1.2, H:1.3, H:1.4, H:1.5
Hoặc bị khuếch tán vào môi trường không khí vì trong tự nhiên, quá trình phân rã của urani, thori và các sản phẩm con cháu của chúng, chủ yếu là trạng thái rắn, chỉ có 2 đồng vị dạng khí là radon (có chu kỳ bán huỷ 3,82 ngày) và thoron (có chu kỳ phân huỷ ngắn 54,5 giây), di chuyển trong không khí tối đa 30cm Đáng chú ý nhất là khí radon, chu kỳ bán huỷ lâu hơn, hạt nhân này có thể di chuyển rất
xa trong không khí Đặc biệt khi vào phổi chúng phân huỷ thành các đồng vị thể rắn, chúng được giữ lại trong phổi gây ra liều chiếu trong rất nguy hiểm Đồng thời các hạt nhân khác được khuyếch tán vào không khí dạng son khí (bụi phóng xạ) đó
là các hạt lửng lơ, khi con người hít thở sẽ kéo theo chúng vào phổi Khả năng phát tán của radon phụ thuộc vào các yếu tố như: nồng độ radon trong đất, chiều dày lớp đất phong hoá, thảm thực vật, đặc điểm địa hình, hướng gió… Cụ thể đã tiến hành đặt một số trạm quan trắc đo nồng độ radon trong không khí Tại các vùng có các mỏ phóng xạ urani và các vùng lân cận mỏ phóng xạ urani như trạm QT:1202, QT:1203, QT:1102, QT:1201 ,được thể hiện tại H:2.2, H:2.3, H:2.4, H:2.5, H:2.6, H:2.7, H:2.8, H:2.9 đồ thị chi tiết quan trắc nồng độ radon trong không khí
Trang 8Ảnh 110103 Địa hình và lớp phủ thực vật khu Sườn Giữa
Người chụp: Nguyễn Văn Tiến
Ảnh 110801 Vết lộ đá chứa dị thường khu An Điềm
Người chụp: Đào Sỹ Dũng
Trang 9Ảnh 120105 Hình ảnh bãi bồi trên sông Vu Gia
Người chụp: Nguyễn Văn Tiến
Ảnh 120204 Bãi cát bồi bờ phải sông Côn khu Đại Lãnh
Người chụp: Nguyễn Ngọc Tuấn
Ảnh 110206 Eo Gió, nơi khai thác than Sườn Giữa
Người chụp: Nguyễn Văn Tiến
Trang 10Hình 1.2: Sự thay đổi hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong mẫu nước theomặt cắt 1103
hướng dòng chảy từ Trại An Điềm đến thôn 4 xã Đại Lãnh - Vùng An Điềm
Hl_U(Bq/l) Hl_ra (10^2Bq/l)
Hl_th(Bq/l) Tonganpha (10^-1Bq/l)
Tongbeta(Bq/l) Ctth
Ht_dd (10^1mSv/n ăm)
Hình 1.3: Sự thay đổi hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong mẫu nước theomặt cắt 1102
hướng dòng chảy khu vực Sườn Giữa xã Đại Sơn - Vùng An Điềm
Hl_ra (10^2Bq/l) Hl_th(B q/l) To nganpha (10^-1B q/l) Tongbeta(Bq/l) Ctth Ht_dd (10^1mSv/năm)
Trang 11Hình 1.4: Sự thay đổi hàm lượng các nguyên tố phóng xạ đặc trưng theo mặt cắt 1202 trong mẫu nước hướng dòng chảy từ thôn 9 đến thôn 13 xã Đại Lãnh - Vùng Ngọc Kinh
Hl_ra (10^2Bq/l) Hl_th(Bq/l) Tonganpha (10^-1Bq/l) Tongbeta(Bq/l) Ctth Ht_dd (10^1mSv/n ăm)
Hình 1.5: Sự thay đổi hàm lượng các nguyên tố phóng xạ đặc trưng theo mặt cắt 1204 trong mẫu nước hướng dòng chảy từ Đồng Me xã Đại Hồng đến Thuận Mỹ xã Đại Hồng - Vùng Ngọc Kinh
Hl_ra (10^2Bq/l) Hl_th(Bq/l) Tonganpha (10^-1Bq/l) Tongbeta(Bq/l) Ctth Ht_dd (10^1mSv/n ăm)
Trang 121.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.1 Phân bố dân cư
Dân cư trong vùng tương đối thưa Người kinh chủ yếu tập trung ở thị trấn huyện dọc các đường giao thông, sông, suối lớn với nghề nghiệp chính là làm ruộng, buôn bán tạp hoá, nông lâm sản Người dân tộc như: Cà Tu, Tà Riềng sống chủ yếu ở vùng cao làm nghề phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản, trồng tỉa ngô, lúa, sắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm Phần lớn đã định canh, định cư song cuộc sống kinh tế - xã hội phát triển không đồng đều, đại bộ phận nhân dân còn khó khăn thiếu thốn về kinh tế, dân trí còn thấp Hiện nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vùng cao dân tộc ít người, đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nên cuộc sống của nhân dân trong vùng có phần khởi sắc Các huyện, xã đã có trường học, trạm y tế, nhà văn hoá, điện sinh hoạt tới từng hộ gia đình, tạo tiền đề phát triển kinh tế sau này cho đồng bào các dân tộc ít người thuộc các tỉnh khu vực miền trung nói riêng và cả nước nói chung
Bảng 1.1 Bảng thống kê diện tích và dân số trong vùng Nông Sơn
Toàn xã Trong diện tích nghiên cứu
Xã Huyện
Dân số Diện tích (km2 ) Dân số Diện tích (km2)
Trang 131.2.2 Giao thông
Hiện tại mạng lưới giao thông đường bộ trong vùng đã phát triển hơn nhiều
so với những năm thập niên 80 Đường xá được nâng cấp dần từng bước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đi lại của nhân dân, nhất là khi đường 14a, đường Hồ Chí Minh mới hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2004 đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế vùng Tuy vậy, các đường liên thôn, liên xã chất lượng còn thấp, tới 70% là đường đất, nền đường yếu, mặt đường chưa rải nhựa, hay bị sói lở do mưa
lũ, nhiều khi bị ngập lụt khó đi lại Phương tiện vận tải giao thông trong vùng chủ yếu là xe khách loại nhỏ và công nông tự tạo
1.2.3 Các hoạt động kinh tế chủ yếu
1.2.3.1 Công nghiệp khai thác khoáng sản
Những năm qua được Đảng và Nhà nước quan tâm, các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam nói chung và vùng Nông Sơn nói riêng, ngày càng phát triển, trong đó là việc khai thác, vận chuyển và tiêu thụ khoáng sản: Than Ngọc Kinh, Sườn Giữa, than Nông Sơn (moong Sơn Tuyền và Giáp Phủ) Sản lượng khai thác ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng Ngoài ra, trong khu vực nghiên cứu còn khai thác các loại đá làm vật liệu xây dựng, vật liệu làm gốm sứ, nước khoáng như khai thác đá vôi Lâm Tây, đá vôi A Sờ, đá vôi, đá hoa Thạnh Mỹ, felspat Lộc Quang, cát Vĩnh Phước - Đại Hồng, nước khoáng An Điềm
1.2.3.2 Công nghiệp điện năng
Nhà máy thuỷ điện An Điềm đã hoà mạng quốc gia năm 2005 Hiện nay đang khởi công xây dựng tiếp nhà máy thuỷ điện A Vương, nhà máy thuỷ điện Sông Bung, nhà máy nhiệt điện Nông Sơn Trong tương lai, công nghiệp điện năng vùng
này sẽ mang lại nhiều tiềm năng kinh tế, xã hội
1.2.3.3 Nông nghiệp
Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, ngô, sắn năng xuất thấp, mấy năm gần đây các địa phương đã rất cố gắng đưa cây công nghiệp như: dứa, keo, thông, bạch đàn vào sản xuất hàng hoá dần thay thế cho cây nông nghiệp ngắn ngày, tạo tiền đề kinh tế cho phát triển bền vững ổn định lâu dài
1.2.3.4 Tiểu thủ công nghiệp
Trong vùng chỉ có vài cơ sở nhỏ lẻ mây tre đan xuất khẩu song thực sự chưa phát triển mạnh mang tính chất hàng hoá trong khu vực
1.2.3 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã hội tới môi trường phóng xạ
Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế:
+ Công nghiệp khai thác than: đối với vùng Nông Sơn than đá là nguồn cung cấp nhiên liệu chất đốt chính, dùng cho sinh hoạt và sản xuất Vì vậy việc khai thác than ngày càng mở rộng tại mỏ than Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa Tuy nhiên, hoạt động khai thác này có nguy cơ tăng cao sự ô nhiễm môi trường phóng xạ trong khu vực lân cận
Các thông số cần lưu ý:
+ Lượng bụi trong quá trình khai thác dao động từ 13-87mg/m3, trong đó hàm lượng silic từ 16-40%, còn hàm lượng chất độc hại CO2: 6,76%; NO2: 32,88%; CH4: 39,72% và S: 2,41-7,22%
+ Cường độ bức xạ tự nhiên trong khu mỏ từ 0,40-0,50µSv/h tại các điểm dị thường từ 400-800µSv/h Nồng độ radon trong khu vực từ 70-120 Bq/m3, trên
Trang 14Ngoài khai thác than, trong vùng còn khai thác nhiều khoáng sản khác như:
Đá vôi Lâm Tây, đá vôi A Sờ, đá hoa Thạch Mỹ Như vậy trong các công trường khai thác đá làm vật liệu xây dựng, lượng bụi thoát ra chủ yếu ở khâu nghiền đá rất cao, lượng khí độc như khí CO, SO2, NO2 đều quá tiêu chuẩn cho phép
Tóm lại: việc khai thác khoáng sản trong vùng nói chung và khai thác than nói riêng càng gia tăng, mức độ ô nhiễm càng cao, làm mất đất rừng hoặc đất canh tác, gây ra sạt lở và các tai biến địa chất khác Bụi, chất thải các loại độc hại trong
đó có bụi, chất thải phóng xạ là khá lớn sẽ tác động không ngừng tới môi trường đất, nước, không khí, phát tán đi xa gây ô nhiễm môi trường xung quanh
+ Công nghiệp điện năng: các công trình thuỷ điện A Vương, An Điềm, Sông Bung đã khởi công xây dựng trên vùng Nông Sơn tỉnh Quảng Nam Quá trình xây dựng đã đào đắp hàng triệu mét khối đất đá, nổ mìn, làm đường hàng chục km vào
công trình phục vụ cho công tác thi công, qua các dị thường chứa chất phóng xạ,
đó cũng là một nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường phóng xạ
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng cây lương thực như lúa, ngô tập trung chủ yếu ở vùng thấp thuộc các cánh đồng xã Đại Hoà, Đại Minh, Đại Phong, Đại Tân, Đại Hồng, Đại Sơn, Đại Lãnh Các hoạt động này không gây
ra ảnh hưởng ô nhiễm phóng xạ, mà lại chịu ô nhiễm chất phóng xạ Kết quả phân tích mẫu lương thực, thực phẩm cho thấy kết quả không được khả quan, hàm lượng urani, radi tương đối cao, ví dụ: mẫu TV111516 (ngô), mẫu MN12141(lạc) lấy dọc sông Vu Gia, từ thôn Hoà Hữu xã Đại Hồng đến thôn Hà Thành xã Đại Đồng, có chỉ tiêu hỗn hợp vượt giới hạn cho phép 1,8 lần, hoạt độ phóng xạ urani
là 1,0Bq/kg, radi là 1,0Bq/kg
Đáng chú ý là hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp nhỏ lẻ của các đồng bào dân tộc thiểu số trên sườn đồi, tại các vùng mỏ phóng xạ như làm công trình thuỷ lợi nhỏ để sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực, trồng cây công nghiệp, cây lấy gỗ … trên các dị thường, thân quặng phóng xạ Các hoat động này đã vô tình gây ra ô nhiễm môi trường phóng xạ, phát tán chất phóng xạ đi xa Kết quả phân tích mẫu thực vật các mẫu: TV 110168 (sắn) vùng KS 1106 thuộc bồn Cà Liêng xã
Cà Dăng, chỉ tiêu hỗn hợp gấp 2,5 giới hạn cho phép, xuất liều chiếu trong là 1,0mSv/năm và TV 110122 (thóc) vùng KS 1104 thuộc trại An Điềm chỉ tiêu hỗn hợp gấp 2,0 lần, hoạt độ phóng xạ urani 0,9Bq/kg, hoạt độ phóng xạ thori 1,0Bq/kg, hoạt độ phóng xạ radi 0,9 Bq/kg
Ảnh hưởng của hoạt động xã hội:
+ Việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt: trong vùng nghiên cứu nhân dân sử dụng bất kỳ nguồn nước nào mà mắt thường cảm thấy trong sạch như: nước sông, nước suối, giếng tự đào thậm chí các nguồn nước ngay tại các vùng mỏ có chứa nguyên tố phóng xạ độc hại như khu mỏ phóng xạ: An Điềm, Khe hoa – Khe cao,
Pà lừa, Pà Rồng, Đông Nam Bến Giằng, mỏ than: Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa… Do không hiểu được mức độ nguy hiểm của phóng xạ nên người dân sống tại các khu vực này vẫn sử dụng các nguồn nước tự nhiên không qua xử lý Trong mười năm trở lại đây, Nhà nước rất quan tâm đến trương trình nước sạch nông thôn và đã dầu tư xây nhiều trạm cấp nước loại vừa và nhỏ, song chỉ đáp ứng khoảng từ 30-40% hộ gia đình
1.3 Đặc điểm địa chất - khoáng sản vùng nghiên cứu
1.3.1 Địa tầng
Theo kết quả đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Hội An
- Đà Nẵng tỷ lệ 1/50.000 của Cát Nguyên Hùng (Liên đoàn bản đồ Địa chất Miền
Trang 15Nam) kết hợp với kết quả khảo sát thực địa năm 2005 của nhóm tác giả đề tài, vùng nghiên cứu có các phân vị địa tầng sau:
1.3.1.1 Giới Proterozoi muộn - loạt Thạch Mỹ
+ Hệ tầng Mỹ Hiệp (PR3mh): phân bố tại trung tâm vùng nguyên cứu, diện
tích khoảng 19,2 km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - plagiolas - biotit, đá phiến thạch anh - biotit - silimanit - granat, đá phiến thạch anh - muscovit - silimanit, thấu kính amphibolit, đá phiến amphibol Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 12µR/h
+ Hệ tầng Thành Mỹ (PR3tm): phân bố tại trung tâm vùng nghiên cứu với
diện lộ nhỏ khoảng 5,4km2, thành phần gồm: đá hoa màu xám trắng, sọc dải xen kẽ amphibolit lớp mỏng màu xám xẫm, xám đen hạt nhỏ và các lớp mỏng gneisbiotit Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 11µR/h
1.3.1.2 Giới Paleozoi - hệ Cambri - loạt A Vương
+ Hệ tầng A San (Єasn): phân bố ở phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc vùng
nghiên cứu, diện tích khoảng 144,18km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - biotit, đá phiến thạch anh-plagiolas-biotit, đá phiến thạch anh - felspat - biotit (mica) xen kẹp lớp mỏng quarzit, đá vôi vi hạt tái kết tinh mầu xám tối, xám sáng Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h
+ Hệ tầng A Sờ (Єas): phân bố phía Tây Nam vùng nghiên cứu, diện lộ nhỏ,
kéo dài dạng dải khoảng 13,85km2 Thành phần gồm: đá hoa mầu xám trắng, xám tối, sọc dải, phiến thạch anh - sericit, thấu kính phiến amphibonlit Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 17µR/h
1.3.1.3 Giới Paleozoi - hệ Ordovic-Silur - loạt Long Đại
Phân bố ở phía Tây Bắc vùng nghiên cứu diện lộ nhỏ khoảng 13,85km2, suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 13µR/h, gồm hai hệ tầng:
+ Hệ tầng TRao (O-Str): phân bố ở góc Tây Bắc vùng nghiên cứu, diện tích
khoảng 30,16km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - plagiolas - biotit, đá phiến thạch anh - felsfat- biotit có horblend, amphibolit, đá phiến amphibol
+ Hệ tầng Bol Atek (O-Sbat): phân bố ở góc Đông Bắc vùng nghiên cứu,
diện tích khoảng 1,15km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - sericit, đá phiến sericit (mica) - thạch anh, đá phiến thạch anh – plagiolas (felspal) - sericit (mica) xen kẹp đá phiến đen giàu vật chất hữu cơ
1.3.1.4 Giới Paleozoi- hệ Carbon-Permi-hệ tầng Ngũ Hành Sơn (C- Pnhs)
Phân bố thành khối nhỏ ở khu vực Hà Nha xã Đại Đồng, diện tích khoảng 2,02km2.Thành phần gồm: đá hoa màu xám trắng, vân dải, xám hồng, vàng, đen xen kẽ đá phiến thạch anh – sericit, đá phiến sericit, quarzit Suất liều chiếu bức xạ gamma trung bình 19µR/h
1.3.1.5 Giới Paleozoi- hệ Permi - hệ tầng Alin (Pal)
Phân bố diện nhỏ ở phía Tây – Tây Bắc vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 24,43km2 Thành phần gồm: cuội kết đa khoáng, sạn kết, cát kết màu xám xanh xen kẹp các lớp bột kết xám nâu, tuf andesit, andesit Suất liều chiếu bức xạ gamma trung bình 18µR/h
1.3.1.6 Giới Mesozoi - hệ Trias giữa - muộn, Loạt Nông Sơn
+ Hệ Trias giữa - hệ tầng Sông Bung (T2sb): phân bố phía Nam - Tây Nam
vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 254,0km2 Phần dưới gồm các đá: cuội kết đa khoáng mầu xám, xám tím, sét bột kết mầu xám, xám tím, xám xanh xen kẹp
Trang 1618µR/h Phần trên gồm các đá: cát kết, bột kết mầu xám sẫm, xám vàng, xen kẹp các lớp sạn kết, vôi silic, felsit-ryolit, ryolitporphyr, tyfryolit xám xanh, xám đen + Hệ Trias muộn - hệ tầng An Điềm (T3nađ): phân bố kéo dài từ Tây sang
Đông ở phía Bắc và phía Nam vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 145,5km2 Thành phần chủ yếu gồm: cuội sạn kết đa khoáng, cát kết, bột kết chứa dăm sạn thạch anh mầu nâu gụ Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 23µR/h + Hệ Trias muộn - hệ tầng Sườn Giữa (T3n–rsg): phân bố tại trung tâm vùng
nghiên cứu, diện tích khoảng 301,79km2 Thành phần gồm: cuội kết, sạn kết, cát kết ít khoáng màu trắng xám xen kẹp các lớp mỏng bột kết, sét kết màu xám đen, xám ghi và các lớp, thấu kính sét than Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 28µR/h
1.3.1.7 Giới Mesozoi - hệ Jura sớm - giữa - Loạt Thọ Lâm
+ Hệ Jura sớm - hệ tầng Bàn Cờ (J1bc): phân bố ở trung tâm và phía nam
vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 168,26km2 Các đá có dạng nếp lõm hoàn chỉnh Thành phần gồm sạn kết, cát kết màu xám trắng, xám vàng xen kẹp các lớp hoặc thấu kính cuội kết đa khoáng Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 21µR/h
+ Hệ Jura sớm - hệ tầng Khe Rèn (J1kr): phân bố diện tích nhỏ kéo dài
khoảng 19,7km2, giữa hệ tầng Bàn Cờ và hệ tầng Hữu Chánh vùng nghiên cứu Thành phần gồm: bột kết màu xám ghi, xám đen, xen các lớp cát kết mỏng hạt nhỏ Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h
+ Hệ Jura giữa - hệ tầng Hữu Chánh (J2hc): phân bố ở phía Đông vùng
nghiên cứu, diện tích khoảng 86,36km2 Thành phần gồm: cát bột kết, bột kết đỏ
gụ kẹp các tập cát kết hạt nhỏ màu xám xanh Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 17µR/h
1.3.1.8- Giới Kainozoi
Phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn (ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu) với tổng diện tích khoảng 130,3km2 Suất liều tương đương bức xạ gamma 15-24µR/h
+ Hệ Neogen - hệ tầng Ái Nghĩa Nam, trầm tích sông: phân bố ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 4,19km2 Thành phần: cuội kết, sạn kết, cát kết xen các lớp mỏng bột kết chứa hoá thạch thực vật
+ Thống Pleistoxen: phân bố trên diện rộng ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu, dọc 2 bờ sông Côn kéo dài từ An Điềm - Thanh Đại - Hoàng Phước và sông
Vu Gia từ Ngọc Kinh - Hà Nha - Mỹ Đồng - Quảng Huế - Tam Hoà Tổng diện tích các trầm tích khoảng 73,7km2 và được chia ra các phụ thống sau:
- Phụ thống dưới (aQ12): trầm tích sông (thềm bậc III), thành phần gồm: cuội, sỏi gắn kết chắc bởi cát, bột, laterit
- Phụ thống dưới - hệ tầng sông Vàng (aQ12-31 sv), trầm tích sông (thềm bậc
II) thành phần gồm: cuội, sỏi gắn kết bởi cát bột, màu vàng đỏ
- Phụ thống dưới - hệ tầng La Châu (Q131 - mQ131 lc), trầm tích biển (thềm 20
-30m), thành phần gồm: cuội, cát thạch anh lẫn bột sét màu vàng đỏ
- Phụ thống dưới - hệ tầng Đại Thạch (Q13v - aQ13v đt), trầm tích sông (thềm
bậc I), thành phần gồm: cuội, sỏi lẫn cát, bột, sét màu xám vàng, loang lổ
+ Thống Holoxen: phân bố sát bờ sông Vu Gia, diện lộ khoảng 33,79km2 gồm các phụ thống sau:
- Phụ thống giữa Q21-2 - aQ21-2, trầm tích sông (bãi bồi cao), thành phần gồm: cuội, sỏi, cát bột, sét mầu xám vàng
Trang 17- Phụ thống giữa Q22-2 - aQ22-3, trầm tích sông (bãi bồi thấp), thành phần gồm: cát, sạn lẫn cuội, sỏi
- Phụ thống trên Q23 - aQ231, trầm tích sông, thành phần gồm: cát, sạn lẫn bột sét, màu xám vàng
- Phụ thống trên Q23 - aQ23v, trầm tích lòng sông, thành phần gồm: cuội, sỏi, cát, sạn
- Phụ thống trên Q23 - aQ23, trầm tích lòng sông và bãi bồi không phân chia, thành phần gồm: cuội, sỏi, cát bột, sét màu xám vàng
+ Hệ Đệ Tứ không phân chia (Q): gồm các trầm tích hỗn hợp sông, sườn tích,
Diện tích khoảng 0,1km2, thành phần gồm: pyroxenit có plagiolas, gabronorit
horblendit, gabropyroxenit có olivin
1.3.2.4 Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (GDi/PZ3bq)
Phân bố ở phía tây nam vùng nghiên cứu, suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 0,17µSv/h Các đá của phức hệ được chia làm ba pha xâm nhập chính và pha đá mạch:
- Pha 1 (GDi/PZ3bq 1): diện tích khoảng 1,41km2, thành phần gồm: Diorit, diorit thạch anh, gabrodiorit, gabroid
- Pha 2 (GDi/PZ3bq 2): diện tích khoảng 37,45km2, thành phần gồm: granodiorit - biotit – horblend
- Pha 3 (GDi/PZ3bq 3): diện tích khoảng 2,57km2, thành phần gồm: granit – biotit có horblend, granosyenit – biotit có horblend hạt trung
- Pha mạch: granitaplit, pegmatoid, spesartit
Trang 18- Pha đá mạch: phân bố ở phía bắc trong các phức hệ Đại Lộc và hệ tầng A San, thành phần gồm: granit aplit, pegmatoid turmalin, thạch anh - felspat - turmalin
1.3.3 Cấu trúc địa chất
1.3.3.1 Phân tầng cấu trúc
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện (đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ và
đề xuất giải pháp phòng ngừa vùng Nông Sơn) năm 2005 đồng kết hợp thu thập sử
lý các tài liệu cũ đã nêu tại chương 2 (lịch sử nghiên cứu điều tra địa chất môi trường) Kết quả cho thấy gồm 2 tầng cấu trúc: cấu trúc móng và cấu trúc phủ + Cấu trúc móng: được thành tạo từ trầm tích biến chất hệ tầng Thạch Mỹ có thành phần chủ yếu: đá hoa xen kẹp các thấu kính amphibolit, gneisbiotit, phiến amphibolit và hệ tầng Asan, Asờ gồm: phiến thạch anh - biotit, phiến thạch anh - felspat - biotit xen kẹp các thấu kính amfibol, đá hoa màu xám trắng, xám tối xen kẹp phiến thạch anh - sericit
+ Cấu trúc phủ: thành tạo từ các trầm tích lục nguyên hệ tầng An Điềm, sông Bung, Sườn Giữa, Bàn Cờ, Khe Rèn, Hữu Chánh Trong đó, than và quặng hoá urani nằm trong các tầng trầm tích: cuội sạn kết - cát, bột kết Chiều dầy từ 600 đến 2400m
Các trầm tích bở rời Đệ tứ (Q), phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn (ở phía đông bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía đông nam vùng nghiên cứu) Thanh phần gồm: cuội, sạn, cát, bột, sét màu xám, vàng loang lổ
- Nếp lõm: trong vùng nghiên cứu có các nếp lõm chính sau:
+ Nếp lõm An Điềm - Cà Liêng - Sườn Giữa - Thường Đức nằm ở phía Bắc của vùng nghiên cứu, kéo dài theo vĩ tuyến
+ Nếp lõm Mai Quy có qui mô nhỏ, phân bố ở phía nam vùng nghiên cứu + Nếp lõm Thọ Lâm phân bố ở phía đông của vùng nghiên cứu, kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam
Ngoài ra ở trung tâm vùng nghiên cứu có hệ thống địa hào, được giới hạn bởi
hệ thống đứt gãy Tabhing - thị trấn Thạnh Mỹ - Đại Sơn và kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam
1.3.3.3 Các hệ thống đứt gẫy chính trong vùng Nông Sơn
1.3.3.3.1 Hệ thống đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam
+ Hệ đứt gãy Zuôi - Ma Cooih - Cà Dăng: các đứt gãy gần song song với nhau kéo dài gần 20km, phát triển mạnh ở góc đông bắc vùng nghiên cứu thuộc các huyện Hiên, Nam Giang, Đông Giang Các đứt gẫy này một số nơi còn là ranh giới địa chất giữa phức hệ Đại Lộc và hệ tầng A San
+ Hệ đứt gãy Tabhing - thị trấn Thạnh Mỹ - Đại Sơn: các đứt gẫy này phân
bố ở trung tâm vùng nghiên cứu, có xu hướng gần song song với nhau kéo dài khoảng trên 20 km, cắt qua các khu mỏ than (An Điềm, Ngọc kinh, Sườn Giữa) và khu mỏ urani (Pà Lừa, Pà Rồng) gây biến đổi, dịch chuyển cấu trúc thân quặng
Trang 19+ Hệ đứt gãy Nông Sơn - Duy Phú: các đứt gẫy này phân bố thưa, ở góc đông nam vùng nghiên cứu cắt qua mỏ than Nông Sơn
1.3.3.3.2 Hệ thống đứt gãy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Phân bố hầu hết diện tích vùng ngyên cứu, nhưng thưa thớt, cắt gần vuông góc với hệ thống Đông Bắc - Tây Nam, phân bố chủ yếu phía nam gần trung tâm vùng nghiên cứu
1.3.4 Khoáng sản
Theo tài liệu thu thập tại sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Nam và kết quả điều tra thực địa bổ sung năm 2005 của đề tài, khoáng sản trong vùng gồm một số nhóm mỏ chủ yếu sau: than đá, urani, felspat, vật liệu xây dựng, nước khoáng… Dưới đây là đặc điểm các mỏ khoáng sản chủ yếu trong vùng
* Nhóm mỏ than đá chứa urani
1.3.4.1 Mỏ than Nông Sơn thuộc địa phận xã Quế Trung, huyện Quế Sơn Toạ độ: 15040’50" vĩ độ Bắc
108001’15’’ kinh độ Đông
Theo kết quả thăm dò năm (1976- 1978) của đoàn Địa chất 501
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: các trầm tích lục nguyên chứa than thuộc loạt Nông Sơn, tuổi Trias muộn Mỏ gồm 5 thân quặng có dạng vỉa và thấu kính, chiều dày từ 0,1 đến 47,6 m
Quy mô trữ lượng: tổng trữ lượng than thăm dò vùng Nông Sơn cấp C1 + C2 ước tính cho cả mỏ đạt xấp xỉ 13,1 triệu tấn, than Nông Sơn thuộc nhãn antraxit màu đen, cấu tạo khối, rắn chắc, đôi nơi dạng bột (cám), chất lượng than % trung bình
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: có thể khai thác khi có nhu cầu, than có chứa hàm lượng nhỏ U3O8, do đó cần sử dụng tập trung để tránh phát tán phóng
xạ
1.3.4.2 Mỏ than đá Sườn Giữa xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc
Toạ độ: 15051’12’’ vĩ độ Bắc
107052’12” kinh độ Đông
Theo kết qủa tìm kiếm thăm dò đoàn Địa chất 501 năm (1983- 1986)
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: than Sườn Giữa nằm trong trầm tích lục nguyên thuộc hệ tầng Sườn Giữa, khu mỏ dài 5km, rộng 2,75km, diện tích gần 14
km2 Kết quả thăm dò đã phát hiện được 8 vỉa than, trong đó có giá trị công nghiệp
là vỉa than 2 và vỉa than 6, Chiều dày vỉa lớn hơn 3,5m, trung bình 1,06 m, vỉa thoải, góc dốc 10-150.Vỉa than 2 và vỉa than 6 đạt chỉ tiêu công nghiệp, thuộc loại than antraxit Quy mô trữ lượng: C1+ C2 = 3142290 tấn
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: có thể khai thác khi có nhu cầu, than có chứa hàm lượng nhỏ U3O8 do đó cần sử dụng tập trung để tránh phát tán phóng xạ 1.3.4.3 Mỏ Than Ngọc Kinh xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc:
Toạ độ: 150 50’ 30” vĩ độ Bắc
1080 00’ 03’’ vĩ độ đông
Theo kết quả đoàn Địa chất 501 tìm kiếm thăm dò năm (1983 – 1986)
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: than Ngọc Kinh nằm ở phía bắc nếp lõm Nông Sơn kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, nằm trong trầm tích lục nguyên, hệ tầng Sườn Giữa, gồm cát kết, cuội kết, sét than và các vỉa than, mỏ gồm 3 vỉa than sau:
Trang 20đường phương và có thay đổi lớn theo hướng dốc, chiều dày lớn nhất 3,61m, nhỏ nhất 1,5m, trung bình 2,4m
- Vỉa C: nằm ở phần giữa của mặt cắt, trụ vỉa là cát kết xen thấu kính bột kết, vách vỉa là lớp bột kết màu đen Chiều dày lớn nhất 3,53m, nhỏ nhất 0,95m, trung bình 2,05m
- Vỉa D: có 2 chùm đạt chiều dày công nghiệp, chùm dưới cách chùm trên 15m, trụ của vỉa là bột kết màu xám đen tiếp đến là chùm than chính, chiều dày vỉa thay đổi đáng kể theo hướng dốc, cấu tạo vỉa đơn giản, chiều dày từ 1-5,18m, chùm trên nằm ở phần cao nhất của địa tầng Trụ vỉa là cát kết, bột kết xen kẽ nhau, sát vỉa là bột kết, đôi nơi là cát kết, trên cùng là than Chiều dày chùm ít thay đổi theo đường phương, lớn nhất là 1,23 m, nhỏ nhất 0,8m, trung bình 0,95m Than có màu đen, ánh mỡ đến bán kim, tương đối giòn
Trữ lượng toàn mỏ đến độ sâu 100m là: C1 = 68286 tấn,
Các thân quặng urani công nghiệp nằm trong các lớp đá chứa quặng có thành phần thạch học đồng nhất, hàm lượng urani đạt giá trị công nghiệp Trong khu mỏ Pà Lừa có các thân quặng sau:
Trong lớp đá chứa quặng số I có 2 thân quặng 1, 1-1: chiều dài thân quặng 200m, rộng từ vài chục centimet đến 1-2m, hàm lượng U3O8: 0,01-0,57% và có 2 thấu kính 1a, 1b
Trong lớp đá chứa quặng số II có 1 thân quặng số 2 và một số thân quặng nhỏ phân bố trong phân hệ tầng An Điềm dưới, thân quặng kéo dài theo phương
TB - ĐN khoảng 400m, gồm 2 thấu kính 1a và 2b Hàm lượng U3O8 thay đổi từ 0,066 đến 0,1%, trung bình đạt 0,067% với chiều dày từ 1 đến 5m, trung bình 3,4m Thành phần hóa học quặng urani theo loại quặng (chưa phong hóa, bán phong hóa, phong hóa): U3O8 = 0,104-0,06%, các khoáng vật urani nguyên sinh gồm: Nasturani, nasturani ngậm nước, coffinit
Quy mô trữ lượng: thuộc loại mỏ trung bình, trữ lượng cấp C2 + P1 = 5,420 tấn, hàm lượng trung bình từ 0,0194% đến 0,1702%, cấp C2= 1,160 tấn U3O8 Trong đó hàm lượng U3O8 >0,6% (quặng loại I) là 886 tấn quặng; hàm lượng
>0,04% (quặng loại II) là 272 tấn, cấp P1 = 4,260 tấn U3O8
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: cần thăm dò phục vụ chương trình năng lượng nguyên tử
1.3.4.5 Mỏ urani An Điềm: thuộc các xã Cà Dăng, huyện Đông Giang; Đại Sơn, Đại Hồng, Đại Lãnh, huyện Đại Lộc
Toạ độ: 15051’43” vĩ độ Bắc
107053’20” kinh độ Đông
Theo kết quả đánh giá của Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm [13] (Nguyễn Đăng Thành, 2001 (báo cáo kết quả tìm kiếm quặng urani vùng An Điềm - Quảng Nam)
Trang 21Đã xác định 3 tầng sản phẩm chứa quặng urani, trong đó tầng sản phẩm I và
II phân bố trong tập 1 và 3 hệ tầng An Điềm; tầng sản phẩm III phân bố trong tập 1 của hệ tầng Sườn Giữa Đã phát hiện 8 hệ lớp đá chứa quặng, trong đó có 6 hệ lớp
đá chứa quặng phân bố trong tầng sản phẩm II, là tầng có triển vọng quặng urani quan trọng nhất Các lớp đá chứa quặng kéo dài từ 1,800-2,500m, bề dày 0,6-4,55m, các lớp đá này có hàm lượng trung bình lớn hơn 0,04% U3O8 Là các lớp 1,
4, 5, 5/3, 6, 6/1 phân bố ở Cà Liêng và Sườn Giữa, có bề dày 0,6-1,85m, dài 2000m Thành phần khoáng vật quặng gồm: nasturani, pyrit, mascasit, galenit và các khoáng vật sulpur khác
1,500-Quy mô trữ lượng: mỏ nhỏ, cấp C2 đã xác định được 418,12 tấn cho các lớp
6, 6/3 cho khu Sườn Giữa, cấp C2 +P1 = 2.266,38 tấn U3O8
Hiện trạng định hướng tiếp theo: quặng urani phân bố phân tán, bề dày lớp quặng mỏng, không nên đầu tư nghiên cứu tiếp theo
1.3.4.6 Mỏ urani Đông nam Bến Giằng: thuộc xã Cà Dy, huyện Nam Giang;
xã Quế Phước, huyện Quế Sơn
Toạ độ: 15040’00” vĩ độ Bắc
107051’10” kinh độ Đông
Theo kết quả đánh giá năm 2004 của Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm [14] (Lê Quyết Tâm, 2004 Báo cáo kết quả tìm kiếm quặng urani vùng Đông Nam - Bến Giằng, Quảng Nam)
Trong khu mỏ Đông Nam Bến Giằng tồn tại 3 tập sản phẩm chứa quặng urani, phân bố trong phân hệ tầng giữa hệ tầng An Điềm với 8 lớp đá chứa quặng
có chiều dài thay đổi từ 500-1000m, chiều dày 0,6-5,2m, trung bình 1,1-1,9m Cường độ phóng xạ từ 100µR/h-3000µR/h, quặng urani có dạng ổ, chuỗi thấu kính Đá chứa quặng là cát kết acko, cát kết grauvac felspat, độ hạt từ nhỏ đến trung bình Khoáng vật urani gồm: nasturani, coffinit, torbenit, uraninopan, photfouranilit,…Đã xác định và phân chia làm 4 khu có mức độ triển vọng về urani: Bản Ngói, Khe Tiên, Khe Đôi, Quế Lâm, trong đó diện tích Bản Ngói (2km2) là triển vọng nhất
Quy mô trữ lượng: mỏ nhỏ, cấp C2 + P1 = 1.834,8 tấn U3O8, trong đó cấp C2
= 397,5 tấn; cấp P1 = 1.437,3 tấn U3O8 (quặng loại I đạt 733,1 tấn, quặng loại II đạt 1.101,7 tấn); cấp P2 = 4.631 tấn
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: hàm lượng tương đối nghèo, quy mô không lớn, nên đầu tư thăm dò khi có nhu cầu cần thiết và điều kiện cho phép 1.3.4.7 Mỏ urani Pà Rồng thuộc xã Tabhing, huyện Nam Giang
Toạ độ: 15039’03” vĩ độ Bắc
107043’48” kinh độ Đông
Theo kết quả đánh giá do liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm [15] (Lưu Văn Dũng,
Vũ Văn Bích và nnk- 2004 "báo cáo kết quả đánh giá urani khu Pà Rồng tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ 1: 2.000")
Tham gia vào cấu trúc địa chất khu Pà Rồng chỉ có mặt các thành tạo trầm tích lục nguyên phân hệ tầng dưới - giữa hệ tầng An Điềm Đã khoanh định được 7 lớp đá chứa quặng nằm trong phân hệ tầng dưới, các lớp đá chứa quặng có bề dày thay đổi từ 0,8m đến 6,75m với hệ số biến thiên Vm<100%, thuộc loại tương đối
ổn định Chiều dài theo đường phương thay đổi 350m-2100m, độ sâu tồn tại đến 200m Cường độ phóng xạ: 80µR/h-5000µR/h, hàm lượng U3O8: 0,005%-1,34%
Trang 22coffinit Thành phần hóa học của quặng urani (quặng chưa phong hóa, quặng bán phong hóa): U3O8: 0,055-0,087%, ThO2 = 4,62-6,61%
Quy mô trữ lượng: mỏ nhỏ cấp C2+P1= 4.560,8 tấn, trong đó U3O8 cấp C2 đạt 1415,4 tấn (gồm 1398,8 tấn quặng loại I và 16,6 tấn quặng loại II), cấp P1= 3145,4 tấn U3O8 (với 2892,4 tấn quặng loại I và 253 tấn quặng loại II)
Hiện trạng định hướng tiếp theo: mỏ có giá trị về urani, cần tiếp tục đầu tư thăm dò nâng cấp trữ lượng với những diện tích có triển vọng
1.3.4.8 Mỏ urani Khe Cao thuộc xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc
Toạ độ: 15047’30” vĩ độ Bắc
Theo kết quả tìm kiếm tỉ lệ 1/10000 năm 1995 của Liên đoàn Địa chất Xạ
Hiếm [20] Chu Đình Ứng, 1995 "Báo cáo địa chất kết quả tìm kiếm urani vùng
Khe Hoa- Khe Cao tỷ lệ 1/10000" Quặng urani nằm trong tập 1 và tập 3 của trầm tích biến chất hệ tầng Khâm Đức, có 4 lớp đá chứa quặng chính:
- Lớp 1: dày 1-2m, hàm lượng U3O8 từ 0,02-0,19%, trung bình 0,025%
mỏ gồm 14 thân quặng chính: 40, 41, 42, 43,44, 45, 46, 47, 48, 49, 51, 76, 81, 85 Các thân có chiều dài từ 250-1,800 m, rộng từ 10-30 m
Quy mô trữ lượng: cấp C1+C2 = 1843 triệu tấn, trong đó C1 = 1023 triệu tấn; cấp C2 = 820 ngàn tấn
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: một số điểm ở các xã Đại Nghĩa, Đại Hiệp đã giao khai thác tận thu năm 2000, Công ty Khoáng sản Quảng Nam - Đà Nẵng đang khai thác công nghiệp
1.3.4.10 Mỏ felspat Lộc Quang thuộc xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc
Toạ độ: 15052’19” vĩ độ Bắc
108000’25” kinh độ Đông
Theo kết quả điều tra lập bản đồ địa chất khoáng sản tỉ lệ 1/50000 năm 1996 [9] Đặc điểm địa chất và khoáng sản: pegmatit trong đới nội và ngoại tiếp xúc của granit phức hệ Đại Lộc ở khu vực Lộc Quang Chiều dày mạch từ 1-5m, có nơi đến 10m, chạy theo phương gần Đông- Tây, có 19 mạch quặng Thành phần chủ yếu %: felspat (40, có chỗ 60-70), thạch anh (20-25, có chỗ 50), muscovit (5-7)
Trang 23Quặng có màu trắng sữa, trắng đục, kích thước các ban tinh 3 x 4cm, có chỗ tới 6
x 15 cm, chất lượng tốt Quy mô trữ lượng: thuộc loại mỏ lớn trữ lượng cấp P1=
1620000 tấn Hiện trạng và định hướng tiếp theo: hiện nay nhân dân địa phương đang khai thác, cần điều tra, đánh giá tiềm năng
* Nhóm mỏ vật liệu xây dựng
1.3.4.11 Mỏ đá vôi Lâm Tây thuộc xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc
Toạ độ: 15053’00” vĩ độ Bắc
107000’53” kinh độ Đông
Theo kết quả điều tra lập bản đồ Địa chất khoáng sản tỉ lệ 1/50000 năm
1996 Đặc điểm địa chất khoáng sản: đá vôi lộ thành dải dài gần 3,5km, rộng khoảng 1,5 - 2km, được chia thành 2 tập chủ yếu sau: nằm dưới là tập đá vôi màu trắng, trắng phớt vàng hạt nhỏ đến lớn, phân lớp dày 30-35cm, bị hoa hoá mạnh Diện phân bố rộng khoảng 500-600m, dài khoảng 2,5km, tập trung ở khu vực làng Lâm Tây Nằm trên là tập đá vôi màu xám, xám xanh, xám đen hạt nhỏ - vừa, đôi chỗ thấy dạng dải mỏng Đá phân lớp dày 20-30cm, chiều rộng lộ không liên tục khoảng 500m, dài 1,5km, thế nằm chung của đá 3400 ∠ 700
- Quy mô trữ lượng: P = 50 triệu tấn
- Hiện trạng và định hướng tiếp theo: hiện tại dân đang khai thác nhỏ lẻ, có thể sẽ được thăm dò khai thác
1.3.4.12 Mỏ cát kết Thạch Bàn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên
Toạ độ: 15046’40” vĩ độ Bắc
108005’31” kinh độ Đông
Theo kết quả điều tra lập bản đồ Địa chất khoáng sản tỉ lệ 1:50000 năm 1996 Đặc điểm địa chất và khoáng sản: chủ yếu là cát kết, bột kết màu xám, xám ghi, nhiều tập đá phiến sét mỏng được xếp vào mặt cắt các hệ tầng Bàn Cờ, Hữu Chánh Cát kết phân bố trên các gò đồi thấp thoải ngay cạnh đường ô tô, đá có cấu tạo khối cứng, rắn chắc, phân lớp dày khoảng 1-2m, đá ít nứt nẻ, đồng nhất Thành phần là cát kết hạt nhỏ màu xám ghi, xám xanh, đôi nơi có màu xám phớt tím Đá này dễ đẽo, chẻ thành khối 20 x 30cm Diện phân bố theo dõi được 2- 3km theo phương đông đông bắc - tây tây nam, dày khoảng 20m Quy mô trữ lượng: P
= 6 triệu m3 Hiện trạng và định hướng tiếp theo: có thể thăm dò và quy hoạch khai thác hợp lý
1.3.4.13 Mỏ đá vôi xi măng A Sờ thuộc xã Ma Cooih, huyện Hiên
Toạ độ: 15050’20’’ vĩ độ Bắc
107040’30’’ kinh độ Đông
Theo kết quả điều tra lập bản đồ địa chất khoáng sản tỉ lệ 1/50.000 năm 1996 Đặc điểm địa chất và khoáng sản: đá vôi A Sờ nằm trong trầm tích biến chất thuộc mặt cắt hệ tầng Asan Đá vôi bị tái kết tinh mạnh, màu xám, xám trắng, có nơi bị hoa hoá mạnh Các thấu kính đá vôi phân lớp kéo dài khoảng 10-12km, rộng 500-700m, cấu trúc đơn nghiêng, khá ổn định: 330-3400 ∠ 700
Quy mô trữ lượng: mỏ lớn, tổng C2+ P1 = 900 triệu tấn, trong đó C2 = 268 triệu tấn Hiện trạng định hướng tiếp theo: có thể thăm dò và quy hoạch khai thác hợp lý
1.3.4.14 Mỏ đá hoa Thạnh Mỹ thuộc thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang Toạ độ: 15045’39’’ vĩ độ Bắc
107050’24’’ kinh độ Đông
Trang 24trong mặt cắt hệ tầng Thạnh Mỹ Khu mỏ nằm trong diện tích 7km2, gồm 4 khối đá vôi lớn, dạng thấu kính, xen kẹp amphibolit Đá vôi màu xám trắng, xám đục bị hoa hoá mạnh, kết tinh dạng đường, hạt không đều, cấu tạo phân lớp từ trung bình đến dày, nhiều nơi dạng khối Thành phần thay đổi phức tạp, gồm 4 thấu kính, dài
từ 1300-1700m, rộng từ 150-300m, dày từ 0,5-2m đến 25-80m Quy mô trữ lượng:
Mỏ lớn, Trữ lượng cấp C2 = 260 triệu tấn, trong đó dùng cho xi măng là 98,309 triệu tấn (đoàn 501- 1984), P1 = 375 triệu tấn (đoàn 206-1994) Hiện trạng và định hướng tiếp theo: Công ty xi măng Đà Nẵng khai thác từ năm 1996 trên diện tích nhỏ Để phục vụ nhà máy xi măng cần thăm dò tiếp
1.3.4.15 Mỏ sét xi măng Tân Đại thuộc xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc Toạ độ: 15048’28’’ vĩ độ Bắc
107054’25’’ kinh độ Đông
Theo kết quả tìm kiếm tỉ mỉ của đoàn Địa chất 501 năm1984 Đặc điểm địa chất và khoáng sản: mỏ sét nằm ở thung lũng cửa sông Khe Hoa đổ ra sông Cái, thân quặng có dạng thấu kính, ở giữa thân quặng sét có chiều dày lớn nhất, gần tiếp xúc với đồi chiều dày thân giảm đi Thành phần sét theo chiều dày khá ổn định Quy mô trữ lượng tài nguyên dự báo: mỏ nhỏ C1 + C2 = 2,97 triệu tấn
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: có thể khai thác quy mô nhỏ và sử dụng đất hợp lý
1.3.4.16 Mỏ sét xi măng An Điềm thuộc xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc Toạ độ: 15051’24’’ vĩ độ Bắc
107055’01’’ kinh độ Đông
Theo kết quả tìm kiếm tỉ mỉ đoàn Địa chất 501 năm 1984 Đặc điểm địa chất
và khoáng sản: sét phân bố trong khu vực đồng bằng phía nam sông Côn- thuộc vùng An Điềm trong trầm tích đệ tứ, trên diện tích 4km2 Sét phân bố trên 2 khu vực: Hoàng Phước và Mậu Lân, kéo dài khoảng 3km, rộng trung bình 400m Sét đặc trưng bởi màu nâu tím, nâu phớt lục, phớt vàng, độ dẻo tốt Quy mô trữ lượng:
mỏ nhỏ, trữ lượng cấp C1+C2 = 8,764 triệu tấn Hiện trạng và định hướng tiếp theo: có thể khai thác quy mô nhỏ và sử dụng đất hợp lý
1.3.4.17 Mỏ cát xây dựng Vĩnh Phước thuộc xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc Toạ độ: 15051’20’’ vĩ độ Bắc
107058’26’’ kinh độ Đông
Theo kết quả điều tra lập bản đồ địa chất tỉ lệ 1/50.000 năm 1996 Đặc điểm địa chất và khoáng sản: cát phân bố liên tục trên phạm vi có chiều dài gần 13km, gồm nhiều bãi bồi nối tiếp nhau, uốn lượn quanh co dọc theo thung lũng sông Thu Bồn với chiều rộng từ 2- km được mở rộng dần về phía hạ lưu Mỗi bãi bồi thường kéo dài từ 2-3km, rộng 0,3km, trung bình 0,5 km Bề dày dải cát thay đổi từ 1-3m,
cỡ hạt phổ biến từ 0,5-1mm Lượng cuội sỏi trong cát chiếm khoảng từ 10-15% Thành phần cát sạn chủ yếu là thạch anh, felspat, ngoài ra còn có granat, amphibol Quy mô trữ lượng: mỏ vừa P = 3 triệu m3 Hiện trạng và định hướng tiếp theo, có thể thăm dò để khai thác
1.3.4.18 Mỏ Sạn - sỏi Từ Phú xã Quế Phước, huyện Quế Sơn Toạ độ: 15040’40’’ vĩ độ Bắc
107001’04’’ kinh độ đông
Theo kết quả điều tra lập bản đồ địa chất tỉ lệ 1/50.000 năm 1996 Đặc điểm địa chất và khoáng sản: thân quặng gồm các bãi cuội - sỏi nối tiếp nhau không liên tục, nằm ở bãi bồi thấp hai bên bờ sông Thu Bồn, có chiều dài 200-300m, rộng từ 50-100m, thuộc tướng lòng sông Các thân quặng đều lộ thiên, phân bố từ Từ Phú
Trang 25xuôi theo hai bờ sông đến tận An Hoà trên chiều dài hơn 10 km Cuội- sỏi có thành phần đa khoáng, độ mài tròn, chọn lọc tốt, có đường kính từ 2-4cm, chiếm tỷ lệ từ 50-60%, còn lại là cát- sạn thạch anh; nhiều chỗ chúng nằm xếp lớp xiên chéo, nằm ngang Quy mô trữ lượng: mỏ vừa P2 = 2 triệu tấn
Hiện trạng và định hướng tiếp theo: nhân dân địa phương đang khai thác và
1.3.4.20 Mỏ sét gạch ngói Phú Nhuận xã Duy Tân - Duy Hoà, huyện Duy Xuyên
Toạ độ: 15048’46’’ vĩ độ Bắc
108006’03’’ kinh độ Đông
Theo kết quả thăm dò của Liên đoàn 5 Đặc điểm địa chất khoáng sản: sét phân bố trên các gò đồi thấp, thoải ở khu vực Phú Nhuận - Thạch Bàn Chúng được phong hoá từ đá phiến sét, bột kết loạt Thọ Lâm Đã khoanh được 4 thân quặng, có kích thước 500 x 750 m (thân 1 và thân 2), 200 x 200 m (thân 3), 1.500
x (100-500) m (thân 4), chiều dày trung bình: 1,37-1,77 m Quy mô trữ lượng: mỏ nhỏ P = 3 triệu tấn, B = 964397m3.
1.3.4.21 Mỏ đá gabro sông Côn (A Pan) xã Tà Lu, huyện Đông Giang
Toạ độ: 150 55’ 28” vĩ độ Bắc
1070 43’ 15” kinh độ Đông
Theo kết quả thăm dò của Tổng công ty phát triển khoáng sản Trong diện tích mỏ chủ yếu gặp các đá magma của phức hệ BolKol Đá chủ yếu là các thân gabro, gabro - diabas, diabas Đã xác định được 8 thân quặng, dài từ 80÷1000m, rộng từ 30-80m, khả năng thu hồi đá khối: từ 0,5-2,5m3 Đá có độ bóng cao, rắn chắc, màu đen, đôi khi có chấm trắng felspat nhỏ Đá có các chỉ tiêu đảm bảo cho việc sản xuất đá ốp lát
rõ triển vọng, cần tiếp tục điều tra thêm
1.3.4.23 Nước khoáng nóng Sông Thanh xã Tabhing, huyện Nam Giang
0
Trang 26Theo kết quả phân tích mẫu toàn diện của Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam (1980) Đặc điểm địa chất và khoáng sản: nước phun lên từ khe nứt kiểu áp lực yếu với lưu lượng 1,5 l/s; nhiệt độ nước = 610C; nước trong, không màu, có mùi H2S, vị nhạt, kết tủa có màu trắng hồng dạng sợi Tổng độ khoáng hoá 0,28 mg/l; H2SiO3 = 74,1mg/l Nước có tác dụng chữa bệnh tốt Hiện trạng và định hướng tiếp theo: cần được tiếp tục điều tra, đánh giá
1.3.5 Ảnh hưởng của đặc điểm địa chất-khoáng sản tới môi trường phóng xạ
1.3.5.1 Ảnh hưởng các đặc điểm địa chất tới môi trường phóng xạ Nông Sơn Trong vùng nghiên cứu, cấu trúc địa chất gồm các đá biến chất cổ hệ tầng A
Sờ, hệ tầng A San, các đá magma axít phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn phức hệ Đại Lộc, các trầm tích lục nguyên hệ tầng An Điềm, Sườn Giữa, Pà Rồng, Pà Lừa chứa các thân quặng phóng xạ urani và các trầm tích đệ tứ (Q) cuội, sỏi, cát, bột, sét Các lớp đất, đá này có cường độ phóng xạ cao từ 18µR/h-28µR/h, chính nguồn cung cấp của các nham thạch này tạo nên các dị thường phóng xạ, thậm chí các mỏ phóng xạ urani Nếu như cường độ phóng xạ cao hơn 50µR/h thì sẽ gây độc hại cho môi trường
Qua thống kê số liệu suất liều chiếu ngoài đo trên các nền các loại đá trong vùng trũng Nông Sơn Cho thấy suất liều chiếu ngoài nhỏ nhất trong trầm tích sông
là 0,1µSv/h, lớn nhất trong cát kết của hệ tầng Sườn Giữa là 0,26µSv/h
Thống kê nồng độ radon trong không khí đo trên các loại đá (Bq/m3) Cho thấy nồng độ radon nhỏ nhất trong thành tạo đệ tứ (Q2) là 7,5Bq/m3 cao nhất trong
hệ tầng Sườn Giữa (T3sg) là 37,25Bq/m3 Giá trị trung bình nhỏ nhất trong phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (G/PZ3qs) là 12,43Bq/m3
Thống kê hàm lượng phổ gamma trong các loại đất đá tại vùng trũng Nông Sơn Cho thấy hàm lượng kali nhỏ nhất trong thành tạo Đệ tứ (Q4) 0,01%, lớn nhất trong hệ tầng Sườn Giữa (T3sg) 17,7%, giá trị trung bình nhỏ nhất trong hệ tầng
ASan (εasn) 1,7%, lớn nhất trong phức hệ Đại Lộc (G/Sđl) 2,8% Hàm lượng
urani nhỏ nhất trong thành tạo Đệ Tứ (Q4) là 0,2ppm, lớn nhất trong hệ tầng Thạch
Mỹ (PZ3tm) là 17,3ppm, lớn nhất trong phức hệ BolKol (Gb/PZ1bk) là 48,5ppm
Cấu trúc địa chất trong vùng rất phức tạp, các hoạt động uốn nếp do ảnh hưởng các pha kiến tạo và hoạt động magma mà trầm tích tuổi Mezozoi (MZ) bị uốn nếp tạo nên các nếp lõm: An Điềm, nếp lõm Cà Liêng, nếp lõm Sườn Giữa, nếp lõm Thường Đức, nếp lõm Mai Quy, nếp lõm Thọ Lâm và nếp lồi sông Cái
Các hệ thống đứt gẫy chủ yếu theo phương Đông Bắc - Tây Nam phát triển mạnh gần song song với nhau, kèm theo xung quanh đứt gẫy lớn là những đới cà nát Ngoài ra một số đứt gãy kéo dài cắt qua các khu mỏ phóng xạ urani làm thay đổi cấu trúc, dịch chuyển các thân quặng, phá vỡ tính chất cơ lý đất đá, làm đẩy nhanh quá trình phong hoá
Cụ thể sự biến đổi các thành phần về môi trường phóng xạ được thể hiện theo mặt cắt địa chất 1202 (vùng Ngọc Kinh), 1101(vùng An Điềm) và một số mặt cắt địa chất khác
1.3.5.2 Ảnh hưởng của khoáng sản tới môi trường phóng xạ
Trong vùng Nông Sơn có rất nhiều mỏ đang được khai thác, hay đang trong giai đoạn tìm kiếm đánh giá Nhìn chung, các mỏ đang được khai thác như mỏ than Ngọc Kinh, Sườn Giữa, Nông Sơn… ít nhiều đã gây ô nhiễm môi trường Mức độ ô nhiễm phóng xạ môi trường phụ thuộc vào 2 yếu tố chính:
Trang 27- Yếu tố tự nhiên: sự phân bố trong không gian của các thân quặng, các lớp đất đá, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, sông suối, thảm thực vật trong vùng nghiên cứu Các thân quặng phóng xạ lộ thiên nằm ngay trên bề mặt địa hình phân cắt núi cao, sườn dốc, đất đá dễ bị phong hoá, bóc mòn, sói lở mạnh, lại không có thảm thực vật che chắn bảo vệ nên nguy cơ ô nhiễm phóng xạ và mở vùng ô nhiễm phóng xạ là yếu tố đương nhiên không thể tránh khỏi
- Yếu tố nhân tạo: việc mở các công trình tìm kiếm thăm dò khoáng sản, khai thác khoáng sản không chôn lấp đúng quy trình quy phạm, các bãi thải công nghiệp không được sử lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nguyên tố phóng xạ độc hại phát tán gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh
Ảnh 110201 Bãi tập kết than An Điềm Người chụp: Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 28Ảnh 110701 Khảo sát dị thường phóng xạ Người chụp: Nguyễn Văn Tiến
Ảnh 110704 Thu thập tài liệu nghiên cứu môi trường tại lò khai thác than Sườn Giữa
Người chụp: Phí Mạnh Dần
Trang 29Ảnh 110801 Vết lộ đá chứa dị thường khu An Điềm
Người chụp: Nguyễn Ngọc Tuấn
Ảnh 110703 Thu thập tài liệu nghiên cứu môi trường tại lò khai thác than Sườn Giữa
Người chụp: Nguyễn Nọc Tuấn
Trang 32CHƯƠNG II CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KHỐI
LƯỢNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 2.1 Tình hình nghiên cứu môi trường phóng xạ
2.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Ứng dụng của các kỹ thuật bức xạ và đồng vị phóng xạ trong lĩnh vực địa chất và nghiên cứu môi trường được tiến hành rất sớm Ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước người ta đã sử dụng công cụ đo khí phóng xạ trong điều tra địa chất, nhất là những năm 1960-1970 thời kỳ hoàng kim của việc tìm kiếm urani, các ứng dụng nêu trên được thực hiện phổ biến ở nhiều nước để tìm kiếm các khoáng sản phóng xạ Những năm 1980 do có nhiều báo cáo liên hệ hàm lượng khí radon trong nhà và sự gia tăng của căn bệnh ung thư phổi, người ta tiến hành đo khí phóng xạ trong đất và trong nước để khảo sát môi trường địa chất Mặt khác đo khí phóng xạ cũng được sử dụng vào việc thành lập bản đồ địa chất, dự báo động đất và tìm kiếm các quặng phóng xạ
Các phương pháp địa vật lý hạt nhân ra đời muộn hơn vào giữa thế kỷ trước Năm 1954, Liên Xô (cũ) chế tạo ra nhà máy điện nguyên tử đầu tiên và hàng loạt các ứng dụng được hình thành Trong đó, lĩnh vực địa chất và môi trường cũng hình thành hàng loạt các thiết bị đo ghi bức xạ tự nhiên, nhân tạo nhằm các mục đích khác nhau gồm các thiết bị phân tích kích hoạt notron, thiết bị phân tích rơnghen huỳnh quang để phân tích các mẫu vật địa chất với độ chính xác và khả năng phát hiện cao
Các thiết bị đo ghi bức xạ như máy đo gamma, máy đo phổ gamma, máy đo khí phóng xạ phục vụ cho các mục đích nghiên cứu địa chất và môi trường Tổng quát mà nói, ứng dụng của các phương pháp địa vật lý hạt nhân, bức xạ
và đồng vị phóng xạ trong lĩnh vực địa chất và môi trường là rất rộng rãi, bao gồm: + Đo vẽ bản đồ địa chất, tìm kiếm, thăm dò khoáng sản phóng xạ, các khoáng sản đi kèm
+ Tìm kiếm nước ngầm trong đá gốc
+ Tìm kiếm dầu và khí tự nhiên
+ Dự báo tai biến địa chất
+ Kiểm soát ô nhiễm môi trường phóng xạ
+ Xác định các niên đại địa chất, các tham số mật độ, độ ẩm
+ Phân tích các mẫu vật, xác định chủng loại và hàm lượng của chúng phục
vụ nghiên cứu địa chất và môi trường
2.1.2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.1.2.1 Mức độ điều tra địa chất khu vực
- Thời kỳ trước năm 1975, khu vực đã được nhiều nhà địa chất nghiên cứu như: E.Fuchs và Esaladon (năm 1882), E.Conlilon (năm 1909), R.Bounret (1924-925), J.Hoffet (1935), Nguyễn Văn Vĩnh (1945-974) Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung xác lập tầng chứa than, địa tầng chứa than và thăm dò khai thác mỏ than Nông Sơn, mỏ than Ngọc Kinh
- Thời kỳ sau năm 1975, công tác nghiên cứu địa chất và đánh giá khoáng sản
ở miền nam Việt Nam đã được quan tâm, đẩy mạnh với các lĩnh vực nghiên cứu địa chất khu vực, nghiên cứu chuyên đề, tìm kiếm thăm dò khoáng sản
Các công trình chính liên quan với vùng nghiên cứu gồm: bản đồ địa chất miền Nam tỷ lệ 1/500.000 năm 1980 (Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao), bản
đồ địa chất tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1/200.000 nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi năm
Trang 331986 (Nguyễn Văn Trang), đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Hội An - Đà Nẵng tỷ lệ 1/50.000 năm 1996 (Cát Nguyên Hùng), công tác bay đo
từ - phổ gamma hàng không tỷ lệ 1/50.000 năm 1982 Kết quả các giai đoạn nghiên cứu đã xác lập được địa tầng chi tiết và đánh giá tổng hợp các loại khoáng sản có trong vùng
2.1.2.2 Mức độ tìm kiếm đánh giá và thăm dò khoáng sản
Đối với khoáng sản urani trong khu vực qua công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất ở các giai đoạn nêu trên và công tác bay đo từ- phổ gamma hàng không, đo phóng xạ đường bộ đã phát hiện một số điểm quặng và hàng loạt các dị thường phóng xạ phân bố trong nhiều thành tạo địa chất khác nhau Từ năm 1986 Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm kiếm, đánh giá quặng urani
+ Tìm kiếm quặng urani vùng Khe Hoa - Khe Cao - Quảng Nam - Đà Nẵng ở
tỷ lệ 1/10.000, được thực hiện từ năm 1989 đến 1994, chủ nhiệm đề án Chu Đình Ứng
+ Tìm kiếm quặng urani vùng An Điềm, tỉnh Quảng Nam tỷ lệ 1/25.000 và chi tiết hoá một số khu vực ở tỷ lệ 1/10000, được thực hiện từ năm 1996 đến 2001, chủ nhiệm đề án Nguyễn Đăng Thành
+ Tìm kiếm quặng urani và các khoáng sản khác vùng TaBhing - Quảng Nam - Đà Nẵng ở tỷ lệ 1/25.000 và tỷ lệ 1/10.000, được thực hiện từ năm 1994 đến năm 1998, chủ nhiệm đề án Nguyễn Quang Hưng
+ Đánh giá quặng urani khu Pà Lừa, tỷ lệ 1/2.000, được thực hiện từ năm
1998 đến năm 2000, chủ nhiệm đề án Nguyễn Quang Hưng
+ Đánh giá quặng urani khu Pà Rồng ở tỷ lệ 1/2.000 được thực hiện từ năm
2001 đến năm 2004, chủ nhiệm đề án Lưu Văn Dũng
2.1.2.3 Mức độ điều tra môi trường phóng xạ
Trong các báo cáo kết quả tìm kiếm quặng urani vùng Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam đã đánh giá tác động của quá trình điều tra địa chất ảnh hưởng đến môi trường phóng xạ, ảnh hưởng đến sự sống của con người, sinh vật và biện pháp bảo
vệ Tuy nhiên, mức độ còn sơ sài và đây là kết hợp đánh giá trong đề án tìm kiếm quặng phóng xạ ở khu vực này
Báo cáo “ Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ, khả năng ảnh hưởng và biện pháp khắc phục một số mỏ phóng xạ, mỏ có chứa phóng xạ ở Lai Châu, Cao Bằng và Quảng Nam ” của Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm năm 2002 đã tiến hành nghiên cứu vùng mỏ Urrani Khe Hoa-Khe Cao (khoảng 170km2) và mỏ than Nông Sơn (khoảng 39km2) tỷ lệ 1/25.000
Năm 2002 đề án “Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ trên các mỏ Đông Bao, Thèn Sin – Tam Đường tỉnh Lai Châu, Mường Hum tỉnh Lào Cai, Yên Phú tỉnh Yên Bái, Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, An Điềm, Ngọc Kinh - Sườn Giữa tỉnh Quảng Nam” đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt do Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm thực hiện vùng Ngọc Kinh, An Điềm (khoảng 180km2) tỉ lệ 1/25.000 vào năm 2006, chủ nhiệm đề án Trần Bình Trọng
Các khu: Pà Lừa, Pà Rồng, Đông Nam Bến Giằng đã thi công một số công trình khảo sát hiện trạng môi trường phóng xạ trong các đề án, đã thành lập được các sơ đồ xuất liều tương đương tại các vùng nêu trên với tỷ lệ 1/25.000 tuy nhiên mức độ đánh giá còn sơ sài, chủ yếu số liệu từ suất liều xạ chiếu ngoài (gamma)
Trang 34Báo cáo thành lập bản đồ trường phóng xạ tự nhiên Việt Nam đã đánh giá vùng Nông Sơn gồm các mỏ than Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa là vùng có suất liều cao, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường phóng xạ
Các phương pháp nghiên cứu, đánh giá môi trường phóng xạ của báo cáo trước cơ bản được đánh giá là phù hợp với công nghệ trên thế giới hiện nay, đủ để xác định các thành phần của môi trường phóng xạ
1 - Toàn vùng chưa nghiên cứu môi trường phóng xạ tổng thể, mà chỉ mang tính đánh giá đơn lẻ cho từng mỏ, một số mỏ phóng xạ đã được đánh giá môi trường phóng xạ ở tỷ lệ 1/25.000 như urani Pà Lừa, Pà Rồng, Đông Nam Bến Giằng, An Điềm, than Nông Sơn, than Ngọc Kinh, than Sườn Giữa Các mỏ này như đã nêu trong báo cáo sẽ đánh giá một cách tổng thể hơn, toàn diện hơn
2 - Ngoài nghiên cứu địa chất môi trường đo vẽ tỷ lệ: 1/50.000 vùng Nông Sơn sẽ khoanh định nghiên cứu chi tiết các khu vực trọng điểm với tỷ lệ 1/10.000 vùng mỏ phóng xạ An Điềm, vùng mỏ than Nông Sơn, mỏ than Ngọc Kinh, vùng
mỏ phóng xạ Khe Hoa – Khe Cao với tổ hợp các phương pháp địa vật lý, địa hoá
2.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu môi trường phóng xạ, phương pháp và khối lượng
2.1 Cơ sở lý luận
2.2.1.1 Các dãy phân rã phóng xạ trong tự nhiên
Môi trường phóng xạ là một phần môi trường sống của con người, bao gồm các bức xạ: α (anpha), β (beta) và γ (gamma) từ các chất phóng xạ trong đất, nước, không khí và các tia vũ trụ
Theo các tính toán của Uỷ ban Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và UNSCEAR suất liều tương đương trung bình toàn cầu là 2,436mSv và được hình thành từ các nguồn khác nhau Các nguyên tố phóng xạ K40, họ U238 và Th232 có vai trò quan trọng tạo nên môi trường phóng xạ, đặc biệt là nguồn chiếu trong chính là khí radon (Rn) và các bức xạ của các chất phóng xạ chiếm một tỷ lệ nhất định trong thức ăn
2.2.1.2 Các tia phóng xạ và ảnh hưởng của chúng đến môi trường sống
Tác động của môi trường phóng xạ lên con người được thể hiện qua suất liều
xạ chiếu tương đương H(mSv/năm) Đây là đại lượng cùng với các số liệu về nồng
độ khí phóng xạ, bụi phóng xạ, hàm lượng các nguyên tố phóng xạ, cường độ bức
xạ từ các nguồn phản ánh hiện trạng môi trường phóng xạ tại nơi nghiên cứu, độ ô nhiễm cũng như khả năng ảnh hưởng của chúng đến môi trường sinh thái xung quanh Đại lượng suất liều xạ chiếu được biểu diễn bởi công thức: H = Hn + Ht Trong đó: Hn - suất liều xạ chiếu ngoài là tổng liều chiếu hiệu dụng được tích luỹ trong một năm
Ht: suất liều xạ chiếu trong là liều bức xạ dự đoán do các nguồn chiếu xạ đã xâm nhập vào bên trong cơ thể con người cũng như khí phóng xạ (Rn, Tn) vào phổi, các nuclide phóng xạ trong nước uống, trong thực phẩm mà con người sử dụng hằng ngày
- Đại lượng: Hn có thể đo được nhờ các máy đo chuyên dụng, hoặc tính toán
từ số đo suất liều chiếu xạ (cường độ phóng xạ của nguồn)
Ht được tính toán từ các số liệu phân tích nồng độ Rn, bụi phóng xạ và hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong nước, trong thực phẩm
Theo Uỷ ban an toàn xạ Quốc tế (ICRP), quá trình tác dụng sinh học của các bức xạ ion gây ra hai hiệu ứng: tất nhiên và ngẫu nhiên Các hiệu ứng có thể xẩy ra khi chiếu phóng xạ tế bào chỉ bị biến đổi chứ không bị huỷ diệt Sau thời kỳ âm ỷ
Trang 35kộo dài, cỏc tế bào này cú thể phỏt triển thành ung thư, xỏc suất ung thư do phúng
xạ gõy nờn sẽ tăng theo liều chiếu và khụng cú ngưỡng Nếu tổn hại xẩy ra ở loại
tế bào mà chức năng của nú là truyền thụng tin cho cỏc thế hệ sau, thỡ hiệu ứng sinh học được biểu hiện ở con chỏu của người đó bị nhiễm xạ Loại hiệu ứng này gọi là hiệu ứng di truyền Như vậy, tỏc dụng sinh học của bức xạ lờn cơ thể con người là rất nguy hiểm Do đú cụng tỏc nghiờn cứu để kiểm soỏt an toàn bức xạ của mụi trường sống, bảo vệ sức khoẻ con người là rất cần thiết
2.2.1.3 Mụi trường phúng xạ và thành phần mụi trường phúng xạ
Mụi trường phúng xạ tự nhiờn được hỡnh thành từ cỏc nguồn bức xạ khỏc nhau và tồn tại trong điều kiện tự nhiờn luụn biến đổi Sự biến đổi của mụi trường phúng xạ tự nhiờn hoặc làm tăng nguy cơ gõy ụ nhiễm phúng xạ hoặc cú thể giảm thiểu tỏc động của nú
Những thành phần chớnh gõy ra sự biến động của mụi trường phúng xạ tự nhiờn được thể hiện ở sơ đồ hỡnh 2.1
Hỡnh 2.1 Thành phần mụi trường phúng xạ
2.2.2 Lựa chọn hệ phương phỏp và thiết bị nghiờn cứu
2.2.2.1 Nội dung cần nghiờn cứu đỏnh giỏ
- Hiện trạng mụi trường phúng xạ như cỏc thành phần mụi trường phúng xạ bao gồm: đất, nước, thực vật, khụng khớ và điều kiện kinh tế xó hội liờn quan
Đất, đỏ
(U, Th, K, Sr)
MễI TRƯỜNG PHểNG XẠ
Không khí (Rn, Tn, Ac)
Nước (U, Ra, Th, K)
Sinh vật (U, Th, K)
Tia bức xạ vũ trụ
Chiếu trong qua đường tiêu hoỏ (mSv/năm)
Hd = a 1 xCK +a 2 xCRa +a 3 xCTh+a 4 xCU
Trang 36- So sánh mức độ ô nhiễm phóng xạ với kết quả thu thập số liệu kinh tế - xã hội, nghiên cứu đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường kinh tế - xã hội
- Cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu
2.2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu môi trường phóng xạ
Các phương pháp kỹ thuật được nêu dưới đây nhằm xác định một cách định lượng các thành phần của môi trường phóng xạ như: đất, không khí, nước, sinh vật
+ Thu thập, xử lý các loại tài liệu đã có
+ Phương pháp lộ trình quan sát địa chất môi trường bổ sung: nhiệm vụ thu thập các số liệu hiện trạng địa chất môi trường trong và ngoài khu vực mỏ, khu vực dân cư lân cận
+ Phương pháp đo gamma môi trường: nhiệm vụ xác định suất liều xạ chiếu ngoài tại các thân quặng, đất đá vây quanh, các khối magma, nhà cửa, vật liệu xây dựng
+ Phương pháp đo eman môi trường: nhằm xây dựng nồng độ khí radon, thoron trong môi trường không khí, nước và các công trình dân dụng trong khu vực nghiên cứu điều tra
+ Phương pháp đo phổ gamma môi trường: nhiệm vụ phương pháp phổ gamma để xác định hàm lượng của urani, thori, kali trong các đối tượng sau:
- Trong đất nhằm mục đích xác định sự tồn tại, phát tán của các nguyên tố phóng xạ trong đất, bãi bồi, vị trí dự kiến lấy mẫu thực vật
- Hàm lượng trung bình trong các loại đá có mặt trong diện tích đánh giá
- Trong vật liệu xây dựng, than và chất thải công nghiệp
+ Lấy mẫu, phân tích mẫu
+ Phương pháp thu thập các số liệu về kinh tế - xã hội
+ Phương pháp quan trắc môi trường phóng xạ (monitoring) và đo bụi phóng
xạ
2.2.3 Lựa chọn đối tượng, diện tích và tỷ lệ nghiên cứu
2.2.3.1 Lựa chọn đối tượng
Để đánh giá hiện trạng môi trường phóng xạ mỗi vùng nghiên cứu cần xác định đầy đủ các thành phần môi trường như:
- Liều chiếu ngoài (gamma)
- Liều chiếu trong qua đường hô hấp
- Liều chiếu trong qua đường tiêu hoá
- Nồng độ, hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong các đối tượng
- Môi trường đất, đá
- Môi trường không khí
- Môi trường nước
- Trong sinh vật sống
2.2.3.2 Lựa chọn diện tích: trên cơ sở tổng hợp tài liệu phân vùng sơ bộ theo
các tài liệu thu thập các báo cáo đã tiến hành trước đây, mỗi vùng mỏ được phân chia ra các diện tích đánh giá nghiên cứu sau:
+ Vùng chứa các thân quặng, vết lộ quặng
+ Vùng phân bố các dị thường phóng xạ
+ Vùng dân cư lân cận với các vùng mỏ
2.2.3.3 Lựa chọn tỷ lệ: nguyên tắc của đề cương đề tài đã được phê duyệt,
trong vùng đánh giá cần có các nghiên cứu từ tổng quan đến nghiên cứu đánh giá
Trang 37chi tiết Theo kết quả nghiên cứu môi trường nền của các nước trên Thế giới, trong
đề tài này đối với diện tích toàn vùng Nông Sơn được đánh giá ở tỷ lệ 1/50.000 là phù hợp với các kết quả nghiên cứu điều tra cơ bản lập bản đồ địa chất trong khu vực Trong vùng phát triển các mỏ urani, than chứa urani đã được đánh giá ở các
tỷ lệ từ 1/2.000 (than Nông Sơn; urani Pà Lừa, Pà Rồng, Khe Cao) đến đánh giá tỷ
lệ 1/10.000 hoặc 1/25.000 (Khe Hoa, An Điềm, Đông Nam - Bến Giằng) Vì vậy trong các diện tích nghiên cứu đánh giá chi tiết đã được lựa chọn tỷ lệ 1/10.000
2.3 Nội dung nghiên cứu và khối lượng
2.3.1 Tổng hợp và khối lượng tài liệu môi trường nói chung và tài liệu phóng xạ nói riêng
Tài liệu về địa chất - khoáng sản của các vùng mỏ rất phong phú và đa dạng Đây là những tài liệu phục vụ cho công tác đánh giá hoặc thăm dò quặng phóng
xạ, nên sự phân chia các dạng tài liệu không đồng đều trên diện tích Trước khi tiến hành khảo sát thực địa bổ sung đã thu thập tổng hợp các số liệu, lựa chọn các
số liệu liên quan phản ánh các thành phần môi trường phóng xạ Trên cơ sở đó tiến hành đo đạc bổ sung, nghiên cứu chi tiết một số mặt cắt địa chất, mặt cắt mẫu nước theo hướng dòng chẩy, măt cắt mẫu thực vật, mặt cắt mẫu đất dọc theo sông Vu Gia sông Côn hoặc qua vết lộ, thân quặng đặc trưng cho mỗi vùng mỏ
Tại mỗi vùng mỏ đã thu thập các dạng tài liệu cơ bản sau:
+ Tài liệu địa chất:
- Đặc điểm địa chất vùng nghiên cứu, đá chứa quặng, đá vây quanh quặng
- Đặc điểm quặng hoá, kiến trúc quặng, thành phần vật chất, khoáng vật quặng, nguồn gốc quặng
- Các hoạt động kiến tạo
+ Tài liệu địa vật lý:
- Trường phóng xạ của vùng mỏ và cường độ phóng xạ của các loại đất đá có mặt trong vùng nghiên cứu
- Các dị thường phóng xạ và mối liên hệ của chúng với các thân quặng, đới quặng
- Cường độ phóng xạ và mối quan hệ của chúng với hàm lượng nguyên tố urani, thori
+ Tài liệu Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình:
- Đặc điểm địa chất thuỷ văn tầng chứa nước, mực nước thuỷ tĩnh, vị trí các điểm xuất lộ nước ngầm
- Đặc điểm địa chất thuỷ văn nước mặt, hệ thống sông suối, lưu lượng nước
- Phân loại nước, thành phần hoá học, hàm lượng urani, radon và vi trùng trong nước, độ pH của nước
- Tài liệu khí tượng thuỷ văn của khu vực
- Đặc điểm địa chất công trình của các loại đất đá, lớp đá chứa quặng, đá vây quanh quặng
- Các hiện tượng trượt, lở đất, đá đổ ở các vách núi, vách đường, moong khai thác
- Hiện tượng mương xói, bồi tích hiện đại
Các loại tài liệu liên quan khác:
+ Các báo cáo kết quả đánh giá tác động môi trường đã và đang thực hiện trong vùng nghiên cứu mà các đơn vị khác đang tiến hành
Trang 38+ Các bệnh liên quan đến phóng xạ của những người làm công tác phóng xạ
và dân sinh sống trong vùng mỏ phóng xạ
+ Sinh vật và hệ sinh thái
- Thảm thực vật
- Động vật
+ Các tài nguyên và môi trường đã được con người sử dụng
- Giao thông vận tải - Năng lượng
- Khai thác khoáng sản
2.3.2 Nội dung khảo sát thực địa và khối lượng
2.3.2.1 Khảo sát địa chất môi trường
Nhiệm vụ thu thập các số liệu hiện trạng địa chất môi trường trong và ngoài khu vực mỏ, khu vực dân cư và khu vực lân cận
+ Trong diện tích đã tìm kiếm, đánh giá, thăm dò khoáng sản phóng xạ đã tiến hành một số lộ trình mặt cắt chi tiết tại các vùng dân cư đông đúc và khu vực
mỏ như: Thạch Mỹ (Khe Hoa, Khe Cao); Tabhing (Nam Giang); An Điềm (Đại Lãnh); Đại Đồng, Ngọc Kinh (Đại Lộc); Quế Trung, Quế Sơn (mỏ than Nông Sơn) Trên các tuyến chuẩn tiến hành mô tả chi tiết đặc điểm quặng hoá, địa chất môi trường, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phóng xạ, lấy các loại mẫu nước, mẫu đất, mẫu thực vật, mẫu thực phẩm, mẫu tóc Đồng thời tiến hành đo tổ hợp các phương pháp địa vật lý môi trường, nghiên cứu mức độ chi tiết hơn, nhằm đánh giá sự biến đổi của các nguyên tố trong các môi trường đất, nước, không khí theo không gian và thời gian
+ Ngoại vi vùng mỏ, vùng dân cư lân cận, các lộ trình đã khảo sát dựa vào các đường giao thông, đường mòn, suối, đảm bảo tất cả các khu dân cư lân cận vùng mỏ đều có lộ trình đi qua
Khi gặp các đối tượng địa chất, khu vực dân cư đã bố trí các lộ trình chi tiết sang hai bên Mật độ điểm quan sát trên lộ trình trung bình từ 200 đến 300m/điểm Trên các lộ trình quan sát, mô tả, thu thập đầy đủ các nội dung:
- Mức độ phát tán của các nguyên tố phóng xạ theo vị trí không gian như bồi tích chứa quặng phóng xạ do các dòng chảy tạm thời và thường xuyên, khai thác vật liệu xây dựng, sử dụng nhiên liệu than có chứa phóng xạ Đây là nội dung quan trọng trong đánh giá tác động môi trường của các nguyên tố phóng xạ và đánh giá mức độ biến đổi thành phần môi trường phóng xạ
- Đánh giá thảm thực vật, mức độ xói mòn, sạt lở tại các thân quặng, moong khai thác, các công trình cũ
- Thu thập tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, dân cư trong khu mỏ và lân cận khu mỏ
Các điểm xuất phát của các lộ trình địa chất bổ sung được bố trí dựa vào các địa vật đặc biệt như ngã ba suối, đường giao nhau trên bản đồ và định vị bằng GPS hoặc các phương pháp định điểm truyền thống
2.3.2.2 Đo gamma môi trường
- Nhiệm vụ: xác định suất liều xạ chiếu ngoài tại các thân quặng, đất đá vây quanh, các khối magma, nhà cửa, vật liệu xây dựng
- Mạng lưới thiết kế: đo gamma môi trường tiến hành đồng thời cùng các lộ trình địa chất môi trường Ngoài ra đã tiến hành đo trên điểm tập kết vật liệu xây
Trang 39dựng, than, xỉ than, đo trong nhà và ngoài nhà của các khu dân cư, các công trình công cộng
Tại mỗi điểm đo tiến hành đo ở mặt đất và độ cao 1m, khoảng cách điểm đo 50m/điểm (tỷ lệ 1/50.000) và 10m/điểm (tỷ lệ 1/10.000) Khi gặp những khu vực
dị thường mới mà các tài liệu trước đây chưa phát hiện đã tiến hành đo chi tiết dị thường để xác định qui mô và hướng phát triển của chúng Việc thành lập tài liệu suất liều xạ chiếu sẽ sử dụng giá trị đo ở độ cao 1m
Trong vùng được tiến hành đo bức xạ gamma ở tỷ lệ 1/50.000 tổng số: 3440 điểm Tại các vùng An Điềm, Ngọc Kinh, Khe Hoa - Khe Cao, Quế Trung (mỏ than Nông Sơn) đo ở tỷ lệ 1/10.000 tổng số: 4002 điểm
- Các số liệu đo ở độ cao 1m và mặt đất làm cơ sở chuyển đổi các số liệu cũ phục vụ cho tổng hợp và thành lập bản đồ hiện trạng môi trường phóng xạ
- Thiết bị sử dụng các loại máy suất liều xạ chiếu Inspecter, DKS-96P
- Qui trình thu thập số liệu, kiểm tra máy, kiểm chuẩn máy tuân thủ theo qui phạm kỹ thuật thăm dò phóng xạ của Bộ Công nghiệp ban hành năm 1998
- Trong các loại đá có mặt trong diện tích đánh giá
- Trong vật liệu xây dựng, than và chất thải công nghiệp
Đo phổ gamma tiến hành đồng thời với các mặt cắt nghiên cứu đặc trưng, khoảng cách điểm từ 50 đến 100m Những khu vực chuyển tiếp từ vùng dị thường đến trường bình thường tiến hành đo đan dày từ 10 đến 20m/điểm Tại mỗi điểm
đo 3 giá trị, thời gian đo 100s Máy đo phổ gamma sử dụng là GAD-6 của Canada sản xuất Trước khi sử dụng, máy được tiến hành kiểm chuẩn, hàng ngày trước và sau ngày làm việc, đo tại điểm kiểm tra các số liệu phông, mẫu TS-5, US-2 để đánh giá sự ổn định của máy Qui trình thu thập số liệu, kiểm tra máy, kiểm chuẩn máy tuân thủ qui phạm kỹ thuật thăm dò phóng xạ của Bộ Công nghiệp ban hành năm 1998
Trong vùng được tiến hành đo phổ gamma ở tỷ lệ 1/50.000 tổng số: 1050 điểm Tại các vùng An Điềm, Ngọc Kinh, Khe Hoa - Khe Cao, Quế Trung (mỏ than Nông Sơn) đo ở tỷ lệ 1/10.000 tổng số: 532 điểm
2.3.2.4 Đo radon
Đo radon được tiến hành đồng thời cùng các lộ trình địa chất môi trường tổng hợp, đo trong, ngoài nhà ở các khu dân cư, các công trình công cộng và đo radon trong nước
- Đo radon trong không khí: mỗi điểm đo đã tiến hành đo bơm lưu thông không khí ở độ cao 1m Khoảng cách điểm đo trong khu vực mỏ 50m/điểm, khu vực dân cư, xa khu vực mỏ từ 100 đến 200m/điểm, mật độ trung bình 100m/điểm Kết quả được tổng hợp và xây dựng bản đồ liều tương đương bức xạ và bản đồ suất liều chiếu trong, trong đó suất liều chiếu trong được tính chủ yếu do nồng độ radon, thoron tác động vào cơ thể qua đường hô hấp
Trong vùng được tiến hành đo radon ở tỷ lệ 1/50.000 tổng số: 530 điểm Tại các vùng An Điềm, Ngọc Kinh, Khe Hoa - Khe Cao, Quế Trung (mỏ than Nông
Trang 40- Đo radon, thoron trong nhà và ngoài nhà đã chọn một số loại nhà đặc trưng trong khu vực như: nhà xây kiên cố cao tầng, nhà cấp 4 Tại mỗi nhà tiến hành đo radon ở độ cao 1,0m trong nhà (kín gió) và ngoài nhà (thoáng khí) Kết quả phân chia suất liều xạ chiếu trong theo các loại nhà đặc trưng, đặc biệt chú ý đến mức độ thoáng khí và khả năng thoát của khí radon từ nền đất vào trong nhà (loại nhà và vật liệu làm nền)
- Đo radon, thoron trong nước: mẫu nước lấy ở các dòng suối chảy ra từ mỏ, các điểm xuất lộ nước ngầm, giếng nước sinh hoạt của nhân dân, nước ao, hồ, vị trí súc vật thường uống Mục đích đánh giá nồng độ radon, thoron tự do trong nước, kết quả là cơ sở lựa chọn các mẫu đặc trưng để phân tích hàm lượng nguyên tố phóng xạ trong nước và tổng hoạt độ α, β Trong vùng mẫu lấy ở các khu vực như
An Điềm, Đại Đồng (Ngọc Kinh), Khe Hoa-Khe Cao, Thach Mỹ, Quế Trung (mỏ than nông Sơn) Tổng số mẫu đo radon là: 46 mẫu
Máy đo radon: RAD7 được chế tạo tại Mỹ dùng xác định nồng độ Rn và Tn bằng đo phổ năng lượng tia alpha nên nó có khả năng loại bỏ sự nhiễm bẩn do sự tích luỹ các sản phẩm phóng xạ con cháu ở thiết bị đo có đặc trưng kỹ thuật và độ nhạy đảm bảo xác định radon trong nghiên cứu môi trường của khu vực và Thế giới Qui trình thu thập số liệu, kiểm tra máy, kiểm chuẩn máy tuân thủ qui phạm
kỹ thuật thăm dò phóng xạ của Bộ Công nghiệp ban hành năm 1998
2.3.2.5 Phương pháp quan trắc môi trường phóng xạ (monitoring)
Nhằm phát hiện sự thay đổi nồng độ radon, thoron trong không khí theo thời gian, theo mùa và từ đó đánh giá sự thay đổi nồng độ radon, thoron và phông bức
xạ tự nhiên trong vùng nghiên cứu
Mạng lưới quan trắc: sau khi có kết quả sơ bộ khảo sát theo diện toàn bộ vùng nghiên cứu Căn cứ vào đặc điểm môi trường, đối tượng quặng, đặc điểm địa hình, khí tượng thuỷ văn Vùng đánh giá lựa chọn 1 trạm khu vực dân cư lân cận cách mỏ từ 1 đến 3km, sao cho đại diện nhất phản ánh chung cho khu vực đánh giá Chúng tôi đã tiến hành quan trắc tại: An Điềm, Ngọc Kinh, Khe Cao, Nông Sơn Đo liên tục 24 giờ trong ngày, 20 phút ghi một số liệu, mỗi đợt quan trắc 2 ngày Quan trắc radon, thoron sử dụng máy RAD-7, quan trắc phông bức xạ tự nhiên sử dụng máy DKS-96P Trạm quan trắc được định vị bằng máy GPS, đánh dấu trạm quan trắc bằng mốc xi măng 10x10x75cm, trên mặt ghi chép số hiệu, thời gian quan trắc, đơn vị thực hiện
Kết quả đã xây dựng các biểu đồ đồ thị biểu diễn mức độ thay đổi của các thông số quan trắc theo thời gian, điều kiện khí hậu Đây là những căn cứ cơ bản cho các dự án đánh giá tác động môi trường sau này khi có các hoạt động khoáng sản ở vùng mỏ
2.3.3 Điều tra tác động môi trường phóng xạ tới sức khoẻ cộng đồng và các vấn đề kinh tế - xã hội khác
Nhằm thu thập các số liệu về điều kiện xã hội, đặc điểm dân cư trong phạm vi vùng mỏ và lân cận vùng mỏ cũng như các công nhân đã và đang làm việc tiếp xúc trực tiếp với môi trường phóng xạ
Phương pháp đã tiến hành: sử dụng phiếu điều tra in sẵn, trực tiếp đi thu thập các hộ dân hoặc phối hợp với các cấp chính quyền địa phương thuộc khu vực mỏ được điều tra (xã, trạm Y tế xã, Trung tâm Y tế, phòng Thống kê của huyện ) Nội dung chủ yếu thu thập phân hai loại mẫu phiếu thu thập: hộ gia đình và đơn vị hành chính Công tác thu thập số liệu kinh tế - xã hội được tiến hành thu thập tại các cơ quan, chính quyền thôn, xã, các trạm y tế, bệnh viện và các hộ dân