1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam

108 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa Việt Nam
Tác giả Nguyễn Trọng Tín, Trần Hữu Thân, Đỗ Bạt
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Địa chất - Dầu khí
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy hệ tầng Phù Cừ phát triển rộng khắp trong trũng Hà Nội, có bề dày mỏng ở vùng Đông Quan và phát triển mạnh ở vịnh Bắc Bộ với thành phần trầm tích gồm cá

Trang 1

Ch−¬ng tr×nh KC 09 Liªn ®oµn §Þa chÊt BiÓn

Trang 2

Phần 2 Cấu trúc kiến tạo và lịch sử phát triển địa chất các bồn trầm tích

1 Bồn Sông Hồng

Trang 3

Phần I

Địa tầng các bồn trầm tích kainozoi

1 Cơ sở phân chia địa tầng Kainozoi

Trầm tích Đệ tam phân bố ở khu vực biển Đông, đặc biệt trên thềm lục địa Việt Nam Phần lớn chúng tập trung trong các bể trầm tích, có nơi dày trên 10.000m Nghiên cứu địa tầng trầm tích Đệ Tam trong thời gian qua gắn liền với quá trình tìm kiếm - thăm dò dầu khí và đã có những kết quả đáng khích lệ

Cho đến nay sau hơn nửa thế kỷ, công tác tìm kiếm - thăm dò dầu khí đã trải khắp trên các bể trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam Một khối lượng khổng lồ các tài liệu địa chất - địa vật lý đã được thu thập Hàng chục vạn km tuyến địa chấn đã

được xử lý Hàng trăm giếng khoan đã có kết quả phân tích Nhiều báo cáo về trầm tích, cổ sinh, carota và địa chấn địa tầng cùng với hàng loạt các báo cáo tổng hợp của các cơ quan nghiên cứu, các công ty trong và ngoài nước như Liên đoàn địa chất 36, Viện Dầu khí Việt Nam, Công ty TOTAL, BP, SHELL, FINA, MOBIL, UNOCALL, VIETSOPETRO, JVPC, IDEMITSU, PETRONAS v.v Hầu hết các báo cáo đều đề cập đến khía cạnh địa tầng, song mức độ nghiên cứu của từng báo cáo có nét khác nhau Những kết quả đó đã được các tác giả Golovenok v.k - Lê Văn Chân (1960 - 1970), Paluxtovich

- Nguyễn Ngọc Cự (1971), Vũ Văn Nhi (1975) Sevostianov (1977), Phạm Hồng Quế (1981), Nguyễn Giao (1982), Lê Văn Cự (1982), J.Moris (1993), C.Sladen (1997) Ngô Thường San (1981, 1987), Lê Đình Thám (1992) Đỗ Bạt - Phan Huy Quynh (1985, 1993, 2002) Nghiên cứu tổng hợp và trình bày trên các bảng 1, 2, 3, 4

Đặc biệt kết quả nghiên cứu gần đây nhất đã được Đỗ Bạt, Phan Huy Quynh, Ngô Xuân Vinh, Phan Giang Long và Nguyễn Quý Hùng tổng hợp vào năm 2002, được xem là tài liệu địa tầng sử dụng phổ biến trong tìm kiếm thăm dò dầu khí các bể trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam cả về phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được

Nghiên cứu địa tầng thực chất là phân chia các đơn vị địa tầng và đối sánh chúng với nhau Cơ sở để giải quyết nhiệm vụ này chủ yếu được dựa theo "Quy phạm

về địa tầng Việt Nam - 1994" và "Hướng dẫn địa tầng quốc tế - 1993, 2000"

Nguyên tắc cơ bản ở đây là: Các đá phân lớp của vỏ trái đất có thể được phân chia và tập hợp từng nhóm lớp thành những phân vị địa tầng theo đặc điểm khác nhau của chúng như thành phần đá, thành phần thạch học, tính chất vật lý (độ rỗng , độ thấm , độ dẫn điện, trở sóng địa chấn v.v.) Phù hợp với nguyên tắc này, những phương pháp chính đã được sử dụng trong nghiên cứu là: Thạch địa tầng, Sinh địa tầng và Địa chấn địa tầng…

Do đặc điểm của vùng nghiên cứu là các trầm tích bị phủ , không trực tiếp quan sát được, các giếng khoan xa nhau, tỷ lệ mẫu lõi rất hạn chế v.v nên để xây dựng cột

địa tầng tổng hợp của từng giếng khoan, từng vùng, từng bồn trũng và liên hệ, liên kết

Trang 4

với khu vực phụ cận chúng tôi đã phối hợp, tổng hợp các phương pháp nghiên cứu vừa nêu trên, khắc phục yếu điểm và bổ xung các thế mạnh cho nhau giữa phương pháp này và phương pháp khác Việc tổng hợp này sẽ tuân theo các nguyên tắc chủ yếu sau:

- Các phân chia thạch địa tầng là đơn vị cơ bản Đặc điểm của chúng được xác

định bằng các tài liệu trầm tích, cổ sinh, carota và địa chấn

- Tuổi của các đơn vị địa tầng dựa theo tài liệu cổ sinh

- Ranh giới của các đơn vị địa tầng thường được xác định theo tài liệu carota, còn đặc trưng của các mặt bất chỉnh hợp, các đơn vị địa tầng thường dựa theo các tài liệu địa chấn

- Liên hệ liên kết địa tầng giữa các vùng dựa theo tuổi trầm tích được xác định theo tài liệu cổ sinh và theo dõi các tập địa chấn địa tầng mang tính khu vực

Kết quả của sự tổng hợp trên đây sẽ cho bức tranh toàn cảnh địa tầng trầm tích

Đệ tam thềm lục địa Việt Nam

Mặt cắt chuẩn được mô tả tại GK.104 (hình 1) Phù Tiên-Hưng Yên từ độ sâu

3544 m đến 3860 m bao gồm cát kết, sét bột kết màu nâu tím, màu xám xen các lớp cuội kết có độ hạt rất khác nhau từ vài cm đến vài chục cm Thành phần hạt cuội thường là ryolit, thạch anh, đá phiến kết tinh và quarzit Cát kết có thành phần đa khoáng, độ mài tròn và chọn lọc kém, nhiều hạt thạch anh, calcit bị gặm mòn, xi măng calcit-sericit Bột kết rắn chắc thường màu tím chứa sericit và oxyt sắt Trên cùng là lớp cuội kết hỗn tạp màu tím, màu đỏ xen các đá phiến sét với nhiều vết trượt láng bóng Bề dày của hệ tầng tại giếng khoan này đạt 316 m

ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, hệ tầng Phù Tiên đã được phát hiện ở GK 107- TPA (3050-3535 m) với cuội sạn kết có kích thước nhỏ, thành phần chủ yếu là các mảnh đá granit và đá biến chất xen với cát kết, sét kết màu xám, màu nâu có các mặt trượt hoặc

bị phân phiến mạnh Các đá kể trên bị biến đổi thứ sinh mạnh Bề dày hệ tầng ở đây khoảng 485 m (hình 2)

Trên các mặt cắt địa chấn, hệ tầng Phù Tiên được thể hiện bằng tập địa chấn nằm ngang phủ bất chỉnh hợp ngay trên mặt đá móng trước Đệ Tam Tuy nhiên, nó chỉ

được theo dõi tốt ở vùng vịnh Bắc Bộ Tập địa chấn này có các phản xạ biên độ cao, tần

số thấp, độ liên tục từ trung bình đến kém ở vùng trũng Hà Nội và chuyển sang dạng

Trang 5

phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên độ cao ở vịnh Bắc Bộ

Tuổi Eocen của hệ tầng được xác định dựa theo các dạng bào tử phấn hoa, đặc biệt là Trudopollis và Ephedripites Nguyễn Địch Dỹ (1981) và Phạm Quang Trung (1998) cho rằng chúng có tuổi Creta-Paleogen, có nhiều khả năng là Eocen Tuy nhiên, dựa vào quan hệ nằm dưới các trầm tích Oligocen (hệ tầng Đình Cao), nên xếp hệ tầng Phù Tiên vào Eocen Hệ tầng được thành tạo trong môi trường sườn tích - sông hồ Đó

là các trầm tích lấp đầy các địa hào sụt lún nhanh

Tiên-đường cong đo địa vật lý lỗ khoan phân dị rõ với giá trị điện trở cao Bề dày của hệ tầng

ở mặt cắt này là 1148 m

Hệ tầng Đình Cao phát triển mạnh ở Đông Quan, Thái Thuỵ, Tiền Hải và vịnh Bắc Bộ, bao gồm cát kết xám sáng, sáng xẫm, hạt nhỏ đến vừa, ít hạt thô, đôi khi gặp cuội kết, sạn kết có độ lựa trọn trung bình đến tốt Đá gắn kết chắc bằng xi măng cacbonat, sét và oxýt sắt Cát kết đôi khi chứa Glauconit (GK 104-QN, 107-TPA) Sét kết xám sáng, xám sẫm có các mặt trượt láng bóng, đôi chỗ có các thấu kính than hoặc các lớp kẹp mỏng sét vôi, chứa hoá thạnh động vật Chiều dầy hệ tầng thay đổi từ 300-1148m

Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng Đình Cao đặc trưng bằng các phản xạ mạnh, biên độ cao, độ liên tục trung bình, nằm xiên, gián đoạn xâm thực thể hiện các trầm tích vụn thô chân núi hay aluvi Phần dưới của mặt cắt có các phản xạ không liên tục, biên độ trung bình Đặc biệt còn nhận thấy phần đáy của tập được thể hiện bằng các mặt kề áp, một pha, độ liên tục kém, biên độ cao Đây chính là mặt bất chỉnh hợp giữa các hệ tầng Đình Cao và Phù Tiên ở các giếng khoan 203, 81, 204, 200, 106 các trầm tích bị vò nhàu và dốc đứng đến 800 với chiều giếng khoan

Trong hệ tầng Đình Cao mới chỉ tìm thấy các vết in lá thực vật, bào tử phấn hoa, Diatomeae, Pediatrum và động vật nước ngọt

Tuổi Oligocen của phức hệ nói trên dựa theo: Cicatricosisporites dorogensis (LAD trong Oligocen muộn), Lycopodiumsporites neogenicus (chỉ trong Oligocen),

Gothanopollis bassensis (chỉ có trong Oligocen muộn), Florschuetzia trilobata (FAD

trong Eocen/Oligocen)

Hoá thạch động vật thân mềm nước ngọt Viviparus kích thước nhỏ Tuy hóa

thạch này có khoảng phân bố địa tầng rất rộng (Creta-Neogen), nhưng rất có ý nghĩa trong việc đánh dấu đối với trầm tích Oligocen miền trũng Hà Nội, nên được dùng để

Trang 6

nhận biết hệ tầng Đình Cao là “Các lớp chứa Viviparus nhỏ”

Hệ tầng Đình Cao thành tạo trong môi trường đầm hồ - aluvi Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Phù Tiên

Điều đáng lưu ý là các tập bột kết và sét kết màu xám đen phổ biến ở trũng

Đông Quan và vịnh Bắc Bộ chứa lượng vật chất hữu cơ ở mức độ trung bình (0,54%) Chúng được xem là đá mẹ sinh dầu ở trũng Sông Hồng

được gọi là các đá “dạng sọc” Cát kết có xi măng chủ yếu là carbonat với hàm lượng cao (25%) Khoáng vật phụ gồm nhiều glaucomit và pyrit Bề dày của hệ tầng tại giếng khoan này đạt tới 1180 m

Hệ tầng Phong Châu phân bố chủ yếu trong dải Khoái Châu - Tiền Hải (GK 100) và phát triển ra vịnh Bắc Bộ (GK 103-TH) (hình 3) với sự xen kẽ giữa các lớp cát kết, cát bột kết và sét kết chứa dấu vết than hoặc những lớp kẹp đá vôi mỏng (GK 103-

TH, 103-HOL) Cát kết màu xám đến xám sẫm, hạt nhỏ đến vừa, ít hạt thô, chọn lọc trung bình đến tốt, xi măng carbonat, ít sét Sét kết màu xám sáng đến xám sẫm và nâu đỏ nhạt, phân lớp song song, lượn sóng, với thành phần chủ yếu là kaolinit và ilit

Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 400 đến 1400m

Trên các băng địa chấn (hình 4), hệ tầng Phong Châu được thể hiện bằng các tập phản xạ song song, độ liên tục tốt, với thế nằm biển tiến trên các khối nâng ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ Trong đồng bằng Bắc Bộ, các phản xạ có biên độ cao, gồm 1-2 pha phản xạ mạnh có thể liên quan đến các lớp sét than

Phan Huy Quynh, Đỗ Bạt (1985, 1993, 1995) đã thu thập được nhiều dạng bào

tử phấn hoa đã xác lập phức hệ Betula-Alnipollenites và đới Florschuetzia levipoli tuổi Miocen sớm

Hệ tầng Phong Châu được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ (GK 104) có xen nhiều pha biển (GK 100) với các trầm tích biển tăng lên rõ rệt từ miền trũng Hà Nội ra vịnh Bắc Bộ Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Đình Cao và các đá cổ hơn

Miocen giữa

Hệ tầng Phủ Cừ ((N 1 2 pc)

Hệ tầng Phủ Cừ được mô tả lần đầu tại GK 2 (960 -1180 m) trên cấu tạo Phủ

Cừ miền trũng Hà Nội Tuy nhiên, khi đó chưa gặp được phần chân của hệ tầng và

Trang 7

mặt cắt được mô tả bao gồm các trầm tích đặc trưng bằng tính chu kỳ rõ rệt với các lớp cát kết hạt vừa, cát bột kết phân lớp mỏng (dạng sóng, thấu kính, phân lớp xiên), bột kết, sét kết cấu tạo khối chứa nhiều hóa thạch thực vật, dấu vết động vật ăn bùn, trùng lỗ và các vỉa than nâu Cát kết có thành phần ít khoáng, độ lựa chọn và mài tròn tốt, khoáng vật phụ ngoài turmalin, zircon, đôi nơi gặp glauconit và granat là những

khoáng vật không thấy trong hệ tầng Phong Châu

Sau này, Phan Huy Quynh, Đỗ Bạt (1983) và Lê Văn Cự (1985) khi xem xét lại toàn bộ các mặt cắt của hệ tầng Phù Cừ tại các giếng khoan sâu xuyên qua toàn bộ hệ tầng (GK 100, 101, 102, 204) và quan hệ của chúng với hệ tầng Phong Châu nằm dưới, theo quan điểm về nhịp và chu kỳ trầm tích đã chia hệ tầng Phủ Cừ thành 3 phần, mỗi phần là một nhịp trầm tích bao gồm cát kết, bột kết, sét kết có chứa than và hóa thạch thực vật Một vài nơi gặp trùng lỗ và thân mềm nước lợ

Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy hệ tầng Phù Cừ phát triển rộng khắp trong trũng Hà Nội, có bề dày mỏng ở vùng Đông Quan và phát triển mạnh ở vịnh Bắc Bộ với thành phần trầm tích gồm cát kết, sét bột kết, than và đôi nơi gặp các lớp mỏng carbonat Cát kết có màu xám sáng đến xám lục nhạt, thường hạt nhỏ đến vừa, đôi khi hạt thô (GK.104-QN), chọn lọc trung bình đến tốt, phổ biến cấu tạo phân lớp mỏng, thấu kính, lượn sóng, đôi khi dạng khối chứa nhiều kết hạch siderit, đôi nơi có glauconit (các GK 100, 102, 110, 104, 204, 107-TPA ) Cát kết có xi măng gắn kết nhiều carbonat, ít sét Sét bột kết xám sáng đến xám sẫm, chứa rất ít carbonat, ít vụn thực vật và than nâu (GK 103-TH) có ít lớp đá carbonat mỏng (GK 103-TH, 107-PA)

Bề dày chung của hệ tầng thay đổi từ 1500 đến 2000 m

Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng Phủ Cừ được thể hiện bằng các pha sóng phản xạ có dạng song song hay hỗn độn, biên độ lớn, tần số cao, thường liên quan đến các tập chứa than Ranh giới của hệ tầng với hệ tầng Phong Châu nằm dưới có đặc trưng sóng gồm 1 đến 2 pha phản xạ mạnh, biên độ cao, độ liên tục tốt

Tuổi Miocen giữa của các phức hệ hoá thạch được xác định theo Florschuetzia trilobata với Fl semilobata và theo Globorotalia mayeri, theo Orbulina universa (N9)

Hệ tầng Phù Cừ được hình thành trong môi trường đồng bằng châu thổ quan sát thấy ở các giếng khoan trong các vùng Kiến Xương, Xuân Thuỷ, Tiền Hải, nhưng xen các pha biển chuyển dần sang châu thổ, châu thổ ngập nước - tiền châu thổ, theo hướng tăng dần ra vịnh Bắc Bộ

Hệ tầng Phủ Cừ nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Phong Châu

Điều đáng lưu ý là sét kết của hệ tầng thường có tổng hàm lượng vật chất hữu cơ bằng 0,86%, đạt tiêu chuẩn của đá mẹ sinh dầu Đồng thời cũng chính trong hệ tầng này đã gặp những lớp đá có độ rỗng 14-16% và độ thấm khoảng vài chục mD Trên thực tế trong hệ tầng đã có những vỉa dầu và condensat đã và đang được khai thác (mỏ dầu Tiền Hải C, Thái Bình)

Trang 8

MIOCEN TRÊN

Hệ tầng Tiên Hưng (N 1 3 th)

Theo tài liệu khoan, mặt cắt chuẩn hệ tầng Tiên Hưng (khoan 4 Tiên Thái Bình) từ 250-1010m, bao gồm các trầm tích có tính phân nhịp rõ ràng với các nhịp bắt đầu bằng sạn kết, cát kết chuyển lên bột kết, sét kết, sét than và nhiều vỉa than nâu, với bề dày phần thô thường lớn hơn phần mịn Số lượng nhịp thấy được trong hệ tầng lên tới 15-18 nhịp Cát kết, sạn kết thường gắn kết yếu hoặc chưa gắn kết, chứa nhiều granat, các hạt có độ lựa chọn và mài tròn kém Trong phần dưới của hệ tầng, các lớp thường bị nén chặt hơn và gặp cát kết xám trắng chứa kết hạch siderit, xi măng carbonat Bề dày của hệ tầng trong giếng khoan này là 760 m

Hưng-Thực tế việc xác định ranh giới giữa hệ tầng Tiên Hưng và hệ tầng Phủ Cừ nằm dưới thường gặp nhiều khó khăn do có sự thay đổi tướng đá như đã nêu trên Phan Huy Quynh, Đỗ Bạt (1985) đã phát hiện ở phần dưới của hệ tầng một tập cát kết rất rắn chắc màu xám chứa các vết in lá thực vật phân bố tương đối rộng trong các giếng khoan ở trũng Hà Nội, đã coi đây là dấu hiệu chuyển sang giai đoạn trầm tích lục địa sau hệ tầng Phủ Cừ và đáy của tập cát kết này có thể coi là ranh giới dưới của

hệ tầng Tiên Hưng

Hệ tầng Tiên Hưng có mặt trong hầu hết các giếng khoan ở trũng Hà Nội và ngoài khơi vịnh Bắc Bộ với thành phần chủ yếu là cát kết, ở phần trên thường là cát kết hạt thô và sạn sỏi kết, sét kết, bột kết, xen các vỉa than nâu Tuy nhiên, than chủ yếu gặp phổ biến trong hệ tầng Phủ Cừ nằm dưới, còn ở hệ tầng Tiên Hưng ít hơn Mức

độ chứa than giảm đi rõ rệt do trầm tích tam giác châu ngập nước, với tính biển tăng theo hướng tiến ra vịnh Bắc Bộ Các lớp cát kết phân lớp dày đến dạng khối, màu xám nhạt, mờ đục hoặc xám xanh, hạt nhỏ đến thô, độ chọn lọc trung bình đến kém, chứa hoá thạch động vật và vụn than nâu, gắn kết trung bình đến kém bằng xi măng carbonat và sét Sét bột kết màu xám lục nhạt, xám sáng có chỗ xám nâu, xám đen (GK.104, 102-HD) chứa vụn than và các hóa thạch, đôi khi có glauconit, pyrit (GK.100, 103-TH) Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 760-3000 m

Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng Tiên Hưng được biểu hiện bằng tập địa chấn có

độ phân lớp kém và phản xạ yếu, trục đồng pha ngắn, biên độ cao, uốn nếp và có nhiều lớp có biểu hiện của than Hệ tầng Tiên Hưng tiếp xúc với hệ tầng Phủ Cừ nằm dưới bằng mặt bất chỉnh hợp có dấu hiệu biển lùi ở đới nâng cao, với 2 pha phản xạ mạnh không liên tục

Hoá thạch tìm thấy trong hệ tầng Tiên Hưng gồm các vết in lá cổ thực vật, bào

tử phấn hoa, trùng lỗ và Nannoplankton, đặc biệt có một phức hệ đặc trưng gồm

Quercus lobbii, Ziziphus thấy trong một lớp cát kết hạt vừa dày khoảng 10 m, gặp

trong phần lớn các giếng khoan lấy mẫu ở miền trũng Hà Nội Lớp cát kết này còn thấy

ở nhiều nơi trên miền Bắc Việt Nam như Tầm Chả (Na Dương, Lạng Sơn), Bạch Long

Vĩ, Trịnh Quận (Phú Thọ)

Trang 9

Tuổi Miocen muộn của hệ tầng được xác định theo phức hệ bào tử phấn Dacrydium – Ilex – Quercus – Florschuetzia trilobata – Acrostichum và Stenochlaena, cũng như phức hệ trùng lỗ Pseudorotalia-Ammonia

Môi trường trầm tích của hệ tầng Tiên Hưng chủ yếu là đồng bằng châu thổ, xen những pha biển ven bờ (trũng Đông Quan) và tam giác châu ngập nước phát triển theo hướng đi ra vịnh Bắc Bộ Hoàn cảnh trầm tích này tạo nên những lớp cát kết có

độ rỗng 14-16% và độ thấm hàng trăm mD là những lớp có khả năng chứa dầu khí tốt

Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Phủ Cừ

PLIOCEN

Hệ tầng Vĩnh Bảo (N 2 vb)

Nằm bất chỉnh hợp trên trầm tích Miocen, hệ tầng Vĩnh Bảo đánh dấu giai

đoạn phát triển cuối cùng của trầm tích Đệ tam trong vùng trũng Hà Nội - vịnh Bắc Bộ cũng như trên toàn thềm lục địa Biển Đông Tại mặt cắt trong GK 3 ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng từ 240-510m, có thể chia hệ tầng Vĩnh Bảo làm 2 phần: phần dưới chủ yếu là cát, hạt mịn màu xám, vàng chanh, phân lớp dày, có độ lựa chọn tốt, đôi nơi có những thấu kính hay lớp kẹp cuội, sạn hạt nhỏ xen kẽ; phần trên có thành phần bột tăng dần

Bề dày chung của hệ tầng tại giếng khoan này đạt khoảng 270 m Trong đá gặp nhiều hóa thạch động vật biển như thân mềm, san hô, trùng lỗ

Hệ tầng Vĩnh Bảo đã được phát hiện trong tất cả các giếng khoan; từ GK.3 (ven biển) tiến vào đất liền tính lục địa của trầm tích tăng lên, và hệ tầng mang đặc điểm châu thổ chứa than (GK 2, Phủ Cừ) Ngược lại, tiến ra phía biển trầm tích mang tính thềm lục địa rõ: cát bở rời xám sáng đến xám sẫm, hạt nhỏ đến vừa, đôi khi thô đến rất thô, chọn lọc trung bình đến tốt xen với sét màu xám, xám xanh, mềm, chứa mica, nhiều pyrit, glauconit và phong phú các mảnh vỏ động vật biển, thấy ở tất cả các giếng khoan (GK 104-QN, 103-TH, 107-PA) Hệ tầng Vĩnh Bảo có chiều dày từ 200 đến 500

m và tăng dần ra biển

Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng được thể hiện bằng các phản xạ song song hoặc gần song song, nằm ngang, tần số cao, biên độ trung bình, độ liên tục tốt Ngoài vịnh Bắc Bộ các phản xạ song song thể hiện rõ, biên độ lớn, độ liên tục tốt ở phần đáy của

hệ tầng, nơi tiếp xúc với hệ tầng Tiên Hưng, thấy mặt bất chỉnh hợp rõ từ các mặt gián

đoạn bào mòn ở trũng Hà Nội đến các dạng biển tiến ở phần trung tâm vịnh Bắc Bộ

Tuổi của hệ tầng được xác định là Pliocen trong khoảng N18-N20 dựa theo

trùng lỗ Globigerina bulloides (N5-N20), Globigerina nepenthes (N14-N19),

Globigerinoides ruber (N18-N23), Globigerinoides conglobatus (N18-N23), và phức hệ

bào tử phấn hoa Liquidambar-Dacrydium với sự có mặt của Florschuetzia levipoli, Fl

Meridionalis

Hệ tầng Vĩnh Bảo chủ yếu hình thành trong môi trường thềm biển, riêng khu vực rìa TB và TN của trũng Hà Nội trầm tích tích tụ trong điều kiện đồng bằng châu thổ có ảnh hưởng của biển Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Tiên Hưng

Trang 10

2.1.2 Trũng Huế - Quảng Ngãi (Nam bể Sông Hồng)

Phát triển xuống phía nam, ở lô 114 (GK 114-KT) (hình 7) hệ tầng có thành phần cát kết nhiều hơn và xen các lớp sét kết Chuyển sang địa hào Quảng Ngãi, tại các lô 118 và 119 gặp những lớp đá lục nguyên tương đối dày (>200 m) chủ yếu gồm cát kết hạt vừa, thô, đến rất thô hoặc đôi khi gặp sạn và cuội kết, xen ít lớp sét bột kết và những vỉa than nâu (K 118-CVX) Trong cát kết, hạt vụn thường bán góc cạnh đến bán tròn cạnh, độ lựa chọn và mài tròn kém đến trung bình, gắn kết chắc bằng xi măng sét-carbonat Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 100-300 m Các trầm tích này hình thành trong điều kiện nón bồi tích, đồng bằng tam giác châu ven biển

ảnh hưởng của các dòng chảy

Theo các tài liệu địa chấn, hệ tầng Bạch Trĩ tương ứng với tập địa chấn gồm các phản xạ không liên tục, biên độ cao, tần số thấp đến trung bình ở phần dưới chuyển lên trên phản xạ khá liên tục, biên độ cao, tần số trung bình còn ở địa luỹ Tri Tôn, trầm tích này rất mỏng, chủ yếu tồn tại ở một vài lõm địa phương nhỏ, đặc trưng bởi các phản xạ hỗn độn, tần số thấp liên quan chủ yếu đến tính lục địa của trầm tích Đáng lưu ý tại khu vực khoan 114-KT mặc dù đã phát hiện thấy các hoá thạch định tuổi trầm tích là Oligoxen, nhưng trên mặy cắt địa chấn không thể hiện đặc điểm và rất khó liên hệ vào các trầm tích tuổi này Đây là vấn đề cần phải nghiên cứu chi tiết hơn

Tuổi Oligocen của phức hệ này được xác định theo sự xuất hiện cuối cùng (LAD) của Cicatricosisporites dorogensis, Lycopodiumsporites neogenicus, Verrutricolporites pachydermus, Gothanipolis và theo sự xuất hiện đầu tiên (FAD) của Florschuetzia trilobata

Hệ tầng Bạch Trĩ được thành tạo trong môi trường đầm hồ - vũng vịnh, giàu vật chất hữu cơ có khả năng sinh dầu khí Nó nằm không chỉnh hợp trên đá móng như dolomit Devon, quan sát thấy ở giếng khoan Bạch Trĩ

Trang 11

Về phía Nam các trầm tích lục nguyên xen đá vôi tương tự cũng thấy phát triển trong địa hào Quảng Ngãi Còn trên địa luỹ Tri Tôn, hệ tầng lại chủ yếu là đá vôi và dolomit (K.118-CVX, 119-CH) (hình 8); đá có màu xám nhạt, xám xanh và rắn chắc; chúng thường liên quan đến các trầm tích thềm biển, nhưng rất ít di tích sinh vật, tỷ lệ dolomit tăng dần theo chiều sâu

Bề dày của hệ tầng Sông Hương theo tài liệu khoan thay đổi từ 100 đến 1230 m, còn theo tài liệu địa chấn có thể dày hơn Tập địa chấn tương ứng với hệ tầng Sông Hương gồm các lớp phản xạ khá đều, song độ liên tục giảm, đôi chỗ có phản xạ mang

đặc trưng của trầm tích đồng bằng ven biển xen các vỉa than, còn các phản xạ liên quan đến đá vôi và dolomit thường không liên tục và trắng Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Bạch Trĩ

Tuổi Miocen sớm của hệ tầng được xác định theo sự phong phú của

Echiperiporites estelae, Magnastriatites howardii, Crassoretitriletes nanhaiensis, các

đới trùng lỗ N5-N8 với Praeorbulina, Catapxydrax và các đới Nannoplankton NN4 với Discoaster druggii, Helicosphaera ampliaperta, cùng với các dạng

NN2-Dinoflagellata: Cribroperidinium, và Apteodinium

Môi trường trầm tích của hệ tầng Sông Hương chủ yếu thuộc vùng đồng bằng ven biển và thềm biển Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Bạch Trĩ

Miocen giữa

Hệ tầng Tri Tôn (N 1 tt)

Mặt cắt chuẩn được chọn ở giếng khoan 119-CH từ độ sâu 1454-2165 m, bao gồm thuần đá vôi màu xám sáng, vàng, xám nâu, xám sẫm chứa rong tảo, trùng lỗ kích thước lớn và san hô Đá có kiến trúc từ hạt vi tinh, hạt nhỏ đến ẩn tinh, ít nơi tái kết tinh; cấu trúc thường dạng khối, ít phân lớp, với đặc tính độ rỗng và độ thấm rất tốt Chúng có độ cứng trung bình, đôi chỗ rắn chắc Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này là 711 m

Phát triển xuống các trũng Huế và Quảng Ngãi, hệ tầng Tri Tôn chuyển sang trầm tích lục nguyên, trong đó sét bột kết chiếm ưu thế, xen ít cát kết Chúng có màu xám, xám sáng, chứa vôi, gắn kết trung bình đến cứng Bề dày của hệ tầng thay đổi

Trang 12

trong khoảng 300-1000 m Các trầm tích trên thuộc tướng biển nông, ven bờ

Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng được đặc trưng bằng sóng địa chấn phản xạ song song, biên độ cao đối với các tập đá vôi ở địa luỹ Tri Tôn, còn ở các trũng Huế và Quảng Ngãi thường thấy sóng có biên độ lớn, tần số cao thể hiện các đá lục nguyên Tín hiệu

địa chấn thay đổi từ tây sang đông, liên quan đến trầm tích môi trường thềm và sườn thềm khá rõ (hình 9,10)

Hệ tầng Tri Tôn nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Sông Hương Các trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường biển nông, thềm biển và đồng bằng ven biển Hệ tầng được xếp vào Miocen giữa dựa vào hoá thạch cổ sinh Đáng lưu ý là các phức hệ

cổ sinh trong khu vực có sự khác biệt: phức hệ Miogypsina-Lepidocyclina, Orbulina

universa với các tảo không xác định chỉ tìm thấy trong đá vôi ở các giếng khoan trên lô

118-121, trong khi bào tử phấn hoa và Nannoplankton tìm thấy trong trầm tích lục nguyên ở các trũng Huế và Quảng Ngãi

Trong đá vôi thuộc các lô 118, 119 đã phát hiện được các vỉa khí có hàm lượng khí CO2 cao

Miocen trên

Hệ tầng Quảng Ngãi (N 1 3 qn)

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Quảng Ngãi được mô tả trên cơ sở tài liệu GK

119-CH nằm ngay ven rìa địa hào Quảng Ngãi, từ độ sâu 790 m đến 1454 m Tại đây, hệ tầng bao gồm chủ yếu là sét kết xen kẽ các lớp mỏng bột kết, cát kết và ít đá vôi, chứa vật chất than, pyrit, glauconit Sét kết màu từ xám sáng đến xám sẫm, độ cứng trung bình, đôi chỗ rắn chắc, dạng khối Bột kết màu xám, xám sẫm, nâu, phân lớp dày đến dạng khối, xi măng là sét và carbonat Cát kết màu xám trắng, xám nâu, hạt thường mịn, bán tròn cạnh, độ lựa chọn từ vừa đến tốt Thành phần hạt chủ yếu là thạch anh,

xi măng là sét, carbonat Đá vôi ở các lớp kẹp mỏng màu xám sáng, xám vàng, cứng vừa đến chắc, dạng khối, có chỗ dày 0,5-2 m (GK 120-CS) chứa sét bột và phong phú

động vật biển Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này là 664m

Hệ tầng Quảng Ngãi phát triển tương đối đều khắp toàn vùng trũng, có chiều dày thay đổi trong khoảng 500-800 m

Trên mặt cắt địa chấn, đây là tập địa chấn có các phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên độ trung bình đến lớn, tần số cao Môi trường thành tạo của hệ tầng thay đổi

từ đồng bằng châu thổ đến biển ven bờ, biển sâu Quan hệ với hệ tầng Tri Tôn được thể hiện là mặt bất chỉnh hợp biển tiến với hai pha phản xạ mạnh không liên tục và có gián đoạn bào mòn ở gần các đứt gãy chính

Sự phong phú của Dacrydium và FAD của Stenochlaena laurifolia cùng với LAD của Fl trilobata giúp xác định tuổi Miocen muộn Thêm vào đó, các Foram và các Nannoplankton thuộc các đới tuổi Miocen muộn cũng đã được xác định theo Discoaster

quinqueramus (NN10-NN11.)

Hệ tầng Quảng Ngãi thành tạo trong môi trường đồng bằng ven biển, biển

Trang 13

nông, thềm lục địa và biển sâu Các trầm tích này nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Tri Tôn

m

Hệ tầng Biển Đông phủ kín toàn khu vực Nam bể Sông Hồng Nhìn chung, mặt cắt ở các nơi có nét tương tự với mặt cắt đặc trưng của hệ tầng mô tả bên trên, thể hiện một giai đoạn phát triển trầm tích giống nhau trong khu vực này

Mặt cắt địa chấn của hệ tầng dễ dàng liên hệ với khu vực phía bắc (vịnh Bắc Bộ) và phía nam (các bể Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn) Đó là các tập phản xạ song song hoặc gần song song, nằm ngang, biên độ lớn, độ liên tục tốt, liên quan đến các trầm tích sét, bột của vùng biển khơi nông đến biển sâu ở đáy của tập này thấy rõ mặt gián đoạn bào mòn và thế nằm dạng biển tiến liên quan đến mặt bất chỉnh hợp giữa các hệ tầng Biển Đông và Quảng Ngãi

Tuổi của trầm tích được xác định theo hoá thạch Bào tử phấn hoa thuộc phức

hệ Dacrydium- Florschuetzia meridionalis và hoá thạch trùng lỗ khá phong phú và gồm các loài của Pseudorotalia, Asterorotalia, Gobigerinoides ruber (N18-N23), Gl

obliquus (N17-N21), Globorotalia margaritae (N18-N20) cũng như hoá thạnh

Nannoplankton Ceratholithus rugosus, Cyclococcolithus formosus, Discoaster argutus,

Discoaster broweri, Calcidiscus macintyrei, Reticulofenestra pseudoumbilica thuộc các

đới NN12-NN15 tuổi Pliocen

Môi trường trầm tích của hệ tầng Biển Đông ở khu vực này thuộc tướng biển nông đến sâu, liên quan đến sự phát triển của thềm lục địa Biển Đông Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Quảng Ngãi

2.2 Địa tầng trầm tích Kainozoi bồn Phú khánh

Hiện chưa có khoan ở khu vực này nhưng theo kết quả minh giải tài liệu địa chấn khu vực cùng một số tuyến trong vùng (hình 11), liên kết với tài liệu địa chất giếng khoan lân cận ở bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và Nam Sông Hồng cho phép dự

đoán trầm tích Kainozoi phủ chồng gối trên móng là đá biến chất, đá granit, granodiorit tuổi trước Đệ Tam (PZ, MZ) Trầm tích Đệ tam có chiều dày thay đổi 500m dọc theo rìa phía Tây đến 7000 - 8000m ở các trũng sâu phía Đông của bồn, chúng bao

Trang 14

độ trung bình, tần số thấp, có nơi phản xạ dạng gò đồi Môi trường trầm tích chủ yếu là

đầm hồ, châu thổ và ít chỗ ven biển

- Các trầm tích Mioxen chủ yếu là các trầm tích lục nguyên, châu thổ, xen các pha biển và biển nông Phần trũng phía Đông phát triển đá vôi dạng thềm, đá vôi ám tiêu Có thể phân ra trầm tích Mioxen dưới, giữa và muộn theo các tập địa chấn sau:

Trầm tích Mioxen sớm phản xạ á song song đến song song , biên độ thấp đến cao độ liên tục trung bình, dạng dốc thoải Phía Bắc có dạng nêm lấn dự báo quạt châu thổ hoặc quạt aluvi Phản xạ biên độ cao dự báo carbonat thềm

Trầm tích Mioxen giữa phản xạ song song, biên độ cao, dự báo carbonat thềm ở phía đông Phía tây mỗi tập gồm các thành phần liên quan đến mực nước biển thấp, mực nước biển cao và biển tiến

Trầm tích Mioxen trên đặc trưng phản xạ phát triển dạng chữ S nêm lấn rìa thềm phát triển mạnh từ phía bắc xuống phía đông Phía tây là các phản xạ song song, biên độ thấp đến trung bình , độ liên tục kém Trầm tích tướng ven bờ và thềm trong

Trầm Plioxen Đệ tứ là các trầm tích cát, bột, sét thềm và biển sâu liên quan

đến quá trình hình thành toàn bộ thềm lục địa Biển Đông Mặt cắt địa chấn được dễ dàng liên hệ với các tập Plioxen - Đệ tứ trong khu vực ở phía Đông tập nêm lấn dày,

đặc trưng trầm tích sườn thềm, phía tây phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên độ trung bình, tần số thấp vận tốc lớp VL= 1800 - 2100m/s liên quan đến tướng trầm tích thềm trong đến ngoài trong toàn khu vực

2.3 Địa tầng trầm tích Kainozoi nhóm bồn hoàng sa và

trường sa

ở khu vực này chưa có giếng khoan, tuy vậy theo tài liệu địa chấn về tổng thể

có thể hình dung địa tầng của các khu vực này như sau:

Các trầm tích Đệ tam bao gồm lục nguyên lục nguyên carbonat có chiều dày 1

đến 7- 8km, phủ trên đá móng trước Đệ tam có thể là các đá xâm nhập granit, granodiorit, đá phun trào và các đá trầm tích biến chất Paleozoi, Mezozoi

Trầm tích Eoxen? Oligoxen: Đặc trưng bằng các tập sét xen lẫn than hình thành trong điều kiện đầm hồ đôi chỗ gặp các thành tạo sạn cuội kết và trầm tích có

Trang 15

nguồn gốc núi lửa

Trầm tích Mioxen sớm: Đặc trưng bằng các tập cát - sét xen kẽ hình thành trong điều kiện biển ven bờ hoặc đồng bằng châu thổ

Trầm tích Mioxen giữa đặc trưng bằng các tập cát sét xen kẽ hình thành trong

điều kiện biển ven bờ, ở các đới cao đặc trưng bằng đá vôi dạng thềm hoặc ám tiêu san hô Phần dưới lát cắt chủ yếu là các thành tạo lục nguyên

Trầm tích Mioxen trên bao gồm các trầm tích sét bột xen ít các tập cát tướng biển Tại các đới cao đá vôi dạng thềm, san hô phát triển mạnh Bề dày trầm tích này

đạt khoản 650m Trầm tích Plioxen- Đệ tứ : sét, bột xen cát tướng biển thềm, biển sâu Tại các đới cao đá vôi dạng thềm và ám tiêu phát triển lên đến bề mặt đáy biển

2.4 Địa tầng trầm tích Kainozoi bồn tư chính – vũng mây

Tư Chính Vũng Mây là bể trầm tích mới được nghiên cứu phát hiện trên cơ sở tài liệu địa chấn - Hiện vị trí của bể trong cấu trúc chung còn nhiều tranh luận Trong khu vực có duy nhất một giếng khoan Ttrên cơ sở đó Đỗ Bạt và Ngô Xuân Vinh (2000)

đã nghiên cứu và xây dựng cột địa tầng tổng hợp của bể như sau: (hình 12)

Móng trước Đệ tam là các đá riolit, andezit và đá bị biến đổi và nứt nẻ mạnh Phủ bất chỉnh hợp trên chúng là trầm tích hệ tầng Vũng Mây (E3?) gồm các đá lục nguyên cát kết, sét kết rắn chắc có các mảnh vụn than Hệ tầng Tư Chính (N1) các trầm tích lục nguyên cuội, cát, bột, sét kết và các lớp than chuyển lên phần trên là đá vôi ám tiêu và dạng nêm màu trắng trắng xám chứa Florschuetzia trilobata, F meridionalis và các Foram lớn Lepidocyclina, Miogypsina Hệ tầng Phúc Tân (N1 ) gồm

đá vôi ám tiêu, và dạng nền màu trắng có nhiều hang hốc phát triển chứa các bào tử phấn Florschuetzia meridionalis Antocerisporites, và các Foram lớn Lepidocyclina, Miogypsina Hệ tầng Trường Sa (N2) bao gồm đá vôi ám tiêu san hô, đá vôi sinh vật dạng khối màu trắng chứa phong phú các vụn sinh vật, san hô tảo trùng lỗ tương

đương hệ tầng Biển Đông của khu vực

Như vậy mặt cắt của giếng khoan này chưa phát hiện được các trầm tích Mioxen sớm mà chắc chắn tồn tại nhưng không phổ biến trong toàn bể

2.5 Địa tầng trầm tích Kainozoi bồn cửu long

Trang 16

Hệ tầng chủ yếu gồm các đá vụn thô màu xám trắng, nâu đỏ, đỏ tím, như cuội kết, sạn kết, cát kết hạt vừa và thô đến rất thô chứa cuội sạn và ít lớp sét kết Các trầm tích này nằm bất chỉnh hợp trên móng là đá phun trào (andesit và tuf andesit) có tuổi trước Kainozoi (hình 13)

Cuội kết, sạn kết và cát kết thường có cấu tạo dạng khối hoặc phân lớp rất dày,

độ lựa chọn kém, gắn kết yếu Thành phần chính của cuội và sạn là các đá phun trào (andesit, tuf andesit, dacit, ryolit), đá biến chất (quarzit, đá phiến mica), đá vôi và ít mảnh granitoid Đây là các trầm tích thành tạo trong môi trường lục địa (deluvi, proluvi, aluvi ) trong điều kiện năng lượng cao của thời kỳ đầu sụt lún, tách giãn hình thành các địa hào, do vậy diện phân bố của chúng chắc chắn chỉ giới hạn ở sườn của một số hố sụt sâu của bể Cửu Long Bề dày của hệ tầng tại giếng khoan Cửu Long là

880 m

Nhìn chung mặt cắt địa chấn từ đất liền ra phía đông của bể gồm 2 phần: phần trên có phản xạ hỗn độn hoặc dạng vòm, biên độ cao, tần số thấp, độ liên tục kém đến tốt; phần dưới phản xạ không phân dị, lộn xộn, biên độ cao, tần số thấp, độ liên tục kém, trầm tích aluvi - đầm hồ

Tại một số nơi, như ở cấu tạo Sói cũng phát hiện một tập cuội kết, sạn kết và cát kết hạt thô dạng khối dày tới 339 m phủ bất chỉnh hợp trực tiếp trên đá móng granitoid tuổi Jura Cuội sạn kết có độ lựa chọn và mài tròn kém, tuy nhiên chúng có

độ gắn kết tốt hơn do nằm ở độ sâu lớn hơn và thành phần cuội sạn chủ yếu gồm granitoid có thành phần gần tương tự các đá móng nằm dưới nó Các tập trầm tích hạt thô như đã mô tả theo thành phần và tướng, có lẽ những thành tạo này được lắng đọng

từ sản phẩm của vỏ phong hoá granitoid nằm cách không xa nguồn vật liệu trong điều kiện năng lượng rất cao ở thời kỳ đầu của quá trình tách giãn và sụt lún

Theo tài liệu địa chấn, hệ tầng Cà Cối phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo trước Đệ tam Bề dày hệ tầng ở vùng cửa sông Hậu khoảng 1000 m, ở trung tâm của bể

có thể dày hơn Hệ tầng chỉ phân bố hạn chế trong các lõm sụt sâu nên ở các giếng khoan ít khi bắt gặp Các di tích cổ sinh nghèo nàn, chỉ có bào tử phấn, tạo thành phức

hệ Trudopollis - Plicapollis Hiện phức hệ này mới tìm thấy ở lỗ khoan Cửu Long 1 (trong khoảng 1255-2100 m), gồm Cicatricosisporites, đặc biệt có Trudopollis và

Plicapollis là những dạng định tuổi Eocen cho trầm tích chứa chúng

hệ tầng ở giếng khoan CL-1 đạt 138 m

Trang 17

Vào vùng trung tâm bể Cửu Long, thành phần trầm tích của hệ tầng Trà Cú mịn dần và lúc đầu chúng được xếp vào phần dưới của hệ tầng Trà Tân Chúng phần lớn là các lớp sét kết giàu vật chất hữu cơ, sét kết chứa nhiều vụn thực vật và sét kết chứa than (chiếm khoảng 60-90% mặt cắt) đôi khi có các lớp than màu đen, tương đối rắn chắc Phần lớn đá sét bị biến đổi thứ sinh và nén ép mạnh thành đá phiến sét màu xám sẫm, xám lục hoặc xám nâu, xen với các lớp mỏng bột kết và cát kết, đôi khi có các lớp sét vôi Thành phần của tập sét kết này gồm kaolinit, ilit và chlorit, nhiều nơi phủ trực tiếp lên móng (vòm trung tâm mỏ Bạch Hổ, Rạng Đông) và đóng vai trò là một tầng chắn tốt mang tính địa phương cho các vỉa chứa dầu trong đá móng ở mỏ Bạch

Hổ, TN Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen v.v (hình 14)

Hệ tầng Trà Cú hình thành trong các điều kiện môi trường trầm tích khác nhau

từ sườn tích, lũ tích, bồi tích, sông, kênh lạch đến đầm hồ, vũng vịnh

Hệ tầng Trà Cú có bề dày đo được trong giếng khoan thay đổi từ 100 đến 500 m

ở các vòm nâng, còn ở các trũng địa hào đạt tới trên 1000 m Theo tài liệu địa chấn, hệ tầng được thể hiện bằng tập địa chấn mà Công ty liên doanh Vietsopetro thường gọi là tập E Nó ứng với phần dưới tập địa chấn rất ít phân dị, độ liên tục kém, biên độ khá lớn, tần số thấp, không có quy luật phân lớp, thường phủ bất chỉnh hợp trực tiếp trên các đá móng

Tài liệu cổ sinh trong hệ tầng rất nghèo nàn; mới chỉ phát hiện thấy ít bào tử

phấn hoa l Magnastriatites howardi, Verrucatosporites, Triletes, Pinuspollenites, Oculopollis tuổi Eocen - Oligocen, xác định theo Oculopollis (LAD trong Eocen muộn)

và Magnastriatites howardi (FAD trong Eocen muộn) Tuy nhiên, dựa trên quan hệ địa

tầng nằm trên hệ tầng Cà Cối (Eocen), hệ tầng Trà Cú được coi là có tuổi Oligocen sớm

Hệ tầng nằm không chỉnh hợp có nơi trên hệ tầng Cà Cối, có nơi trên đá móng

Oligocen giữa - trên

Hệ tầng Trà Tân (E 3 2-3 tt)

Hệ tầng Trà Tân lần đầu tiên được mô tả tại giếng khoan 15A-IX đặt trong cấu tạo Trà Tân ở khoảng độ sâu 2535 - 3038 m Tại đây, trầm tích chủ yếu bao gồm cát kết hạt nhỏ đến vừa màu xám trắng, xi măng carbonat, chuyển dần lên trên có nhiều lớp bột kết, sét kết màu nâu và đen, xen các lớp mỏng than, có chỗ chứa glauconit Đá biến đổi ở giai đoạn catagen muộn Đường cong địa vật lý lỗ khoan có điện trở rất cao ở phần dưới và thấp ở phần trên; còn đường gamma thì ngược lại Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này đạt 503 m

Hệ tầng Trà Tân phân bố rộng rãi hơn so với hệ tầng Trà Cú và có bề dày thay

đổi khá mạnh ở các vùng khác nhau của bể Nhìn chung, có lẽ vào thời kỳ thành tạo hệ tầng này địa hình cổ của móng trước Đệ tam ít nhiều đã được san bằng hơn so với thời

kỳ trước Trong điều kiện cổ địa lý như vậy, mặt cắt hệ tầng Trà Tân có sự xen kẽ giữa sét kết (chiếm 40-70% mặt cắt, đặc biệt là các lô ở phần ĐB của bể), bột kết, cát kết và

ở nhiều nơi thấy xuất hiện các lớp đá phun trào có thành phần khác nhau

Trang 18

Hệ tầng Trà Tân được tạo thành trong điều kiện môi trường không giống nhau giữa các khu vực; từ điều kiện sông bồi tích, đồng bằng châu thổ, đầm lầy - vũng vịnh

đến xen kẽ các pha biển nông Thành phần trầm tích chủ yếu là sét giàu vật chất hữu cơ và các tàn tích thực vật thuộc tướng đầm hồ, đầm lầy vũng vịnh chịu ảnh hưởng của biển ở các mức độ khác nhau, phát triển tương đối rộng rãi trong hầu hết khu vực, đặc biệt là từ phần trung tâm của bể kéo dài về phía ĐB, nơi ảnh hưởng của môi trường biển ngày một tăng lên Trong khi đó, tỷ lệ cát chiếm ưu thế, xen kẽ sét, bột thuộc môi trường bồi tích, sông, đồng bằng châu thổ gặp tương đối phố biến tại đới nâng trung tâm (cấu tạo Bạch Hổ và ĐN Rồng) và phần lớn lô 16, 17 ở rìa bắc và phần TB của bể

Nhìn chung, hệ tầng Trà Tân có bề dày quan sát theo giếng khoan thay đổi từ

400 đến 800 m, còn ở các nơi trũng có thể đạt đến 1500 m Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng đặc trưng bằng tập địa chấn mà phần dưới là những vùng phản xạ gần như trắng, biên độ thấp với tần số trung bình đến cao, còn ở phía trên phản xạ có biên độ liên tục tốt, tần số trung bình, biên độ khá, phân lớp tốt Phần phía tây, ở các lô 16, 17 tập địa chấn có phản xạ song song, biên độ vừa đến mạnh, độ liên tục trung bình đến tốt, tần

số thấp Phần trung tâm có phản xạ song song, phân kỳ, vắng mặt ở các đới nâng (như

ở mỏ Rồng), vận tốc lớp đạt 3100-3600 m/s, tỷ lệ cát/sét thấp, đường điện trở cao Các

"tướng sapropel" trong khi phân tích các giếng khoan trên lô 15 Ngoài ra còn gặp

nhiều Tảo nước ngọt như Pediastrum, Bosidinia

Quan sát trong toàn khu vực cho thấy hệ tầng Bạch Hổ phát triển khá rộng khắp Phần dưới gồm cát kết kích thước hạt khác nhau xen kẽ bột kết và sét kết, đôi nơi có chứa vụn than hình thành trong môi trường aluvi đến đồng bằng châu thổ ngập nước trong điều kiện năng lượng thay đổi khá mạnh từ vùng này đến vùng khác Phần

Trang 19

trên ở hầu hết mọi nơi phát triển sét kết tương đối sạch, chứa nhiều hoá thạch biển nông Rotalia xen kẽ các lớp bột kết, ít lớp cát kết hạt nhỏ, màu xám lục chứa nhiều glauconit Nhìn chung hệ tầng được thành tạo trong môi trường biển, biển nông có xu hướng tăng dần khi đi từ rìa TN của bể (lô 16, 17, rìa TN cấu tạo Rồng) qua phần trung tâm đến khu vực phía ĐB bể (các lô 01 và 15)

Toàn bộ trầm tích Miocen dưới hệ tầng Bạch Hổ phản ánh một quá trình biển tiến

Hệ tầng Bạch Hổ có bề dày thay đổi từ 400 đến 800 m Trên mặt cắt địa chấn, ở phía trung tâm hệ tầng Bạch Hổ tương ứng với tập địa chấn với các phản xạ có dạng song song, biên độ trung bình, độ liên tục kém, thể hiện môi trường đồng bằng ven bờ, biển nông Vận tốc lớp đạt 3000-3100 m/s, năng lượng trung bình đến cao, tỷ lệ cát sét thấp, phân lớp mỏng Đường gamma thay đổi từ thấp đến cao, điện trở ở mức độ trung bình ở phần phía tây tập địa chấn có phản xạ lộn xộn đến song song, biên độ trung bình đến khá, độ liên tục kém đến trung bình, tần số trung bình đến cao, biểu hiện sự thay đổi tướng thô dần về phía tây

Hoá thạch tương đối phong phú bao gồm bào tử phấn hoa, nanoplankton và

trùng lỗ thuộc các phức hệ và đới sau: - Magnastriatites howardi, Florschuetzia levipoli,

đới Rotalia, Pediastrum - Botryococcus, và các Dinoflagellata: Cribroperidinum,

Apteodinium, đã định tuổi Mioxen sớm cho hệ tầng

Hệ tầng Côn Sơn phân bố tương đối khắp trong toàn bể Cửu Long, hình thành trong điều kiện môi trường thay đổi từ sông, đồng bằng châu thổ ( các lô 16, 17 và TN Rồng) đến đồng bằng châu thổ, đầm lầy ven biển và biển nông (lô 9, 1-2, 15-1, 15-2) Tính chất biển tăng dần khi đi từ phía dưới lên

Phần dưới của hệ tầng chủ yếu gồm cát kết hạt từ nhỏ đến thô đôi khi chứa cuội

và sạn (giếng khoan 17-ĐĐ, R-4, R-6, Sói-1, 15-G), màu xám, xám trắng, phân lớp dày tới dạng khối, độ chọn lọc và mài tròn thay đổi từ trung bình đến kém Cát kết thường chứa các mảnh vụn trùng lỗ và đôi khi có glauconit cùng nhiều các vụn than Đá gắn kết yếu tới bở rời bằng xi măng sét và carbonat Phần lớn cát kết của hệ tầng có độ rỗng và độ thấm thuộc loại rất tốt và có khả năng là những tầng chứa dầu khí có chất lượng tốt

Phần trên chuyển dần sang cát kết hạt mịn, hạt nhỏ xen kẽ các lớp sét kết, sét

Trang 20

chứa vôi hoặc đôi khi là các lớp đá vôi mỏng màu xám xanh đến xám lục, nâu đỏ, vàng nâu loang lổ (giếng khoan Sói-1, 15-G, Rồng-6), các lớp sét chứa than, các thấu kính hoặc các lớp than nâu mỏng màu đen

Hệ tầng Côn Sơn có bề dày thay đổi từ 660 đến 1000 m Trên mặt cắt địa chấn quan sát thấy các phản xạ song song, biên độ lớn, độ liên tục tốt, tần số cao ở phần phía đông các phản xạ có độ liên tục kém hơn, biên độ lớn hơn, tần số trung bình đặc trưng cho trầm tích đầm lầy, đồng bằng ven biển, năng lượng cao, tỷ lệ cát/sét trung bình đến cao Cát kết có xu hướng hạt mịn hướng lên trên Đường gamma và điện trở thường có giá trị trung bình Các đường phản xạ thể hiện quan hệ chỉnh hợp với hệ tầng Bạch Hổ nằm dưới

Trong hệ tầng Côn Sơn đã phát hiện được bào tử phấn hoa và các hoá thạch biển như trùng lỗ và Nannoplankton gồm: Florschuetzia meridionalis, Lepidocyclina

(Tf2), Orbulina universa (N9), Calcidiscus marcintyrei (NN4-NN19) định tuổi trầm

Hệ tầng Đồng Nai có mặt trong toàn bể Cửu Long, bao gồm các trầm tích được hình thành trong môi trường sông, đồng bằng châu thổ, đầm lầy ven biển Trầm tích

đang ở giai đoạn thành đá sớm; đá mới chỉ được gắn kết yếu hoặc còn bở rời và dễ hoà tan trong nước Hệ tầng có thể phân thành hai phần chính như mô tả dưới đây

Phần dưới gồm chủ yếu là các trầm tích hạt thô như cát hạt vừa đến thô lẫn sạn, sỏi đôi khi chứa cuội, phân lớp dày hoặc dạng khối, độ chọn lọc và mài tròn trung bình đến kém, thường chứa nhiều mảnh vụn hoá thạch động vật, pyrit và đôi khi có glauconit Chuyển lên trên là cát - cát kết chủ yếu là hạt nhỏ, màu xám, xám sáng, xám phớt nâu, bột - bột kết, sét - sét kết xen kẽ những vỉa than nâu hoặc sét chứa phong phú các di tích thực vật hoá than Than gặp khá phổ biến tại các giếng khoan thuộc các lô 15, 16 và một số nơi khác

Phần trên là các đá hạt mịn, gồm cát hạt nhỏ, bột và sét có màu khác nhau chứa nhiều hoá thạch động vật

Bề dày hệ tầng Đồng Nai thay đổi từ 500 đến 700 m và được thể hiện trên một

Trang 21

tập địa chấn chủ yếu có độ phản xạ song song, biên độ cao, độ liên tục tốt, tần số cao phản ánh trầm tích ven bờ ở phía tây, biển nông ở phía bắc, vận tốc trong các lớp đạt khoảng 2200-3000 m/s Năng lượng cao đến thấp, tỷ lệ cát/sét cao đến trung bình Các lớp có xu thế hạt mịn hướng lên trên, đường gamma và điện trở giá trị thấp Các đường phản xạ cho thấy hệ tầng Đồng Nai nằm bất chỉnh hợp lên hệ tầng Côn Sơn theo kiểu phủ chờm biển tiến với 2 pha phản xạ không liên tục

Khác với hệ tầng Côn Sơn, trong hệ tầng Đồng Nai đã phát hiện nhiều hoá thạch trùng lỗ, Nannoplankton và bào tử phấn hoa Dấu hiệu xác định tuổi Miocen

muộn của hệ tầng theo bào tử phấn hoa là FAD của bào tử Stenochlaena laurifolia, cùng với sự phong phú các dạng khác, như Florschuetzia levipoli, Fl Meridionalis,

Rhizophora, Carya, Pinus, Dacrydium, Acrostichum và Trùng lỗ Neogloboquadrina acostaensis ( N16), Nano Discoater quinqueramus (NN11)

Hệ tầng Đồng Nai nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Côn Sơn

Pliocen

Hệ tầng Biển Đông (N 2 bđ)

Hệ tầng được mô tả lần đầu tại giếng khoan 15G-1X, trong khoảng 250-650 m

có thể chia làm 2 phần – phần dưới đặc trưng bằng cát thạch anh thô, xám trắng chứa nhiều hoá thạch trùng lỗ thuộc nhóm Operculina Phần trên chủ yếu là sét, bột phong phú trùng lỗ đa dạng và Nannoplankton Bề dày của hệ tầng ở lỗ khoan này là 400 m

Hệ tầng Biển Đông phát triển rộng khắp trong vùng, với đặc điểm chung là hình thành chủ yếu trong môi trường biển nông và trầm tích còn bở rời Mặt cắt của hệ tầng chủ yếu gồm cát thạch anh màu xám, xám sáng, xám lục hoặc xám phớt nâu, hạt

từ vừa đến thô, xen kẽ ít lớp sét, bột Cát phân lớp dày hoặc dạng khối, hạt vụn có độ chọn lọc và mài tròn trung bình đến tốt, thường chứa nhiều mảnh vụn hoá thạch động vật biển, pyrit, đôi khi có các mảnh vụn than Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 400 đến

700 m

Trên băng địa chấn nó rất dễ nhận biết bằng đặc trưng là phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên độ trung bình đến cao, tần số cao Vận tốc lớp đạt khoảng 1500-2000 m/s Các đặc trưng trên phản ánh tướng thềm biển năng lượng cao, tỷ lệ cát/sét cao, phân lớp tốt Đường gamma và điện trở có giá trị cao, xu thế hạt mịn hướng lên trên Mặt bất chỉnh hợp với hệ tầng Đồng Nai thể hiện rõ theo kiểu phủ chờm biển tiến với 2 pha phản xạ mạnh, biên độ lớn

Trong các lớp của hệ tầng Biển Đông đã phát hiện phong phú hoá thạch gồm

các bào tử phấn Dacrydium, Stenochlaena laurifolia và các Foram Sphaeroidinella

subdehiscens (N19), Nano Discoaster intercalcaris (NN12) đã định tuổi Plioxen cho trầm tích của hệ

tầng

Hệ tầng Biển Đông phân bố trên toàn bể Cửu Long và thuộc môi trường trầm tích biển nông, và phủ bất chỉnh hợp lên trên các trầm tích cổ hơn

Trang 22

2.6 Địa tầng trầm tích Kainozoi bồn Nam Côn sơn

PALEOGEN

Oligocen

Hệ tầng Cau (E 3 c)

Hệ tầng Cau lần đầu tiên được mô tả chi tiết tại giếng khoan Dừa-IX (lô 12) từ

độ sâu 3680 đến 4038 m và đặt tên là Cau Tại giếng khoan Dừa-IX mặt cắt đặc trưng của hệ tầng bao gồm chủ yếu là cát kết màu xám xen các lớp sét kết, bột kết màu nâu Cát kết thạch anh hạt thô đến mịn, độ lựa chọn kém, xi măng sét, carbonat Bề dày chung đạt 358 m

Hệ tầng Cau có thể xem tương đương với các hệ tầng Bawah, Keras, Gabus và Barat (Agip 1980) thuộc trũng Đông Natuna ở phía nam của bể Nam Côn Sơn Hệ tầng vắng mặt trong phần lớn các đới nâng (mỏ Đại Hùng, phần tây lô 04 cũ, phần lớn lô 10,

28, 29 và các lô khác ở phía T-TN của vùng trũng) Mặt cắt đầy đủ được tổng hợp thành 3 phần chính như dưới đây

Phần dưới chứa nhiều cát kết từ hạt mịn đến thô, đôi khi rất thô hoặc sạn kết, cát kết chứa cuội, sạn và cuội kết (giếng khoan 21S: 3920-3925 m; giếng khoan 06-HDB: 3848-3851 m), màu xám sáng, xám phớt nâu hoặc nâu đỏ, tím đỏ, phân lớp dày hoặc dạng khối, xen kẽ một khối lượng nhỏ các lớp bột kết hoặc sét kết màu xám tới xám tro, nâu đỏ, hồng (giếng khoan 21S) chứa các mảnh vụn than hoặc các lớp kẹp than Giống như ở bể Cửu Long, ở một số giếng khoan cũng đã phát hiện được sự có mặt của các lớp đá phun trào xen kẽ (andesit, basalt ở các giếng khoan 12W Hồng Hạc

và Hải Âu, 11-1-CDP và 12C-IX), diabas (giếng khoan 20-PH-IX)

Phần giữa có thành phần hạt mịn chiếm ưu thế gồm các tập sét kết phân lớp dày đến dạng khối màu xám sẫm tới xám tro, xám đen xen kẽ ít bột kết, cát kết hạt từ mịn đến thô màu xám sáng, xám xẫm đôi khi phớt nâu đỏ hoặc tím đỏ (giếng khoan 21S), khá giàu vôi và vật chất hữu cơ cùng các lớp sét kết chứa than và than

Phần trên gồm hệ xen kẽ cát kết hạt nhỏ đến vừa, màu xám tro, xám sáng đôi chỗ có chứa glauconit, trùng lỗ (giếng khoan 12C, Dừa) và bột kết, sét kết màu xám tro

đến xám xanh hoặc nâu đỏ (giếng khoan 21S) (Hình 18, 19, 20,21,22)

Bề dày trầm tích, đặc điểm phân tập nói trên cũng như các đặc tính của mỗi tập thay đổi nhiều giữa các lô trong bể Chẳng hạn ở giếng khoan 06-HDB vắng mặt các trầm tích phần trên, hoặc mức độ chứa than tăng lên rất nhiêù trong các giếng khoan thuộc cấu tạo Thanh Long

Trên các mặt cắt địa chấn hệ tầng Cau ở phần phía tây thể hiện các phản xạ dạng lộn xộn, vắng mặt trầm tích trên diện rộng Phía đông có các đường phản xạ song song, biên độ thấp đến trung bình dần dần chuyển sang phản xạ không liên tục, biên

độ thay đổi, năng lượng cao, tỷ lệ cát/sét cao, phân lớp dày Cát hạt mịn hướng lên trên, có mặt các lớp than và sét than

Trang 23

Các hoá thạch định tuổi Oligoxen trong hệ tầng thuộc phức hệ

Cicatricosisporites-Mayeripollis, Florschuetzia trilobata và Tảo nước ngọt Pediastrum, Bosedinia

Hệ tầng Cau được thành tạo trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh giữa các khu vực gồm lũ tích, trầm tích sông, quạt bồi tích, đồng bằng châu thổ xen kẽ trầm tích đầm hồ

Hệ tầng Cau phủ không chỉnh hợp các đá móng trước Đệ Tam

NEOGEN

Miocen dưới

Hệ tầng Dừa (N 1 1 d)

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Dừa được xác lập ở giếng khoan Dừa-1X Tại đây, từ

độ sâu 2852 đến 3680 m mặt cắt bao gồm sét kết màu đen, bột kết màu xám cùng với cát kết hạt nhỏ và thấu kính than nâu Phần giữa của hệ tầng chứa nhiều cát kết hơn, với độ chọn lọc trung bình tới tốt, đôi nơi chứa glauconit, pyrit, xi măng sét và carbonat Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này là 828 m

Phân bố rộng rãi trong vùng, hệ tầng Dừa chủ yếu gồm cát kết, bột kết màu xám sáng, xám lục xen kẽ với sét kết màu xám, xám đen đến xám xanh, các lớp sét chứa vôi, các lớp sét giàu vật chất hữu cơ có chứa than hoặc các lớp than mỏng Đôi khi

có những lớp đá vôi mỏng chứa nhiều hạt vụn hoặc đá vôi màu trắng xen kẽ trong hệ tầng Tỷ lệ cát/sét trong toàn bộ mặt cắt gần tương đương nhau, tuy nhiên đi về phía

đông của bể (lô 5, 6) tỷ lệ đá hạt mịn có xu hướng tăng dần lên Ngược lại, ở phần rìa phía tây của bể (lô 10, 11-1) và ở phía tây các lô 11-2, 28 và 29 tỷ lệ cát kết tăng hơn nhiều so với các đá hạt mịn, và tại đó môi trường tam giác châu có ảnh hưởng đáng kể Trầm tích trong toàn khu vực có xu hướng mịn dần ở phía trên của mặt cắt và tính chất biển cũng tăng lên rõ rệt từ phần rìa B-TB, N-TN vào trung tâm và về phía đông của bể

Nhìn chung các lớp của hệ tầng Dừa có các đường cong điện trở và gamma phân

dị tốt Đường gamma thay đổi trong phạm vi rộng từ 35 tới 130 API, chủ yếu trong khoảng 65-90 API - đạt giá trị trung bình Phân lớp trung bình tới dày, tỷ lệ cát/sét thường cao (55-80%) Trầm tích hạt mịn có xu thế chủ yếu hướng lên trên Điện trở thay đổi trong khoảng 0,5-15 ohm, trung bình khoảng 2,5-5 ohm - giá trị trung bình thấp Trầm tích được thành tạo chủ yếu trong điều kiện năng lượng cao và giảm dần lên phần trên của hệ tầng

Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng Dừa được thể hiện bằng tập địa chấn có đặc trưng chủ yếu là các phản xạ song song, biên độ trung bình, độ liên tục kém ở phần phía đông mặt cắt có thể chia thành hai phần, phần dưới có phản xạ song song, độ liên tục kém, phần trên cũng có phản xạ song song, nhưng độ liên tục tốt, biên độ trung bình đến cao

Hệ tầng có bề dày thay đổi từ 100 đến hơn 1000 m

Trang 24

Hóa thạch trong hệ tầng Dừa tương đối phong phú gồm bào tử phấn hoa, trùng

lỗ và Nannoplankton Chúng được phân ra đới Florchuetzia levipoli; đới cực thịnh

Magnastriatites howardi và các đới Praeorbulina (N7-N8), Miogypsina (TF1), Helicosphaera ampliapera (NN4) là các dạng đặc trưng cho trầm tích Mioxen sớm

Các trầm tích của hệ tầng Dừa phát triển trong môi trường châu thổ đến biển nông

Các trầm tích lục nguyên, lục nguyên chứa vôi phát triển mạnh khi đi dần về phía rìa bắc (các lô 10, 11-1, 11-2) và phía tây - tây nam (các lô 20, 21, 22, 28, 29) của

bể, bao gồm chủ yếu cát bột kết và sét kết, sét vôi xen kẽ các thấu kính hoặc những lớp

đá vôi mỏng Các lớp trầm tích lục nguyên này ở mọi nơi thường chứa nhiều glauconit, các hoá thạch động vật biển, đặc biệt là nhiều Trùng lỗ

Đá carbonat phát triển khá rộng rãi tại các vùng nâng ở trung tâm bể, và đặc biệt tại các lô thuộc phần phía đông của bể (các lô 04 và 05) Đá có màu trắng, trắng sữa, dạng khối chứa phong phú san hô và các hoá thạch động vật khác được thành tạo trong môi trường biển mở của thềm lục địa, bao gồm đá vôi ám tiêu (tại các phần nhô cao ở các lô 04-A, Mía, 05-TL-Bắc, 06-LT và LĐ) và các lớp đá vôi dạng thềm phát triển tại những phần sườn thấp của các đới nâng (các lô 05-TL-B-1X, 06-DH, 12A v.v ) Ngoài ra, trong tập đá carbonat cũng gặp xen kẽ các lớp đá vôi dolomit hoặc dolomit dạng hạt nhỏ do kết quả của quá trình dolomit hoá một phần hoặc hoàn toàn của cả 2 loại đá vôi kể trên Đá carbonat hệ tầng Thông - Mãng Cầu bị tái kết tinh mạnh hơn và

bị dolomit hoá mạnh hơn so với đá carbonat của hệ tầng Nam Côn Sơn nằm trên Ngoài đặc điểm khác biệt về các đới cổ sinh thì mức độ dolomit hoá và tái kết tinh là

điểm khác biệt duy nhất về mặt thạch học để có thể phân biệt được giữa các tập đá carbonat

Trên đường cong địa vật lý lỗ khoan cũng dễ dàng quan sát thấy sự thay đổi và phân bố của các trầm tích lục nguyên và carbonat Tỷ lệ cát/sét dao động từ 40 đến 65% Độ hạt chủ yếu có xu thế thô dần lên phía trên Đường điện trở có giá trị thay đổi mạnh (2-20 ohm) và cao hơn ở phía đông Điều này có thể giải thích bởi mối liên quan giữa đường điện trở và gamma với các tập đá vôi tương đối dày ở phía đông Đặc điểm này cũng thấy rõ trên mặt cắt địa chấn của hệ tầng Thông - Mãng Cầu: ở phần phía

đông các đường phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên độ trung bình đến cao đặc

Trang 25

trưng cho trầm tích carbonat biển nông, còn phần phía tây là các phản xạ song song, biên độ trung bình, độ liên tục tốt liên quan đến các trầm tích lục nguyên thềm biển

Hoá thạch phong phú đặc trưng cho trầm tích Miocen giữa và thuộc đới

Florschuetzia meridionalis; phụ đới Florschuetzia trilobata; các đới Orbulina universa

(N9), Globorotalia foshi (N12), Lepidocyclina (Tf2-Tf3) và đới Discoater kugleri (NN7),

Phân bố rộng rãi trong bể, hệ tầng Nam Côn Sơn có sự biến đổi tướng đá mạnh

mẽ giữa các khu vực khác nhau của bể ở rìa phía bắc (các lô 10, 11-1) và phía T-TN (các lô 20, 21, 22, 28 v.v ) trầm tích chủ yếu là lục nguyên gồm sét kết, sét vôi màu xám lục đến xám xanh, gắn kết yếu cùng các lớp cát bột kết chứa vôi đôi khi gặp một

số thấu kính hoặc những lớp đá vôi mỏng chứa nhiều mảnh vụn lục nguyên Cát kết ở

đây hạt từ nhỏ đến vừa gặp nhiều trong các giếng khoan 10-BM, 11-1-CC, 20-PH, độ lựa chọn và mài tròn tốt, chứa hoá thạch động vật biển và glauconit, có độ gắn kết trung bình bởi xi măng carbonat có tỷ lệ cao ở các lô phía trung tâm nơi đặt các giếng khoan Dừa-IX, 2X, 12A, 12-W-HA (mỏ Đại Hùng, lô 04-3 v.v ) mặt cắt gồm các trầm tích carbonat và lục nguyên xen kẽ nhau khá rõ rệt Tai một số vùng nâng ở phía Đ-

ĐN (theo các giếng khoan 05-TLB, 06-LT, 06-LĐ v.v ) đá carbonat lại chiếm hầu hết trong mặt cắt của hệ tầng

Trầm tích kể trên có giá trị điện trở thấp tới trung bình (0,8 - 2 ohm), còn đường

điện thế có giá trị cao hơn trong khoảng 120-130 ms/f Mặt cắt địa chấn thể hiện rõ với các phản xạ song song, độ liên tục trung bình đến tốt, biên độ trung bình, tần số cao

đặc trưng cho trầm tích thềm và có các tập đá vôi ở phần đông của bể

Hệ tầng Nam Côn Sơn có bề dày 200-600 m và nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Thông - Mãng Cầu với các sóng địa chấn thể hiện dưới dạng cắt lớp và phủ nóc các đá carbonat Thông - Mãng Cầu với phản xạ biên độ cao

Hoá thạch đã định tuổi Mioxen muộn cho hệ tầng thuộc các đới Florschuetzia meridionalis, Stenochlaena laurifolia, Neogloboquadrrina acostaensis (N16-N18), Lepidocyclina (Tf3), Discoater quiqueramus (NN11)

Các đặc điểm trầm tích và cổ sinh kể trên cho thấy hệ tầng Nam Côn Sơn được

Trang 26

hình thành trong môi trường biển nông thuộc đới trong của thềm ở khu vực phía tây, còn thuộc đới giữa - ngoài thềm ở khu vực phía đông Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Thông - Mãng Cầu

Pliocen

Hệ tầng Biển Đông (N 2 bđ)

Trong bể Nam Côn Sơn, mặt cắt đặc trưng của hệ tầng quan sát được tại giếng khoan 12A-IX từ độ sâu 600 đến 1900 m, bao gồm chủ yếu là cát, bột, sét màu xám, xám trắng, vàng nhạt, chứa nhiều glauconit và hoá thạch động vật biển như trùng lỗ, thân mềm, rêu động vật v.v, với bề dày khoảng 1300 m

Hệ tầng Biển Đông phát triển rộng khắp trên toàn khu vực và có bề dày rất lớn,

đặc biệt tại các lô thuộc phía đông của bể (>1500 m) Đá của hệ tầng chủ yếu là sét - sét kết, sét vôi màu xám trắng, xám xanh đến xám lục, bở rời hoặc gắn kết yếu, chứa nhiều glauconit, pyrit và phong phú hóa thạch biển Phần dưới mặt cắt có xen các lớp mỏng cát - cát kết, bột hoặc cát chứa sét (ở các lô 10, 11-1 và 12) Tại các vùng nâng nằm ở phía đông lô 06 đá carbonat ám tiêu phát triển một cách liên tục cho đến đáy biển hiện nay

Hệ tầng Biển Đông bao gồm các trầm tích thềm và đặc trưng bằng tập địa chấn

có sóng phản xạ song song, độ liên tục kém đến trung bình, biên độ cao ở phần phía

đông quan sát thấy các tập nêm lấn thể hiện sự phát triển của trầm tích thềm, sườn thềm Các tập trầm tích lấn dần ra phía trung tâm Biển Đông, phản ánh sườn lục địa chuyển dần từ tây sang đông

Trong hệ tầng Biển Đông đã phát hiện phong phú hoá thạch định tuổi trầm tích

là Plioxen gồm Dacrydium, Pseudorotalia-Asterorotalia, Sphaeroidinellopsis dehisces (N19) và Discoarter asymmetricus (NN14), Discoarter broweri (NN18)

Đặc điểm trầm tích và cổ sinh của hệ tầng Biển Đông cho thấy môi trường trầm tích là biển nông thềm trong ở phần phía tây, đến thềm ngoài chủ yếu ở phần phía

đông của bể Hệ tầng Biển Đông ở bể Nam Côn Sơn hình thành trong môi trường trầm tích thềm biển liên quan đến đợt biển tiến Pliocen trong toàn khu vực Biển Đông Hệ tầng nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Nam Côn Sơn

2.7 Địa tầng trầm tích Kainozoi bồn mã lay – thổ chu

Trang 27

nơi kẹp các lớp than Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này là 394 m Tuy nhiên, do chưa khoan đến móng nên chưa xác định được những lớp cơ sở của hệ tầng cũng như

bề dày thực của nó

Các mặt cắt của hệ tầng trong bể chủ yếu gồm sét kết xen kẽ với những lớp mỏng bột kết, cát kết và các lớp than nâu, đôi chỗ có các lớp đá carbonat màu trắng, cứng chắc dạng vi hạt (52-CV-2X; 50-TV-1X) Tại một số vùng nâng (ở các giếng khoan 51-MH, 46-CN, 46-KM) (hình 23, 24, 25, 26, 27) trong phần dưới của mặt cắt tỷ lệ cát kết với kích thước hạt khác nhau tăng rất nhiều so với các khu vực khác Phần lớn các trầm tích kể trên được thành tạo trong điều kiện môi trường đồng bằng châu thổ đến

hồ - đầm lầy và ở phần trên của mặt cắt có chịu ảnh hưởng của các yếu tố biển

Do bị chôn vùi ở các độ sâu khác nhau nên trầm tích của hệ tầng chịu tác động của các quá trình biến đổi thứ sinh từ giai đoạn catagen sớm (cho các đá nằm ở độ sâu

<2700 m) đến giai đoạn catagen giữa-muộn (đối với đá nằm ở độ sâu 2700-3350 m) và catagen muộn (cho các đá nằm sâu hơn 3350 m)

Hệ tầng Kim Long phân bố chủ yếu trong các địa hào và sườn của các cấu tạo với chiều dày thay đổi từ 500 đến 1000 m, và thường bị các đứt gãy có hướng ĐB-TN và

BN khống chế Trên mặt cắt địa chấn, các pha sóng phản xạ của hệ tầng được thể hiện bằng tập địa chấn có độ phản xạ không liên tục, biên độ tương đối cao và tốc độ lớp trong khoảng 3500-5000 m/s Đi vào trung tâm của bể các phản xạ phân lớp song song yếu, độ liên tục vừa đến tốt và biên độ tương đối cao

Hoá thạch trong hệ tầng nghèo nàn, chỉ có bào tử phấn thuộc đới Florschuetzia

trilobata và một vài dạng khác như Cicatricosisporites dorogensis, Magnatriatites

howardii, Mayeripollis nahakoteris v.v là những dạng thường thấy trong Oligocen

Tuy nhiên trong đợt phân tích kiểm tra tiến hành gần đây tại các giếng khoan 50CM, 51MH, 46NC đã không thấy lại những dạng này, vì thế tuối Oligocen của hệ tầng cần phải quan tâm nghiên cứu thêm Môi truờng trầm tích của hệ tầng là đầm hồ

Nhìn chung trong toàn vùng, mặt cắt của hệ tầng chủ yếu gồm sét kết, sét kết chứa ít vôi, sét kết chứa than, các lớp than xen kẽ các lớp mỏng bột kết, cát kết Đôi khi

có các lớp đá vôi dạng vi hạt hoặc đá vôi chứa nhiều mảnh vụn lục nguyên màu trắng, xám trắng cứng chắc (các giếng khoan 46-CN, 46-NH, 50-TV, v.v ) Hệ tầng được thành tạo chủ yếu trong điều kiện môi trường phần dưới của đồng bằng châu thổ ngập

Trang 28

nước với sự phong phú của các lớp than bùn, xen kẽ các pha biển nông, biển ven bờ biểu hiện của sự có mặt ở mức độ khác nhau của glauconit, các hoá thạch trùng lỗ và nhiều dạng động vật biển khác Mức độ ảnh huởng của các yếu tố biển tăng dần lên rõ rệt ở phần trên của mặt cắt Đá của hệ tầng mới bị biến đổi thứ sinh ở giai đoạn catagen sớm đến đầu giai đoạn catagen muộn đối với các trầm tích nằm sâu hơn 2800

m (các giếng khoan B-KL, B-AQ, 52-CV v.v )

Tỷ lệ cát/sét trong toàn hệ tầng ở mức trung bình, độ hạt của cát kết có xu thế mịn dần về trên Đường gamma và điện trở có giá trị trung bình đến cao Quan sát trên tài liệu địa chấn thấy hệ tầng phát triển rộng rãi, có chiều sâu thay đổi từ 900 đến

1500 m, tương ứng với tập địa chấn gồm các phản xạ song song, phần dưới có độ liên tục trung bình đến yếu và biên độ nhỏ, còn phần trên độ liên tục và biên độ lớn hơn Quan hệ với hệ tầng Kim Long theo kiểu phủ chờm biển tiến, phủ vát biển lùi và một

số nơi là phủ mái phản ánh một mặt bất chỉnh hợp khá rõ

Tuổi Mioxen sớm được xác định theo các phức hệ cổ sinh đã được phát hiện trong hệ tầng gồm: Magnastriatites howardi - Echiperiporites estaela, Florschuetzia levipoli, Discoarter drugii (NN2), Helicosphaera ampliaperta (NN4)

Hệ tầng Ngọc Hiển được thành tạo trong môi trường đầm lầy, tam giác châu ven biển Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Kim Long

Miocen giữa

Hệ tầng Đầm Dơi (N 1 đd)

Hệ tầng Đầm Dơi được thành lập và lấy tên theo giếng khoan Đầm Dơi do Công

ty Fina khoan tại lô 46 Mặt cắt chuẩn của hệ tầng từ 1000-1465 chủ yếu gồm các lớp cát kết xám sáng, hạt nhỏ đến trung bình, chứa vôi hoặc các lớp sét vôi mỏng xen các lớp sét kết xám trắng, xám xanh cùng một vài lớp than nâu Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này là 465 m

Hệ tầng Đầm Dơi phân bố rộng rãi trong bể, ngoài những trầm tích lục nguyên

đã mô tả ở trên, đôi khi có cả những lớp mỏng dolomit hoặc đá vôi vi hạt chứa các mảnh vụn đá lục nguyên màu xám trắng đến nâu vàng (giếng khoan 46-NH và 46-KM) Các trầm tích này được thành tạo chủ yếu trong điều kiện môi trường tam giác châu ngập nước ven biển chịu ảnh hưởng rất mạnh hoặc xen kẽ nhiều giai đoạn biển nông, biển ven bờ Chúng mới bị biến đổi thứ sinh ở giai đoạn catagen sớm với đặc tính sét kết và cát kết gắn kết yếu với xi măng sét hoặc gắn kết trung bình với xi măng carbonat

Theo dõi trên đường cong địa vật lý lỗ khoan, tỷ lệ cát/sét thường trung bình

đến cao Cát có xu thế thô dần lên phía trên là chủ yếu, giá trị gamma thấp, còn điện trở ở mức trung bình

Hệ tầng Đầm Dơi phát triển trong toàn bể với bề dày thay đổi 300-1200 m và

được phản ánh khá tốt bằng tài liệu địa chấn, được đặc trưng bằng các phản xạ song song, độ liên tục vừa đến tốt, biên độ trung bình đến lớn, tần số cao Phần dưới có độ

Trang 29

liên tục kém hơn và đôi nơi thể hiện trường sóng hỗn hợp Nơi tiếp xúc với hệ tầng Ngọc Hiển thường là chỉnh hợp, song đôi nơi cũng phát hiện các dấu hiệu phủ chờm biển tiến, phủ vát biển lùi và phủ mái liên quan đến các mặt bất chỉnh hợp địa phương hẹp

Tuổi của hệ tầng được xác định bằng các tập hợp cổ sinh thuộc phức hệ Florschuetzia meridionalis - Fl levipoli; đới Orbulina universa (N9), Globorotalia fohsi (N12), Discoarter kuglerii (NN7) và Discoarter hamatus (NN9)

Đặc điểm trầm tích và cổ sinh nêu trên chứng tỏ hệ tầng Đầm Dơi được hình thành trong môi trường tam giác châu chịu nhiều ảnh hưởng của biển nông ven bờ Hệ tầng nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Ngọc Hiển

Miocen trên

Hệ tầng Minh Hải (N 1 mh)

Hệ tầng Minh Hải được mô tả tại giếng khoan Minh Hải (51-MH-1X) Tại đây

từ độ sâu 690 đến 1097 m mặt cắt chủ yếu gồm sét kết xám xanh, xám sáng xen các lớp cát kết hạt mịn đến thô màu xám sáng, mờ đục và xen ít than nâu Bề dày của hệ tầng ở giếng khoan này đạt 407 m

Các mặt cắt khác của hệ tầng gồm nhiều sét - sét kết xám sáng, xám lục, xám xanh tới xám nâu, mềm, bở xen kẽ với một tỷ lệ ít hơn các lớp bột - bột kết và cát - cát kết (cát kết gặp nhiều trong các giếng khoan 51-MH-1X và 46-DD-1X) Cát kết màu xám nhạt đến xám trắng, xám phớt nâu gắn kết yếu hoặc còn bở rời, phần lớn là cát kết hạt nhỏ đôi chỗ hạt vừa đến thô (giếng khoan 51-MH và 50-CM), bán góc cạnh đến bán tròn cạnh, độ lựa chọn trung bình đến tốt Trầm tích thường chứa phong phú hoá thạch biển (đặc biệt là trùng lỗ), đôi khi có chứa glauconit (giếng khoan 51-MH, 46-PT v.v ) Đôi khi cũng có mặt các lớp mỏng dolomit và đá vôi vi hạt (giếng khoan 50-TV, B-KL v.v ) Sét chứa than và các vỉa than nâu thường xuất hiện ở phần dưới của mặt cắt

Nhìn chung tỷ lệ cát/sét thấp, cát thường có xu thế hạt thô phát triển ở phần trên Đường gamma có giá trị trung bình, còn đường điện trở có giá trị thấp

Trên mặt cắt địa chấn hệ tầng Minh Hải được đặc trưng bằng tập địa chấn có

đặc điểm là các phản xạ song song, độ liên tục kém, biên độ và tần số trung bình phản

ánh tướng đầm lầy ven biển Phần đáy nơi tiếp xúc với hệ tầng Đầm Dơi thấy kiểu phủ vát biển lùi thể hiện quan hệ bất chỉnh hợp giữa hai hệ tầng Bề dày của hệ tầng thay

đổi từ 30 đến 500 m

Trong hệ tầng đã phát hiện bào tử phấn hoa, trùng lỗ và hóa thạch Nanoplankton thuộc phức hệ Fl meridionalis - Stenochlaena laurifolia - Anthocerisporites; đới Neogboquadrina acostaensis (N16-N18); và đới Discoarter quiqueramus, Discoarter bergreni (NN10-NN11), định tuổi Mioxen muộn cho trầm tích của hệ tầng

Hệ tầng Minh Hải được thành tạo trong môi trường biển nông chịu nhiều ảnh

Trang 30

hưởng của nguồn lục địa Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Đầm Dơi

Pliocen

Hệ tầng Biển Đông (N 2 bđ)

Hệ tầng Biển Đông gặp ở bể Mã Lay - Thổ Chu, gắn liền với quá trình hình thành thềm lục địa Biển Đông như đã được đề cập trong các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và Sông Hồng ở đây, hệ tầng được đặc trưng bằng sét, bột xám, xám xanh mềm dẻo xen các lớp cát bở rời, chủ yếu hạt nhỏ, đôi chỗ hạt vừa đến thô, bán góc cạnh, bán tròn cạnh, chọn lọc tốt chứa nhiều hoá thạch động vật biển (trùng lỗ, thân mềm, rêu

động vật v.v ) Mặt cắt hệ tầng Biển Đông ở các vùng khác nhau của bể, từ ngoài rìa

đến vùng trung tâm có thể liên hệ khá dễ dàng với nhau, cũng như với các bể lân cận qua tài liệu địa chấn Trong bể Mã Lay - Thổ Chu hệ tầng được đánh dấu bằng tập địa chấn được đặc trưng bằng các phản xạ song song có độ liên tục, biên độ và tốc độ trung bình đến cao Theo các đường phản xạ này, hệ tầng phủ bất chỉnh hợp theo kiểu phủ chờm biển tiến, phủ vát biển lùi và cắt lớp trên hệ tầng Minh Hải

Hệ tầng Biển Đông phân bố rộng khắp trong bể và có bề dày tương đối ổn định ở

khoảng 400-600 m Hoá thạch thu thập được thuộc phức hệ Dacrydium; và đới

Pseudorotalia-Asterorotalia, đới Sphaeroidinella deshicens (N19-N21); và đới Discoarter, Helicosphaera (NN12-NN15)

Hệ tầng Biển Đông ở bể Mã Lay - Thổ Chu phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Minh Hải

3 Đối sánh địa tầng trầm tích Kainozoi Biển Đông và các vùng kế cận

Trên bản đồ hiện tại, Biển Đông được giới hạn bởi lãnh thổ các nước: Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Brunei và Indonesia Còn trên bình đồ cấu trúc Biển

Đông như một phức bể lớn sau cung phức tạp, phần ngoài cùng của Biển Đông được bao quanh bởi các đại dương và hệ các cung đảo, núi lửa khác nhau

Phía Đông là Thái Bình Dương và hệ cung đảo Đài Loan và Philippin với đới trước cung có máng sâu đại dương và cung núi lửa đặc trưng bởi kiểu hội tụ tích cực với cung động đất núi lửa Đài Loan - Luson, và thềm lục địa hẹp, dốc kề ngay máng sâu đại dương

Phía Nam ấn Độ Dương và hệ cung đảo Andaman - Indonesia với các máng sâu ngoài Sumatra và Java, cung đảo ngoài và núi lửa trong tạo rìa lục địa chuyển tiếp từ kiểu tích cực Palawan tới kiểu thụ động Natuna

Phần trung tâm là phần sâu nhất với độ sâu đáy biển trung bình ± 4000m tương ứng với vi đại dương trung tâm phân bố các núi ngầm đáy biển với bazal đại dương liên quan đến quá trình tách giãn và mở rộng đáy Biển Đông

Phía Tây là rìa lục địa Việt Nam (thềm lục địa Việt Nam) được đặc trưng bởi

Trang 31

kiểu phân kỳ thụ động, nằm trong miền vỏ chuyển tiếp - miền vỏ lục địa cổ bi thoái hoá mạnh vào Kainozoi

Qua trình hình thành và phát triển của Biển Đông đã tạo nên các bể trầm tích

Đệ tam trong chúng, mà đặc trưng là trên 20 bể phân bố chủ yếu trong vùng thềm và sườn lục địa của các nước Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam

Các bể Đệ tam này được lấp đầy bởi các trầm tích đầm hồ, châu thổ, biển thềm, biển mở do quá trình phát triển chúng chịu ảnh hưởng của các biến cố địa chất khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các bể này có nét chung bao gồm hai đơn vị địa tầng - kiến tạo khác nhau: các đơn vị đồng tách giãn và sau tách giãn phân cách nhau bởi gián

đoạn khu vực đặc trưng cho các pha hình thành và mở rộng Biển Đông

Kết quả nghiên cứu địa tầng trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam gắn lền với quá trình phát triển Biển Đông và bao gồm 4 giai đoạn:

* Giai đoạn hình thành các bể Đệ tam (E2 - E3): trầm tích sông, hồ, ít pha biển

* Giai đoạn phát triển mở rộng các bể trầm tích Đệ tam (N1- N1 ): trầm tích tam giác châu, biển - biển nông

* Giai đoạn thu hẹp các bể Đệ tam (N1): trầm tích tam giác châu, đầm hồ, ít pha biển

* Giai đoạn hình thành và phát triển thềm lục địa Biển Đông (N2): trầm tích biển thềm phát triển rông rãi

Nghiên cứu chi tiết thành phần trầm tích, cổ sinh và đặc điểm địa chấn của các tập trầm tích trong giai đoạn nêu trên, liên hệ với địa tầng trầm tích Đệ tam trong toàn khu vực, có thể nhận thấy rằng trầm tích Đệ tam phát triển ở khu vực Biển Đông

có nhiều nét tương đồng Những điểm đó được coi là các tiêu chuẩn cơ bản làm cơ sở để liên kết địa tầng trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam và khu vực Biển Đông Chúng đã được thống kê trong bảng " Các tiêu chuẩn liên kết địa tầng trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam và khu vực Biển Đông"

ở các nước trong khu vực này, các thành tạo trầm tích Đệ tam phát triển khá rộng rãi ở cả đất liền va thềm lục địa Chúng là đối tượng quan trọng của địa chất dầu khí nên nhiều bể được nghiên cứu chi tiết về địa tầng Thang địa tầng Đệ tam có đủ các phân vị địa tầng từ Oligocen đến Pliocen ở một số nơi của bể có các phân vị Paleocen và Eocen

Sơ đồ liên kết giữa chúng được thể hiện trên "sơ đồ liên kết địa tầng trầm tích

Đệ tam thềm lục địa Việt Nam và khu vực Biển Đông"

Theo sơ đồ này thì ở Trung Quốc, thang địa tầng Đệ tam được nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ Thang này gồm nhiều phân vị địa phương với các tướng trầm tích và cấu tạo mặt cắt khác nhau Phần thấp của thang (Paleocen, Eocen) ở hầu hết các bể là các thành tạo lục địa (sông, hồ) và lục địa ven biển (trừ một số nơi đã có yếu tố biển

Trang 32

trong Eocen như ở bể thềm lục địa Biển Đông Trung Quốc Yếu tố biển tăng lên bắt

đầu từ Oligocen Địa tầng Neogen gồm chủ yếu các thành tạo của tướng biển khác nhau Tuy nhiên, ở một bể như Subei - Nam Hoàng Hải (Yellow Sea) và thềm phía

Đông, trong Miocen vẫn phát triển rộng rãi các thành tạo đồng bằng ngập nước và đầm lầy ven biển Trong các mức địa tầng khác nhau ở đây có một số hoá thạch đặc trưng phát triển xuống cả các bể Đệ tam của Việt Namvà các nước khác nên một số trường hợp việc liên kết khu vực có nhiều thuận lợi

ở Philippin, các phân vị ở phần thấp của thang địa tầng Đệ tam có nơi vắng mặt , đặc biệt là Paleocen, có nơi vắng mặt cả Eocen và Oligocen dưới Trong khi đó, các trầm tích biển phát triển mạnh từ Oligocen và liên tục cho tới đệ tứ Ngay trong Oligocen đã gặp các tướng biển sâu từ thềm ngoài đến sườn lục địa Trong Miocen phát triển rộng rãi tướng cacbonat như ở nam bể Sông Hồng của Việt Nam Pliocen có chỗ là biển sâu, có chỗ là biển nông Nói chung, địa tầng Đệ tam của Philippin có nhiều đặc

điểm giống với Việt Nam cả về tướng đá , cổ địa lý và hoá thạch biển nên việc liên kết

địa tầng có độ tin cậy cao

Thang địa tầng Đệ tam ở Indonesia cũng có nhiều nét gần với thang địa tầng của Philippin là hoàn toàn vắng mặt các phân vị Paleocen, một phần hoặc cả Eocen

Đệ tam biển phát triển liên tục từ Oligocen tới đệ tứ Các thành tạo carbonat biển nông

xa bờ phát triển ở nhiều nơi trong Miocen Hoá thạch phong phú cho phép phân chia chi tiết các mặt cắt và liên kết địa tầng địa phương và khu vực thuận lợi

Thang địa tầng Đệ tam ở Malaysia cũng giống Indonesia và Philippin, các phân

vị dưới cùng của thang địa tầng Đệ tam (Paleocen, Eocen và cả phần thấp của Oligocen

ở một số bồn trũng) đều vắng mặt, nhưng khác biệt với chúng là các thành tạo carbonat biển nông xa bờ kém phát triên Trong khi đó các tành tạo biển sâu lại rất phát triển và phát triển liên tục tới đệ tứ Trên cơ sở phong phú hoá thạch biển , thang

địa tầng Đệ tam ở Malaysia trong nhiều trường hợp được phân chia khá chi tiết theo thang địa tầng đới Thang này gồm đầy đủ các phân vị địa tầng Neogen biển với nhiều

đới trung lỗ, tảo vôi điển hình của dải nhiệt đới Đặc điểm này cho phép liên kết địa tầng khu vực có cơ sở tin cậy

Ơ Thái Lan, các trầm tích Đệ tam được nghiên cứu tương đối chi tiết là bể Pattani Địa tầng Đệ tam ở đây chỉ có mặt các phân vị từ Oligocen tới Pliocen với các tướng biển (chủ yếu là biển nông) và lục địa xen kẽ Rất cỏ thể vắng mặt các phân vị Paleocen và Eocen Đây là kiều mặt cắt địa tầng Đệ tam của các bể ở vùng biển nông gần bờ Nó có nhiều nét gần với cấu tạo của các mặt cắt bắc bể Sông Hồng, Cửu Long

và Mã Lay - Thổ Chu về tướng đá cổ địa lý và hoá thạch bào tử phấn hoa

Thang địa tầng các bể Đệ tam thềm lục địa của Myanmar điển hình là bể Mergui là thang Đệ tam biển Mặc dù các phân vị ở phần thấp của mặt cắt (Paleocen

và Eocen) hiện chưa được phát hiện và có khả năng là vắng mặt, nhưng từ Oligocen

đến đệ tứ chiếm ưu thế là biển (từ biển nông đến biển sâu) Đặc điểm của mặt cắt địa

Trang 33

tầng ở đây cũng có nhiều nét giống với các mặt cắt đã mô tả ở trên về cấu tạo và lịch

sử phát triển Cụ thể là những gián đoạn địa tầng giữa Oligocen va Miocen dưới, giữa Miocen dưới - Miocen giữa, giữa Miocen giữa và Miocen trên giữa Miocen trên và Plioce đều thể hiện rất rõ

Tóm lại, qua những đặc điểm về địa tầng Đệ tam của một số nước lân cận với Việt Nam, thấy rằng tuy mỗi bể có đặc thù riêng, nhưng đặc điểm cấu tạo các mặt cắt của các bể đều thể hiện nét chung của lịch sử phát triển địa chất khu vực trong Kainozoi Điều này làm cho việc liên kết địa tầng có nhiều thuận lợi

Đây chính là kết quả của ảnh hưởng hoạt động tách giãn và phát triển của Biển

Đông đối với các bể trầm tích Đệ tam trong toàn khu vực ảnh hưởn này cũng khống chế quy luật hình thành và phân bố khoáng sản, đặc biệt là dầu khí trong toàn khu vực Biển Đông Việt Nam

Bảng 1 Các tiêu chuẩn liên kết địa tầng trầm tích đệ tam thềm lục địa việt nam

Đặ c trưn g tuổ i hà n ôi,

V.bắc bộ

hu quản g ng ãi Cửu lon g

ế-nam côn sơn

th ềm tây nam

(M ã la i-th ổ ch u)

khu vực biển đ ôn g

1 Đới F lorsc huet zia t rilob ata

2 Đới Cica tricosi sporites

3 Đớ i F mer idionalis

4 Đớ i Stenoc laena la urifolia

5 Đới Dac rydi um

6 Đới Ammon ia (Rotalia)

7 Orb ulin a u nive rsa (N 9)

8 G foh si (N12), G mayer i (N14 )

9 Tf3 ( Oper culina, Lepi docy clin a)

10 Tf 1-2 ( Lepi doc yclina, Miogy psin a)

11 G (N) aco stae nsis , G tu mid a (N 16-1 8)

12 G marga ritae

13 Ps eudo rot alia , As ter orot alia

14 S de hiscen (N1 9), Gde s e xtremus

15 Di sco aste r d rugi i (NN2- 4)

16 D kugl eri (NN7 ), D ha matu s (N N9)

17 D qu inq uera mus (N N11)

18 He l sel li (NN1 1-15 ), D brow eri i (N N16 -18)

E 3

N 1

N 1 N1 /E 3

?

?

?

Trang 34

Phần II cấu trúc kiến tạo và lịch sử phát triển địa chất các bồn trầm tích Kainozoi biển đông và các vùng kế cận

Thềm lục địa Việt Nam và vùng kế cận được cấu thành từ các bồn trũng sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu, các nhóm bể Trường

Sa, Hoàng Sa, Nam Hải Nam và Beibuwan Các bể trầm tích Kainozoi này được hình thành và phát triển chủ yếu trên 3 miền, đó là miền vỏ lục địa, vỏ chuyển tiếp lục địa –

đại dương và có một phần trên vỏ đại dương

Ranh giới giữa các các bể đã được xác định bởi các hệ thống đứt gãy khu vực hoặc các đới nâng móng trước Đệ tam (Như đới nâng Côn Sơn, đới nâng Korat – Natuna)

Các thành tạo móng trước Kainozoi của các bể trầm tích ở đây không đồng nhất

về tuổi và thành phần vật chất đá, bao gồm các đá phun trào Trias, đá vôi C – P, đá biến chất Proterozoi, đá carbonat Devon (D2-3) ở bể sông Hồng, đá granit, granodiorit, diorit Jura – Kreta và đá biến chất Mezozoi ở bể Cửu Long, Nam Côn Sơn

Lớp phủ trầm tích Kainozoi bao gồm các thành tạo chủ yếu là đá lục nguyên, lục nguyên chứa than và carbonat có tuổi từ Eocen – Oligocen tới Pliocen – Đệ tứ có chiều dày thay đổi 5 – 9km, có nơi đạt đến 12 – 15km như ở trung tâm bể sông Hồng

và các trung tâm bể Nam Côn Sơn

Các thành tạo trầm tích Kainozoi trong các bể trầm tích bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy chính có hướng Tây Bắc – Đông Nam, Đông Bắc – Tây Nam và á vĩ tuyến (Đông – Tây), chúng đóng vai trò quan trọng trong sự phân chia các địa hào, địa lũy, bán địa hào, bán địa lũy v.v

Các bể trầm tích ở đây được hình thành và phát triển trong giai đoạn tạo rift sau đó được mở rộng, sụt lún, oằn võng và tạo thềm sau rift

1 Bồn Sông Hồng

Qua kết quả phân tích tổng hợp các tài liệu địa chất, địa vật lý, khoan tại khu vực nghiên cứu thì đặc điểm cấu trúc địa chất các thành tạo Kainozoi ở đây có thể được phân chia theo khoảng thời gian (thẳng đứng) và không gian (theo chiều ngang)

1.1 Phân tầng cấu trúc bồn trũng sông Hồng (theo thời gian)

Theo tài liệu thu thập được thì các thành tạo Kainozoi ở bồn trũng sông Hồng có chiều dày trầm tích lớn nhất so với các bể trầm tích khác trong khu vực Biển Đông, dày nhất đạt đến trên 15km như ở phần trung tâm bể, trung bình 3 đến 7km Cấu trúc này được chia làm 2 tầng cấu trúc là: (hình 28)

- Tầng cấu trúc trước Kainozoi

- Tầng cấu trúc Kainozoi:

Trang 35

Tầng cấu trúc trước Kainozoi:

Tầng cấu trúc trước Kainozoi hay còn gọi là tầng cấu trúc dưới (A) Tầng này chủ yếu bị vùi lấp bởi các trầm tích Kainozoi, một phần được lộ ra ở các đảo, các vùng rìa Tây Nam, Đông Bắc Miền võng Hà Nội, các vùng ven bờ biển Vịnh Bắc Bộ và phía Tây Nam đảo Hải Nam Chúng bao gồm các đá có thành phần và tuổi khác nhau Đây

là tấng cấu trúc móng của các thành tạo Kainozoi

Tầng cấu trúc Kainozoi:

Tầng cấu trúc Kainozoi hay còn gọi là tầng cấu trúc trên (B) Tầng cấu trúc này phát triển mạnh nhất ở trung tâm bồn trũng với chiều dày trên 15.000mét và mỏng dần ra các rìa của bồn Tầng cấu trúc này bao gồm các thành tạo có tuổi từ Eocen (gặp

ở GK 104, tại huyện Phù Cừ thuộc MVHN), Oligocen, Miocen và Pliocen – Đệ tứ, bao gồm các thành tạo lục nguyên, lục nguyên chứa than và có cả carbonat, chúng phủ bất chỉnh hợp lên tầng cấu trúc dưới Trong quá trình hình thành và phát triển, tầng cấu trúc dưới này đã trải qua các pha hoạt động kiến tạo khác nhau như ngưng nghỉ trầm tích, bào mòn cắt cụt, các pha biển tiến, biển lùi Các dấu tích để lại là các mặt bất chỉnh hợp, đánh dấu sự bắt đầu và kết thúc của các pha kiến tạo tương ứng, đó là các mặt bất chỉnh hợp chính giữa các thành tạo: Móng – Eocen, Oligocen, Oligocen – Miocen, Miocen và Pliocen – Đệ tứ

Theo đặc điểm thạch học trầm tích, môi trường lắng đọng và lịch sử hình thành, tầng cấu trúc này được chia ra 3 phụ tầng cấu trúc:

- Phụ tầng cấu trúc dưới (B1) bao gồm các thành tạo Eocen và Oligocen, phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kainozoi Phụ tầng này có chiều dày thay đổi từ vài chục mét đến 5 – 7km Chúng được cấu thành bởi các trầm tích được hình thành trong môi trường lục địa như aluvi, proluvi, đầm hồ và đồng bằng châu thổ.v.v và bị chia thành các đới bởi các hệ thống đứt gãy khác nhau

- Phụ tầng cấu trúc giữa (B2) bao gồm toàn bộ các thành tạo có tuổi Miocen Thành phần thạch học bao gồm các đá lục nguyên cát bột sét, than và cả carbonat (gặp

ở các GK ở vịnh Bắc Bộ và Nam sông Hồng) Phụ tầng này nằm bất chỉnh hợp lên phụ tầng cấu trúc dưới Đây là các thành tạo được lắng đọng trong môi trường trầm tích xen kẽ giữa đồng bằng châu thổ, biển ven bờ và vũng vịnh

- Phụ tầng cấu trúc trên (B3) bao gồm các thành tạo có tuổi Pliocen và Đệ tứ với thành phần vật chất chủ yếu là vụn lục nguyên cát bột và sét Chúng được lắng đọng trong môi trường biển, biển ven bờ và cả vũng vịnh Thành tạo cát bột sét phân lớp nằm ngang hoặc song song với nhau, hoặc nghiêng nhỏ với độ dốc không đáng kể Đá ở

đây có độ gắn kết yếu hoặc chưa gắn kết, còn bở rời

Phụ tầng cấu trúc này phủ bất chỉnh hợp lên phụ tầng cấu trúc giữa và tạo thành một mặt bất chỉnh hợp mang tính toàn khu vực Các thành tạo trong phụ tầng này gàn như không bị các đứt gãy phân cắt

Bảng Error! No text of specified style in document 2 Đặc điểm các tầng cầu trúc bồn trũng Sông Hồng

Trang 36

Đệ tứ

Tuổi Thời gian

Phụ tầng cấu trỳc dưới (B1)

Phụ tầng cấu trỳc giữa (B2)

Tầng cấu trỳc dưới (A)

Cỏt, bột, sột

và than

Cỏt, bột, sột carbonat Cỏt, bột, sột Cỏt, sạn, sỏi

1.2 Phân vùng cấu trúc bồn trũng sông Hồng (theo không gian)

Bể sông Hồng là một bồn trũng lớn cả về chiều dày và diện tích Đây là một bể trầm tích được hình thành dưới tác dụng của các pha hoạt động kiến tạo nên cấu trúc của nó hết sức phức tạp Để phân vùng cấu trúc, tác giả đã dựa trên các đặc điểm kiến tạo, đặc điểm thạch học cũng như môi trường lắng đọng trầm tích và các chỉ tiêu khác như chiều dày trầm tích Kainozoi.v.v

Nếu lấy toàn bồn trầm tích sông Hồng là cấu tạo bậc I tương đương cùng bậc với các bể trầm tích khác trong thềm lục địa Việt Nam như Phú Khánh, Nam Hải Nam, Tay Loi Châu (Beibuwan), Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay Tác giả có thể phân ra các bậc cấu trúc bé hơn

Trũng trung tâm bồn trũng sông Hồng (A1)

Trũng trung tâm bồn trũng sông Hồng chiếm phần lớn diện tích bể trầm tích

Kz này Đây là cấu tạo bậc II, có chiều dày trầm tích Kz rất lớn, chỗ gày nhất đạt trên 15.000mét, trung bình từ 7000 đến 9000 mét bao gồm các trầm tích vụn lục nguyên, than và có cả lớp đá vôi dày trên 30 mét Đây là đới sụt nằm ở trung tâm bể, kéo dài từ trong đất liền (MVHN) cho đến tận Quy Nhơn, dài hàng ngàn km Phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở phía Bắc và trung tâm bồn, sau đó là hướng á kinh tuyến (ở phần Miền Trung), nó được khống chế bởi các hệ thống đứt gãy thuận như sông Lô, Tri Tôn ở phía Đông Bắc và Đông, còn phía Tây Nam và Tây bởi hệ thống đứt gãy sông Chảy, sông Cả kéo dài và đứt gãy Đà Nẵng

Dựa vào đặc điểm cấu trúc và các yếu tố kiến tạo, đới trung tâm này có thể được chia ra 3 phụ đới (cấu tạo bậc III) đó là:

- Trũng trung tâm miền võng Hà Nội (A1-1) Phụ đới này nằm chủ yếu trên đất liền, nó bị khống chế bởi các đứt gãy cổ sông Lô ở phía Đông và đứt gãy sông Chảy ở phía Tây Nam Chiều dày trầm tích Kz đạt trên 7000mét Nó bị chia cắt thành các đới

Trang 37

cấu trúc bé hơn (bậc IV) như trũng Đông Quan, đới nghịch đảo Miocen, ngăn cách giữa chúng là đứt gãy Vĩnh Ninh

- Phụ trũng trung tâm trũng sông Hồng (A1-2) Phụ trũng này được giới hạn với trũng trung tâm MVHN là hệ thống đứt gãy ĐB – TN và đới nâng ngầm Oligocen Nó

được khống chế ở phía Đông là đứt gãy sông Lô kéo dài và ở phía Tây là đứt gãy sông Chảy kéo dài Đây là đới có chiều dày trầm tích Kz lớn nhất, đạt trên 15.000m

- Phụ trũng Nam trũng trung tâm sông Hồng (A1-3) Đây là phần kéo dài của trũng trung tâm, có diện tích thu hẹp dần về phía Nam Phụ trũng này phát triển theo hướng á kinh tuyến, chiều dày trầm tích tương đối lớn đạt 7.000 đến 10.000 mét và

được khống chế ở phía Đông là đứt gãy Tri Tôn, còn phía Tây là đứt gãy sông Cả kéo dài

Đơn nghiêng rìa Đông Tri Tôn (A9)

Trũng trung tâm miền võng Hà Nội

Thềm Hạ Long là một thềm hẹp nằm ở phía Đông Bắc vịnh Bắc Bộ, phía Tây

được giới hạn bởi đứt gãy Kiến Thụy, phía Bắc giáp đất liền, phía Đông được giới hạn bởi đứt gãy Bạch Long Vỹ Thềm này có chiều dày trầm tích Kz bé

Thềm Thanh Nghệ (A3)

Thềm Thanh Nghệ là cấu tạo bậc II của bồn trũng sông Hồng, do đặc điểm cấu trúc đơn giản, có xu hướng nghiên dần về phía Đông nên nhiều người gọi là đơn nghiêng bình ổn Thanh Nghệ Phía bắc giáp đất liền, phía Đông được giới hạn bởi hệ thống đứt gãy sông Chảy ở đây có chiều dày trầm tích Kz khoảng 3000 đến 4000 mét ở chỗ dày nhất và mỏng dần ra cánh phía Tây, với thành phần trầm tích chủ yếu là các vụn lục nguyên có tuổi từ Miocen đến Đệ tứ Là một thềm ít bị các đứt gãy chia cắt, nhưng lại bị phức tạp hóa bởi các mũi nhô đá cổ từ đất liền ra

Đới phân dị Đông Bắc sông Lô (A4) là một đới có cấu trúc hết sức phức tạp, phía Tây giới hạn bởi đứt gãy sông Lô, phía Đông Bắc giáp với thềm Hạ Long Tại đây

có chiều dày trầm tích Kz đạt trên 7000 mét ở chỗ dày nhất và có xu hướng nghiêng

Trang 38

dần về phía thềm Hạ Long Do đặc điểm cấu trúc, đới phân dị này có thể được chia ra 2 phụ đới (cấu tạo bậc III):

- Đơn nghiêng phân dị Đông Bắc sông Lô (A4-1)

- Đới nghịch đạo kiến tạo Paleogen (A4-2)

Thềm Dinh Cơ (A5)

Thềm Dinh Cơ cũng là cấu tạo bậc III của bồn trũng sông Hồng, nó nằm ở phía

Đông trũng trung tâm, phía Tây được giới hạn bởi đứt gãy sông Lô, phía Đông giáp đảo Hải Nam Chiều dày trầm tích đạt trên 3000 mét và nghiêng dần về phía trung tâm

Đới phân dị Huế - Đà Nẵng (A6)

Đới này chiếm một diện tích tương đối lớn Đới có cấu trúc hết sức phức tạp, bao gồm các địa hào, bán địa hào và các địa lũy, bán địa lũy trong Oligocen Nhưng đến Miocen gần như bị san bằng và nghiêng dần về trung tâm bể Đới này có chiều dày trầm tích Kz đạt 5000 mét ở chỗ sâu nhất, trung bình 2500 – 3000 mét với thành phần trầm tích chủ yếu là các vụn lục nguyên cát bột sét và đá vôi

Thềm Đà Nẵng (A7)

Đây là một thềm có diện tích bé, chiều dày trầm tích nhỏ, chỗ dày nhất đạt trên

1000 mét và có xu hướng nghiêng dần về phía Đông với thành phần trầm tích chủ yếu

là cát bột và sét có tuổi chủ yếu là Miocen muộn và Pliocen – Đệ tứ Cấu trúc của thềm

bị phức tạp hóa bởi các mũi nhô đá cổ từ đất liền phát triển ra và cả các dấu tích núi lửa

Địa lũy Tri Tôn (A8)

Địa lũy này phát triển theo hướng á kinh tuyến, nó được giới hạn bởi đứt gãy Tri Tôn ở phía Tây và đơn nghiêng phía Đông Đới này có chiều dày trầm tích trên

4000 mét, có xu hướng nghiêng dần về phía Tây và Đông Bắc Là đới có cấu tạo phức tạp, các phức hệ trầm tích chủ yếu là lục nguyên, vào thời kỳ Miocen sớm – giữa Cấu trúc bị phức tạo hóa bởi các hoạt động núi lửa

1.3 Lịch sử tiến hóa địa chất Kainozoi bồn trũng sông Hồng

Để làm sáng tỏ lịch sử phát triển địa chất của bồn trũng sông Hồng tác giả đã dùng phương pháp khôi phục cổ cấu tạo dựa trên kết quả phân tích một loạt mặt cắt phục hồi kết hợp nghiên cứu các tài liệu giếng khoan và các điểm lộ xung quanh bể, có thể phân chia tiến trình tiến hóa địa chất ra các giai đoạn chính sau:

- Giai đoạn trước tạo rift

+ Giai đoạn cuối Mezozoi đầu Kainozoi

+ Giai đoạn chuyển tiếp Paleogen

- Giai đoạn đồng tạo rift (Eocen – Oligocen + Miocen sớm)

- Giai đoạn sau tạo rift

+ Giai đoạn mở rộng, sụt lún và oằn võng (Miocen)

Trang 39

+ Giai đoạn tạo thềm (Pliocen + Đệ tứ)

Giai đoạn trước tạo rift

Vào cuối Mezozoi (có thể vào thời kỳ Jura – Creta) đã xảy ra sự va chạm mạnh giữa mảng ấn – úc vào mảng Âu – á ở phía Bắc làm tác động mạnh đến các khối lục địa khác trong đó có khối Đông Dương xoay theo chiều kim đồng hồ gây nên những pha nén ép mạnh mẽ, móng bị dập vỡ và tạo thành các đới nâng đới sụt khác nhau, làm cho các thành tạo trước Kz bị uốn nếp mạnh Tiếp sau đó là thời kỳ san bằng kiến tạo Sự san bằng này đã xảy ra trên toàn bộ diện tích bể sông Hồng và vùng kế cận, thời kỳ san bằng kiến tạo xảy ra trong một thời gian tương đối dài Mặt móng bị phong hóa, bào mòn mạnh và thiếu vắng các trầm tích Tharetian và Dian trên toàn bộ diện tích khu vực bồn trũng này khi hàng loạt các giếng khoan đã khoan qua các trầm tích Kz vào móng nhưng đều không bắt gặp

Giai đoạn đồng tạo rift

Giai đoạn đồng tạo rift được khởi xướng từ đầu Eocen và kết thúc vào cuối Miocen sớm Giai đoạn tạo rift đã không xảy ra liên tục, mà có sự gián đoạn, vì vậy nó

được chia ra:

+ Giai đoạn tạo rift sớm

+ Giai đoạn tạo rift muộn

- Giai đoạn tạo rift sớm

Pha tạo rift sớm bắt đầu khởi xướng vào đầu Eocen và kết thúc vào cuối Oligocen muộn Đây là thời kỳ rift xảy ra mạnh mẽ trên toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu, các đứt gãy cổ tái hoạt động, hàng loạt các đứt gãy mới được sinh thành, các vật liệu trầm tích được vận chuyển từ chỗ cao đến lấp đầy các địa hào, hố sụt và mương xói Đến cuối Oligocen muộn bề mặt được nâng lên, thiếu vắng trầm tích, bị bào mòn và nhiều nơi bị bào mòn cắt cụt Mà chính mặt bào mòn đó sau này trở thành mặt bất chỉnh hợp giữa trầm tích Oligocen và Miocen

- Giai đoạn tạo rift muộn

Pha tạo rift muộn được bắt đầu vào Miocen sớm và kết thúc vào cuối Miocen sớm Các vật liệu trầm tích được vận chuyển đến từ hướng Tây, Tây Nắc, Đông Bắc và cả từ phía Đông (từ đảo Hải Nam tới phủ bất chỉnh hợp lên các trầm tích Oligocen và tạo thành một mặt bất chỉnh hợp giữa Oligocen và Miocen Vào thời kỳ này, một số lớn

đứt gãy sinh thành trong thời kỳ tạo rift sớm tiếp tục hoạt động, đồng thời một số đứt gãy mới được sinh ra Cơ chế hoạt động của các đứt gãy là do lực căng tách tạo nên Sự hoạt động tạo rift trong thời kỳ này không mạnh mẽ so với thời kỳ trước và kết thúc vào cuối Miocen sớm

Giai đoạn sau tạo rift

Sau khi kết thúc pha tạo rift muộn vào cuối Miocen sớm là tiếp theo một chu kỳ kiến tạo mới bắt đầu đó là các chu kỳ hoạt động kiến tạo sau rift và nó bao gồm 2 thời kỳ:

Trang 40

+ Thời kỳ lún chìm, oằn võng và mở rộng bồn trầm tích

+ Thời kỳ tạo thềm và liên thông giữa các bể trầm tích

- Thời kỳ lún chìm, oằn võng và mở rộng bồn trầm tích

Thời kỳ này bắt đầu ngay sau thời kỳ tạo rift muộn, các trầm tích được lắng

đọng trong môi trường từ đồng bằng châu thổ, biển nông ven bờ và vũng vịnh Vật liệu trầm tích được lắng đọng với khối lượng lớn, cùng với các khối lượng trầm tích được hình thành trong pha tạo rift đã gây nên một trọng lực mạnh làm cho phần trung tâm bồn bắt đầu sụt lún và oằn võng Cũng trong giai đoạn này, vào thời kỳ cuối Miocen giữa đầu Miocen muộn, do tác động sự va chạm giữa các mảng đã tạo nên sự dịch chuyển các vi khối mà tiêu biểu nhất là khu vực Tây Nam MVHN và một phần Tây Bắc bồn sông Hồng đã xảy ra sự nén ép cục bộ Do sự nén ép này đã làm cho các thành tạo được hình thành từ trước bị uốn nếp và nâng trồi, đồng thời xuất hiện hàng loạt các

đứt gãy chờm nghịch cùng các cấu tạo dạng hình hoa (flower structure)

Đến cuối Miocen muộn, toàn bộ bề mặt nóc Miocen được nâng lên ngưng nghỉ trầm tích và bị bào mòn mạnh, những chỗ nâng cao thì bị bào mòn cắt cụt và sau này chính mặt bào mòn này đã trở thành một mặt bất chỉnh hợp khu vực giữa các trầm tích Miocen và Pliocen – Đệ tứ

- Thời kỳ tạo thềm:

Thời kỳ tạo thềm được bắt đầu bằng một pha biển tiến vào đầu Pliocen, biển dâng lên tràn ngập toàn bộ khu vực nghiên cứu và các vùng kế cận Các vật liệu trầm tích được vận chuyển đến và lắng đọng trong điều kiện động năng giảm mạnh và hình thành các lớp trầm tích nằm ngang gầm song song nhau và chính thời kỳ này đã xóa nhòa ranh giới giữa các bể trầm tích trong thềm lục địa Việt Nam và toàn bộ thềm lục

địa Việt Nam trở thành một thể thống nhất

2 bồn Beibu (Lôi Châu – Bạch Long Vĩ)

2.1 Những điểm khái quát chung bồn trũng Beibuwan

Bồn trũng Beibuwan hay còn gọi là bồn trũng Tây bán đẩo Tây Lôi Châu thuộc lãnh thổ cộng hòa nhân dân Trung Hoa Phía tây tiếp giáp với đới nâng chuyển tiếp Bạch Long Vĩ, phía Bắc giáp đất liền Trung Hòa, phía Đông là bán đảo Tây Lôi Châu

và phía Nam nằm kề đảo Hải Nam

Là một bồn trầm tích Kainozoi có diện tích không lớn về phương diện hình thái cấu trúc là một hố lớn với hình dạng hình bầu dục lớn

Hướng cấu trúc của bồn phát triển theo phương Đông – Tây, sụt lún mạnh trong Kainozoi Bồn được lấp đầy bởi các thành tạo lục nguyên, cuội sạn, cát, bột sét và bùn sét, trong đó cát, bột và sét chiếm ưu thế Với chiều dày trầm tích Kainozoi đạt trên 7000m tại trũng trung tâm và mỏng dần ra các cánh Các thành tạo này đã được cấu thành từ các Điệp Changliu, Liushagang, Weizhou, Xiayang, JiaJang,

Ngày đăng: 11/05/2014, 18:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Đỗ Bạt và nnk – 2002. Định danh và liên kết địa tầng trầm tích Đệ Tam thềm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định danh và liên kết địa tầng trầm tích Đệ Tam thềm
Tác giả: Đỗ Bạt, nnk
Năm: 2002
19. Nguyễn Biểu và n.n.k., 1985. Địa chất và khoáng sản ven biển Việt Nam. Báo cáo đề tài KH06. 06. Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện KHCN VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và khoáng sản ven biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Biểu, n.n.k
Nhà XB: Báo cáo đề tài KH06
Năm: 1985
24. Nguyễn Biểu, Đào Mạnh Tiến, La Thế Phúc, 1999. Triển vọng sa khoáng biển ven bờ Nam Trung Bộ Việt Nam. Tuyển tập báo cáo khoa học- Hội nghị khoa học biển lần thứ IV, tr. 775-779 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng sa khoáng biển ven bờ Nam Trung Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Biểu, Đào Mạnh Tiến, La Thế Phúc
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo khoa học- Hội nghị khoa học biển lần thứ IV
Năm: 1999
25. Nguyễn Biểu, Hoàng Văn Thức, Trịnh Thanh Minh và n.n.k., 1999. Trầm tích Holocen hạ ở vùng biển ven bờ Việt Nam (0-30m n−ớc). Tuyển tập báo cáo khoa học – Hội nghị khoa học biển toàn quốc lần thứ IV, tr. 748-754 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm tích Holocen hạ ở vùng biển ven bờ Việt Nam (0-30m n−ớc)
Tác giả: Nguyễn Biểu, Hoàng Văn Thức, Trịnh Thanh Minh, n.n.k
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo khoa học – Hội nghị khoa học biển toàn quốc lần thứ IV
Năm: 1999
28. Nguyễn Biểu, Đào mạnh Tiến và nnk, 2001. Báo cáo tổng kết Đề án "Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản biển nông ven bờ (0-30 m nước) Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000". Lưu trữ tại Liên đoàn Địa chất Biển. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Đề án "Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản biển nông ven bờ (0-30 m nước) Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000
Tác giả: Nguyễn Biểu, Đào Mạnh Tiến, nnk
Nhà XB: Liên đoàn Địa chất Biển
Năm: 2001
30. Hồ Đắc Hoài và Lê Duy Bách, 1990. Địa chất thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận. Báo cáo khoa học đề tài 48B.03.01. Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận
Tác giả: Hồ Đắc Hoài, Lê Duy Bách
Nhà XB: Báo cáo khoa học đề tài 48B.03.01
Năm: 1990
31. Vũ Khúc. 2000. Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam, Cục Địa chất và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam
Tác giả: Vũ Khúc
Nhà XB: Cục Địa chất
Năm: 2000
37. Trần Nghi (năm 2003-2004) chủ biên thành lập “Bản đồ các thành tạo Đệ tứ biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1.000.000” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ các thành tạo Đệ tứ biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1.000.000
40. Mai Thanh Tân (2002-2004) chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu địa chất tầng nông thềm lục địa Việt Nam và ý nghĩa địa chất công trình”. Trong đó có đề tài thành lập “bản đồ tướng đá - cổ địa lý và Địa chất môi trường tỷ lệ 1:250.000” do Trần Nghi chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa chất tầng nông thềm lục địa Việt Nam và ý nghĩa địa chất công trình”. Trong đó có đề tài thành lập “bản đồ tướng đá - cổ địa lý và Địa chất môi trường tỷ lệ 1:250.000
46. Briais A., Tapponier P., Pauttot G., 1989. “Contraints of Sea Beam data on crustal fabrics and seafloor spreading in the South China Sea”. Earth Plan.Sci.Letter, 95: 307-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contraints of Sea Beam data on crustal fabrics and seafloor spreading in the South China Sea
47. Briais A. et al, 1993. Updated interpretation of magnetic anotr. Nlies and see Sách, tạp chí
Tiêu đề: Updated interpretation of magnetic anotr
Tác giả: Briais A
Năm: 1993
1. Địa tầng - Địa chất Việt Nam. Tổng cục địa chất Việt Nam. Hà Nội, 1989 Khác
2. Nguyễn Xuân Bao và nnk (2000). Kiến tạo và sinh khoáng miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000. lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Khác
3. Lê Duy Bách và Ngô Gia Thắng, 1990. Về phân vùng kiến tạo thềm lục địa Việt Nam và các miền kế cận. Các khoa học về Trái đất, N 0 . 12 Khác
4. Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (2000). Bản đồ kiến tạo Biển Đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1/3.000.000. Viện KH&amp;CN Việt Nam Khác
5. Lê Duy Bách (1980-1982). Bản đồ kiến tạo Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000; bản đồ tân kiến tạo Việt Nam tỷ lệ 1.000.000. Ch−ơng trình Atlas quốc gia Khác
6. Lê Duy Bách (1989). Địa chất và tài nguyên khoáng sản Biển Đông. Viện Khoa học Việt Nam Khác
7. Lê Duy Bách (1991). Kiến tạo biển đông theo địa tuyến SEATAR. Báo cáo khoa học, lưu trữ Viện Khoa học Việt Nam Khác
8. Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (1999). Kiến tạo địa khối quần đảo Trường Sa. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị Khoa học Công nghệ Biển toàn quốc lần thứ IV Khác
9. Đặng Văn Bát, Cb, 2004. Đặc điểm địa mạo đáy vịnh Bắc Bộ Việt Nam. TTBC”Điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi tr−ờng biển vịnh Bắc Bộ,mã số KC 09-17. Hải Phòng, 11/2004 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các tiêu chuẩn liên kết địa tầng trầm tích đệ tam thềm lục địa việt nam - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Bảng 1. Các tiêu chuẩn liên kết địa tầng trầm tích đệ tam thềm lục địa việt nam (Trang 33)
Bảng 3. Các ng−ỡng tr−ởng thành của vật chất hữu cơ bể Cửu Long   (theo tài liệu phản xạ Vitrinit, Trần Công Tào, 1996) - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Bảng 3. Các ng−ỡng tr−ởng thành của vật chất hữu cơ bể Cửu Long (theo tài liệu phản xạ Vitrinit, Trần Công Tào, 1996) (Trang 89)
Hình 35. Kết quả khoan giếng theo hợp đồng giai đoạn 1989 - 1997 - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Hình 35. Kết quả khoan giếng theo hợp đồng giai đoạn 1989 - 1997 (Trang 97)
Hình 38. Sản l−ợng dầu thô khai thác giai đoạn 1986 - 1997 - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Hình 38. Sản l−ợng dầu thô khai thác giai đoạn 1986 - 1997 (Trang 98)
Bảng 4. Các hợp đồng PSC và BCC - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Bảng 4. Các hợp đồng PSC và BCC (Trang 98)
Hình 36. Kết quả công tác thăm dò địa vật lý theo hợp đồng giai đoạn 1989 - 1997 - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Hình 36. Kết quả công tác thăm dò địa vật lý theo hợp đồng giai đoạn 1989 - 1997 (Trang 98)
Bảng 5. Kết quả công tác thăm dò - thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - địa tầng, cấu trúc kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và phân vùng triển vọng dầu khí thềm lục địa việt nam
Bảng 5. Kết quả công tác thăm dò (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w