Đề tài thuộc công trình nghiên cứu khoa học : Nội dung Đề tài: Ứng dụng phương pháp mô hình đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở thánh phố hồ chí minh và lận cận sẽ tiếp cận vấn đề xác định nguồn hình thành trữ lượng NDĐ theo phương pháp mô hình hóa dựa trên phần mềm GMS (Hoa Kỳ sản xuất). Đây là phương pháp đang được sử dụng tại nhiều nơi trên thế giới và đã chứng tỏ được tính ưu việt và hiệu quả của nó. NDĐ là nguồn tài nguyên quan trọng và càng quan trọng hơn đối với những vùng khan hiếm nguồn nước mặt có chất lượng tốt. Ngày nay, nhiều đô thị ở Đồng bằng Nam Bộ: Mỹ Tho, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau . đã và đang có xu hướng chuyển sang sử dụng nguồn NDĐ, do đó cần thiết phải có được những công cụ hữu hiệu để quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá này. Khu vực TPHCM và lân cận, dù nguồn nước mặt rất phong phú nhưng khai thác sử dụng NDĐ ngày càng chiếm tỉ lệ đáng kể trong sinh hoạt và sản xuất. Lượng khai thác nhiều chắc chắn làm thay đổi cân bằng tự nhiên và sẽ dẫn đến suy thoái trữ lượng NDĐ. Sự suy thoái trữ lượng này đến một lúc nào đó sẽ dẫn đến những tai biến cho môi trường tự nhiên, đe dọa sự phát triển bình ổn như nhiều đô thị trên thế giới (Beijing, Bangkok, Mexico .). Mức độ suy thoái trữ lượng khác nhau tùy từng nơi nhưng đều được thể hiện qua sự hạ thấp mực nước, điều này đã được ghi nhận ở các trạm quan trắc quốc gia trong vùng, đặc biệt là nhiều nơi có biên độ khá lớn như: Hóc Môn, Bình Trị Đông, Bình Hưng, . Tóm lại, vấn đề cấp thiết hiện nay cho nghiên cứu ĐCTV trong vùng là biết được hiện trạng môi trường ĐCTV và tiềm năng tài nguyên NDĐ để từ đó sẽ tìm một giải pháp thích hợp khắc phục tình trạng suy thoái trữ lượng.
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TTRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC
Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Nam
BÁO CÁO KHOA HỌC ĐỀ TÀI
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LÂN CẬN
6949
14/8/2008
Hà Nội - 2008
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC
Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Nam
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN 1- ThS Ngô Đức Chân, Chủ nhiệm đề tài 2- ThS Bùi Tiến Bình
3- KS Nguyễn Manh Hà
4- CN Đỗ Thị Thanh Hoa
5- KS Nguyễn Huy Tuấn
6- CN Trịnh Quang Trung
Trang 4TÓM TẮT BÁO CÁO
Báo cáo khoa học kết quả nghiên cứu của đề tài “Ứng dụng phương mô hình
đánh giá trữ lượng NDĐ ở thành phố Hồ Chí Minh và lân cận” được trình bày trong
215 trang khổ A4 Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của báo cáo được trình bày trong 2 phần: Phần A: Cơ sở khoa học của đề tài (từ chương I đến chương V) và Phần B: Kết quả của đề tài (từ chương VI đến chương VII) kèm theo có 26 bảng số liệu và
71 hình minh họa và 16 chuyên đề nghiên cứu
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu liên quan, báo cáo đã thu thập khá đầy đủ những dữ liệu cần thiết và tiến hành tổng hợp chỉnh lý (Phần A) nhằm mô phỏng thành công MHDCNDĐ khu vực (Phần B) Để nâng cao tính thuyết phục của lời giải, diện tích lập MHDCNDĐ được lựa chọn lớn hơn nhiều lần diện tích đánh giá trữ lượng
Kết quả hiệu chỉnh bài toán ổn định (thời tháng 1/2000) và bài toán không ổn định (từ tháng 1/2000 đến tháng 9/2007) đều cho sai số nhỏ so với dữ liệu quan trắc Điều này chứng tỏ MHDCNDĐ đã mô phỏng hệ thống NDĐ đạt yêu cầu và phù hợp với điều kiện tự nhiên
Dựa trên hiện trạng khai thác và dự báo nhu cầu khai thác sử dụng NDĐ của vùng nghiên cứu theo giai đoạn 2007, 2010 và 2020, báo cáo đã vận hành MHDCNDĐ nhằm đánh giá trữ lượng khai thác với mục tiêu trữ lượng tương ứng là 398.047m3/ngày, 1.205.306m3/ngày và 1.396.953m3/ngày Bên cạnh xác lập trường mực nước và xác định các nguồn hình thành trữ lượng tại các tầng chứa nước, báo cáo cũng đã tiến hành tính toán cân bằng nước nhạt nhằm định lượng quá trình xâm nhập mặn trong từng phương án khai thác
Các phương án khai thác được đề xuất và phương pháp thực hiện có thể được xem như là giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn NDĐ trong vùng
Trang 5
MỤC LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU v
DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA vi
MỞ ĐẦU 1
PHẦN A CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
Chương I TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 5
I - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 5
II - LÝ DO CHỌN VÙNG NGHIÊN CỨU 5
III - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH 6
IV - THỦY VĂN 7
V - ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU 8
VI - ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ KINH TẾ 8
VII - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT 9
VIII - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN 18
IX - NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC 43
Chương II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 46
I - NƯỚC NGOÀI 46
II - TẠI VIỆT NAM 49
Chương III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
I - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 51
II - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
PHẦN B KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67
Chương IV XÂY DỰNG MÔ HÌNH DÒNG CHẢY NƯỚC DƯỚI ĐẤT 68
I - SƠ ĐỒ HÓA VÙNG LẬP MÔ HÌNH DÒNG CHẢY 68
II - NHẬP DỮ LIỆU 72
III - KẾT QUẢ VẬN HÀNH MÔ HÌNH 86
Chương V ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LÂN CẬN 107
I - KHÁI QUÁT VỀ BÀI TOÁN 108
II - ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC THEO PHƯƠNG ÁN 1 110
III - ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC THEO PHƯƠNG ÁN 2 126
IV - ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC THEO PHƯƠNG ÁN 3 139
V - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TÍNH TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT 153
KẾT LUẬN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 6Cục ĐC&KSVN Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Liên đoàn BĐĐCMN Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam
Liên đoàn ĐCTV-ĐCCTMN Liên đoàn Địa chất thủy văn - Địa chất công
MHDCNDĐ Mô hình dòng chảy nước dưới đất
THTKT Tổ hợp thạch kiến tạo
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng I.1 - Dân số dự bố theo các giai đoạn theo địa phương 8
Bảng I.2 - Xác định các thông số ĐCTV theo vùng 39
Bảng I.3 - Kết quả tính trữ lượng khai thác tiềm năng các tầng chứa nước 40
Bảng I.4 - Kết quả tính nhu cầu dùng nước trong sinh hoạt 43
Bảng I.5 - Nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp theo lưu vực 45
Bảng IV.1 - Thống kê giá trị hệ số thấm tính toán 77
Bảng IV.2 - Bảng thống kê số lượng lỗ khoan quan quan sát 85
Bảng IV.3 - Thống kê các loại sai số sau khi hiệu chỉnh bài toán ổn định 87
Bảng IV.4 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 2 (tầng chứa nước Holocen) 97
Bảng IV.5 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 4 (tầng chứa nước Pleistocen trên) 98
Bảng IV.6 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 6 (tầng chứa nước Pleistocen giữa - trên) 98
Bảng IV.7 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 8 (tầng chứa nước Pleistocen dưới) 99
Bảng IV.8 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 10 (tầng chứa nước Pliocen giữa) 100
Bảng IV.9 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 12 (tầng chứa nước Pliocen dưới) 100
Bảng IV.10 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 14 (tầng chứa nước Miocen trên) 101
Bảng V.1 - Bảng thống kê kết quả tính toán nhu cầu sử dụng nước dưới đất 109
Bảng V.2 - Các nguồn hình trữ lượng toàn mô hình (Phương án 1) 115
Bảng V.3 - Bảng thống kê các nguồn hình thành trữ lượng khu vực TPHCM và lân cận (Phương án 1) 121
Bảng V.4 - Bảng kết quả tính toán xâm nhập mặn khu vực TPHCM và lân cậtn (Phương án 1) 124
Bảng V.5 - Các nguồn hình thành trữ lượng toàn mô hình (Phương án 2) 130
Bảng V.6 - Bảng thống kê các nguồn hình thành trữ lượng khu vực TPHCM và lân cận (Phương án 2) 137
Bảng V.7 - Bảng kết quả tính toán xâm nhập mặn khu vực TPHCM và lân cận (Phương án 2) 139
Bảng V.8 - Các nguồn hình trữ lượng toàn mô hình (Phương án 3) 144
Bảng V.9 - Bảng thống kê các nguồn hình thành trữ lượng khu vực TPHCM và lân cận (Phương án 3) 151
Bảng V.10 - Bảng kết quả tính toán xâm nhập mặn khu vực TPHCM và lân cận (Phương án 3) 152
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
Hình I.1 - Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 5
Hình I.2 - Mặt cắt cấu trúc ĐCTV theo hướng nam - bắc qua đỉnh núi Bà Rịa 30
Hình I.3 - Mặt cắt cấu trúc ĐCTV theo hướng tây - đông qua đỉnh núi Bà Đen 31
Hình I.4 - Mặt cắt hàng rào thể hiện cấu trúc hệ thống NDĐ 32
Hình I.5 - Sơ đồ tính trữ lượng tầng chứa nước Pleistocen trên 40
Hình I.6 - Sơ đồ tính trữ lượng tầng chứa nước Pleistocen giữa - trên 41
Hình I.7 - Sơ đồ tính trữ lượng tầng chứa nước Pleistocen dưới 41
Hình I.8 - Sơ đồ tính trữ lượng tầng chứa nước Pliocen giữa 42
Hình I.9 - Sơ đồ tính trữ lượng tầng chứa nước Pliocen dưới 42
Hình I.10 - Sơ đồ tính trữ lượng tầng chứa nước Miocen 43
Hình I.11 - Sơ đồ vị trí lưu vực các hệ thống sông chính 44
Hình III.1 - Bản đồ nền sử dụng trong mô hình 53
Hình III.2 - Dữ liệu điểm độ cao bề mặt địa hình 54
Hình III.3 - Cửa sổ nhập dữ liệu thời gian 54
Hình III.4 - Ô lưới và các loại ô lưới trong mô hình 58
Hình III.5 - Ô lưới i,j,k và 6 ô bên cạnh 59
Hình III.6 - Sơ đồ bước giải theo phương pháp lặp trong mô hình 62
Hình III.7- Điều kiện biên sông (River) a) Mặt cắt biểu diễn điều kiện biên sông b) Mô phỏng trên mô hình 63
Hình III.8 - Điều kiện biên kênh thoát (Drain) 63
Hình III.9 - Điều kiện biên tổng hợp trong mô hình (GHB) 64
Hình III.10 - Điều kiện biên bốc hơi trong mô hình (ET) 64
Hình III.11 - Các ô lưới sai phân hai chiều xung quanh ô có lỗ khoan 65
Hình IV.1 - Mặt cắt qua đỉnh núi Bà Đen theo hướng tây - đông 69
Hình IV.2- Mặt cắt theo hướng nam - bắc qua núi Bà Rịa 70
Hình IV.3 - Mặt cắt hàng rào thể hiện cấu trúc của hệ thống NDĐ 71
Hình IV.4 - Thống kê dữ liệu chiều sâu đáy lớp (đơn vị: mét) 73
Hình IV.5 - Bản đồ phân vùng bổ cập 82
Hình IV.6 -Cửa sổ nhập dữ liệu lượng bổ cập (Recharge) 82
Hình IV.7 - Vị trí và cửa sổ nhập dữ liệu điều kiện biên tổng hợp (General Head) 84
Hình IV.8 - Vị trí và cửa sổ nhập dữ liệu điều kiện biên sông (River Head) 84
Hình IV.9 - Vị trí và cửa sổ nhập điều kiện biên mực nước xác định (Specified Head) .85
Hình IV.10 - Vị trí và cửa sổ nhập dữ liệu mực nước quan trắc 86
Hình IV.11 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Holoen và b) Tầng Pleistocen trên 91
Hình IV.12 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Pleistocen giữa - trên và b) Tầng Pleistocen dưới 91
Hình IV.13 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Piocen giữa và b) Tầng Plocen dưới 92
Trang 9Hình IV.14 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Miocen trên và b) Tầng Paleozoi -
Mezozoi 92
Hình IV.15 - Mực nước tầng Holocen - Bài toán ổn định 93
Hình IV.16 - Mực nước tầng Pleistocen trên - Bài toán ổn định 93
Hình IV.17 - Mực nước tầng Pleistocen giữa-trên - Bài toán ổn định 94
Hình IV.18 - Mực nước tầng Pleistocen dưới - Bài toán ổn định 94
Hình IV.19 - Mực nước tầng Pliocen giữa - Bài toán ổn định 95
Hình IV.20 - Mực nước tầng Pliocen dưới - Bài toán ổn định 95
Hình IV.21 - Mực nước tầng Miocen trên - Bài toán ổn định 96
Hình IV.22 - Mực nước tầng Paleozoi-Mesozoi - Bài toán ổn định 96
Hình IV.23 - Mực nước tầng Holocen - tháng 9/2007 103
Hình IV.24 - Mực nước tầng Pleistocen trên - tháng 9/2007 103
Hình IV.25 - Mực nước tầng Pleistocen giữa - trên - tháng 9/2007 104
Hình IV.26 - Mực nước tầng Pleistocen dưới - tháng 9/2007 104
Hình IV.27 - Mực nước tầng Pliocen giữa - tháng 9/2007 105
Hình IV.28 - Mực nước tầng Pliocen dưới - tháng 9/2007 105
Hình IV.29 - Mực nước tầng Miocen dưới - tháng 9/2007 106
Hình IV.30 - Mực nước tầng Paleozoi - Mezozoi - tháng 9/2007 106
Hình V.1 - Sơ đồ vùng đánh giá trữ lượng 108
Hình V.2 - Mực nước tầngPleistocen trên, thời điểm 2035-Phương án 1 111
Hình V.3 - Mực nước tầngPleistocen giữa - trên, thời điểm 2035 (Phương án 1) 112
Hình V.4 - Mực nước tầng Pleistocen dưới, thời điểm 2035(Phương án 1) 112
Hình V.5 - Mực nước tầng Pliocen trung, thời điểm 2035 (Phương án 1) 113
Hình V.6 - Mực nước tầng Pliocen dưới, thời điểm 2035 (Phương án 1) 113
Hình V.7 - Mực nước tầng Pliocen dưới, thời điểm 2035 (Phương án 1) 114
Hình V.8 - Bản đồ vị trí ranh mặn tầng Pleistocen dưới và Miocen 125
Hình V.9 - Bản đồ vị trí ranh mặn tầng Pliocen giữa và Pleistocen dưới 125
Hình V.10 - Mực nước tầng Pleistocen giữa - trên theo phương án 2 127
Hình V.11 - Mực nước tầng Pleistocen dưới theo phương án 2 127
Hình V.12 - Mực nước tầng Pliocen giữa theo phương án 2 128
Hình V.13 - Mực nước tầng Pliocen dưới theo phương án 2 128
Hình V.14 - Mực nước tầng Miocen theo phương án 2 129
Hình V.15 - Mực nước tầng Pleistocen giữa - trên theo phương án 3 141
Hình V.16 - Mực nước tầng Pleistocen dưới theo phương án 3 141
Hình V.17 - Mực nước tầng Pliocen trên theo phương án 3 142
Hình V.18 - Mực nước tầng Pliocen dưới theo phương án 3 142
Hình V.19 - Mực nước tầng Miocen dưới theo phương án 3 143
Trang 10MỞ ĐẦU
Đề tài khoa học công nghệ: "Ứng dụng phương pháp mô hình đánh giá trữ
lượng ở thành phố Hồ Chí Minh và lân cận" được thực hiện dựa trên hợp đồng khoa
học công nghệ giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Nam cũ (Hợp đồng số 09ĐC06/BTNMT-HĐKHCN, ngày 27 tháng 04 năm 2006)
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
NDĐ là nguồn tài nguyên quan trọng và càng quan trọng hơn đối với những vùng khan hiếm nguồn nước mặt có chất lượng tốt Ngày nay, nhiều đô thị ở Đồng bằng Nam Bộ: Mỹ Tho, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau đã và đang có xu hướng chuyển sang sử dụng nguồn NDĐ, do đó cần thiết phải có được những công cụ hữu hiệu để quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá này
Khu vực TPHCM và lân cận, dù nguồn nước mặt rất phong phú nhưng khai thác sử dụng NDĐ ngày càng chiếm tỉ lệ đáng kể trong sinh hoạt và sản xuất Lượng khai thác nhiều chắc chắn làm thay đổi cân bằng tự nhiên và sẽ dẫn đến suy thoái trữ lượng NDĐ Sự suy thoái trữ lượng này đến một lúc nào đó sẽ dẫn đến những tai biến cho môi trường tự nhiên, đe dọa sự phát triển bình ổn như nhiều đô thị trên thế giới (Beijing, Bangkok, Mexico ) Mức độ suy thoái trữ lượng khác nhau tùy từng nơi nhưng đều được thể hiện qua sự hạ thấp mực nước, điều này đã được ghi nhận ở các trạm quan trắc quốc gia trong vùng, đặc biệt là nhiều nơi có biên độ khá lớn như: Hóc Môn, Bình Trị Đông, Bình Hưng,
Tóm lại, vấn đề cấp thiết hiện nay cho nghiên cứu ĐCTV trong vùng là biết được hiện trạng môi trường ĐCTV và tiềm năng tài nguyên NDĐ để từ đó sẽ tìm một giải pháp thích hợp khắc phục tình trạng suy thoái trữ lượng
Đề tài: “Ứng dụng phương pháp mô hình đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở
thánh phố hồ chí minh và lận cận" sẽ tiếp cận vấn đề xác định nguồn hình thành trữ
lượng NDĐ theo phương pháp mô hình hóa dựa trên phần mềm GMS (Hoa Kỳ sản xuất) Đây là phương pháp đang được sử dụng tại nhiều nơi trên thế giới và đã chứng
tỏ được tính ưu việt và hiệu quả của nó
Ý NGHĨA KHOA HỌC - THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học
- Đánh giá định lượng được các yếu tố tự nhiên và nhân tạo trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành và suy thoái tài nguyên NDĐ Số liệu tính toán chính xác và đầy đủ hơn các phương pháp khác
- Hỗ trợ cho việc nghiên cứu nguồn gốc NDĐ cho miền Đông Nam bộ nói riêng
và Đồng bằng Nam Bộ nói chung
- MHDCNDĐ của luận án sẽ là công cụ hữu hiệu các nghiên cứu ĐCTV khác trong vùng
- Có thể áp dụng được hướng nghiên cứu này cho các vùng khác ở Đồng bằng Nam Bộ và các nơi khác
Ý nghĩa thực tiễn
- Các nhà quản lý tài nguyên NDĐ có thể sử dụng kết quả của đề tài để phục vụ cho việc hoạch định chiến lược khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên
Trang 11- Có thể sử dụng phương pháp này để giải các bài toán trữ lượng các nơi khác nhau trong vùng lập mô hình
MỤC TIÊU: Đánh giá trữ lượng khai thác NDĐ khu vực TPHCM và lân cận NHIỆM VỤ
1- Thu thập tài liệu toàn bộ những dữ liệu nghiên cứu liên quan (khí tượng thủy văn, địa hình - địa mạo, địa chất, ĐCTV )
2 - Mô hình hóa: Mô phỏng hệ thống NDĐ vùng nghiên cứu bằng phần mềm GMS
- Tính toán và xử lý các thông số dữ liệu đầu vào của MHDCNDĐ và tạo các tập tin cần thiết phục vụ cho công tác nhập dữ liệu
- Sơ đồ hóa cấu trúc không gian toàn vùng nghiên cứu và chuyển thành mô hình
số bằng phần mềm GMS nhằm xác lập trường dòng chảy cho từng tầng chứa nước theo không gian và thời gian
- Hiệu chỉnh mô hình theo dữ liệu thực tế được ghi nhận tại các trạm quan trắc của Mạng quan trắc quốc gia và các Mạng quan trắc địa phương như: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu…)
3- Xác định nguồn hình thành trữ lượng khai thác NDĐ: Nghiên cứu CBNDĐ
và tính toán định lượng các nguồn hình thành trữ lượng
4- Đề xuất phương hướng khai thác sử dụng hợp lý và biện pháp bảo vệ tài nguyên NDĐ theo nhu cầu sử dụng nước dựa vào chiến lược phát trển kinh tế - xã hội của các địa phương trong vùng
PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng phần mềm GMS để mô phỏng hệ thống NDĐ và
vận hành MHDCNDĐ để giải bài toán trữ lượng theo 3 phương án dự kiến
Đối tượng nghiên cứu: là các tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Kainozoi (Holocen,
Pleistocen trên, Pleistocen giữa - trên, Pleistocen dưới, Pliocen trên, Pliocen dưới và Miocen trên) Diện tích lập mô hình tổng cộng khoảng 12.000km2 , được giới hạn từ đứt gãy sông Vàm Cỏ Tây đến vùng phân thủy địa hình (lộ đá gốc Mezozoi) ở phía Đông
- Diên tích lập MHDCNDĐ được giới hạn như Hình I.1
- Diện tích đánh giá trữ lượng: lưu vực sông Sài Gòn (Hình I.11)
Phần lớn diện tích nội thành TPHCM, Thủ Dầu Một và Tây Ninh điều thuộc phạm vi lưu vực sông Sài Gòn như trong Hình I.11 - (theo [41]) Đây là vùng trung tâm của vùng lập mô hình do đó ảnh hưởng của điều kiện biên gần như không có
Như vậy, chọn lưu vực sông Sài Gòn để đánh giá trữ lượng khai thác cho đề tài này là phù hợp nhất Hơn nữa, việc đánh giá trữ lượng theo phạm vi lưu vực sông phù hợp với xu hướng nghiên cứu và quản lý tài nguyên nước ngày nay
Trang 12KINH PHÍ VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN
Tổng kinh phí của đề tài: 396.000.000 đồng (Ba trăm chín sáu triệu đồng), trong đó:
- Thuê khoán chuyên môn: 254.480.000 đồng
- Nguyên vật liệu năng lượng: 11.480.000 đồng
- Thiết bị máy móc chuyên dùng: 60.000.000 đồng (mua phần mềm GMS)
1- Báo cáo “Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai” do TS Tô
Vân Trường chủ trì (Viện Quy hoạch Thủy lợi Nam bộ) hoàn thành 2007 Hiện đang trình chính phủ phê duyệt Đã sử dụng mô hình của đề tài để đánh giá trữ lượng khai thác hiện tại và đánh giá tiềm năng khai thác NDĐ theo tính toán cho giai đoạn 2010
và 2020 của từng tiểu lưu vực sông thuộc hệ thống lưu vực sông Đồng Nai Bên cạnh
đó cũng tiến hành xác định lượng nước mặt tổn thất do phải bổ sung cho NDĐ
2- Luận án tiến sĩ “Xác định nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất vùng
lưu vực sông Sài Gòn” do chính tác giả sẽ thực hiện Đề cương đã được thông qua tại
Viện Môi trường và Tài nguyên TPHCM tháng 11/2006 Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là MHDCNDĐ trên cơ sở sử dụng phần lớn kết quả của đề tài này
3- Báo cáo dự án “Điều tra hiện trạng, quy hoạch khai thác và xây dựng cơ sở
dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên nước tỉnh Bình Dương” do KS Trần Anh Tuấn và
ThS Ngô đức Chân thực hiện năm 2007 Chuyên đề MHDCNDĐ tỉnh Bình Dương được hoàn thành chủ yếu dựa trên kết quả xử lý dữ liệu của đề tài nhằm xây dựng MHDCNDĐ và giải các bài toán ĐCTV trong quản lý tài nguyên NDĐ
4- Luận văn cao học “Nghiên cứu phương pháp sử lý tài liệu địa vật lý điện xác
định ranh giới nhiễm mặn NDD vùng TPHCM” do ThS Bùi Tiến Bình thực hiện -
trường đại học Mỏ Địa chất 2007 Luận văn đã sử dụng phương pháp 2D để xử lý tài liệu đo sâu điện 1D nhằm nâng cao hiệu quả xác định ranh mặn các tầng chứa nước (chuyên đề 2) Luận văn đạt loại xuất sắc
5- Đề án: “Thành lập bản đồ ĐCTV và ĐCCT thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:50.000” do ThS Bùi Trần Vượng thực hiện - 2007 theo đặt hàng của UBND thành phố Hồ Chí Minh Đề án đã sử dụng bản đồ và mặt cắt từ các báo cáo chuyên đề của
đề tài làm cơ sở khoa học cho việc thiết kế đề án (Chuyên đề 2, 4, 5, 6 và 7)
6 - Đang chuẩn bị tham gia dự án: “Quản lý tổng hợp lưu vực và sử dụng hợp lý
tài nguyên nước hệ thống sông Đồng Nai” do TS Đỗ Tiến Lanh chủ trì (Viện Khoa
học Thủy lợi miền Nam)
Trang 134PHẦN A
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Trang 14Chương I TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
I - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Vùng nghiên cứu của đề tài có tổng diện tích khoảng 18.000km2 (vùng lập mô hình) Bao gồm toàn bộ tỉnh thành: Tây Ninh, TPHCM, Bình Dương và một phần của các tỉnh BR - VT, Bình Phước, Long An, Đồng Nai
Hình I.1 - Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
II - LÝ DO CHỌN VÙNG NGHIÊN CỨU
- Cở sở khoa học về chuyên môn ĐCTV: Đây là vùng chuyển tiếp từ đới hoạt
hóa Đà Lạt xuống vùng trũng Đồng bằng sông Cửu Long trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có lớp phủ trầm tích Kainozoi dày từ vài mét đến khoảng 340 ÷ 400m Chiếm
toàn bộ diện tích vùng ĐCTV Đông Nam Bộ (theo Bùi Thế Định - 1991) Có điều
kiện ĐCTV đặc trưng cho toàn Đồng bằng Nam bộ và đóng vai trò quan trọng chi phối quá trình hình thành động thái cũng như trữ lượng NDĐ tại đây Có đầy đủ yếu tố của một cấu trúc bồn: miền bổ cập, miền vận chuyển và miền thoát, đặc biệt là các điều kiện biên tự nhiên ở phía đông và phía nam
Trang 15- Hiện trạng nghiên cứu trong vùng và khối lượng dữ liệu: các nghiên cứu ĐC
và ĐCTV từ trước đến nay rất phong phú với sự tham gia của nhiều ngành liên quan, đặc biệt là Cục ĐC & KS Việt Nam Đây là một trong những vùng được nghiên cứu chi tiết nhất ở Việt Nam với nhiều đề tài và lĩnh vực khác nhau Đáng kể nhất là mạng quan trắc quốc gia về động thái nước dưới đất vùng nghiên cứu với các mạng quan trắc riêng của từng địa phương (số lượng và mật độ cao nhất Việt Nam hiện nay) Nhìn chung, đây là vùng có mức độ nghiên cứu đầy đủ về ĐC và ĐCTV đủ để thực hiện các yêu cầu của luận án
Việc xác định vùng nghiên cứu như trên đảm bảo đủ rộng hơn nhiều lần lưu vực sông Sài Gòn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Diện tích này đã được các tổ chức khoa học trong và ngoài nước chấp nhận:
- Vùng nghiên cứu này trùng với diện tích được xác định của các trường Đại học TOKYO (theo Giáo sư Takizawa và nnk) trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam trên cơ
sở phân tích ảnh vệ tinh
- Vùng nghiên cứu này đã được Hội đồng khoa học của Viện Tài nguyên và Môi trường TPHCM thông qua khi xét duyệt đề tài luận án tiến sĩ
Ngoài ra, một số vấn đề khác của vùng nghiên cứu mà luận án quan tâm:
- Điều kiện kinh tế xã hội: Đây là khu quan trọng nhất của vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam với các trung tâm kinh tế hàng đầu khu vực: TP Hồ Chí Minh, TP.Biên Hòa và Vũng Tàu Có nhu cầu sử dụng nước rất cao và ngày càng tăng về số lượng, do đó cần có công cụ khoa học và những thông tin về tài nguyên NDĐ giúp các nhà quản lý hoạch định chiến lược khai thác bền vững và bảo vệ môi trường NDĐ
- Dấu hiệu cạn kiệt tài nguyên NDĐ: Dữ liệu thu thập được tại các trạm quan
trắc trong vùng nhiều nơi ở TP Hồ Chí Minh cho thấy mực nươc đã tụt xuống và đạt đến độ sâu dưới -30m so với mực nước biển Điều này sẽ làm cho các ranh mặn phía Nam đang có xu hướng tiến vào các vùng khai thác lớn: TP Hồ Chí Minh, Nhơn Trạch, Phú Mỹ - Mỹ Xuân, ) Ngoài ra, với mức độ hạ thấp mực nước này cũng tiềm
ẩn nguy cơ gây sụt lún mặt đất Vấn đề này hiện đang được TP Hồ Chí Minh chuẩn bị
đầu tư nghiên cứu với số tiền lên đến chục tỉ đồng
III - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH
Vùng nghiên cứu được phân biệt thành 2 miền có địa hình khác nhau với ranh giới giữa 2 miền là sông Vàm Cỏ Đông:
- Miền Đông Nam Bộ là diện tích thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và một phần các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và BR - VT Đây là vùng đồng bằng đồi lượn sóng thoải và đồi thấp bóc mòn (Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai) chuyển dần lên cao nguyên bazan dạng vòm (Lộc Ninh, Phước Long) Địa hình cao dần từ Tây Nam lên Đông Bắc Độ cao tuyệt đối dao động 5 ÷ 15m (khu vực Trảng Bàng, thành phố Hồ Chí Minh, Châu Thành (Tây Ninh), 50 ÷ 70m (Minh Hưng, Chơn Thành, Phước Vĩnh) đến 150÷200m (Bình Long, Lộc Ninh) Bề mặt địa hình bị chia cắt yếu và nghiêng dần từ Đông Bắc đến Tây Nam Ở miền này còn một số núi sót như núi Bà Đen (986m), núi Ông (254m), núi Tha La (169m), núi Bà Rá (736m),
Trang 16- Miền Tây Nam Bộ thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông thuộc phạm vi tỉnh Long An Thuộc đồng bằng châu thổ của hệ thống sông Cửu Long, bề mặt địa hình khá bằng phẳng với độ cao tuyệt đối 0 ÷ 2m
IV - THỦY VĂN
IV.1 - Mạng sông suối
Hệ thống sông chính chảy qua là hệ thống sông Đồng Nai Ngoài ra, khu vực còn
có một mạng lưới kênh, mương khá dày
Hệ thống sông Đồng Nai thuộc loại sông thiếu hụt trầm tích với cửa sông hình phễu, bao gồm sông chính là sông Đồng Nai và các nhánh: sông Bé, sông Sài Gòn
- Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang (Đà Lạt) với độ cao 1.777m, diện tích lưu vực 45.000km2, hàng năm cung cấp 15 tỉ mét khối nước Trên sông Đồng Nai có hồ Trị An, được xây dựng từ năm 1986 với dung tích 2.542 tỷ m3 Mực nước cao nhất 62m, trung bình 50m và mực nước chết 47m
- Sông Sài Gòn dài 201 km bắt nguồn từ Campuchia, diện tích lưu vực tính đến
hồ Dầu Tiếng là 1.700 km2 Đây cũng là nguồn cung cấp nước ngọt sinh hoạt và nước tưới cho TP Hồ Chí Minh
Trên sông Sài Gòn có Hồ Dầu Tiếng với dung tích 1,45 tỷ mét khối và 1.053 tuyến kênh có tổng chiều dài 1.000 km đã phát huy hiệu quả trong cân bằng sinh thái, phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp, cung cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, sinh hoạt tiêu dùng và cho sản xuất công nghiệp
- Sông Bé bắt nguồn từ vùng núi phía tây của Nam Tây Nguyên ở cao độ 650 ÷ 900m Sông dài 350km, diện tích lưu vực 7.650km2, chảy qua tỉnh Bình Phước, phần
hạ lưu chảy qua Phú Giáo dài khoảng 80km rồi đổ vào sông Đồng Nai Do lòng sông hẹp, lưu lượng dòng chảy không đều, mùa khô thì kiệt nước, mùa mưa nước chảy xiết, nên ít có giá trị về giao thông vận tải, nhưng có giá trị về thủy lợi trên một số nhánh phụ lưu như suối Giai và là nguồn bổ sung nước ngầm cho vùng phía Bắc của tỉnh Sông Đồng Nai hợp lưu với sông Sài Gòn thành sông Nhà Bè, cách trung tâm thành phố khoảng 5 km về phía Đông Nam Sông Nhà Bè chảy ra biển Đông qua hai sông chính: sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu Sông Soài Rạp dài 59 km, rộng trung bình 2 km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm Sông Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56 km, rộng trung bình 0,5 km, lòng sông sâu, trung bình 12m có nơi tới 29m Ngoài ra còn hệ thống sông Vàm Cỏ bao gồm sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm
Cỏ Tây và mật độ khing rạch khá dày
IV.2 - Bờ biển, chế độ thuỷ triều
Vùng nghiên cứu có gần 100km đường bờ biển, có chế độ bán nhật triều không đều Trong 1 tháng có 2 kỳ triều cường và 2 kỳ triều kém Trong năm đỉnh triều cao vào tháng 12 và tháng 1, xuống thấp vào tháng 6 và tháng 7 Chênh lệch đỉnh khoảng 0,5m Biên độ thuỷ triều vào mùa cạn (tháng 3 và 4) khoảng 2,5 ÷ 3m Ở sông Đồng Nai, triều lên cách cửa sông dến gần 200km
Nhìn chung, ảnh hưởng của triều có biểu hiện trên phần lớn diện tích phía nam vùng nghiên cứu, không những mực nước sông, kênh rạch bị ảnh hưởng, làm dòng
Trang 17chảy bị đảo ngược mà còn kèm theo sự xâm nhập của mặn vào sâu trong đất liền, gây
mặn hoá các tầng nước dưới đất trong dải duyên hải
V - ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
Vùng nghiên cứu có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 90 ÷ 94% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình năm của vùng thấp nhất là 1.328mm (Long An) và cao nhất là 2.100mm (miền Đông Nam Bộ) Lượng mưa trung bình năm 1600 ÷ 1800mm
- Độ ẩm không khí trung bình 85% vào mùa mưa và 70-80% vào mùa khô
- Nhiệt độ trung bình năm của vùng là 24÷270C Nhiệt độ cực đại vào tháng 4 (370C) và thấp nhất vào tháng 12 (150C) Chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và lạnh nhất 3÷40C Dao động nhiệt độ ngày-đêm 7÷80C
VI - ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ KINH TẾ
VI.1 - Dân cư
Căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và các dự báo dân số, phân
bố dân cư và lao động của các tỉnh trong vùng nghiên cứu được thống kê theo từng tỉnh trong Bảng I.1
- Đến năm 2010: Dân số trên toàn lưu vực khoảng 15.637.900 người
- Đến năm 2015: Dân số trên toàn lưu vực khoảng 17.697.300 người
- Đến năm 2020: Dân số trên toàn lưu vực khoảng 19.282.400 người
- Đến năm 2020: Dân số trên toàn lưu vực khoảng 22.287,3 người
- Đến năm 2050: Dân số trên toàn lưu vực khoảng 35.587.000 người
Bảng I.1 - Dân số dự bố theo các giai đoạn theo địa phương
Dân số (1.000người) (Người/kmMật độ 2 )
Căn cứ vào tỷ lệ tăng dân số trong những năm gần đây, dự báo dân số giữa thành thị và nông thôn theo các giai đoạn phát triển đến năm 2015 và 2020 như sau:
- Đến năm 2015: 17.697.300 người (Thành thị có 9.910.500 người và Nông thôn có 7.786.800 người)
Trang 18- Đến năm 2020: 19.285.400 người (trong đó: thành thị có 11.183.800 người
và nông thôn có 8.098.600 người)
VI.2 - Định hướng phát triển đô thị và dân cư
VI.2.1 - Định hướng chung cho các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
- Kết hợp phát triển hệ thống đô thị theo cực và trục một cách hợp lý Từ nay đến năm 2015 tập trung phát triển khu vực trung tâm của vùng từ TPHCM lên Biên Hòa xuống Vũng Tàu theo hành lang QL51 và hành lang từ trung tâm TPHCM qua Thủ Thiêm, Cát Lái đi Nhơn Trạch
- Không gian đô thị của vùng sẽ từng bước mở rộng về mọi phía, trong đó lấy TPHCM làm trung tâm Trước hết, mở mạnh về hướng Thủ Đức, Bình Dương, Nam
VI.2.2 - Định hướng chung cho các tỉnh còn lại trong lưu vực
Phát triển đô thị và các điểm dân cư gắn với bố trí các khu công nghiệp, các cơ
sở kinh tế, đồng thời với củng cố an ninh quốc phòng
VII - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT
Nội dung trình bày trình bày trong chương này được tổng hợp từ các nghiên cứu mới nhất của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trong những năm gần đây [1], [2], [9], [16], [17], [19], [20], [21], [22] và [23]
VII.1 - Đặc điểm địa mạo
VII.1.1 - Các dạng địa hình xâm thực - bóc mòn, tích tụ
Các dạng địa hình bóc mòn
Địa hình bóc mòn kiến trúc: gồm các sườn núi thành tạo trên các khối xâm nhập
như sườn các khối núi Bà Đen, núi Bà Rá… Bề mặt các sườn có độ dốc trung bình 15o
÷ 40o, các quá trình phong hóa, bóc mòn - xâm thực và đổ lở xảy ra mạnh mẽ
Địa hình thành tạo do bóc mòn chung: bao gồm các bề mặt san bằng trên đỉnh
các đồi núi sót, các bề mặt sườn xâm thực rửa trôi, xâm thực - bóc mòn, bóc mòn tổng hợp, đổ lở ở núi Ông (Tây Ninh) và dọc theo các thung lũng sông Bé, sông Sài Gòn
và sông Vàm Cỏ Đông
Các dạng địa hình xâm thực và xâm thực - tích tụ
Do dòng chảy tạm thời bao gồm các dạng sau:
+ Đồng bằng xâm thực tích tụ trước và giữa núi: tạo thành dải bao quanh và nối
liền giữa các núi Bề mặt dải đồng bằng hơi nghiêng từ chân núi ra xung quanh và có
độ cao tuyệt đối 5 ÷ 15m, độ dốc trung bình 2o ÷ 5o Tuổi giả định là Pleistocen - Holocen (Q1 - Q2)
Trang 19+ Bề mặt các nón phóng vật, vạt gấu sườn tích: phân bố xung quanh các khối
núi sót lớn và tạo thành dải khá liên tục xung quanh các khối núi Bà Rá, núi Bà Đen, núi Ông Thành phần gồm cát, sạn đến dăm, tảng có kích thước lớn Tuổi giả định là Pleistocen - Holocen (Q1 - Q2)
Do dòng chảy thường xuyên
+ Bãi bồi thấp và bãi giữa lòng: phân bố ven bờ các sông suối lớn và những
cồn cát, cù lao giữa dòng mới thành tạo trong thời gian gần đây Độ cao tương đối của bãi bồi thấp 10 ÷ 15cm đến 2m Thành phần là sét, bột, cát đôi chỗ lẫn sạn sỏi
+ Bãi bồi cao và đê thiên nhiên: phân bố ở phần hạ lưu các thung lũng sông
Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông Bề mặt khá bằng phẳng, độ cao tương đối từ 2 ÷ 5m so với lòng sông, đặc biệt chạy dọc theo 2 bờ sông từ biên giới Việt Nam - Campuchia đến Châu Đốc (sông Hậu) và đến phía nam Hồng Ngự còn phát triển đê thiên nhiên có độ cao tuyết đối 6 ÷ 7m Thành phần chủ yếu là các vật liệu trầm tích hạt mịn
+ Thềm bậc I: phân bố dọc theo thung lũng sông Bé, sông Đồng Nai và khu vực
TPHCM Có bề mặt khá bằng phẳng, phân bố không liên tục, chủ yếu ở các khúc uốn sông và có độ cao tuyệt đối 5 ÷ 15m
+ Thềm bậc II: phân bố ở miền Đông Nam Bộ tạo thành dải kéo dài theo
phương tây bắc - đông nam từ biên giới Việt Nam - Campuchia qua khu vực Dầu Tiếng, Bến Cát, Tân Uyên đến phía nam Long Thành, Mỹ Xuân Bậc thềm có độ cao tuyệt đối 20 ÷ 40m và bề mặt thềm hơi nghiêng từ phía tây bắc xuống đông nam với
độ dốc chung từ 2o ÷ 3o Thềm được thành tạo do những dòng sông cổ trước đây và
chúng có nguồn gốc chủ yếu là tích tụ, đôi chỗ xâm thực - tích tụ
+ Thềm bậc III: phân bố từ phía nam Chơn Thành qua Tân Uyên, Hố Nai đến
phía nam sông Lá Buông Bậc thềm gồm nhiều đồi có độ cao tuyệt đối 40 ÷ 80m, độ dốc sườn 3o ÷ 5o Bề mặt thềm có các quá trình bóc mòn, rửa trôi phát triển mạnh mẽ
VII.1.2 - Các dạng địa hình mài mòn - tích tụ
Bãi doi ngầm ven bờ: Các bãi doi ngầm ven biển có bề mặt khá bằng phẳng,
thành phần chủ yếu là cát có độ mài tròn và chọn lọc tốt
Bãi biển tích tụ đôi nơi có rừng cây nước mặn: Phân bố thành đoạn không liên
tục, đáng kể nhất là các đoạn bờ biển từ Vũng Tàu đến Duyên Hải
Bãi biển mài mòn: Phân bố tập trung ở ven biển tỉnh TP Vũng Tàu (khu vực
xung quanh núi Lớn, núi Nhỏ) và Long Hải Các bãi biển nằm sâu tới 2m dưới mực thủy triều cao nhất
Dải tích tụ ven bờ (giồng cát): Phân bố ở khu vực bờ biển Duyên Hải (thành
phố Hồ Chí Minh) đến Vũng Tàu Các giồng có dạng kéo dài hình vòng cung theo hướng đông bắc - tây nam, rất ít giồng phát triển theo hướng kinh tuyến hoặc vĩ tuyến
Dải tích tụ ven bờ: Có tên địa phương là “Giồng” cát Các giồng cát cổ và hiện
đại phân bố dọc theo bờ biển Duyên Hải (thành phố Hồ Chí Minh) Các giồng cát có hình vòng cung chủ yếu theo hướng đông bắc - tây nam với thành phần chủ yếu là cát màu vàng, nâu vàng Tuổi Holocen giữa - muộn (Q22 - 3)
Trang 20Thềm bậc I - tích tụ: Thềm có độ cao tuyệt đối 2 ÷ 4m, phân bố dọc bờ biển Long Hải và TX Vũng Tàu Thành phần chủ yếu là cát, sạn, ít bột, sét Tuổi của bậc thềm Holocen sớm - giữa (Q22 -3)
VII.1.3 - Các dạng địa hình nguồn gốc hỗn hợp
Do hỗn hợp sông - biển: Hầu hết diện tích đồng bằng miền Tây Nam sông
Vàm Cỏ Tây với độ cao tuyệt đối 2 ÷ 4m, riêng phần biên giới Việt Nam - Campuchia (phía bắc Long An) có độ cao tuyệt đối 5 ÷ 7m Bề mặt đồng bằng khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía biển với góc dốc chung nhỏ hơn 1o Trên bề mặt phát triển nhiều kênh rạch, thành phần chủ yếu là sét bột, đôi chỗ lẫn cát, bề dày trung bình 2 ÷ 4m
Do đầm lầy và hỗn hợp nhiều nguồn gốc
- Đồng bằng trũng đầm lầy - biển: phân bố ở vùng ven biển từ Duyên Hải
(thành phố Hồ Chí Minh) đến Long Hải Độ cao tuyệt đối 0 ÷ 2m, trong nội địa 2 ÷
3m Thành phần gồm sét bột màu xám tối
- Trũng tích tụ đầm lầy ven sông lớn: phân bố ở các thung lũng sông Đồng Nai,
sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông Chúng có dạng kéo dài theo hướng dòng chảy
- Trũng đầm lầy trên đồng bằng: chúng phân bố rải rác trên đồng bằng miền hạ
lưu các hệ thống sông suối trong vùng với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau Phần lớn có dạng hình cánh cung theo hướng phát triển của các đới giồng cát Thành phần gồm bột sét chứa xác thực vật, bột lẫn cát
- Bồn trũng tích tụ trên vùng chia nước: chúng phân bố rải rác trên các dải đồi,
các bề mặt san bằng, những vùng chia nước của các sông suối thuộc hệ thống sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông Các bồn trũng có dạng đẳng thước kéo dài theo phương đông bắc - tây nam như trũng ở thượng nguồn sông Nuy, thượng nguồn suối Dóc (Bình Phước), trũng ở phía đông bắc núi Bà Đen Tuổi của các trũng có tuổi Holocen muộn (Q23)
VII.1.4 - Đồng bằng tích tụ sinh vật (than bùn)
Phân bố ở khu vực rừng Đồng Tháp Mười (giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây) Bề mặt địa hình hơi trũng, độ cao tuyệt đối khoảng <2m Thành phần chủ yếu là than bùn, có bề dày 1 ÷ 3m Tuổi thành tạo là Holocen muộn (Q23)
VII.1.5 - Dải cát ven viển với các dạng cồn cát
Phân bố tập trung ở ven biển ở Vũng Tàu đến Long Hải, tạo thành dải song song với bờ biển, sườn phía đón gió có độ dốc 20o ÷ 30o, ở phía khuất gió có góc dốc
10o ÷ 15o Thành phần chủ yếu là cát mịn có tuổi là Holocen muộn (Q23)
VII.2 - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG
Tham gia vào cấu trúc địa chất của vùng bao gồm các thành tạo trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuổi từ Pecmi đến Đệ tứ Chúng được thành tạo trong nhiều giai đoạn có bối cảnh kiến tạo địa động lực khác nhau
VII.2.1 - Các hệ tầng Paleozoi
Hệ Permi, thống thượng, Hệ tầng Tà Nốt (P 3 tn): Hệ tầng Tà Nốt do Nguyễn
Xuân Bao và nnk xác lập (1994) trong công trình hiệu đính loạt bản đồ địa khoáng sản tỷ lệ 1:200.000, trên cơ sở tách riêng phần trầm tích lục nguyên ở dưới của
chất-hệ tầng Tà Thiết do Bùi Phú Mỹ mô tả năm 1986 Các trầm tích chất-hệ tầng Tà Nốt không
lộ mà chỉ gặp trong các lỗ khoan Ranh giới dưới của hệ tầng Tà Nốt chưa quan sát
Trang 21được, bên trên chuyển tiếp lên đá vôi của hệ tầng Tà Vát Chiều dày thấy được của hệ tầng trên 30m, theo tài liệu của nhóm tờ Lộc Ninh) bề dày có thể tới trên 150m
Hệ Permi, thống thượng, Hệ tầng Tà Vát (P 3 tv): Hệ tầng được Ma Công Cọ
xác lập (2000) Đây chính là hệ tầng Tà Thiết do Nguyễn Xuân Bao xác lập (1979) Các đá của hệ tầng chỉ gặp trong lỗ khoan, phần trên mặt bị trầm tích Neogen phủ Tập hợp hóa thạch trong lỗ khoan khá phong phú Mẫu huệ biển do Đặng Trần Huyên xác
định: Cyclocyclus sp (aff C disparies J Dubatetshao), tuổi Permi Tập hợp mẫu Brachiopoda do Nguyễn Hữu Hùng xác định gồm: Chaoiella sp, Hustedia sp,
Uncinulus sp, Linoprodutus sp, Marginifera sp, tuổi Permi muộn Bề dày trầm tích
theo mặt cắt liên hệ khoảng trên 100m Như vậy theo mặt cắt giữa hai lỗ khoan chiều dày chung hai tập đến 200m
VII.2.2 - Các hệ tầng Mezozoi
Thống hạ, hệ tầng Sông Sài Gòn (T 1 ssg): Hệ tầng Sông Sài Gòn do Bùi Phú
Mỹ xác lập (1979) Các trầm tích của hệ tầng có diện lộ yếu, chừng 5km2, nằm ở phía Tây Bắc đứt gãy Suối Trầu Các thành tạo của hệ tầng lộ không liên tục theo công trình khai đào Ở đây vẫn thấy cát kết màu xám xen với đá phiến sét, chiều dày khoảng 200mét Dưới kính hiển vi các đá được mô tả là phiến sét-sericit-chlorit-thạch anh có kiến trúc sét bột biến dư, cấu tạo phiến và cát kết ít khoáng có kiến trúc cát hạt không đều, gắn kết kiểu xi măng lấp đầy, cấu tạo khối
Hệ tầng Châu Thới (T 2 ct): Hệ tầng Châu Thới do Bùi Phú Mỹ, Vũ Khúc xác
lập (1979) Thành phần thạch học theo các mặt cắt khá giống thứ tự trầm tích của mặt cắt chuẩn của hệ tầng, được bắt đầu bằng các tập cuội kết chuyển lên cát kết arkos, sét kết, phiến sét vôi xen thấu kính cuội kết Đá có đường phương đông bắc -tây nam với góc cắm 40 ÷ 45o Trong tập 3 của hệ tầng chứa phong phú hoá thạch được Vũ Khúc xác định tuổi Trias giữa Ranh giới trên của hệ tầng Châu Thới bị phủ bất chỉnh hợp bởi cuội kết cơ sở của hệ tầng Đăk Bùng Theo những tài liệu trên việc xếp tuổi cho phân vị vào Trias giữa là có cơ sở và hợp lý Chiều dày của toàn hệ tầng 600 ÷ 650m
Hệ Jura, thống hạ - trung (J 1-2 ): Trầm tích Jura hạ - trung trên chỉ phân bố tập
trung dọc thung lũng sông Bé và khu phía nam Phú Riềng Thành phần trầm tích bao gồm: cuội kết, cát kết, cát bột kết, đá phiến sét chứa thân cây silic, dày 500 ÷ 1200m Các trầm tích này trước đây được xếp vào các hệ tầng:
¾ Hệ tầng Đăk Bùng : Hệ tầng này do Nguyễn Xuân Bao và nnk xác lập (1994) Các trầm tích hệ tầng Đăk Bùng phân bố theo dải hẹp phương đông bắc - tây nam với diện lộ chừng 2km2 thuộc tờ bản đồ An Lộc
¾ Hệ tầng Đăk Krông : Hệ tầng này do Vũ Khúc, Nguyễn Vĩnh, Đỗ Công
Dự xác lập (1994) Các trầm tích xếp vào hệ tầng Đăk Krông phân bố rộng trên vùng nghiên cứu từ Đồng Xoài qua Bình Long, diện lộ chừng 110km2 nhưng phần lớn bị phong hoá theo bề mặt Qua các công trình khai đào và khoan còn thấy khối lượng lớn dưới lớp phủ Kainozoi
¾ Hệ tầng Mã Đà: Hệ tầng này do Vũ Khúc, Nguyễn Đức Thắng xác lập (1996) Trên diện tích nghiên cứu các trầm tích thuộc hệ tầng Mã Đà phân bố ở phía đông đứt gãy Suối Rat-Đồng In và có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Đăk Krông theo đứt gãy này Diện tích lộ của trầm tích khoảng 270km2 nhưng phần lớn bị phong hoá mạnh, một phần bị phủ bất chỉnh hợp dưới bazan hệ tầng Đại Nga (B/N13đn), đá gốc
Trang 22Hệ Jura, thống thượng - Hệ Creta (J 3 -K): Hệ tầng Long Bình do Bùi Phú Mỹ,
Dương Văn Cầu xác lập (1991) trên cơ sở nghiên cứu mặt cắt lỗ khoan 818 xã Long Bình, huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Thành phần của hệ tầng gồm các đá phun trào trung tính - felsic và tuf của chúng cùng với những lớp xen hoặc thấu kính trầm tích Lộ ra không nhiều ở phía đông và đông bắc ĐBNB: núi Gió (Bình Long), núi Bà Rá (Bình Phước), núi Bà Đen (Tây Ninh), ngoài ra còn gặp ở đáy các lỗ khoan khu vực TPHCM và lân cận Thành phần bao gồm: ryolit, trachyryolit, andezit dacit,
và tuf của chúng bề dày 200m
VII.3 - Các hệ tầng Kainozoi
VII.3.1 - Thống Miocen (N 1 )
Thống Miocen - phụ thống thượng (N 1 3 ): Trầm tích N13 phân bố từ Tây Ninh qua Trảng Bàng đến Bình Trưng và mở rộng về phía Tây Nam bộ (TNB) và chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu Chiều sâu phân bố thay đổi từ 123,8m (lỗ khoan 23III- NB, TT.Trảng Bàng) đến 150m (lỗ khoan 325A - Tân Trụ) Thường phủ bất chỉnh hợp trên
đá gốc (có tuổi trước N12) và bị các trầm tích tuổi Pliocen sớm (N21) phủ bất chỉnh hợp lên trên Theo dõi sự thay đổi thành phần trầm tích theo mặt cắt và trong các lỗ khoan sâu cho thấy các trầm tích N13 sắp xếp thành một chu kỳ hoàn chỉnh: bắt đầu từ các trầm tích hạt thô đến mịn và phần trên cùng gặp bề mặt phong hóa laterit Các trầm tích Miocen thượng (N13) gồm 3 kiểu nguồn gốc: Trầm tích sông (aN13), trầm tích hỗn hợp sông - biển (amN13) và trầm tích biển (mN13)
Thành tạo phun trào bazan Miocen thượng (BN 1 3 ): Phun trào bazan Miocen
thượng (BN13) chỉ phân bố ở vùng Phước Long và Đồng Xoài Lộ ra dưới dạng các dải đồi với độ cao 100 ÷ 200m, tập trung ở rìa phía đông bắc (khu vực phía bắc Thác Mơ, bắc và nam Phú Riềng) Độ sâu phân bố thay đổi từ 56,5m đến 106,5m (lỗ khoan LN2
- Phước Bình) Trước đây các thành tạo β/N13 được xếp vào hệ tầng Đại Nga (β/N13đn
- Ma Công Cọ, 2001) Thành tạo bazan β/N13 bao gồm các đá bazan pyroxen, bazan dolerit, màu xám, xám đen có cấu tạo lỗ hổng, đặc sít Phần trên bị phong hoá tạo thành tầng sét bột dày 3-4m đến >20m Bề dày 20 ÷ 50m Các thành tạo (β/N13) bị các
thành tạo (Bn22-3) phủ trực tiếp lên và chúng phủ bất chỉnh hợp trên các đá phun trào Jura thượng - Creta (J3-K1) và các đá trầm tích Jura hạ - trung (J1-2) Tuổi tuyệt đối của thành tạo bazan này đạt 8,6 triệu năm và bề dày tổng cộng tại mặt cắt này là 50m
VII.3.2 - Thống Pliocen
Thống Pliocen - phụ thống hạ (N 2 1 ): Phân bố từ Tây Ninh đến nam Bình
Dương, Thủ Đức, Cần Giờ và mở rộng về phía TNB Bao gồm 3 kiểu nguồn gốc: Trầm tích sông (aN21), trầm tích hỗn hợp sông biển (amN21) và trầm tích biển (mN21)
Trang 23Thống Pliocen - phụ thống trung (N 2 2 ): Các trầm tích Pliocen trung (N22) lộ ra
từ khu vực Tây Nam Lộc Ninh, Minh Hưng, Phước Vĩnh (bên trái đứt gãy Chơn Thành - Phú Giáo), Biên Hòa, Tân Thành… sau đó chìm dần về phía TNB và từ Tây Ninh, Thủ Dầu Một trở về TNB chỉ gặp trong các lỗ khoan Nhìn chung, trầm tích Pliocen thượng ở miền Đông Nam Bộ mỏng hơn miền Tây Nam Bộ và bao gồm 3 kiểu nguồn gốc sau: Trầm tích sông (aN22), trầm tích hỗn hợp sông - biển (amN22) và trầm tích biển (mN22)
Thống Pliocen - phụ thống trung - thượng (N 2 2-3 ): Thành tạo phun trào bazan
Pliocen trung - thượng (B/N22-3ln) phân bố rộng rãi và liên tục ở khu vực Lộc Ninh, An
Lộc và phía tây núi Bà Rá, Đồng Xoài với tổng diện tích xấp xỉ 14.200Km2 Độ cao phân bố từ 70 ÷ 80m (phía nam Bình Long) đến 222m (Lộc Ninh) Bề dày chung của các thành tạo BN22-3 từ 60 ÷ 100m Tuổi tuyệt đối của các đá bazan này đạt 2,95 ± 0,23 đến 3,57 ± 0,45 triệu năm
Hệ tầng Xuân Lộc (B/Q12xl): Phân bố khá rộng, từ phía Đông của huyện Thống
Nhất tới phía Đông xã Gia Kiệm và vùng Đông Bắc thị trấn Xuân Lộc Tiếp tục từ thị trấn Xuân Lộc về đến phía Nam và Đông Nam tới sông Ray tiếp sang Bà Rịa - Vũng Tàu Đá bazan Xuân Lộc cấu tạo nên bề mặt địa hình khá bằng ứng với độ cao tuyệt đối thường gặp từ 100 ÷ 130m Chiều dày toàn tầng bazan Xuân Lộc tại vùng Xuân Lộc từ 49,5m (LK763) đến 105m (LK745) Lớp bazan phong hóa ở trên cùng dày hơn 1m đến 4 ÷ 5m (LK736) gồm đất đỏ (bột, sét) ít mảnh đá bazan Trong địa tầng bazan thường có các gián đoạn được đánh dấu bằng bazan phong hóa mềm bở, phong hóa hoàn toàn tạo tầng bột, sét có lẫn các cục đá bazan mềm
Bazan Xuân Lộc có nhiều lớp bazan đặc sít xen kẽ bazan lỗ rỗng (trên, dưới 10 lớp) Mức độ nứt nẻ trong bazan không đồng đều, không có quy luật Bazan Xuân Lộc phủ trực tiếp lên các thành tạo có tuổi cổ hơn: Neogen, Q11tb, J2, K , trên các bazan
hệ tầng Túc Trưng (N2-Q1tt)
Thống Pleistocen, phụ thống trung - thượng (Q 1 2-3 )
Các trầm tích Pleistocen trung - thượng bao gồm 3 kiểu nguồn gốc: trầm tích sông (a), trầm tích hỗn hợp sông-biển (am) và trầm tích biển (m)
Thống Pleistocen, phụ thống thượng (Q 1 3 )
Trên các mặt cắt, các trầm tích Pleistocen thượng sắp xếp thành 1 chu kỳ trầm tích và gồm 3 kiểu nguồn gốc: trầm tích sông (a), trầm tích hỗn hợp sông - biển (am)
và trầm tích biển (m)
Thành tạo phun trào bazan Pleistocen thượng (B/Q 1 3 ): Thành tạo phun trào
bazan Pleistocen thượng B/Q13xl chỉ phân bố thành 1 dải hẹp kéo dài từ phía tây xóm
Bà Miêu (ấp Phước Tân) dọc theo sông Lá Buông đến phía bắc lỗ khoan LK622 Diện tích gần 875km2 Thành tạo phun trào BQ13 gồm bazan olivin kiềm bazan, andezitobazan dạng đặc sít xen lỗ hổng, bề dày thay đổi từ 5 ÷ 25m Về tuổi của thành
Trang 24tạo BQ13xl: phần bên dưới, bị phủ bởi tầng cuội sỏi lẫn thân cây hoá than với giá trị
tuổi tuyệt đối C14 là 35.900 ± 2800 năm Phía trên có các trầm tích cát, bột, sét chứa mùn thực vật có tuổi tuyệt đối C14 là 4500 ± 800 năm phủ lên
Thống Holocen (Q 2 )
Trầm tích Holocen phân bố rất rộng rãi trên đồng bằng Nam Bộ Riêng miền ĐNB, trầm tích Holocen ít phát triển và chỉ gặp trong các thung lũng sông suối Trong các lỗ khoan, trầm tích Q2 thường gặp từ trên mặt đến độ sâu 5,0 ÷ 45,0m Bề mặt đấy trầm tích không bằng phẳng mà là sự tiếp nối giữa các lồi và lõm như lồi Mộc Hoá - Thủ Dầu Một và Tân Thạnh Bề dày các trầm tích Q2 không đồng đều do sự thay đổi mực nước đại dương, chuyển động tân kiến tạo, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích Nhìn chung, phần lớn diện tích có bề dày trầm tích Q2 dao động từ 5,0 ÷ 20,0m
Các trầm tích Holocen trên diện tích đồng bằng Nam Bộ được chia thành 3 khoảng tuổi: Holocen sớm-giữa (Q21-2), Holocen giữa - muộn (Q22-3) và Holocen muộn (Q23) với 9 kiểu nguồn gốc khác nhau
VII.3.4 - Đặc điểm magma xâm nhập
Trước đây, các đá xâm nhập tuổi Jura muộn - Creta (J3 - K) trên Bản đồ Địa chất - Khoáng sản đồng bằng Nam bộ, tỷ lệ 1/200.000 và 1/50.000 được xếp vào các phức hệ: Tây Ninh, Bà Rá, Định Quán, Đèo Cả, Cà Ná Trong báo cáo này sẽ được gộp thành:
+ Các đá gabro, gabropyroxenit, pyroxenit (thuộc phức hệ Tây Ninh cũ) chỉ gặp trong lỗ khoan đồi 95 (Tây Ninh) ở độ sâu từ 29,1m đến 500m Đá có màu xám đen tới đen, kiến trúc hạt nhỏ tới vừa Quan hệ với các đá vây quanh không quan sát được
+ Các đá granit, granit biotit, granosyenit biotit, diorit, mozodiorit (thuộc phức
hệ Bà Rá, Định Quán, Đèo Cả, Cà Ná cũ) Chúng lộ ra ở các khối núi sót, rải rác trong vùng nghiên cứu
VII.4 - Kiến tạo
ĐBNB chủ yếu thuộc miền võng Kainozoi muộn có bề dày trầm tích lớn (1.000m) Miền võng này phát sinh và phát triển trên vùng sụt lắng đọng trầm tích kiểu Rift tuổi Eocen-Oligocen (E2-3) và các thành tạo trầm tích, phun trào, xâm nhập rìa lục địa tích cực kiểu Đông Á cổ tuổi Jura muộn - Creta (J3-K), trầm tích lục nguyên-cacbonat của bồn sau va mảng Jura sớm-giữa (J1-2), phun trào và xâm nhập kiểu biến cải Trias giữa-muộn (T2-3), trầm tích lục nguyên-cacbonat kiểu bồn giữa cung Permi-Trias sớm (P- T1) và rìa lục địa thụ động Đêvon-Cacbon sớm (D- C1)
Tất cả các đá có tuổi từ Đêvon đến Creta được các nhà địa chất dầu khí, ĐCTV gọi là móng của bồn trũng Kainozoi Các thành tạo Eocen - Đệ tứ là lớp phủ, được chia ra 2 tổ hợp thạch kiến tạo: Rift Eocen-Oligocen (E2-3) và thềm của rìa lục địa thụ động Miocen giữa-Đệ tứ (N12-Q)
Đối với các thành tạo trước Kainozoi (trước Kz), Nguyễn Xuân Bao, Phạm Huy Long (2000) chia ra 5 THTKT đặc trưng cho 5 giai đoạn có chế độ địa động lực đã tồn tại ở vùng như sau:
- THTKT rìa lục địa thụ động Đêvon-Cacbon sớm (D- C1)
- THTKT bồn giữa cung Permi-Trias sớm (P- T1)
- THTKT biến cải nhiệt sau va mảng Trias giữa -muộn (T2-3)
Trang 25- THTKT bồn sau va mảng Jura sớm-giữa (J1-2)
- THTKT rìa lục địa tích cực kiểu Đông Á cổ tuổi Jura muộn - Creta (J3-K) Các đứt gãy trong vùng nghiên cứu khá phát triển Trên Bản đồ Địa chất - Khoáng Sản 1/500.000 thể hiện 12 đứt gãy chính Chúng phát sinh và phát triển trước
Kz hiện còn 11 đứt gãy tái hoạt động mạnh mẽ trong N - Q Trên các bản đồ bề mặt đáy các thể địa chất cũng như trên mặt cắt thể hiện 11 đứt gãy
Tóm lại, ĐBNB đã trải qua 7 giai đoạn với chế độ địa động lực khác nhau
VII.5 - Các hoạt động đứt gãy
Các đứt gãy ở ĐBNB phát triển trong nhiều giai đoạn kiến tạo Mỗi một đứt gãy chính được mô tả đều phát sinh và phát triển trước Kainozoi, trong Kainozoi sớm
và tái hoạt động trong Kainozoi muộn (N12 - Q) Dựa vào phương sẽ chia các hệ thống đứt gãy ở ĐBNB làm 4 nhóm: nhóm phương tây bắc - đông nam, đông bắc - tây nam, kinh tuyến và vĩ tuyến Để đánh giá được ảnh hưởng của đứt gãy với sự phân bố tướng, bề dày trầm tích N12 - Q, sự cắt dịch các bề mặt đáy các thể địa chất N12 - N2,
Q1, Q2 báo cáo này sẽ phân chia và mô tả đứt gãy theo 3 nhóm tuổi sau: Đứt gãy hoạt động trước Pleistocen, đứt gãy hoạt động trước Holocen và đứt gãy hoạt động trong Holocen
Đứt gãy hoạt động trước Pleistocen: Các đứt gãy hoạt động trước Pleistocen
được đề cập dưới đây là các đứt gãy cắt qua các thể địa chất N12 - N2 và bị phủ bởi các trầm tích Đệ Tứ Đó là 2 đứt gãy phát sinh và phát triển trước Kainozoi nhưng đã tái hoạt động lại vào N12 - N2 và không thấy biểu hiện hoạt động trong Đệ Tứ
Đứt gãy Vĩnh Hưng - Cai Lậy
Đứt gãy Vĩnh Hưng - Cai Lậy kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam từ Vĩnh Hưng qua tây nam Tân Thạnh đến Cai Lậy với độ sâu ảnh hưởng có thể đạt 25 ÷ 30km, cắm về phía đông bắc với góc dốc khoảng 75 ÷ 85o
Phân tích bề dày, tướng đá ở hai cánh đứt gãy cho thấy: đứt gãy hoạt động sau
N2 trước Q1, cánh đông bắc sụt xuống gần 20 ÷ 30m kèm theo dịch bằng trái, vì thế bề dày hai bên cánh không thay đổi song tướng đá thay đổi đột ngột
Đứt gãy Tân An
Đứt gãy Tân An kéo dài gần 100km theo hướng tây bắc - đông nam 290o (từ Tân Thạnh qua Thuỷ Đông, Tân An, Cần Đước đến ngã ba giao nhau giữa sông Nhà
Bè và Sông Vàm Cỏ) với độ sâu ảnh hưởng có thể đạt đến 25 ÷ 35km, mặt trượt cắm
về nam - tây nam với góc dốc 75 ÷ 85o Chưa thấy có biểu hiện hoạt động động đất dọc theo đứt gãy này
Xem xét tướng đá và bề dày của các thành tạo N12 - Q cho thấy: đứt gãy hoạt động sau N12 trước Q1 Sự thay đổi qua đứt gãy hầu như không biểu hiện nhưng bề mặt đáy của các tầng đều bị sụt xuống 10 ÷ 15m ở cánh tây nam Đều này cho thấy rằng đây là một đứt gãy hoạt động sau trầm tích với tính chất thuận bằng trong đó bằng là chủ yếu
Đứt gãy hoạt động trước Holocen: Gồm 2 đứt gãy chính hoạt động mạnh
trong Pleistocen có quy mô khu vực sau: đứt gãy đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một và đứt gãy Rạch Giá - Tây Ninh Các đứt gãy này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành các đới cấu trúc tuổi Pleistocen
Trang 26Đứt gãy Rạch Giá - Tây Ninh
Kéo dài trên 220km theo hướng đông bắc - tây nam từ Tây Ninh qua Chợ Vàm, Châu Phú, Thoại Sơn đến Rạch Giá Về phía đông bắc đứt gãy còn kéo dài đến 250km đến tận Đak Mil với độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy đạt tới 30 ÷ 40km, có mặt trượt cắm về phía đông nam với góc dốc 80 ÷ 85o Không quan sát được hoạt động động đất dọc theo đứt gãy Rạch Giá - Tây Ninh Đứt gãy này có tính chất thuận trong Kainozoi sớm, nghịch trong Mesozoi muộn
Đứt gãy này hoạt động mạnh vào cuối Pleistocen với tính chất thuận bằng phải Cánh tây bắc dịch chuyển mạnh về đông bắc, cự ly dịch chuyển đứng gần 40 ÷ 60m và
cự ly dịch chuyển ngang đạt tới 40 ÷ 50km
Đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một
Đới đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một có bề rộng 20km, kéo dài 360km theo hướng kinh tuyến từ đông Krachê qua Lộc Ninh, Thủ Dầu Một đến đông Côn Đảo với đứt gãy chính nằm dọc theo tuyến Lộc Ninh - Bình Long - Thủ Dầu Một Độ sâu ảnh hưởng của đới đứt gãy đạt tới 60km Mặt trượt cắm về phía đông với góc dốc 70o
Đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một (F10) kéo dài gần 200km theo hướng kinh tuyến từ Lộc Ninh qua Bình Long, Minh Hưng, Thủ Dầu Một, Nhà Bè đến Cửa Đại Đứt gãy hoạt động mạnh vào cuối Q1, mặt đứt gãy đổ về phía tây với góc dốc khoảng
85o và bị các đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông, Sông Sài Gòn, Chơn Thành - Phú Giáo dịch dần về phía tây bắc với cự ly khá lớn 20 ÷ 30km Đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một không đóng vai trò phân vùng cấu trúc lớn song lại làm phức tạp hoá cấu trúc của lồi, lõm của các bề mặt đáy N12 - N2, và Q1
Đứt gãy hoạt động trong Holocen: Thuộc nhóm đứt gãy này gồm 4 đứt gãy
chính và hoạt động mạnh vào Kainozoi sớm với tính chất bằng phải, ngưng nghỉ vào
N12 - N2 và tái hoạt động trở lại vào Đệ Tứ Lúc đó, cánh đông bắc của đứt gãy Sông Hậu và cánh tây nam đới đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông - Sông Sài Gòn sụt xuống và làm cho kiến trúc vùng vào Đệ Tứ có dạng một địa hào kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam
Đới đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông - sông Sài Gòn: Đới đứt gãy sông Vàm Cỏ
Đông - sông Sài Gòn đóng vai trò phân đới kiến trúc giữa đới Đà Lạt và đới Cần Thơ tạo nên một đới trung gian Tây Ninh - Biên Hoà Có chiều rộng gần 25km, kéo dài 200km theo hướng tây bắc - đông nam Đới đứt gãy này gồm 2 đứt gãy chính: đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông, đứt gãy sông Sài Gòn đã tạo nên địa hình dạng bậc thấp dần hiện nay theo hướng từ đông bắc về phía tây nam Thực chất đới đứt gãy này là đứt gãy phân nhánh sinh kèm cùng đứt gãy Sông Hậu, hoạt động mạnh vào Kainozoi muộn
Bề dày, tướng đá các thành tạo trầm tích Kainozoi muộn thường thay đổi đột ngột qua các đứt gãy theo hướng đông bắc - tây nam Các hệ tầng trầm tích cùng tuổi ở cánh đông bắc thường có tướng sông, đầm hồ và ngược lại ở cánh tây nam lại là tướng biển
¾ Đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông biểu hiện rõ nét trên bản đồ dị thường trọng lực Bouguer như là ranh giới phân chia cấu trúc dị thường trọng lực tại các đoạn: Đoạn Châu Thành - Bến Cầu có cấu trúc dương Tây Ninh nằm ở phía đông bắc đứt gãy và cấu trúc âm Tây Châu Thành nằm ở phía tây nam đứt gãy Đoạn Hiệp Hòa - Cần Đước với cấu trúc âm An Lạc ở cánh đông bắc đứt gãy và cấu trúc dương Tân An
ở cánh tây nam đứt gãy Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông đạt tới 30
Trang 27÷ 35km (nội vỏ trái đất) Mặt trượt đứt gãy cắm về phía tây nam với góc dốc 70 ÷ 750
và chưa có biểu hiện động đất hoạt động
Phân tích tướng đá, bề dày trầm tích N12 - Q cho thấy đứt gãy hoạt động mạnh vào Đệ Tứ với tính chất thuận bằng trái Trong N12- N2 đứt gãy hoạt động yếu hoặc không hoạt động Đứt gãy này kế thừa đứt gãy thuận bằng phải hoạt động trong Kainozoi sớm
¾ Đứt gãy Sông Sài Gòn: cũng có biểu hiện rõ nét trên bản đồ dị thường trọng lực Bouguer và dị thường từ ∆Ta Phía đông bắc đứt gãy là đới dị thường âm Bouguer Chơn Thành - Mỹ Phước, còn ở tây nam đứt gãy là đới nâng dương tương đối Dương Minh Châu - Hóc Môn Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy khoảng 20km Mặt đứt gãy cắm về phía tây nam với góc dốc 40 ÷ 50o Các đá xâm nhập, phun trào lộ ra ở núi
Bà Đen, Châu Thới, Vũng Tàu bị nứt nẻ mạnh theo phương tây bắc - đông nam, song góc dốc mặt trượt thường lớn (60 ÷ 80o) và cũng đổ về phía tây nam
Đứt gãy Chơn Thành - Phú Giáo: Đứt gãy Chơn Thành - Phú Giáo kéo dài
gần 150km theo hướng tây bắc - đông nam từ biên giới Việt Nam - Campuchia qua Bầu Tràm, Minh Long, tây nam Chơn Thành, Phú Giáo đến Hố Nai Trong Kainozoi muộn, đứt gãy đóng vai trò phân vùng cấu trúc lớn giữa vùng sụt yếu rìa thềm Cần Thơ và vùng nâng khối tảng kèm phun trào bazan Đà Lạt Địa hình ở hai bên cánh đứt gãy có độ cao chênh lệch lớn (60 ÷ 150m) Phân tích bề dày tướng đá hai bên cánh đứt gãy cho thấy đứt gãy hoạt động mạnh vào thời kỳ N13- Q
VIII - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN
VIII.1 - Các tầng chứa nước
VIII.1.1 - Các tầng chứa nước khe nứt
Tầng chứa nước khe nứt trong đá bazan tuổi Pleistocen trên (Bqp 3 )
Tầng chứa khe nứt trong đá bazan tuổi Pleistocen trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước khe nứt Bqp3) bao gồm các đá bazan hệ tầng Phước Tân, Sóc Lu và Cây Gáo (thuộc phạm vi tỉnh Đồng Nai) Phần trên cùng là bazan phong hóa triệt để thành bột sét, không có khả năng chứa nước, dày từ 1,0m đến 35,0m (trung bình 9,76m) Phần dưới là đá bazan phong hoá dở dang, màu xám đen cấu tạo đặc sít xen ít lỗ hổng,
đá nứt nẻ, chứa nước tốt, chiều dày từ 8,00m đến 84,70m (trung bình 32,30m)
Tầng chứa nước khe nứt Bqp3 thường phủ trực tiếp trên thành tạo không chứa nước N22 (ở khu vực Phước Tân, Bình Sơn), tầng chứa nước khe nứt ms (ở Giang Điền, Định Quán, Tân Phú) hoặc thành tạo không chứa nước Q11 hoặc tầng chứa nước khe nứt Bn22-3
Mức độ giàu nước của đá bazan phụ thuộc vào chiều dày và mức độ nứt nẻ Do chiều dày nhỏ, mức độ nứt nẻ ít, nên khả năng chứa nước của tầng chứa nước từ nghèo đến trung bình
Thuộc loại nước siêu nhạt đến nhạt với tổng độ khoáng hóa M = 0,04 ÷ 0,93g/l (trung bình: 0,27g/l) và chất lượng khá tốt Loại hình hoá học của nước nhạt chủ yếu là bicacbonat và một ít mẫu là chlorur, bicacbonat - chlorur hoặc chlorur - bicacbonat
Tùy theo từng khu vực có độ cao và hình dạng địa hình khác nhau mà mực nước cũng khác nhau Tại Phước Tân mực nước vào mùa khô khoảng 2,0 ÷ 5,0m, có
Trang 28chỗ sâu tới 6,0 ÷ 7,0m hoặc không có nước Tại Cây Gáo (Thống Nhất) ở đỉnh đồi mực nước khoảng 20,0 ÷ 22,0m, ở phần rìa mực nước khoảng 7,0 đến 10,0m
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan tuổi Pleistocen giữa (Bqp 2 )
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan tuổi Pleistocen giữa (sẽ được gọi tắt
là tầng chứa nước khe nứt Bqp2) bao gồm các đá bazan thuộc hệ tầng Xuân Lộc (B/Q12xl) Chỉ phân bố trong phạm vi tỉnh Đồng Nai Phân bố từ phía Đông của huyện
Thống Nhất qua phía đông xã Gia Kiệm và vùng đông bắc thị trấn Xuân Lộc và mở rộng về phía nam và đông nam tới sông Ray và BR-VT Tầng chứa nước khe nứt Bqp2thường phủ trực tiếp trên tầng chứa nước khe nứt ps - ms và các thành tạo rất nghèo nước N22bm hoặc Q 11đc
Tầng chứa nước khe nứt Bqp2 có mức độ chứa nước từ nghèo đến giàu nước
Có đặc điểm chứa nước không đồng nhất theo chiều sâu và theo diện tích, phụ thuộc vào đặc điểm nứt nẻ lỗ hổng của đá Đá nứt nẻ mạnh có nhiều lỗ hổng có khả năng chứa nước tốt (điện trở suất khoảng 20 ÷ 100Ωm), ngược lại đá đặc xít và không nứt
nẻ thì hầu như không chứa nước trở thành cách nước (điện trở suất thay đổi khá lớn từ
100 ÷ 244Ωm)
Tầng chứa nước thuộc loại không áp hoặc có áp lực cục bộ Mực nước tĩnh thay đổi từ 2,20m đến 29,45m Nước thường xuất lộ những nơi có địa hình thấp bị bào mòn phân cắt, lưu lượng các điểm lộ từ 0,25l/s đến 6,1l/s Lưu lượng các lỗ khoan từ 0,01l/s đến 22,20l/s Trong khi đó, các giếng đào có lưu lượng từ 0,05l/s đến 0,32l/s
Có 115 mẫu nước được lấy tại các lỗ khoan, phân bố chủ yếu ở Đồng Nai và phía đông Đồng Xoài Thuộc loại nước siêu nhạt đến nhạt với M = 0,02 ÷ 0,09g/l Loại hình hoá học của nước nhạt chủ yếu là bicacbonat và một ít mẫu là chlorur, bicacbonat - chlorur hoặc chlorur - bicacbonat
Mực nước dao động theo mùa, chu kỳ dao động mực nước và lưu lượng thường chậm hơn so với chu kỳ mưa khoảng 3 đến 4 tháng Tại tây bắc Định Quán, biên độ dao động trong năm từ 4,64m đến 6,39m, trong khi đó khu vực Đông Nam, biên độ dao động mực nước và lưu lượng giữa hai mùa trong năm biến động nhỏ hơn
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan tuổi Pliocen giữa - trên (Bn 2 2-3 )
Tầng chứa khe nứt trong các đá bazan tuổi Pliocen giữa - trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước khe nứt Bn22-3) bao gồm đất đá của hệ tầng Lộc Ninh (ở phía bắc của Bình Dương và Bình Phước) và hệ tầng Túc Trưng (ở phía bắc tỉnh Đồng Nai) Phân
bố rộng rãi và liên tục ở khu vực Lộc Ninh, Bình Long (An Lộc), phía tây núi Bà Rá, Đồng Xoài và phía đông hồ Trị An (từ xã La Ngà qua xã Túc Trưng đến Suối Nho) qua suối Tam Bung - Định Quán đến Xuân Lộc - các xã Xuân Đông, Xuân Tây, Sông Ray, Lâm San) Thành phần gồm bazan cấu tạo đặc sít xen bazan lỗ hổng màu xám đen, xám đen, xám nâu, cấu tạo đặc sít xen lỗ hổng Trên bề mặt bị phong hóa triệt để thành bột sét, sét màu nâu sẫm, nâu đỏ bị laterit mạnh, dày 10m Bề dày chung của tầng chứa nước khe nứt Bn22-3 từ 60 ÷ 100m Thường phủ trực tiếp trên tầng chứa nước khe nứt ps - ms hoặc thành tạo rất nghèo nước N22bm Tầng chứa nước Bn2 2-3 có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình:
Có 138 mẫu nước được lấy tại các lỗ khoan có tổng độ khoáng hóa M = 0,02 ÷ 1,06g/l (trung bình: 0,14g/l) và 45 mẫu tại các nguồn lộ có tổng độ khoáng hóa M = 0,02 ÷ 0,85, phân bố chủ yếu phía bắc Đồng Nai, Đồng Xoài và Bình Phước Loại hình
Trang 29hoá học của nước nhạt chủ yếu là bicacbonat, chlorur, bicacbonat - chlorur hoặc chlorur - bicacbonat và một ít mẫu là chlorur, chlorur - bicacbonat - sulfat hoặc bicacbonat - sulfat hoặc bicacbonat - sulfat - chlorur
Tầng chứa nước này có quan hệ thuỷ lực với các tầng chứa nước xung quanh nó nhưng ở mức độ yếu và với các sông suối cắt qua nó Về mùa mưa, tầng chứa nước được cung cấp bởi nước mưa và sông suối, về mùa khô tầng chứa nước lại cung cấp cho sông suối Miền thoát tại chỗ ra các sông suối và rìa phân bố dưới dạng các nguồn
lộ Có khả năng một số nơi thấm xuyên bổ cập cho các tầng nằm dưới
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan tuổi Miocen trên (Bn 1 3 )
Tầng chứa khe nứt trong các đá bazan tuổi Miocen trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước khe nứt Bn13) bao gồm đất đá bazan thuộc hệ tầng Đại Nga (β/N13đn) Phân
bố khu vực phía bắc từ Lộc Ninh qua Phước Long, Đồng Xoài, Tân Phú, Vĩnh Cửu đến Định Quán Lộ ra dưới dạng các dải đồi với độ cao 100 ÷ 200m ở khu vực phía bắc Thác Mơ, bắc và nam Phú Riềng và trên 200m ở Định Quán Thành phần thạch học chủ yếu: Phần trên cùng là các lớp phong hóa triệt để cát bột, sét lẫn sạn sỏi laterit với bề dày biến đổi từ 1,5m đến vài chục mét (trung bình khoảng >20m) và phần dưới bao gồm các đá bazan pyroxen, bazan dolerit, màu xám, xám đen có cấu tạo lỗ hổng, đặc sít Bề dày tổng cộng trong khoảng 20 ÷ 50m Tầng chứa nước này phủ trực tiếp lên trên và phủ trên các tầng chứa nước khe nứt ps - ms
Tầng chứa nước Bn13 có mức độ chứa nước nghèo Tài liệu múc nước thí nghiệm trong các giếng đào cho thấy: mực nước tĩnh dao động từ 0,45m đến 21,40m, lưu lượng 0,01 ÷ 0,50l/s, mực nước hạ thấp 0,10 ÷ 0,35m; các nguồn lộ cho lưu lượng 0,12 ÷ 1,23l/s
Chỉ có 11 mẫu nước được lấy tại các lỗ khoan, phân bố chủ yếu ở Đồng Xoài
và Phước Long Loại nước chủ yếu là siêu nhạt và đôi chỗ nhạt với tổng độ khoáng hóa trong khoảng 0,02 ÷ 0,30g/l (trung bình: 0,09g/l) với chất lượng khá tốt Loại hình hoá học của nước nhạt chủ yếu là bicacbonat và bicacbonat - chlorur
Tầng chứa nước khe nứt Bn13 là tầng chứa nước không áp hoặc có áp yếu ở một
số nơi, nguồn bổ cập chủ yếu là nước mưa và dòng mặt, miền thoát là các sông suối trong vùng Mực nước dao động theo mùa
Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên tuổi Paleozoi - Mezozoi (ps-ms)
Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên tuổi từ Pecmi đến Creta sớm Mezozoi (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước khe nứt ps - ms) bao gồm các đá thuộc các sau: hệ tầng Long Bình (J3-K1lb), Đăk Bùng (J1đb), Đăk Krông (J1đk), Mã
Đà (J1-2mđ) và Chiu Riu (J2cr), Tà Nốt (P3tn), Tà Vát (P2tv), Sông Sài Gòn (T1ssg) và
Châu Thới (T2ct) Diện phân bố rộng, lộ trên mặt với diện tích khá lớn ở Phước Long,
Đồng Xoài, Lộc Ninh, Đồng Nai, BR-VT Ngoài ra, trong vùng phát triển trầm tích Kainozoi cũng lộ nhiều nơi dưới dạng các núi sót rải rác ở núi Gió (Bình Long), núi
Bà Rá (Bình Phước), núi Bà Đen (Tây Ninh), ngoài ra còn gặp ở các lỗ khoan khu vực TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh và Long An Càng về phía TNB, tầng chứa nước càng chìm sâu và thường gặp đáy lỗ khoan Đây là tầng chứa nước nằm dưới cùng của khu vực nghiên cứu thường bị các tầng chứa nước trẻ hơn che phủ phía trên Thành phần bao gồm: Phần trên là sản phẩm phong hóa gồm sét, sét bột màu
Trang 30vàng nâu chứa các mảnh dăm đá gắn kết và phần dưới là sét bột kết, sét bột kết vôi, cát bột kết, phiến sét vôi, ryolit, trachyryolit, andezit dacit và tuf, màu xám, xám xanh, xám đen Tổng bề dày ước tính khoảng >2.000m Chiều dày đới nứt nẻ chứa nước thường từ 40 đến 60m (trung bình 20 đến 40m, ít nơi đạt tới 50m)
Phần trên của tầng chứa nước khe nứt ps - ms thường được khai thác bằng các giếng đào độ sâu từ vài mét đến khoảng 10 ÷ 15m Múc nước thí nghiệm tại các giếng này cho kết quả: lưu lượng Q = 0,01 ÷ 1,34l/s (trung bình: 0,18l/s), mực nước hạ thấp
S = 0,10 ÷ 0,50m (trung bình: 0,19m), tỉ lưu lượng q = 0,040 ÷ 8,950l/sm (trung bình: 1,005l/sm), mực nước tĩnh: 0,20 ÷ 14,20m (trung bình: 3,10m)
Trong những vùng lộ của tầng chứa nước khe nứt ps - ms có địa hình phân cắt mạnh như ở Bình Phước, Tân Uyên, Đồng Nai… thường gặp các mạch lộ với lưu lượng Q = 0,01 ÷ 2,54m (trung bình 0,92m)
Kết quả hút nước thí nghiệm tại các lỗ khoan cho thất tầng chứa nước có độ giàu nước từ nghèo đến giàu Tầng chứa nước này còn phát triển về phía nam TPHCM
là Long An Tuy nhiên, do bề dày lớp phủ Kainozoi lớn và các tầng chứa nước nằm trên rất giàu nước nên không được quan tâm nghiên cứu
Tại các giếng đào thường phổ biến là nước siêu nhạt đến nhạt với tổng độ khoáng hóa M = 0,02 ÷ 0,97mg/l (trung bình 0,15mg/l) Loại hình hoá học của nước nhạt chủ yếu là bicacbonat, bicacbonat - chlorur hoặc chlorur - bicacbonat, chlorur và một ít mẫu là chlorur - sulfat, chlorur - sulfat - bicacbonat, sulfat - bicacbonat
Cá biệt, có một khu vực nhỏ dọc thung lũng sông Đồng Nai thuộc phạm vi từ nam Bửu Long đến Long Bình Tân phân bố nước mặn cho tổng động khoáng hóa M = 1,01 ÷ 1,59g/l Hàm lượng chlorur không cao 9,93 ÷ 717,86mg/l (thường < 400mg/l)
Tầng chứa nước khe nứt ps - ms là tầng nước có áp cục bộ, mực nước nằm cách mặt đất từ 1,5m đến 12m, thường gặp ở chiều sâu 3 ÷ 5m Tầng chứa nước khe nứt ps
- ms có quan hệ thuỷ lực với các tầng chứa nước xung quanh nó nhưng ở mức độ yếu Nguồn cung cấp của chúng là nước mưa và một số tầng chứa nước xung quanh, miền thoát là các sông suối trong vùng hay các tầng chứa nước bên dưới nó
VIII.1.2 - Các tầng chứa nước lỗ hổng
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Holocen (qh)
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Holocen (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước qh) Phân bố phía nam vùng nghiên cứu ven thu lũng của các sông lớn Thành phần chủ yếu lá cát mịn, cát mịn lẫn bùn sét Mức độ chứa nước từ nghèo đến trung bình Chấ lượng nước kém
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistocen trên (qp 3 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Pleistocen trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước qp3) bao gồm đất đá của các hệ tầng Củ Chi và Mộc Hóa (phía tây nam sông Vàm Cỏ Đông) Lộ thành các chỏm nhỏ dọc theo biên giới (từ Vĩnh Hưng đến Châu Thành - Tây Ninh) và nhiều nơi khác ở Tây Ninh TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT, rồi chìm sâu về phía biển và TNB Chỉ phân bố liên tục phía nam và tây nam, về phía bắc và đông thường bị gián đoạn chung quanh các vùng lộ của các thành tạo địa chất cổ hơn (thành tạo Q12-3) hoặc các khối núi sót rải rác từ Tây Ninh đến BR - VT… Phủ trực tiếp trên thành tạo rất nghèo nước Q12-3tđ, Q11đc, N22bm
hoặc trên các tầng chứa nước khe nứt ps - ms tại một vài nơi ở Đồng Nai, Bình Phước,
Trang 31BR - VT và bên trên thường bị phủ bởi thành tạo địa chất rất nghèo nước Q13 Theo chiều đông bắc - tây nam, tại các lỗ khoan nghiên cứu độ sâu mái thay đổi trong khoảng 0,70 ÷ 63,60m, độ sâu đáy thường gặp trong khoảng 4,50 ÷ 111,6m và bề dày thay đổi trong khoảng 1,00 ÷ 90m Thành phần thạch học chủ yếu là cát mịn đến trung, đôi chỗ thô, cát bột, bột cát… phân lớp, phân nhịp khá dày tùy nơi, màu trắng, xám trắng, xám vàng đôi khi có lẫn sạn sỏi Trên các mặt cắt thường hiện diện các thấu kính hạt mịn bột, bột sét, sét… làm ảnh hưởng đến độ giàu nước Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan cho thấy đây là tầng chứa nước có độ giàu nước thay đổi từ nghèo đến giàu: Mực nước tĩnh: 0,50 ÷ 9,39m, Q = 0,01 ÷ 7,92l/s, mực nước hạ thấp:
S = 1,09 ÷ 12,81m, tỉ lưu lượng q = 0,027 ÷ 5,044l/sm
Thành phần hóa học của nước có đặc điểm sau:
¾ Vùng phân bố nước siêu nhạt: Phân bố từ Tây Ninh qua TPHCM, Đồng Nai đến BR-VT, phân bố trên các địa hình cao có nguồn bổ cập chủ yếu từ nước mưa và ít quan hệ với các nguồn nước mặt và hoạt động kinh tế - xã hội của con người Loại hình hoá học của nước khá phức tạp gồm: chlorur - bicacbonat, chlorur - sulfat, bicacbonat, bicacbonat - chlorur và một số ít mẫu là chlorur, sulfat - chlorur
¾ Vùng phân bố nước nhạt: Phân bố các nơi như từ Tây Ninh, bắc Long An, nội thành TPHCM, Đồng Nai,… bao quanh các khối nước siêu nhạt Loại hình hoá học của nước gồm: chlorur, bicacbonat và một ít mẫu là bicacbonat - chlorur hoặc chlorur, chlorur - bicacbonat
¾ Vùng phân bố nước mặn: Phân bố trên phần lớn diện tích ven biển mở rộng phía nam từ BR-VT qua Nhơn Trạch, Nhà Bè đến Tân Trụ Đặc biệt dọc theo các thung lũng sông lớn hình thành nên những lưỡi mặn xâm nhập sâu về phía thượng lưu như: theo sông Vàm Cỏ Tây nước mặn phát triển lên đến Tân Thạnh, theo sông Vàm
Cỏ Đông nước mặn phát triển lên đến Đức Huệ và một vài nơi ở Phước Lưu (Trảng Bàng), theo sông Sài Gòn nước mặn phát triển lên đến cầu Bình Lợi, theo sông Đồng Nai nước mặn phát triển lên đến Long Bình Tân và theo sông Thị Vải ranh mặn phát triển lên đến xã Long Phước (tỉnh Đồng Nai) Loại hình hóa học của nước chủ yếu: chlorur, bicacbonat và chlorur - bicacbonat
Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống, từ các vùng cao phía bắc và đông bắc chảy đến và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam (phía biển) và TNB, một phần chảy ra các sông suối lớn và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistocen giữa - trên (qp 2-3 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Pleistocen giữa - trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước qp2-3) bao gồm các đất đá của hệ tầng Thủ Đức Lộ trên diện rộng ở Thủ Đức, phía đông Củ Chi (gần sông Sài Gòn ), phía tây - bắc của Tây Ninh đến giáp ranh vùng lộ của thành tạo chứa nước kém Q11đc hoặc N22bm… và chìm sâu
về phía biển và TNB Chỉ phân bố liên tục phía nam và tây nam, về phía bắc và đông thường bị gián đoạn chung quanh các vùng lộ của các thành tạo địa chất cổ hơn (thành tạo Q11đc) hoặc các khối núi sót rải rác từ Tây Ninh đến BR - VT… Phủ trực tiếp trên
thành tạo rất nghèo nước N22bm hoặc trên tầng chứa nước khe nứt ps - ms tại một vài
nơi ở Đồng Nai, Bình Phước, BR - VT… và bên trên thường bị phủ bởi thành tạo địa chất không chứa nước Q12-3tđ Theo chiều đông bắc - tây nam, tại các lỗ khoan nghiên
Trang 32Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan cho thấy đây là tầng chứa nước có độ giàu nước thay đổi từ nghèo đến giàu: Mực nước tĩnh: 0,70 ÷ 13,00m, lưu lượng Q = 0,08 ÷ 18,00l/s, mực nước hạ thấp S = 1,97 ÷ 23,84m và tỉ lưu lượng q = 0,018 ÷ 5,501l/sm
Thành phần hóa học của nước có đặc điểm sau:
¾ Vùng phân bố nước siêu nhạt: Phân bố từ Tây Ninh qua TPHCM, Đồng Nai đến BR-VT trên các địa hình cao có nguồn bổ cập chủ yếu từ nước mưa và ít quan hệ với các nguồn nước mặt và hoạt động của con người Loại hình hoá học của nước gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat, chlorur - sulfat bicacbonat - chlorur và một ít mẫu
là sulfat - chlorur hoặc sulfat - chlorur - bicacbonat
¾ Vùng phân bố nước nhạt: Phân bố phổ biến từ Tây Ninh, Long An (Đức Hòa) qua nội thành TPHCM, Đồng Nai đến BR-VT thường tồn tại trên địa hình cao Loại hình hoá học của nước gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat, bicacbonat và bicacbonat - chlorur
¾ Vùng phân bố nước mặn: Phân bố trên phần lớn diện tích có địa hình trũng thấp ven biển phía nam và mở rộng phía đất liền từ BR-VT qua Nhơn Trạch, Nhà Bè đến Tân Trụ Đặc biệt, dọc theo các thung lũng sông lớn hình thành nên những lưỡi mặn xâm nhập sâu về phía thượng lưu như: Vĩnh Hưng (theo sông Vàm Cỏ Tây), Đức Huệ (theo sông Vàm Cỏ Đông), Bình Triệu (theo sông Sài Gòn), Tam An (theo sông Đồng Nai), Phước Thái (theo sông Thị Vải) Loại hình hóa học của nước phổ biến: Chlorur
Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống, từ các vùng cao phía bắc và đông bắc chảy đến và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam (phía biển) và TNB, một phần chảy ra các sông suối lớn và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistocen dưới (qp 1 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Pleistocen dưới (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước qp1) bao gồm đất đá của các trầm tích Pleistocen hạ hệ tầng Đất Cuốc
Lộ nhiều nơi ở bắc, đông bắc Bến Cát, Tân Uyên, Biên Hòa, Long Thành và chìm sâu về phía biển và TNB Phân bố không liên tục và bị gián đoạn chung quanh các khối núi sót rải rác từ Tây Ninh đến BR - VT… Phủ trực tiếp trên thành tạo không chứa nước N22bm hoặc tầng chứa nước khe nứt ở một số nơi ở Tân Uyên, Biên Hòa,
phía nam Bình Phước Thường bị phủ bởi thành tạo địa chất không chứa nước Q11đc
Tại các lỗ khoan nghiên cứu, theo hướng đông bắc - tây nam chiều sâu gặp mái tầng chứa nước thay đổi trong khoảng 0,5 ÷ 179,0m, chiều sâu gặp đáy trong khoảng 2,5 ÷ 206,0m và bề dày tương ứng là 0,7 ÷ 68,9m (trung bình: 25,9m)
Trang 33Thành phần thạch học chủ yếu là cát mịn, mịn đến thô có lẫn sạn sỏi phân lớp
và phân nhịp khá dày màu vàng, vàng nâu, trắng xám Thường xen kẹp thấu kính cát bột, bột sét bột cát
Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan cho thấy đây là tầng chứa nước có độ giàu nước thay đổi từ nghèo đến giàu: Mực nước tĩnh: +0,18 ÷ 17,86m, lưu lượng Q = 0,07 ÷27,77l/s, mực nước hạ thấp S = 1,17 ÷ 38,45m và tỉ lưu lượng q = 0,004 ÷ 5,623l/sm
Thành phần hóa học của nước có đặc điểm sau:
¾ Vùng phân bố nước siêu nhạt: Phân bố từ Tây Ninh qua TPHCM, Đồng Nai đến BR-VT thường phân bố trên các địa hình cao có nguồn bổ cập chủ yếu là từ nước mưa và ít quan hệ với các nguồn nước mặt và hoạt động của con người Loại hình hoá học của nước gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat, bicacbonat - chlorur và một ít mẫu là bicacbonat, chlorur - sulfat, sulfat - chlorur hoặc sulfat - chlorur - bicacbonat
¾ Vùng phân bố nước nhạt: Phân bố khá phổ biến từ Tây Ninh, Long An (Đức Hòa) qua nội thành TPHCM, Đồng Nai đến phía bắc BR-VT…, thường phân bố trên địa hình cao trên 5,0m Loại hình hoá học của nước gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat, bicacbonat và một ít mẫu là bicacbonat - chlorur hoặc chlorur - bicacbonat
¾ Vùng phân bố nước mặn: Phân bố trên phần lớn diện tích có địa hình trũng thấp ven biển phía nam và mở rộng phía đất liền từ Nhơn Trạch qua Nhà Bè đến Tân Trụ Vùng phân bố nước mặn còn phát triển rộng về phía tây - nam sông Vàm Cỏ Đông Loại hình hóa học của nước phổ biến: chlorur
Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống, từ các vùng cao phía bắc và đông bắc chảy đến và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam (phía biển) và TNB, một phần chảy ra các sông suối lớn và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pliocen giữa (n 2 2 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Pliocen trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước n22) bao gồm đất đá của các trầm tích Pliocen thượng hệ tầng Bà Miêu Lộ nhiều nơi ở Tây Ninh qua Bến Cát, nam Tân Uyên, Biên Hòa, Long Thành, BR - VT (Mỹ Xuân, Tóc Tiên, Long Phước…) và chìm sâu về phía biển và TNB Phân bố không liên tục và bị gián đoạn chung quanh các khối núi sót rải rác từ Tây Ninh đến
BR - VT… Phủ trực tiếp trên các tầng chứa nước N21nb và phần rìa lại phủ trên các
tầng chứa nước khe nứt ps - ms Bị phủ bởi thành tạo địa chất không chứa nước
N22bm Tại các lỗ khoan nghiên cứu, theo hướng đông bắc - tây nam chiều sâu gặp mái
tầng chứa nước thay đổi trong khoảng 0,0 ÷ 240,0m, chiều sâu gặp đáy trong khoảng 15,0 ÷ 274,0m và bề dày tương ứng là 1,1 ÷ 112,0m (trung bình: 35,4m) Đây là tầng chứa nước lỗ hổng có diện phố bố lớn nhất Trên mặt cắt bề dày biến đổi trong phạm
vị khá lớn, nhiều nơi bị vát mỏng (hoặc thành phần hạt mịn chiếm ưu thế) hoặc vắng mặt lớp hạt thô chứa nước (Trảng Bàng - lỗ khoan Q023050), đôi khi bị biến vị do khối nhô đá gốc (thành tạo rất nghèo nước K) Thành phần thạch học chủ yếu là cát trung, mịn - trung đến thô có lẫn sạn sỏi màu vàng, vàng nâu, nâu đỏ, xám xanh, trắng xám phân lớp, phân nhịp khá rõ Thường xen kẹp thấu kính cát bột, bột sét bột cát Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan cho thấy đây là tầng chứa nước có độ giàu
Trang 34nước thay đổi từ nghèo đến giàu: Mực nước tĩnh: +3,80 ÷ 38,60m, lưu lượng Q = 0,01
÷ 31,67l/s, mực nước hạ thấp S = 1,04 ÷ 34,80m và tỉ lưu lượng q = 0,001 ÷ 6,722l/sm
Thành phần hóa học của nước có đặc điểm sau:
¾ Vùng phân bố nước siêu nhạt: Phân bố từ Tây Ninh qua TPHCM, Đồng Nai đến BR-VT thường phân bố trên các địa hình cao có nguồn bổ cập chủ yếu là từ nước mưa
Tại các nguồn lộ ở Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai… nước có tổng khoáng hóa thay đổi trong khoảng 0,02 ÷ 0,09g/l (trung bình 0,04g/l) Loại nước siêu nhạt này
có loại hình hoá học rất đa dạng gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat, bicacbonat, bicacbonat - chlorur và một mẫu thuộc loại chlorur - sulfat hoặc chlorur - sulfat - bicacbonat, bicacbonat - sulfat hoặc bicacbonat - sulfat - chlorur, sulfat - chlorur - bicacbonat
¾ Vùng phân bố nước nhạt: Phân bố khá phổ biến từ Tây Ninh, Long An (Đức Hòa) qua nội thành TPHCM, Đồng Nai đến BR-VT thường phân bố trên địa hình cao Loại hình hoá học của nước ít phức tạp hơn loại nước siêu nhạt gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat, bicacbonat, bicacbonat - chlorur
¾ Vùng phân bố nước mặn: Phân bố trên phần lớn diện tích có địa hình trũng thấp ven biển phía nam và mở rộng phía đất liền từ BR-VT qua Nhơn Trạch, Nhà Bè đến Tân Trụ Vùng phân bố nước mặn còn phát triển rộng về phía tây - nam sông Vàm
Cỏ Đông Loại hình hóa học của nước phổ biến: chlorur hoặc bicacbomat - chlorur
Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống, từ các vùng cao phía bắc và đông bắc chảy đến và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam (phía biển) và TNB, một phần chảy ra các sông suối lớn và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pliocen dưới (n 2 1 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Pliocen dưới (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước n21) bao gồm đất đá của các trầm tích Pliocen hạ Phân bố phía tây nam đứt gãy sông Sài Gòn (từ Tây Ninh qua Bến Cát, nam Tân Uyên, Thủ Đức, Cần Giờ và chìm sâu về phía TNB) Không lộ trên mặt mà chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu Phân bố không liên tục, thường bị gián đoạn chung quanh các khối núi sót ở Tây Ninh, Bình Dương… Thường phủ trực tiếp trên thành tạo không chứa nước N13bt, phần rìa
phân bố lại phủ trên các tầng chứa nước khe nứt Mezozoi và bị thành tạo không chứa nước N21nb phủ hoàn toàn ở phía trên Tại các lỗ khoan nghiên cứu, theo hướng đông
bắc - tây nam chiều sâu gặp mái tầng chứa nước thay đổi trong khoảng 39,5 ÷ 288,5m, chiều sâu gặp đáy trong khoảng 50,5 ÷ 380,0m và bề dày tương ứng là 3,5 ÷ 109,0m (trung bình: 38,3m) Thành phần thạch học chủ yếu là cát trung, trung thô, mịn phân nhịp, phân lớp khá rõ, đôi khi có lẫn sạn sỏi màu xám xanh, xanh lục, vàng nâu Trên mặt cắt thường xen kẹp các thấu kính hạt mịn khá dày từ vài mét đến khoảng 20,0m
Hút nước thí nghiệm cho kết quả từ trung bình đến giàu: Mực nước tĩnh: +3,50
÷ 37,20m, lưu lượng Q = 1,36 ÷ 27,10l/s, mực nước hạ thấp S = 3,95 ÷ 43,62m và tỉ lưu lượng q = 0,037 ÷ 5,556l/sm
Thành phần hóa học của nước có đặc điểm sau:
Trang 35¾ Vùng phân bố nước siêu nhạt: Phân bố từ ở Tây Ninh, TPHCM, Long An Độ tổng khoáng hóa thay đổi trong khoảng 0,03 ÷ 0,09g/l (trung bình 0,05g/l) Loại hình hoá học của nước nhạt gồm: chlorur - bicacbonat và bicacbonat - chlorur
¾ Vùng phân bố nước nhạt: Phân bố khá phổ biến từ Tây Ninh, Long An (Đức Hòa) qua nội thành TPHCM, Bình Dương Độ tổng khoáng hóa thay đổi trong khoảng 0,24 ÷ 0,90g/l (trung bình 0,46g/l) Loại hình hoá học của nước nhạt gồm: chlorur, chlorur - bicacbonat và bicacbonat và bicacbonat - chlorur
¾ Vùng phân bố nước mặn: Phân bố trên phần lớn diện tích ven biển phía nam
và mở rộng phía đất liền từ phía tây nam Nhơn Trạch, Nhà Bè đến Tân Trụ Vùng phân bố nước mặn còn phát triển rộng về phía tây - nam sông Vàm Cỏ Đông Độ tổng khoáng hóa thay đổi trong khoảng 1,12 ÷ 10,46g/l (trung bình 4,76g/l) Loại hình hóa học của nước phổ biến: chlorur
Tầng chứa nước có nguồn bổ cập chủ yếu từ mưa ngấm xuống, từ các vùng cao phía bắc và đông bắc chảy đến và một phần được bổ cập từ những dòng chảy lớn có đáy xâm thực sâu Miền thoát chủ yếu là chảy về phía nam (phía biển) và một lượng đáng kể được khai thác sử dụng cho các hoạt động con người
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Miocen trên (n 1 3 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Miocen trên (sẽ được gọi tắt là tầng chứa nước n13) bao gồm đất đá của các trầm tích Miocen Phân bố phía tây nam đứt gãy sông Sài Gòn (từ Tây Ninh qua Trảng Bàng đến Bình Trưng, Cần Giờ và chìm sâu
về phía TNB) Không gặp tầng chứa nước này ở Đồng Nai và BR - VT, không lộ trên mặt và chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu Phân bố không liên tục, chỉ bị gián đoạn chung quanh các khối núi sót ở Tây Ninh, Bình Dương, TPHCM… Phủ trực tiếp trên các tầng chứa nước khe nứt ps - ms và bị thành tạo không chứa nước N13bt phủ hoàn toàn
ở phía trên Tại các lỗ khoan nghiên cứu, theo hướng đông bắc - tây nam chiều sâu gặp mái tầng chứa nước thay đổi trong khoảng 110,2 ÷ 360,0m, chiều sâu gặp đáy trong khoảng 123,6 ÷ 425,0m và bề dày tương ứng là 3,0 ÷ 72,0m (trung bình: 34,6m) Thành phần thạch học chủ yếu là cát trung, trung thô và mịn phân nhịp, phân lớp khá
rõ, đôi khi có lẫn sạn sỏi Vùng rìa phân bố trên tại đáy các mặt cắt lỗ khoan thường hiện hiện các lớp hạt mịn có biểu hiện gắn kết chứa nước kém
Đây là tầng chứa nước lỗ hổng nằm sâu nhất trên mặt cắt nên ít được đầu tư nghiên cứu, tuy nhiên do các tầng trên chất lượng kém nên một số nơi đã khai thác trong tầng này Hút nước thí nghiệm cho kết quả từ trung bình đến giàu: Mực nước tĩnh: +1,20 ÷ 10,52m, lưu lượng Q = 3,39 ÷ 11,28l/s, mực nước hạ thấp S = 7,28 ÷ 27,13m và tỉ lưu lượng q = 0,154 ÷ 1,160l/sm
Thành phần hóa học của nước có đặc điểm sau:
¾ Vùng phân bố nước nhạt: Phân bố khá phổ biến từ Tây Ninh, Long An (Đức Hòa), Bến Lức và nội thành TPHCM Độ tổng khoáng hóa thay đổi trong khoảng 0,18
÷ 0,70g/l (trung bình 0,38g/l) Loại hình hoá học của nước nhạt gồm: bicacbonat và bicacbonat - chlorur hoặc chlorur - bicacbonat
¾ Vùng phân bố nước mặn: Phân bố trên phần lớn diện tích ven biển phía nam
và mở rộng phía đất liền theo thung lũng sông Vàm Cỏ Đông đến Lương Hòa và theo thung lũng sông Vàm Cỏ Tây đến Vĩnh Hưng Thành phần hóa học tại 2 lỗ khoan Q808050 và Q027050 cho kết quả như sau: Độ tổng khoáng hóa thay đổi trong khoảng
Trang 36VIII.1.3 - Các thành tạo rất nghèo nước
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Holocen (Q 2 )
Thành tạo địa chất tuổi Holocen (Q2) được hình thành từ các trầm tích nhiều nguồn gốc: sông, sông - biển, biển, đầm lây, sông - đầm lầy, biển - đầm lầy Phân bố dạng dải ở địa hình cao và phủ trên phần lớn diện tích nửa tây nam vùng nghiên cứu Phân bố không liên tục vì thường bị gián đoạn chung quanh vùng lộ của các thành tạo
cổ hơn (dọc biên giới Campuchia từ Vĩnh Hưng đến Tân Châu, hoặc nhiều nơi ở Tây Ninh, TPHCM và ven đường 51 đi Vũng Tàu) hoặc các khối núi sót Thành phần thạch học có thể được phân thành các nhóm tương ứng với đặc điểm phân bố:
¾ Sét, bột cát, cát bột lẫn sạn sỏi laterit hoặc thạch anh màu vàng nhạt, xám loang lổ thường phân bố dọc theo các thung lũng sông suối trên địa hình cao >10m ở Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT và vài nơi ở TPHCM (Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức ) Bề dày <3,0m
¾ Bùn sét, bùn cát, sét màu đen, xám đen, xám xanh, vàng nâu Bề dày thay đổi rất lớn, nhiều nơi đạt đến xấp xỉ 20,0 ÷ 25,0m (dọc theo thung lũng các sông lớn phía hạ lưu), thường gặp trong khoảng 5,0 ÷ 10,0m Bề dày có xu hướng vát mỏng về phía ranh giới phân bố và tăng về phía hạ lưu các sông suối lớn Nhiều nơi xen kẹp thấu kính cát mịn có bề dày trong khoảng 0,5 ÷ 41,1m (Bến Cầu, Củ Chi, Bình Chánh,Tân Trụ, Cầu Xáng, Cần Giờ ) có khả năng chứa nước
¾ Bùn sét, bùn cát, sét, cát mịn hoặc mịn - trung màu đen, xám đen, xám xanh, vàng nâu Thường hiện diện ở các vùng ven biển từ Long Đất đến Cần Giuộc
Bề dày nhiều nơi có thể đạt đến xấp xỉ <15m (thường gặp trong khoảng 5,0 ÷ 10,0m)
¾ Cát mịn lẫn bụi màu trắng, vàng nhạt, tạo thành dạng địa hình giồng cát ven biển từ BR - VT đến Cần Giờ (TPHCM) Bề dày thay đổi trong phạm vi khá lớn từ vài mét đến trên 50m (ở các đỉnh giồng cát)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pleistocen trên (Q 1 3 )
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pleistocen trên gồm phần hạt mịn phía trên của
hệ tầng Củ Chi hoặc hệ tầng Mộc Hóa Bề dày thường gặp trong các lỗ khoan khoảng 5,0 ÷ 15,0m (dọc theo sông Vàm Cỏ Tây) và có xu hướng vát mỏng về phía Tây Ninh
và ranh giới phân bố (Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT) Thành phần đất đá chủ yếu là sét, cát sét, cát bột, màu xám trắng, xám vàng loang lổ đỏ thường bị laterit hóa tạo nên các lớp cứng chắc Phân bố từ sông Vàm Cỏ Tây đến địa hình cao 10,0 ÷ 20,0m Thường bị gián đoạn quanh các khối núi sót (Trại Bí, Bà Đen, Dầu Tiếng, Bửu Long, Châu Thới, Bà Rịa ) Ngoài phần bị phủ bởi thành tạo rất nghèo nước tuổi Holocen, phần diện tích còn lại lộ trên mặt địa hình Chiều sâu phân bố của tầng chứa nước này thường xu hướng chìm dần về phía tây - nam hoặc phía nam Chiều sâu mái trong các
lỗ khoan thường gặp 0,00 ÷ 49,00m (trung bình: 11,1m), chiều sâu đáy thay đổi trong
Trang 37khoảng 0,07 ÷ 63,90m (trung bình: 19,6m) Bề dày có xu hướng vát mỏng về phía đông (ranh giới phân bố), tại các lỗ khoan nghiên cứu bề dày thay đổi trong khoảng 0,70 ÷ 37,00m (trung bình: 8,7m) Các vùng lộ ở TPHCM, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT có thể được khai thác nước bằng các giếng đào với lưu lượng Q = 0,01 ÷ 3,0l/s và mực nước hạ thấp S = 0,05 ÷ 2,00m và mực nước tĩnh 0,10 ÷ 10,80m (trung bình: 2,45m)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pleistocen giữa - trên (Q 1 2-3 tđ)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pleistocen giữa - trên gồm phần hạt mịn phía trên của hệ tầng Thủ Đức Bề dày thường gặp trong các lỗ khoan khoảng 5,0 ÷ 15,0m (dọc theo sông Vàm Cỏ Tây) và có xu hướng vát mỏng về phía ranh giới phân bố (Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT) Thành phần đất đá chủ yếu là sét, cát sét, cát bột, màu xám trắng, nâu đỏ, xám vàng loang lổ đỏ thường bị laterit hóa tạo nên các lớp cứng chắc Phân bố từ sông Vàm Cỏ Tây đến địa hình cao 10,0 ÷ 20,0m Thường
bị gián đoạn quanh các khối núi sót (Trại Bí, Bà Đen, Dầu Tiếng, Bửu Long, Châu Thới, Bà Rịa ) hoặc chung quanh vùng lộ của các thành tạo cổ hơn Ngoài phần bị phủ bởi thành tạo địa chất Pleistocen trên, phần diện tích còn lại lộ trên mặt địa hình Các vùng lộ ở TPHCM, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT có thể được khai thác nước bằng các giếng đào với lưu lượng nhỏ Chiều sâu mái trong các lỗ khoan thường gặp 0,00 ÷ 111,00m (trung bình: 26,21m), chiều sâu đáy trong khoảng 0,50 ÷ 134,00m (trung bình: 35,33m) và bề dày khoảng 0,50 ÷ 40,00m (trung bình: 9,12m)
Múc nước thí nghiệm tại các giếng đàocho kết quả như sau: Mực nước tĩnh: 0,10 ÷ 9,00m (trung bình: 3,13m), lưu lượng Q = 0,01 ÷ 1,08l/s (trung bình: 0,19l/s), mực nước hạ thấp S = 0,01 ÷ 0,50m (trung bình 0,24m) và tỉ lưu lượng q = 0,050 ÷ 5,700l/sm (trung bình: 0,980l/sm)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pleistocen dưới (Q 1 1 đc)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pleistocen dưới gồm phần hạt mịn phía trên của
hệ tầng Thủ Đức Bề dày thường gặp trong các lỗ khoan khoảng 5,0 ÷ 15,0m (dọc theo sông Vàm Cỏ Tây) và có xu hướng vát mỏng về phía ranh giới phân bố (Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT) Thành phần đất đá chủ yếu là sét, cát sét, cát bột, màu xám trắng, nâu đỏ, xám vàng loang lổ đỏ thường bị laterit hóa tạo nên các lớp cứng chắc Phân bố từ sông Vàm Cỏ Tây đến địa hình cao >20,0m Thường bị gián đoạn quanh các khối núi sót (Trại Bí, Bà Đen, Dầu Tiếng, Bửu Long, Châu Thới, Bà Rịa ) hoặc chung quanh vùng lộ của các thành tạo cổ hơn Ngoài phần bị phủ bởi thành tạo địa chất Pleistocen giữa - trên, phần diện tích còn lại lộ trên mặt địa hình Các vùng lộ Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT có thể được khai thác nước bằng các giếng đào với lưu lượng nhỏ Chiều sâu mái trong các lỗ khoan thường gặp 0,00 ÷ 157,00m (trung bình: 53,30m), chiều sâu đáy thay đổi trong khoảng 0,50 ÷ 179,00m (trung bình: 67,90m) và bề dày khoảng 0,50 ÷ 63,00m (trung bình: 10,50m)
Múc nước thí nghiệm tại các giếng đào cho kết quả như sau: Mực nước tĩnh: 1,10 ÷ 7,20m (trung bình: 4,08m), lưu lượng Q = 0,07 ÷ 0,51l/s (trung bình: 0,22l/s), mực nước hạ thấp S = 0,01 ÷ 0,30m (trung bình 0,19m) và tỉ lưu lượng q = 0,223 ÷ 8,000l/sm (trung bình: 1,971l/sm)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pliocen giữa (N 2 2 bm)
Trang 38Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pliocen giữa gồm phần hạt mịn phía trên của hệ tầng Bà Miêu Bề dày thường gặp trong các lỗ khoan khoảng 5,0 ÷ 15,0m (dọc theo sông Vàm Cỏ Tây) và có xu hướng vát mỏng về phía ranh giới phân bố (Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT) Thành phần đất đá chủ yếu là sét, sét bột, bột sét, vàng, nâu đỏ, xám vàng loang lổ đỏ thường bị laterit hóa tạo nên các lớp cứng chắc Thường bị gián đoạn quanh các khối núi sót Ngoài phần bị phủ bởi thành tạo địa chất Pleistocen dưới, phần diện tích còn lại lộ trên mặt địa hình Đặc biệt, một nơi ở Bình Phước, Lộc Ninh, Đồng Nai còn gặp các thành tạo bazan trẻ phủ trực tiếp lên trên Chiều sâu mái trong các lỗ khoan thường gặp 0,00 ÷ 206,00m (trung bình: 81,10m), chiều sâu đáy thay đổi trong khoảng 1,00 ÷ 240,00m (trung bình: 90,03m) Bề dày thay đổi trong khoảng: 0,50 ÷ 62,00m (trung bình: 9,03m)
Múc nước thí nghiệm tại các giếng đào cho kết quả như sau: Mực nước tĩnh: 0,15 ÷ 13,80m (trung bình: 5,52m), lưu lượng Q = 0,02 ÷ 3,301l/s (trung bình: 0,33l/s), mực nước hạ thấp S = 0,1 ÷ 0,72m (trung bình 0,28m) và tỉ lưu lượng q = 0,067 ÷ 12,500l/sm (trung bình: 1,195l/sm)
VIII.2 - Các thành tạo không chứa nước
VIII.2.1 - Thành tạo không chứa nước tuổi Pliocen dưới (N 2 1 nb)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pliocen giữa gồm phần hạt mịn phía trên của hệ tầng Nhà Bè Thành phần đất đá chủ yếu là sét, bột, bột sét, sét bột màu xám xanh, xám vàng loang lổ đỏ thường bị laterit hóa Bề dày thường gặp trong các lỗ khoan khoảng 5,0 ÷ 15,0m và có xu hướng vát mỏng về phía ranh giới phân bố (Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT) Phân bố không liên tục, thường bị gián đoạn quanh các khối núi sót (Trại Bí, Bà Đen, Dầu Tiếng, Bửu Long, Châu Thới, Bà Rịa ) Chiều sâu mái trong các lỗ khoan thường gặp 37,80 ÷ 283,50m (trung bình: 160,00m), chiều sâu đáy thay đổi trong khoảng 40,10 ÷ 288,50m (trung bình: 168,60m) và bề dày khoảng 0,10
÷ 36,20m (trung bình: 8,60m)
VIII.2.2 - Thành tạo không chứa nước tuổi Miocen trên (N 1 3 bt)
Thành tạo rất nghèo nước tuổi Pliocen giữa gồm phần hạt mịn phía trên của hệ tầng Bình Trưng Thành phần đất đá chủ yếu là sét, cát sét, cát bột, xám nâu, nâu đỏ, xám vàng loang lổ đỏ thường bị laterit hóa Bề dày thường gặp trong các lỗ khoan khoảng 5,0 ÷ 15,0m và có xu hướng vát mỏng về phía ranh giới phân bố (Bình Dương, Đồng Nai, BR - VT) và các khối núi sót Phân bố không liên tục, thường bị gián đoạn quanh các khối núi sót (Trại Bí, Bà Đen, Dầu Tiếng, Bửu Long, Châu Thới, Bà Rịa ) Chiều sâu mái trong các lỗ khoan thường gặp 105,80 ÷ 348,80m (trung bình: 221,58m), chiều sâu đáy thay đổi trong khoảng 110,20 ÷ 360,00m (trung bình: 231,99m) và bề dày khoảng 1,20 ÷ 55,00m (trung bình: 11,65m)
VIII.2.3 - Thành tạo không chứa nước thuộc các phức hệ tuổi Creta (K)
Thành tạo rất nghèo nước trong các đá xâm nhập tuổi Creta, bao gồm các thành tạo magma - xâm nhập tuổi Kreta thuộc phức hệ Định Quán, Đèo Cả và Cà Ná Thành phần chủ yếu các đá granit, granit biotit, granosyenit biotit, diorit, mozodiorit và đá gabro, gabropyroxenit, pyoxenit Lộ ở các khối núi sót, rải rác trong vùng nghiên cứu
từ Phước Long đến BR-VT Ngoài ra, do diện phân bố hẹp có phân bố không gian liên quan nên các pha đá mạch (phức hệ Phan Rang và phức hệ Cù Mông) trong toàn vùng
sẽ được ghép và thành tạo này Phần trên bị phong hóa triệt để thành các sản phẩm bở
Trang 39rời edQ dày từ vài mét đến khoảng <10m Tại một số lỗ khoan, hút nước thí nghiệm cho kết quả như sau: Mực nước tĩnh: 1,00 ÷ 9,25m (trung bình: 4,82m), lưu lượng Q = 0,03 ÷ 6,87l/s (trung bình: 1,82l/s), mực nước hạ thấp S = 2,04 ÷ 40,08m (trung bình 13,53m) và tỉ lưu lượng q = 0,001 ÷ 3,417l/sm (trung bình: 0,217l/sm)
Hình I.2 - Mặt cắt cấu trúc ĐCTV theo hướng nam - bắc qua đỉnh núi Bà Rịa
Trang 40Hình I.3 - Mặt cắt cấu trúc ĐCTV theo hướng tây - đông qua đỉnh núi Bà Đen