1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v

159 705 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ, Nông Sơn - Quảng Nam, Hàm Tân - Bình Thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa
Tác giả TS. Đào Văn Thịnh, KS. Lờ Văn Học, KS. Nguyễn Trọng Phương, KS. Nguyễn Thỏi Hà, Nnk.
Người hướng dẫn TS. Đào Mạnh Tiến
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất Hà Nội
Chuyên ngành Địa chất và Khoáng sản
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy: cần phải xác định hàm lượng các nguyên tố phóng xạ, suất liều bức xạ gamma trong các trầm tích trong đó có các sa khoáng, vật liệu xây dựng để nghiên cứu tác hại của bức xạ phóng

Trang 1

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN -

BÁO CÁO CHUY£N §Ề

§ẶC TR¦NG TR¦ỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM CÁC NGUY£N TỐ PHÓNG XẠ VÀ NGUY£N TỐ §I KÈM VÙNG

Trang 2

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN -

Tác giả: TS Đào Văn Thịnh

KS Lê Văn Học

Chủ nhiệm chuyên đề: TS Đào Văn Thịnh

BÁO CÁO CHUY£N §Ề

§ẶC TR¦NG TR¦ỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM CÁC NGUY£N TỐ PHÓNG XẠ VÀ NGUY£N TỐ §I KÈM VÙNG

HÀM T¢N (BÌNH THUẬN)

TỶ LỆ: 1/50.000

Thuộc Đề tài “ Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện

Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)

và đề xuất giải pháp phòng ngừa” do TS Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm

LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG CHỦ NHIỆM CHUYÊN ĐỀ LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHÂT BIỂN

TS Đào Mạnh Tiến TS Đào Văn Thịnh

Hà Nội, 2006

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÙNG NGHIÊN CỨU 6

1.1 Vị trí địa lý, tọa độ, diện tích khảo sát 6

1.2 Đặc điểm tự nhiên 6

1.3 Đặc điểm dân cư, kinh tế xã hội 10

1.4 Đặc điểm địa chất khoáng sản 21

CHƯƠNG II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KHỐI LƯỢNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 39

2.1 Lịch sử nghiên cứu 39

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.3 Khối lượng thực hiện và thu thập trong vùng 60

CHƯƠNG III KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 64

3.1 Đặc điểm môi trường phóng xạ 64

3.1.1 Đặc điểm phân bố các nguyên tố phóng xạ 64

3.1.2 Đặc điểm liều chiếu ngoài (Hn) 71

3.1.3 Đặc điểm phân bố các nguyên tố phóng xạ trong nước 75

3.1.4 Đặc điểm liều chiếu trong do các chất phóng xạ xâm nhập qua đường tiêu hóa (Hd) và tổng họat độ αβ trong nước 77

3.1.5 Đặc điểm liều chiếu trong do các chất phóng xạ xâm nhập qua đường hô hấp (Hp) 78

3.2 An tòan phóng xạ 81

3.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ an tòan phóng xạ 81

3.2.2 An tòan phóng xạ 83

3.3 Đặc điểm địa hóa môi trường vùng Hàm Tân 92

3.3.1 Vùng lục địa 92

3.3.2 Vùng biển ven bờ 108

3.4 Các tai biến địa động lực vùng Hàm Tân 127

3.4 1 Lũ lụt 127

3.4 2 Xói lở 128

3.4.3 Bồi tụ biến động luồng lạch 129

3.4.4 Cát di chuyển 129

3.4 5 Dâng cao mực nước biển 129

3.4 6 Đổ lở, trượt lở 130

3.4.7 Động đất 130

3.4.8 Nhiễm mặn 131

3.4.9 Nứt đất 131

3.5 Phân vùng môi trường phóng xạ 132

3.5.1 Nguyên tắc phân vùng môi trường phóng xạ 132

3.5.2 Phân vùng và đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ 133

Trang 4

3.6 Các giải pháp phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu mức độ ô nhiễm phóng

xạ 138

3.6.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên vùng Hàm Tân 138

3.6.2 Các đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tai biến 141

3.6.3 Qui hoạch phát triển kinh tế vùng Hàm Tân 145

KẾT LUẬN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

Trang 5

MỞ ĐẦU

Trong công tác nghiên cứu môi trường thì nghiên cứu môi trường phóng xạ chiếm một tỉ trọng đáng kể và được thực hiện tại nhiều thành phố, thị xã, vùng dân cư, các khu vực sản xuất và một số vùng mỏ Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu địa chất môi trường, địa chất tai biến đã được các ngành, các cấp quan tâm Nhà nước đã đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trong cả nước Tuy vậy, hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu đánh giá các biểu hiện ô nhiễm nguồn gốc nhân sinh Tự nhiên có thể gây ra nhiều loại hình ô nhiễm môi trường, các ô nhiễm tự nhiên sẽ được cường hoá bởi các hoạt động nhân sinh như khai thác sử dụng khoáng sản một cách bừa bãi

Chính vấn đề nghiên cứu môi trường phóng xạ có vị trí trọng yếu trong công tác bảo vệ môi trường, nên năm 1996 Nhà nước đã ban hành “Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ” và năm 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 50/1998/NĐ-CP “Quy định chi tiết việc thi hành pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ”

Huyện Hàm Tân nằm ở phía Nam tỉnh Bình Thuận, thuộc khu vực kinh tế Đông Nam bộ Vùng nghiên cứu có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, vị thế quan trọng Đặc biệt, đây là vùng có tiềm năng về khoáng sản titan sa khoáng (ilmenit) Dọc ven biển vùng nghiên cứu đã phát hiện hàng loạt mỏ, điểm quặng titan (mỏ Hàm Tân, điểm quặng Kê Gà, Tam Tân, Cam Bình ) với trữ lượng hàng triệu tấn Ngoài ra, công tác điều tra địa chất còn phát hiện một số điểm khoáng hoá quặng Thori - Uran ở khu vực Tân Lập (xã Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân), mũi Kê Gà, hàng loạt các phức hệ magma xâm nhập có thành phần axit - trung tính có đặc tính phóng xạ cao Trong thành phần cát nặng sa khoáng ngoài ilmenit, zircon…, còn có các khoáng vật chứa các nguyên tố phóng xạ như: monazit {(Ce, La, Th [PO4][SiO4]} và xenotim (YPO4 và hợp chất chứa tới 4% USiO4) cùng với các kim loại nặng khác (Hg, Pb, Zn, As ) Chính vì vậy, trên các mỏ sa khoáng đều phát hiện được dị thường các nguyên

tố phóng xạ, kim loại nặng vượt quá giới hạn cho phép, dị thường phóng xạ có giá trị suất liều gamma (hay còn gọi là cường độ gamma) tới hàng chục đến hàng trăm µR/h

Ngoài ra, trong vùng còn có các tai biến thiên nhiên như lũ quét, đổ lở, xói lở

bờ biển cùng với các hoạt động khai thác khoáng sản (titan, nguyên vật liệu xây dựng ), nuôi trồng thuỷ sản ven biển, xây dựng các công trình ven biển, công tác thuỷ lợi thiếu quy hoạch đã làm phát tán các nguyên tố phóng xạ vào môi trường sống, làm cho môi trường bị ô nhiễm, cảnh quan và tài nguyên bị suy thoái

Trong vùng đã có một số kết quả điều tra về địa chất, địa mạo, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, cũng như về môi trường nhưng mới chỉ phản ánh phần nào được tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của khu vực, xác định được một số biểu hiện ô nhiễm môi trường (rác thải, chất hữu cơ, kim loại trong nước, trầm tích biển ) ở một

số khu vực đô thị, khu vực tập trung dân cư và vùng biển ven bờ Vấn đề về môi trường phóng xạ hầu như chưa được đề cập đến hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ

Do vậy: cần phải xác định hàm lượng các nguyên tố phóng xạ, suất liều bức xạ gamma trong các trầm tích trong đó có các sa khoáng, vật liệu xây dựng để nghiên cứu tác hại của bức xạ phóng xạ đối với sức khoẻ con người, đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ đối với môi trường, đề ra các biện pháp phòng tránh khắc phục, bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Trang 6

Nghiên cứu hiện trạng môi trường vùng Hàm Tân cũng như các mỏ sa khoáng, ảnh hưởng môi trường phóng xạ đối với dân sinh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, xây dựng và qui hoạch phát triển dân sinh cho phù hợp

Trong quá trình triển khai đề tài, cần thiết phải áp dụng các phương pháp phóng

xạ gồm: đo phổ gamma đáy biển; đo phổ gama môi trường; đo eman môi trường; quan trắc môi trường; điều tra xã hội học; lấy mẫu: trầm tích, mẫu nước, mẫu thực vật, mẫu thực phẩm, mẫu tóc; phân tích hàm lượng nguyên tố phóng xạ trong các mẫu; phân tích Eh, pH, kim loại nặng trong mẫu nước và mẫu trầm tích

1 Cơ sở pháp lý

- Căn cứ Quyết định số 1771/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 9 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công nhận các đơn vị trúng thầu Đề tài độc

lập cấp Nhà nước, trong đó Liên đoàn Địa chất biển là đơn vị trúng thầu đề tài "Nghiên

cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam) và Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa"

- Căn cứ "Thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ" đã được phê duyệt của đề tài nêu trên

2 Mục tiêu, nhiệm vụ

a Mục tiêu

- Đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ phục vụ bảo vệ sức khỏe cộng đồng và quy hoạch dân cư phát triển bền vững nền kinh tế vùng Hàm Tân (Bình Thuận)

- Xác định diện tích ô nhiễm phóng xạ theo các mức độ khác nhau

- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật và quản lý để phòng ngừa và giảm nhẹ thiệt hại

b Nhiệm vụ

- Thu thập, tổng hợp, xử lý các tài liệu hiện có trong vùng: địa lý tự nhiên, địa mạo, phóng xạ, địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường

- Thiết kế mạng lưới khảo sát, xây dựng phương án tổ chức thi công thực địa

- Khảo sát thực địa: đo đạc các thông số về phóng xạ, thu thập các loại mẫu phân tích (mẫu nước, đất, trầm tích, tóc, thực phẩm, ), điều tra xã hội, bệnh học

- Phân tích mẫu các loại

- Xử lý các kết quả thu thập, phân tích

- Thành lập bộ bản đồ và sơ đồ: phân vùng ô nhiễm phóng xạ, phân vùng ảnh hưởng của trường phóng xạ và qui hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội, đẳng trị liều tương đương bức xạ gamma, nồng độ Radon trong không khí, đẳng hàm lượng một số nguyên tố phóng xạ, địa chất - khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất (theo thuyết minh đề tài đã được phê duyệt)

- Thành lập các biểu bảng, biểu đồ về điều kiện tự nhiên, xã hội, môi trường phóng xạ khu vực nghiên cứu

- Viết báo cáo thuyết minh

Trang 7

Để hoàn thành báo cáo, tập thể tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, cộng tác của các phòng, ban chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam ; sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, các đồng nghiệp trong Liên đoàn Địa chất biển, các nhà khoa học thuộc bộ môn Địa vật lý

- khoa Dầu Khí - trường Đại học Mỏ Địa chất Nhân dịp này tập thể tác giả xin bày

tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2006

TM TẬP THỂ TÁC GIẢ

Bùi Quang Hạt

Trang 8

CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI

TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý, tọa độ, diện tích khảo sát

Vùng nghiên cứu bao gồm:

- Toàn bộ lãnh thổ và một phần lãnh hải (0-10m nước) huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận)

- Một phần lãnh thổ, lãnh hải (0-10m nước) hai xã Tân Thành, Tân Thuận - huyện Hàm Thuận Nam (tỉnh Bình Thuận): đó là dải ven biển và biển ven bờ (0-10m nước) từ Cửa Cạn đến mũi Kê Gà

Các vùng tiếp giáp: Phía Bắc giáp huyện Tánh Linh, Bình Thuận; phía Đông giáp huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận); phía Tây giáp huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa -Vũng Tàu), huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) và phía Nam giáp Biển Đông

Diện tích nghiên cứu 1051km2 trong đó phần đất liền là 951km2 và phần biển ven bờ là 100km2, được giới hạn bởi tọa độ địa lý sau:

Địa hình đồi núi thấp: phân bố ở phía Bắc bao gồm: núi Bể, núi Mây Tào, núi

Nhọn, núi Giang Co, núi Lồ Ô Đây là các núi sót trên đồng bằng ven biển Đặc điểm của địa hình núi là sườn cong lồi, dốc, nhưng phát triển cân xứng, hầu hết chúng đều phát triển các đá magma xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả, Định Quán, riêng ở núi Nhọn lộ các đá phun trào hệ tầng Nha Trang Các núi sót đều có độ cao tương đối lớn, dao động từ 400 đến 600m, với các đỉnh núi Bể cao 874m, núi Nhọn cao 569m Trên các sườn núi có lộ đá gốc, việc đi lại khó khăn vì khá dốc

Địa hình đồng bằng ven biển: kéo dài dọc ven biển vùng nghiên cứu Độ cao

dao động 50-100m ở ven chân núi, 1-5m ở ven bờ biển, độ phân cắt sâu nhỏ Cấu thành đồng bằng là các trầm tích biển, sông-biển tuổi Đệ tứ Chúng phủ lên trên các thành tạo Mesozoi Nhìn chung, móng Kainozoi đều cao hơn mực nước biển Vì vậy, dọc theo suối hoặc trên các đồi sót nhiều nơi lộ đá gốc Địa hình đồng bằng nghiêng thoải ra phía biển Phần tiếp giáp với biển phát triển hệ thống các dải cồn, đụn cát, các vũng, đầm lầy, lạch triều

Địa hình đáy biển: vùng nghiên cứu nhìn chung tương đối thoải, độ dốc nhỏ,

riêng khu vực xung quanh mũi Kê Gà, mũi Núi Nham và Hòn Bà có địa hình khá dốc Đường bờ biển khu vực nghiên cứu phần lớn có hướng Đông Bắc - Tây Nam, được cấu thành bởi các trầm tích bở rời và có xu hướng xói lở với tốc độ khác nhau, các khu vực được cấu thành bởi đá gốc cứng chắc (mũi Kê Gà, Hòn Bà ) đường bờ ổn định, ít biến động

Trang 9

sự quy tụ các suối Gia Ui, suối Lớn với chiều dài ~35km Diện tích lưu vực rộng khoảng 80km2 Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc theo mùa

Sông Phan bắt nguồn từ núi Nhọn, núi Tà Kou (huyện Hàm Thuận Nam) Dòng chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, đổ ra cửa biển Tân Hiệp Sông Phan là

sự hợp thành của các suối Nước, suối Sao với chiều dài khoảng 22km, diện tích lưu vực rộng 360km2 Lưu lượng dòng chảy nhỏ

Ngoài ra, còn một số suối nhỏ: suối Cô Kiều, suối Đá, suối Giao, suối Trạm có lưu lượng nước nhỏ

1.2.3 Khí hậu

Khí hậu vùng nghiên cứu có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Trang 10

Chế độ nhiệt: vùng nghiên cứu có nhiệt độ trung bình hàng năm 26-27°C, biên

độ nhiệt 3,5°C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa không nhiều Tổng nhiệt độ trung bình trong mùa khô đạt 4.653°C, trong mùa mưa đạt 4.862°C Tháng nóng nhất

là tháng 6 (trung bình 28,7°C) Tổng giờ nắng trung bình hàng năm đạt 2.873 giờ

Chế độ mưa: trong vùng có lượng mưa không lớn, trung bình hàng năm

1.583,3mm Số ngày mưa trung bình trong năm đạt 80,9 ngày Lượng mưa giữa hai mùa có sự chênh lệch nhau rất lớn Tổng lượng mưa trung bình trong mùa mưa 1.471,2mm, trong mùa khô 112,2mm Vì vậy, về mùa khô thường thiếu nước sinh hoạt và phục vụ cho việc phát triển kinh tế của nhân dân trong vùng; nước trong các sông suối thường cạn kiệt (bảng 1.1)

Độ ẩm và bốc hơi: chỉ số ẩm ướt trung bình trong vùng hàng năm 1,63 (mùa

mưa 3,87, mùa khô 0,19); nghĩa là vào mùa mưa lượng mưa gấp 3,87 lần lượng bốc hơi, mùa khô lượng mưa bằng 0,19 lần lượng bốc hơi

Bảng 1.1 Thống kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân

(m/s) Tháng

Thấp

nhất

Cao nhất

Trung bình

Lượng mưa trung bình (mm)

Số ngày mưa trung bình

Độ ẩm tương đối trung bình (%)

Lượng bốc hơi trung bình (mm)

Số giờ nắng trung bình Trung bình nhất Lớn

Trang 11

Trung

bình các

tháng

(Nguồn: Cục Khí tượng Thủy văn 2002)

Chế độ gió: trong vùng có 2 mùa gió là mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông

Bắc Mùa gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Hướng gió chủ yếu từ hướng Tây Nam Tốc độ trung bình 1,5-2,2m/s, tốc độ gió lớn nhất 14-20m/s Mùa gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Hướng chủ yếu là từ hướng Đông, Đông Bắc Tốc độ trung bình 2-2,9m/s, tốc độ gió lớn nhất 12-18m/s

Chế độ thủy triều: vùng biển khu vực Hàm Tân, thuỷ triều có tính chất bán

nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng quan trắc thấy hai lần nước lên và hai lần nước xuống nhưng không đều về biên độ và thời gian Độ cao mực nước triều cường có thể đạt 2,0-3,5 m

Sóng biển: trong khu vực nghiên cứu, các đặc trưng của sóng thay đổi theo hai

mùa Tuy nhiên, các đặc trưng của sóng và các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau

Có thể chia sóng biển trong vùng nghiên cứu thành 3 thời kỳ trong năm như sau:

- Từ tháng 1 đến tháng 4, sóng biển có hướng thịnh hành là Đông Bắc - Đông,

độ cao trung bình khoảng 0,9-1,0 mét

- Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng sóng thịnh hành là Tây - Tây Nam, độ cao trung bình khoảng 1,0-1,1 mét

- Từ tháng 10 đến tháng 12, hướng sóng thịnh hành là Đông - Bắc, độ cao sóng trung bình xấp xỉ 1,2 mét

Độ cao sóng cực đại thường đo được vào lúc thời tiết xấu, cực đại trung bình trong năm là 3,5 mét Trong bão, độ cao sóng có thể đạt tới 7-8m, thậm chí 10-12m Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu cũng ít chịu ảnh hưởng của bão so với các vùng biển khác Địa hình đường bờ và đáy biển thường bị thay đổi trong thời gian thời tiết xấu,

bão to và gió lớn

Chế độ dòng chảy: vào mùa Đông dòng chảy có hướng Tây Nam chảy dọc

theo đường bờ biển, với tốc độ khá lớn (có thể tới 50cm/s) Về mùa hạ, do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam dòng có hướng Bắc-Đông Bắc với tốc độ dưới 25cm/s

Chế độ bão: trong vùng nghiên cứu bão thường xảy ra vào tháng 9 đến tháng

11 và nhiều nhất vào tháng 11

1.2.4 Thổ nhưỡng

Dựa theo bảng phân loại đất Việt Nam của Hội Khoa học Đất Việt Nam trên diện tích nghiên cứu có các loại đất sau:

Trang 12

Loại đất nâu đỏ: phân bố trên địa hình cao nguyên chiếm diện tích nhỏ ở khu

vực phía Tây huyện Hàm Tân Loại đất này phát triển trên đá bazan phong hóa màu

đỏ thẫm, tầng đất dày, giàu mùn Đất nâu đỏ là loại đất quí, rất phù hợp với loại cây công nghiệp và cây ăn trái có giá trị (bảng 1.2)

Loại đất cồn cát trắng-vàng: phân bố dọc theo đường bờ biển trên diện tích

khoảng 100km2 Chúng sử dụng chủ yếu trồng cây phi lao chắn gió Những cồn cát thấp sử dụng trồng cây hoa màu, họ đậu, rau và cây ăn trái

Loại đất cồn cát đỏ: phân bố chủ yếu phía Đông Bắc vùng Hàm Tân chiếm

khoảng 200km2 Loại đất này được sử dụng cho nông, lâm nghiệp: bông, cây họ đậu, rau màu và trồng rừng

Loại đất sét-cát-mùn thực vật màu xám đen: phân bố dọc theo các thung lũng

sông, suối được nhân dân khai thác trồng lúa và hoa màu

1.2.5 Động vật và thực vật

Rừng hiện nay chiếm diện tích nhỏ, phát triển trên địa hình núi, diện tích rừng

tự nhiên đến nay còn khoảng 17659 ha và 14670 ha rừng trồng các loại Trong khi đó, diện tích đồi núi là 50275 ha tập trung chủ yếu ở phía Bắc vùng Thảm thực vật phần lớn là những loại cây mọc tái sinh; các loại gỗ quí đã bị khai thác cạn kiệt chỉ còn lại các loại như: cây dầu, bằng lăng, tre, cọ, buông v.v

Do diện tích rừng ngày càng thu hẹp, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm không còn hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác Trên diện tích đất liền hiện nay chỉ gặp: lợn rừng, cầy hương, chồn, sóc, gà rừng Động vật nuôi có trâu, bò,

1.3 Đặc điểm dân cư, kinh tế xã hội

1.3.1 Dân cư

Dân cư trong vùng phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thị trấn, thị xã

và dọc theo các trục lộ giao thông chính Theo thống kê, dân số toàn huyện năm 2002

là 164.551 người, mật độ dân số 174,78 người/km2 Riêng vùng Núi Bể với diện tích 250km2 không có dân cư sinh sống Dân tộc Kinh chiếm đa số, tiếp đến là người Hoa Nhân dân trong vùng sống chủ yếu bằng nghề nông, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Mạng lưới điện Quốc gia đã tỏa sáng khắp các làng, xã Các trường học, bệnh viện, trạm xá, bưu điện, chợ đã và đang được xây dựng phục vụ đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao

Hiện trạng về dân số, lao động, việc làm và mức sống ở tỉnh Bình Thuận cho thấy: tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao 2,04 %, thu nhập bình quân GDP/người mới đạt

253 USD và có khoảng 25.000 – 40.000 lao động chưa có việc làm Tuy đời sống của người dân được cải thiện nhiều trong những năm qua, nhưng do mức gia tăng dân số

Trang 13

cao, số người thất nghiệp nhiều dẫn đến hàng loạt vấn đề kinh tế - xã hội và đặc biệt

là diện tích đất bị thu hẹp, nguồn tài nguyên đất sẽ bị cạn kiệt

Tóm lại, trong vùng nghiên cứu có các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc

phát triển các ngành: ngư nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch

700

16.943

2.746 13.268

929

17.131

2.691 13.503

937

b Cây lâu năm

- Cây công nghiệp lâu năm

- Cây ăn quả

- Cây lâu năm khác

8.711

4.668 4.014

26

9.169

4.371 4.770

27

10.070

5.987 4.055

26

c Đất có mặt nước đang dùng vào nông nghiệp 259 323 570

2 Đất dùng vào lâm nghiệp

- Rừng tự nhiên

- Rừng trồng

29.547 16.708 12.833

30.283

16.911 13.367

32.335

17.659 14.670

428

2.210

239 1.113

421

2.310

256 1.155

158 2.259

33.065

7.330 22.129

192

378

29.569

4.736 20.476

158 1.943

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hàm Tân năm 2002)

1.3.2 Giao thông

Mạng lưới giao thông trong vùng công tác khá thuận lợi và đa dạng gồm:

đường bộ, đường sắt, đường thủy (bảng 1.3)

Trang 14

Đường bộ tương đối phát triển và phân bố đều trên toàn vùng Đường quốc lộ 1A chạy qua phần phía Bắc của vùng với chiều dài khoảng 28km Từ tuyến đường này nối liền với các đường giao thông liên tỉnh như đường số 708, 709, 710 có thể đi đến các huyện, tỉnh lân cận vùng nghiên cứu Các tuyến đường chính trong huyện đã được nhựa hóa Đường giao thông nối liền các xã trong vùng cũng khá phát triển, nên việc đi lại trong vùng khá dễ dàng và thuận lợi Riêng vùng Núi Bể, giao thông kém phát triển, dân cư thưa thớt

Hệ thống giao thông đường thuỷ của khu vực khá phát triển, chủ yếu để đáp ứng hoạt động đánh bắt thuỷ sản Mật độ tàu thuyền tập trung đông tại các cảng và vùng cửa sông như cảng La Gi, cửa sông Phan, cửa Hà Lãn Vào những ngày cao điểm, tại các cảng lớn (cảng La Gi) có thể đón hàng trăm tàu thuyền vào neo đậu và trao đổi hàng hoá Trong những năm tới, khu vực cần tập trung đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống giao thông thuỷ trước hết là để đáp ứng nhu cầu vận tải, tiếp đến là phục vụ nhằm khai thác thế mạnh ở các vùng ven biển đặc biệt là trong phát triển dịch

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hàm Tân, 1999, 2002; huyện Hàm Thuận Nam, 2000)

Các hoạt động giao thông của khu vực một mặt góp phần to lớn cho phát triển kinh tế xã hội mặt khác cũng để lại hậu quả không nhỏ tới chất lượng môi trường Tại các cảng lớn như cảng La Gi, các hoạt động xả thải của tàu thuyền khi cập bến cùng

Trang 15

với hoạt động khai thác thuỷ sản gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước và trầm tích, đặc biệt là ô nhiễm dầu Trên bãi biển của khu vực này còn gặp nhiều loại rác thải từ các hoạt động trên

1.3.3 Khai thác thủy sản

Hoạt động đánh bắt thủy sản của người dân trong khu vực chiếm phần lớn số lao động của địa phương Do trong khu vực không có cảng để neo đậu tàu thuyền nên phần lớn phương tiện đánh bắt của người dân là phương tiện nhỏ như: thuyền máy công suất nhỏ, thuyền mủng Các phương tiện này chủ yếu đánh bắt gần bờ, công cụ

để đánh bắt hải sản là lưới mắt nhỏ Việc sử dụng lưới mắt nhỏ và đánh bắt gần bờ đã

làm suy giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản trong vùng biển nghiên cứu Bên cạnh đó, các thuyền sau đánh bắt chưa có chỗ neo đậu cố định nên một số phương tiện nhỏ được kéo lên ngay trên bãi biển làm mất cảnh quan bãi biển Một số khác lớn hơn neo đậu ngay tại cửa sông Phan, mũi Kê Gà Tại các điểm neo đậu này người dân đã tự ý

xả rác thải, dầu máy ra môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm Hoạt động neo đậu tàu thuyền tại mũi Kê Gà đã tạo ra xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên tại địa phương

Theo tài liệu của Sở Thuỷ sản Bình Thuận, thì sản lượng khai thác thuỷ sản năm 2001 là 128.000 tấn/năm Các năm gần đây, số tàu thuyền và công suất máy bình quân gia tăng, trang thiết bị phục vụ khai thác được trang bị nhiều hơn song năng suất đánh bắt hải sản tiếp tục có dấu hiệu suy giảm: năm 1975 bình quân năng suất đánh bắt hàng năm là 1,4 tấn/cv, năm 2000 là 0,27tấn/cv, năm 2001 là 0,606 tấn/cv

Nguyên nhân của sự suy giảm nguồn lợi thuỷ sản chủ yếu là:

Số tàu có công suất trên 90cv đánh bắt xa bờ hiện có rất ít; chủ yếu tàu có công suất nhỏ hơn 30cv, tập trung khai thác ven bờ, nơi các bãi cá sinh sản, và đã được khai thác cạn kiệt nhiều năm qua Hiện trong vùng có 250 chiếc thuyền hầu như công suất dưới 90cv Dụng cụ kỹ thuật khai thác thuỷ sản lạc hậu, cùng với tình trạng sử dụng chất nổ và phương pháp khai thác cạn kiệt nguồn lợi như giả cào, vây rút chì,…còn xảy ra gây hủy hoại sinh thái đáy biển

1.3.4 Nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp trong vùng chủ yếu là nghề trồng lúa, cây ăn trái, cây công nghiệp (điều, hồ tiêu, cà phê ) Ở nông thôn phát triển mô hình V.A.C (kinh tế vườn, ao, chuồng) nên đời sống vật chất của nhân dân làm nông nghiệp trong vùng khá ổn định Tổng giá trị sán xuất nông nghiệp toàn huyện năm 2002 đạt 308.619 triệu đồng trong đó trồng trọt chiếm 70%, chăn nuôi 24%, dịch vụ nông nghiệp 6%

1.3.5 Nuôi trồng thủy sản

Trang 16

Với điều kiện thuận lợi: ngư trường rộng lớn, cảng cá lớn La Gi với hàng ngàn ghe thuyền và cả các tàu lớn có công suất đến 600CV nên đây là nơi cung cấp hải sản biển cho thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và các vùng lân cận, theo số liệu thống

kê năm 2002 riêng huyện Hàm Tân đã khai thác 37.584 tấn thuỷ sản các loại, với

1200 tàu thuyền, tổng công suất lên tới 61.600 CV Đó là chưa kể tới các hoạt động của các tàu thuyền của các nơi khác đến khu vực hoạt động, thông thương và trung chuyển hàng hoá

Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực phát triển mạnh trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt là hoạt động nuôi tôm Diện tích nuôi tôm huyện Hàm Tân khoảng 243 hecta (năm 2003), tập trung ở các xã Tân Hải, Tân Bình, Tân Thắng (ảnh 2) (bảng 1.4) Hình thức nuôi là cả nuôi đầm và nuôi lồng với quy mô từ nuôi thâm canh tới bán thâm canh và quảng canh Nuôi trồng thuỷ, hải sản tuy mới phát triển trong những năm gần đây, nhưng tốc độ tăng trưởng khá nhanh đạt 22% sản lượng nuôi trồng, năm 1995 sản lượng 370 tấn tăng lên 698 tấn năm 1997, năm 2001 tăng lên gần 1000 tấn Sự phát triển này kéo theo nhu cầu sử dụng đất vào mục địch xây dựng cảng nước ngọt cho nuôi tôm trên cát, bến bãi phục vụ, xây dựng các cơ sở đóng tàu thuyền, cơ sở chế biến sản phẩm, nuôi trồng tăng nhanh

Như vậy, tiềm năng nuôi trồng thủy sản của khu vực là rất lớn Tuy nhiên, tình trạng nuôi trồng tự phát, khai thác bừa bài nguồn tài nguyên này vẫn diễn ra gây tác hại không nhỏ cho môi trường Đặc biệt, việc chuyển đổi diện tích nông nghiệp thành diện tích đầm nuôi, khai thác không hợp lý nguồn nước ngầm để nuôi trồng đã làm tăng khả năng bồi tụ, biến động luông lạch, xói lở bờ biển và tăng nguy cơ nhiễm mặn nước ngầm của khu vực Bên cạnh đó, nước thải từ các đầm nuôi không được xử

lý xả trực tiếp ra biển góp phần gây ô nhiễm môi trường và phá hủy cảnh quan dải bờ biển của khu vực này Ngoài ra, tại khu vực có các đầm bỏ hoang làm cường hoá nhiễm mặn và phèn hoá đất trong khu vực đồng thời làm mất quỹ đất

1.3.6 Công nghiệp

Trong vùng có nhiều tích tụ về khoáng sản và đa dạng về chủng loại như vàng, wolfram, ilmenit, zircon, cát thủy tinh, nước khoáng, vật liệu xây dựng… Trong đó, đáng kể nhất và có giá trị công nghiệp là: ilmelit – zircon, cát thủy tinh và vật liệu xây dựng Trong vùng có một số đơn vị khai thác và chế biến khoáng sản với quy mô lớn, rất nhiều cơ sở có quy mô nhỏ và nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói Cát thuỷ tinh có hàm lượng SiO2 đạt 97 – 99 % phân bố chủ yếu ở Hàm Tân Trữ lượng sa khoáng ilmenit khoảng 108 triệu tấn và zircon là 193 nghìn tấn phân bố chủ yếu ở Hàm Thuận Nam (hiện trạng môi trường Bình Thuận) Mỏ ilmenit Bàu Dòi thuộc địa phận xã Tân Hải và Tân Bình (huyện Hàm Tân) có trữ lượng

Trang 17

5.870.000m3 hiện đang được công ty Lidisaco khai thác với công suất

23.000m3/năm Mỏ cát thủy tinh ở khu vực Dinh Thầy thuộc địa phận các xã Tân

Hải và Sơn Mỹ có trữ lượng cấp P: 63.948.000 tấn, hàm lượng SiO2 là 97,5 –

99,15%, hiện đang được nhân dân khai thác để làm cát đệm cho đúc gang Sét gạch

ngói tập trung tại xã Tân Nghĩa, Tân Thắng, hiện đang có 21 cơ sở khai thác, công

suất 26.000 tấn/năm Cát xây dựng được khai thác chủ yếu từ lòng sông Dinh (nằm

trên các xã Tân Thiện, Tân Xuân - huyện Hàm Tân), sản lượng khai thác

36.000m3/năm và lòng sông Phan (nằm trên các xã Tân Lập, Tân Thuận - huyện

Hàm Tân), sản lượng khai thác 13.000m3/năm Đặc biệt, mỏ ilmenit Hàm Tân đang

được khai thác và hàng năm đã thu được hàng triệu USD Nhà máy khoáng sản của

Công ty Liên doanh khoáng sản quốc tế Hải Tinh (Việt Nam - Trung Quốc) tại xã

Tân Hải đã được hoàn tất vào tháng 11 năm 2004 nay đã đi vào sản xuất với vốn

đầu tư giai đoạn 1 là 2 triệu USD, hàng năm chế biến 5.000 tấn zircon, 1.000 tấn

rutin chất lượng cao, doanh thu dự kiến đạt 5 triệu USD/năm; giai đoạn 2 vốn đầu tư

tăng lên 10 triệu USD và giai đoạn 3 là 50 triệu USD để tiến tới thành lập các nhà

máy sản xuất sứ cao cấp, gạch chịu lửa, que hàn cao cấp Cùng với việc thành lập

liên doanh trên là việc mở rộng quy mô và sản lượng khai thác mỏ Hàm Tân (ảnh 3,

(Nguồn: Kết quả điều tra kinh tế - xã hội khu vực khu vực ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm năm 2004)

Vấn đề nổi cộm nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến môi trường trong

khai thác khoáng sản trong vùng là tình trạng khai thác titan trái phép ven biển Theo

như giấy phép được cấp thì Công ty Khai thác Khoáng sản 6 (Lidisaco) thuộc Tổng

Công ty Khoáng sản Việt Nam được phép khai thác trên diện tích 16,22ha ven biển

Trang 18

thuộc khu vực Bàu Dòi – xã Tân Hải (huyện Hàm Tân) Tuy nhiên, công ty này đã khai thác trái phép trên diện tích 6 ha thuộc tiểu khu 393 rừng phòng hộ ven biển xã Tân Bình (huyện Hàm Tân) Hoạt động này đã làm dậy nên làn sóng khai thác titan trái phép ven biển Điển hình nhất là các xã Tân Hải (Hàm Tân), Tân Thuận, Tân Thành (Hàm Thuận Nam) Đặc biệt, từ tháng 10 – 2003, hoạt động khai thác chủ yếu

là do các tư nhân đứng ra thuê nhân công với hình thức lấy nhanh quặng tuyển bằng máng gỗ, máy xoắn ốc, nạo vét phần mặt bãi triều thấp (ước tính 1 ngày khai thác được 5-7 tấn) Khu vực phía Bắc Hàm Tân trên các cồn cát cao cũng chứa những thân quặng titan nhưng hàm lượng nghèo hơn (Chùm Găng và Bàu Dòi - Hàm Tân) hiện chưa có quá trình khai thác song tại khu vực này vẫn xảy ra quá trình khai thác cát làm vật liệu xây dựng Hoạt động khai thác titan trái phép này đã phá hủy diện tích rừng phòng hộ ven biển, khoét sâu vào bờ biển làm bờ bị xói lở, khai thác nước ngọt

để tuyển quặng làm giảm mực nước ngầm Nhìn chung, các cơ sở khai thác - chế biến khoáng sản này vẫn chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái và hoàn trả mặt bằng sau khai thác Đặc biệt, các cơ sở khai thác sa khoáng khi hoạt động đã gây sạt lở, biến đổi cảnh quan, ô nhiễm bụi và nhiễm mặn do sử dụng nước biển để tuyển quặng, thảm thực vật và cảnh quan bị suy thoái nghiêm trọng Điển hình, khai thác sa khoáng ở mỏ Bàu Dòi, Chùm Găng, khai thác đá ở núi Nhọn, Đá Mát Đuôi quặng titan chưa được xử lý có thành phần monazit cao, tăng liều chiếu xạ gây ảnh hưởng tới người và động vật khu vực và ven biển… Mặt khác, khai thác sa khoáng ilmenit và zircon, monazit đi kèm đã làm giảm đáng kể cường độ phóng xạ của các thành tạo cát chứa quặng, tạo điều kiện cho phát triển du lịch, sau khai thác quặng (Chùm Găng, Bàu Dòi…)

Qua quá trình khảo sát thấy trong khu vực nghiên cứu có bốn hoạt động nhân sinh đã và đang gây ảnh hưởng lẫn nhau là: nuôi trồng thủy sản, du lịch, đánh bắt thủy sản và khai thác khoáng sản Nuôi trồng thủy sản đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường bằng nước thải và chất thải rắn Đánh bắt thủy sản đã làm giảm mỹ quan của một số điểm du lịch của địa phương như tại khu vực hòn Kê Gà Do vậy, cả hai hoạt động nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản đang gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển du lịch của địa phương vùng nghiên cứu Tuy nhiên, trong vùng nghiên cứu cũng đã và đang triển khai mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên tại điểm khai thác mỏ Chùm Găng Sau khi khai thác khoáng sản môi trường tại mỏ đang được

bồi hoàn bởi các dự án du lịch nằm trong khu du lịch Trúc Sơn Các cồn cát cao là

chất thải sau khai thác khoáng sản trước đây đang được hạ thấp độ cao và san lấp mặt bằng Thảm thực vật đang được trồng lại tạo cảnh quan môi trường đẹp Tại đây đang được xây dựng khu dụ lịch nhằm đạt được công thức 5S (sea, sand, sun, security, service) Mô hình này cần được nhân rộng ra các vùng khác trong khu vực nghiên cứu

Trang 19

1.3.7 Sản xuất muối

Diện tích làm muối trong khu vực nghiên cứu chiếm tỷ lệ tương đối lớn, tập trung ở thôn Tân Phong (xã Tân Thành) Hoạt động làm muối tại địa phương đang góp phần làm suy thoái môi trường Một số diện tích trước đây trồng lúa nay đã được chuyển sang làm muối Hoạt động làm muối đã làm cho khả năng bị nhiễm mặn tại cửa sông Phan, cánh đồng thôn Tân Phong tăng lên đáng kể Một số diện tích đất bị nhiễm mặn không sử dụng canh tác nông nghiệp hiện nay đã bỏ hoang, tạo tiền đề cho xung đột môi trường xảy ra Hoạt động làm muối nếu người dân không có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh sẽ làm cho quá trình phèn hoá, khoáng hoá đất tăng lên

1.3.8 Du lịch

Vùng nghiên cứu có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, những kiến trúc cổ, các lễ hội truyền thống, các kho tàng văn hoá - nghệ thuật dân gian Đây là điểm đến của khách du lịch đến tham quan, thưởng ngoạn Đặc biệt tại đây có các bãi cát trắng mịn, nắng ấm, nước xanh trong quanh năm hấp dẫn du khách đến đây tắm biển Trong giai đoạn hiện nay, ngành du lịch khu vực đang phát triển rất mạnh và được nhận định là ngành kinh tế mũi nhọn Các điểm du lịch ở đây đều có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, nằm ở vị trí thuận lợi không cách quá xa các trung tâm đô thị lớn Cụm du lịch Phan Thiết - Hàm Tân được hình thành từ các điểm du lịch hấp dẫn như dải bờ biển thuộc xã Tiến Thành, Thuận Quý, Tân Thắng (ảnh 1)… với các khu

du lịch Đồi Sứ, Thế Giới Xanh, Hòn Bà, … thu hút rất Đông khách Hoạt động này cũng phát triển mạnh ở khu vực Đồi Thông (B04-399), Cam Bình, Dinh Thầy Thím,

Kê Gà và hiện nay tại khu vực Phò Trì-Sơn Mỹ hoạt động này bắt đầu được khai thác Năm 2000, du lịch Bình Thuận thu hút được 300.000 lượt khách với tốc độ tăng trưởng bình quân 21%/năm

Nhìn chung, ngành du lịch của vùng có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế -

xã hội Tuy nhiên, chính các hoạt động này cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề cho môi trường Nước biển tại các bãi tắm đang có chiều hướng suy giảm chất lượng Các chất thải từ hoạt động du lịch vẫn chưa được thu gom, xử lý mà cho chảy tràn, tự ngấm vào đất hoặc vứt thải trên bãi biển gây mất cảnh quan và ô nhiễm môi trường Nhưng

so với các ngành kinh tế khác, hướng phát triển du lịch sinh thái của khu vực là phù hợp vừa nâng cao tiềm lực kinh tế của địa phương vừa đi đôi với bảo vệ môi trường

Do đó, chính quyền và các cơ quan chức năng của địa phương phải có chiến lược phát triển và phương án quy hoạch tổng thể phù hợp và đồng bộ Chú ý đến vấn đề giải

Trang 20

quyết các xung đột môi trường đối với các hoạt động phát triển công nghiệp, nuôi trồng – khai thác và chế biến thủy sản cũng như khai thác khoáng sản

1.3.9 Chất thải công nghiệp và sinh hoạt

Theo kết quả thống kê thì đến hết năm 2000 có 4.573 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là các cơ sở chế biến nông – lâm – thủy sản và khai thác khoáng sản Hầu hết chúng đều chưa có hệ thống xử lý chất thải và được đổ trực tiếp ra sông – biển gây nguy cơ ô nhiễm các nguồn nước Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bình Thuận năm 2001 thì nước thải của một số cơ sở đều có dấu hiệu vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước thải của các cơ sở chế biến hải sản có chỉ tiêu BOD vượt 8-17 lần, COD vượt 6,7-11,4 lần, TSS vượt 2,8-3,9 lần, nitơ tổng vượt 1,5-3,8 lần tiêu chuẩn cho phép Nước thải cơ sở chế biến bột mỳ có pH rất thấp, chỉ tiêu BOD vượt

140 lần, COD vượt 144 lần, TSS vượt 6,9 lần tiêu chuẩn cho phép Nước thải các cơ

sở chế biến hạt điều có hàm lượng các chất hữu cơ và dầu mỡ cao Nước thải nhà máy đường có chỉ tiêu TSS vượt 1,75 lần, BOD vượt 16 lần, COD vượt 13 lần tiêu chuẩn cho phép Nước thải của các nhà máy nước đá có hàm lượng NaCl là 295 mg/l, dầu

mỡ là 9,72 mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép đến 9,72 lần Ngoài ra, cũng phải kể đến lượng chất thải rắn từ khu vực đô thị, sinh hoạt và hoạt động chế biến Hiện tại, theo đánh giá của Sở Khoa học Môi trường Bình Thuận thì lượng rác thải này mới chỉ được thu gom khoảng 70 % Số còn lại nhân dân tự đổ xuống sông, biển… gây mất

vệ sinh và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường Ví dụ như khu vực bờ biển Tiến Thành, cảng La Gi

Như vậy, cường độ hoạt động nhân sinh trong khu vực tương đối cao đã gây những tác động không nhỏ đến sự phân bố, quy mô, cường độ và tần suất của tai biến Theo mức độ ảnh hưởng của chúng tới đặc trưng của tai biến thì có thể sắp xếp theo

xu hướng giảm dần tác động như sau: chặt phá rừng phòng hộ, chất thải công nghiệp

và sinh hoạt, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản, sản xuất và chế biến muối, hoạt động du lịch và cuối cùng là giao thông Qua quá trình khảo sát đã phát hiện thấy

cả ba loại hình hoạt động nhân sinh (khai thác khoáng sản, nuôi trồng thuỷ sản và du lịch) đã và đang gây ảnh hưởng đến môi trường Từ đó, tạo các tiền đề cho xung đột môi trường giữa chúng phát triển gây cản trở sự phát triển của nhau Khai thác khoáng sản gây ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm như khu vực Chùm Găng, khi hoạt động khai thác phát triển đã làm cho các đầm tôm ở bên cạnh bị mất mùa ba vụ liên tiếp, buộc phải ngừng nuôi Hoạt động khai thác ilmenit trái phép ở Tân Hải đã dẫn đến sạt lở bờ biển, phá huỷ bờ bao của các đầm tôm Khi báo cáo với chính quyến

xã mà không có kết quả buộc các chủ đầm tôm phải tự trông coi bờ biển thuộc khu vực của mình, không cho dân vào khai thác Theo quy hoạch thì sau khi hoạt động khai thác ilmenit kết thúc sẽ được chuyển sang phát triển du lịch Nhưng hiện tại, hoạt động khai thác ilmenit ở khu vực Chùm Găng đã kết thúc nhưng vẫn chưa được tiến hành san lấp mặt bằng, trồng cây xanh bồi hoàn môi trường Dọc theo khu vực nuôi tôm rất phổ biến hiện tượng đổ thải bùn từ nạo vét đáy đầm ra bờ biển gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan cũng như các đầm tôm bị bỏ hoang là nguồn gây ô nhiễm và tập trung rác thải ở Tân Hải Hoạt động đánh bắt thuỷ sản với sự tập trung

số lượng lớn tàu thuyền ở La Gi làm suy thoái môi trường, tác động xấu tới hoạt động

du lịch

Trang 21

Ảnh 1 Khu du lịch mũi Đỏ Ảnh 2 Đầm nuôi tôm ở xã Tân Thắng

Ảnh 3 Khai thác ilmenit bãi triều trái phép ở Tân

Thắng gây xói lở bờ biển

Ảnh 5 Xói lở lấn sâu vào bờ làm chết cây trên bờ

biển ở Tân Hải

Ảnh 7 Sạt lở đồi cát đỏ, phá hủy cầu bêtông trên

đường giao thông

Ảnh 4 Khai thác ilmenit trái phép ở Tân Thuận làm xói

Trang 22

Ảnh 9 Bãi đá đẹp cấu tạo bởi đá granit phức hệ Đèo

Cả - tiềm năng thu hút khách du lịch

Ảnh 11 Nuôi tôm quảng canh tàn phá rừng ngập

mặn ở suối Chùa

Ảnh 13 Quặng ilmenit trong ĐNN bãi triều thấp

ven bờ, Tân Thắng – Hàm Tân

Ảnh 10 Ô nhiễm rác thải tại cảng La Gi

Ảnh 12 Khai thác ilmenit trái phép trên bãi triều xã Tân Hải

Ảnh 14 Hòn Kê Gà – tài nguyên vị thế phục vụ cho giao thông biển

Trang 23

1.4 Đặc điểm địa chất khoáng sản

2 Hệ tầng Trà Mỹ (J 2a-bjtm)

Các trầm tích của hệ tầng phân bố khu vực xã Tân Nghĩa, núi Nhọn với diện

lộ khoảng vài chục km2 Thành phần chủ yếu là cát kết dạng arkos Đá có cấu tạo phân phiến, cấu tạo khối Chiều dày khoảng 350m

HỆ CRETA

3 Hệ tầng Nha Trang (Knt)

Hệ tầng Nha Trang phân bố ở núi Nhọn, núi Tía Khô, Hòn Bà với diện lộ vài chục km2 Thành phần thạch học gồm: ryolit porphyr, felsit porphyr, dacit porphyr, andesit porphyr, andesitodacit porphyr, tuf vụn núi lửa Các đá có bề dày rất thay đổi

ở các vùng khác nhau 250m-600m Kết quả đo xạ đường bộ cho thấy các đá của hệ tầng có hoạt tính phóng xạ dao động 20-40 µR/h; trong đó ryolit porphyr và felsit porphyr thường có cường độ 34-40 µR/h cao hơn so với các thành tạo andesit porphyrit và tuf của chúng Hoạt độ phóng xạ các đá dao động trong khoảng 7-12ppm

HỆ NEOGEN - HỆ ĐỆ TỨ

THỐNG PLIOCEN-THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ THỐNG HẠ

5 Hệ tầng Túc Trưng (βN 2-Q 11tt)

Trang 24

Các thành tạo phun trào bazan hệ tầng Túc Trưng trong phạm vi nghiên cứu gặp lộ ở phía Tây Hàm Tân Thành phần thạch học chủ yếu là bazan olivin, bazan olivin pyroxen, bazan olivin pyroxen plagioclas, với diện lộ vài chục km2 Bề dày dao động lớn từ 1,7 đến 28m Kết quả đo xạ đường bộ cho thấy các đá bazan hệ tầng Túc Trưng có hoạt tính phóng xạ 6-10 µR/h Kết quả đo tham số vật lý cho thấy các thành tạo bazan olivin, bazan olivin pyroxen cấu tạo đặc sít và bọt, thường có hoạt tính xạ thấp, khoảng 5ppm

ĐỆ ĐỆ TỨ

THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ THỐNG HẠ-TRUNG

6 Trầm tích sông, hệ tầng Tuy Phong (aQ 11-2tp)

Phân bố trong các lỗ khoan máy (T.III-LK3 độ sâu 6-7,3m, T.III-LK4 độ sâu 5,1m) vùng Tân Thắng, đồi 82 (xã Sơn Mỹ) Thành phần chủ yếu là cát, sạn, bột-sét loang lổ, nén chặt, chứa sa khoáng saphir, ít ilmenit, zircon Chiều dày 1-2m

3,6-THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ 3,6-THỐNG TRUNG

7 Hệ tầng Mũi Né (mQ 12mn)

Hệ tầng Mũi Né có thành phần chủ yếu là cát pha bột sét, cát sét pha bột sét lẫn sạn Bề dày 1-2m đến 21,6m, tăng dần về phía biển Chúng thường bị phủ hoặc bị chôn vùi, chỉ lộ thành chỏm nhỏ ở Sơn Mỹ, Đông Nam núi Đất, Tân Hải, Tân Thuận THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ THỐNG TRUNG-THƯỢNG

8 Trầm tích biển (mQ12-3)

Các trầm tích này phát triển khá rộng rãi trên các đồng bằng tích tụ cao 60m, bao quanh núi Bể, núi Nhọn và rải rác trong huyện Hàm Tân Thành phần là cát thạch anh hạt thô đến mịn, màu xám, xám trắng đến vàng-tướng ven bờ; cát bột màu xám trắng-tướng vũng vịnh, dày 1-10 mét

9 Trầm tích biển, tướng bar cát, hệ tầng Phan Thiết (mQ 12-3pt)

Trong vùng nghiên cứu, các trầm tích của hệ tầng được tạo thành một dải không liên tục phương Đông Bắc-Tây Nam từ núi Đất, Tân Thiện, đồi 82 đến Tân Thắng Thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt nhỏ đến vừa xen cát pha bột, màu thay đổi từ trắng đến vàng, đỏ Phần dưới của hệ tầng thường tập trung sa khoáng hơn phần trên Mẫu đãi lấy ở phần dưới (số hiệu HC1061/2a) tại mặt cắt đồi 82 (xã Sơn

Mỹ - Hàm Tân) cho kết quả: ilmenit 20.558,7g/T, zircon 4.124g/T, saphir 128 hạt/10dm3 Chiều dày của hệ tầng 10-90m

THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ THỐNG THƯỢNG

10 Hệ tầng Phước Tân (βQ 13pht)

Trầm tích phun trào bazan lộ diện hẹp ở mũi Núi Nham Thành phần thạch học gồm bazan olivin nghèo ban tinh, bazan plagioclas cấu tạo đặc xít và lỗ hổng màu xám đen Dày 10-25m Hoạt độ phóng xạ các đá của hệ tầng thấp, trung bình khoảng 7ppm

11 Trầm tích biển (mQ 13)

Trang 25

Trầm tích biển tuổi Pleistocen muộn có diện phân bố rất rộng, tạo nên các đồng bằng tích tụ cao 35-45m ở Tân Thắng, Sơn Mỹ Trầm tích hầu hết là cát thạch anh chọn lọc tốt, màu xám, xám đốm vàng đốm nâu, xám trắng, trắng, có độ chọn lọc

THỐNG HOLOCEN, PHỤ THỐNG TRUNG

13 Trầm tích biển-đầm lầy (bmQ 22)

Trầm tích biển-đầm lầy lộ dọc theo thung lũng nhỏ hẹp ở khu vực Tân Thắng, được thành tạo liên quan với quá trình biển tiến Holocen giữa Thành phần chủ yếu là bột sét pha cát màu xám đen giàu mùn hữu cơ, vụn thực vật màu đen Chiều dày 1-2m

14 Trầm tích gió (vQ 22)

Các bar cát Holocen giữa phân bố ở Sơn Mỹ, Tân Thắng, các dải cồn cát được tạo nên bởi gió, các dải này có bề rộng một vài trăm mét đến 1km, dài vài trăm mét đến 3km Thành phần cát thạch anh màu xám, xám trắng, trắng, trắng đốm vàng, thành phần đơn khoáng, khá sạch, có thể tạo thành các mỏ cát thủy tinh (Tân Thắng) Chiều dày 1-2m đến 10m

15 Trầm tích biển (mQ 22)

Trầm tích nguồn gốc biển tạo nên các dải đồng bằng cao trung bình 10÷20m, phân bố ở Tân Thiện, Sơn Mỹ, Tân Thắng, Thành phần hầu hết là cát thạch anh, chọn lọc tốt, màu xám, trắng xám, xám trắng, đốm vàng, nâu, bề dày dao động 4-12m

THỐNG HOLOCEN, PHỤ THỐNG TRUNG-THƯỢNG

16 Trầm tích sông bãi bồi cao (aQ 22-3)

Trầm tích bãi bồi cao có diện phát triển rất hạn chế tạo thành các dải hẹp (rộng vài chục mét đến vài trăm mét) rải rác dọc sông Dinh, sông Phan Thành phần đa dạng từ sạn sỏi đến bột sét màu xám, xám vàng Chiều dày 1-5m

17 Trầm tích sông-biển (amQ 22-3)

Trầm tích sông-biển phân bố các khu vực gần cửa sông hiện đại (sông Phan, sông Dinh ), trầm tích là cát bột xám nâu, dày 0,5-5m

18 Trầm tích biển-đầm lầy (mbQ 22-3)

Trầm tích biển đầm lầy phân bố trong các dải thấp trũng ở Sơn Mỹ, Tân Hải,

Bề mặt địa hình hiện tại còn bị lầy thụt, trên đó có các di tích thực vật ngập mặn Tích

tụ cát, sét, giàu vật chất hữu cơ, màu xám đen đến đen Chiều dày 0,5-4m

19 Trầm tích nguồn gốc gió (vQ 22-3)

Trang 26

Trầm tích gió tuổi Holocen giữa muộn tạo thành các dải cồn nổi cao vài mét đến 10-50m trên các đồng bằng tích tụ ở Sơn Mỹ, Tân Hải, Kê Gà Thành phần chủ yếu là cát thạch anh, chọn lọc tốt màu xám trắng đến xám vàng, vàng nhạt Chiều dày thay đổi 5-60m

22 Trầm tích sông-biển (amQ 23)

Trầm tích sông-biển tuổi Holocen muộn phân bố ở vùng cửa sông Phan, sông Dinh nơi tiếp giáp giữa hạ lưu sông với bờ biển hiện đại Thành phần cát thạch anh màu xám, cát-bột màu xám đen, đen nâu, sét-bột, hoặc sét-bột, cát màu xám đen, đen nâu, chứa mùn xác thực vật Bề dày 0,5-10m

23 Trầm tích biển đầm lầy (mbQ 23)

Được xếp vào trầm tích trầm tích biển-đầm lầy (mbQIV3) là các tích tụ dạng lấp đầy các lạch triều hiện đại chạy gần sát ven biển ở Sơn Mỹ đến Tân Hải và Chùm Găng Thành phần trầm tích gồm cát bột sét hoặc sét bột cát, sét bột chứa, lẫn mùn xác thực vật màu xám đen, xám nâu, phân hủy kém Bề dày 1-3m

CGSM)

Hoạt tính phóng xạ trung bình (ppm)

Mật độ (g/cm 3 )

Bazan đặc sít 5 447 933 7 2,75

1 Phước Tân βQ 1ph

Bazan lỗ hổng 4 2070 4408 5 2,54 Bazan đặc sít 9 5490 9996 5 2,76

2 Xuân Lộc βQ 1xl

Bazan lỗ hổng 7 7638 19156 6 2,28 Bazan đặc sít 18 2310 5204 6 2,75

3 Túc Trưng βN 2

-Q11tt Bazan lỗ hổng 2 4196 5610 3 1,7

Trang 27

25 Trầm tích biển (mQ 23)

Trầm tích biển tuổi Holocen muộn phát triển dọc theo bờ biển hiện đại ra đến

độ sâu 10-15m nước, trực tiếp chịu tác động của sóng, thủy triều và các dòng bồi tích dọc bờ Thành phần là cát thạch anh chứa vụn vỏ sò, chọn lọc tốt có chứa sa khoáng ilmenit vì vậy cường độ phóng xạ các thành tạo này khá cao, có thể đạt tới vài trăm µR/h Chiều dày 2-10m

HỆ ĐỆ TỨ KHÔNG PHÂN CHIA

26 Trầm tích deluvi-proluvi (dpQ)

Deluvi-proluvi (trầm tích sườn và lũ tích) tạo thành các dải rìa chân các khối núi lớn: núi Mây Tào, núi Bể, núi Nhọn Thành phần: tảng, dăm, sạn, cát, cát-bột hỗn độn chọn lọc mài tròn kém Dày 1,5-4m

B.Magma

Các thành tạo xâm nhập trong phạm vi huyện Hàm Tân đã được phân chia thành 04 phức hệ magma xâm nhập: phức hệ Định Quán, phức hệ Đèo Cả, phức hệ Phan Rang và phức hệ Cù Mông Sau đây là đặc điểm chính của các phức hệ

1 Phức hệ Định Quán (DiGa/J 3-K 1đq)

Phức hệ Định Quán phân bố chủ yếu dọc theo suối Gia Ôi, suối Cát và sông Dinh bao gồm 2 pha xâm nhập và pha đá mạch Trong đó, pha 1 đặc trưng là diorit, gabrodiorit; pha 2 là tonalit, granodiorit; pha đá mạch có aplit, spersatit Hoạt tính xạ của các thành tạo này thay đổi từ 6 đến 24ppm trong đó các đá granodiorit có hoạt tính xạ cao nhất

Trang 28

2 Phức hệ Đèo Cả (G/Kđc)

Gặp phổ biến trong vùng nghiên cứu, tập trung lớn nhất ở núi Bể, núi Nhọn, mũi Kê Gà Dọc ven biển cũng gặp các thành tạo này lộ rải rác với diện tích nhỏ Thành phần gồm 3 pha chính và 1 pha đá mạch Pha 1 thường có qui mô hạn chế, có mặt chủ yếu tại khối núi Bể, với thành phần đặc trưng gồm monzodiorit, diorit, monzogranodiorit, monzonit Pha 2 chiếm khối lượng chủ yếu có mặt tại hầu hết các khối, với thành phần đặc trưng gồm: granit biotit hạt trung, granit biotit có hornblend Pha 3: chiếm một khối lượng lớn với thành phần chủ yếu là granit biotit hạt nhỏ, ít granit granophyr, granit aplit, granit pegmatit Các thành tạo đá mạch thường

có khối lượng ít, với các mạch nhỏ aplit, pegmatoit Trong các thành tạo pegmatit thuộc pha 3 của phức hệ khu vực Tân Lập (xã Tân Nghĩa - phía Bắc vùng nghiên cứu)

đã phát hiện được các điểm khoáng hóa xạ thori-uran với tổ hợp khoáng vật quặng: thorit, monazit, cyrtolit; chúng được xếp vào thành hệ pegmatit chứa xạ-hiếm

Hoạt tính phóng xạ: các đá pha 1 có hoạt tính xạ 14-30 ppm; pha 2 khoảng 13-32ppm, pha 3 khoảng 13-45 ppm (bảng 1.6)

3- Phức hệ Phan Rang (G/K2-Epr)

Phức hệ Phan Rang chủ yếu là các thành tạo đá mạch có khối lượng không lớn, thành phần chủ yếu là felsit porphyr, riolit porphyr, granit granophyr Gặp chủ yếu ở Bắc Núi Bể, tạo thành đới gồm nhiều mạch qui mô khác nhau từ 3-5m đến 100-400m Kết quả đo xác định các tham số vật lý cho thấy các đá mạch phức hệ Phan Rang thường có hoạt tính xạ thấp hơn so với các phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả, thường đạt trong khoảng 9-18ppm

4- Phức hệ Cù Mông (Ga/K2-Ecm)

Phức hệ Cù Mông trong vùng nghiên cứu có khối lượng rất ít Các đai cơ mạch sẫm màu đang xếp vào phức hệ Cù Mông thường có qui mô nhỏ, với bề rộng từ 1-3m đến 20-30m Thường có mặt các nhóm đá từ diabaz, gabrodiabaz, gabrodiorit đến diorit porphyrit Kết quả đo tham số vật lý của các thành tạo này cho thấy chúng thường có hoạt tính xạ thường có giá trị thấp từ 3 đến 11ppm (bảng 1.6)

Bảng 1.6 Tính chất vật lý các đá magma xâm nhập vùng Hàm Tân và lân cận

6 CGSM)

Độ từ dư (.10 -

6 CGSM)

Hoạt tính phóng

xạ trung bình (ppm)

Mật độ (g/cm 3 )

Trang 29

6 CGSM)

Hoạt tính phóng

xạ trung bình (ppm)

Mật độ (g/cm 3 )

Trên bản đồ kiến tạo miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 (Nguyễn Xuân Bao

và nnk, năm 2000) Vùng nghiên cứu thuộc Đông Nam đới cấu trúc Đà Lạt Đới này

là một khối vỏ lục địa tiền Cambri bị sụt lún trong Jura giữa và phần lớn diện tích đới

bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi muộn, Kainozoi sớm

2 Các tầng cấu trúc

- Tầng cấu trúc Mesozoi: Tham gia vào tầng cấu trúc này bao gồm các đá magma của phức hệ Định Quán, Đèo Cả, Phan Rang, Cù Mông và các trầm tích lục nguyên hệ tầng Đắc Krong, Trà Mỹ, các trầm tích phun trào của hệ tầng Nha Trang

- Tầng cấu trúc Kainozoi muộn (Neogen - Đệ tứ): tham gia vào tầng cấu trúc này chủ yếu là các trầm tích lục nguyên gắn kết yếu đến bở rời gồm: cát kết, cuội sạn kết, bột, sét với thành phần đa khoáng được thành tạo trong mối tương quan giữa hoạt động tân kiến tạo và sự dao động của mực nước Biển Đông trong giai đoạn từ Neogen đến nay Ngoài ra còn có các thành tạo phun trào bazan được thành tạo trong giai đoạn Neogen muộn - Pleistocen sớm (hệ tầng Túc Trưng), giai đoạn Pleistocen muộn (hệ tầng Phước Tân) Tầng cấu trúc này trong khu vực nghiên cứu có bề dày không lớn dao động trong khoảng vài trăm mét

3 Đứt gãy

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về địa chất, địa mạo, địa vật lý, ảnh vệ tinh, photolineament, khe nứt, uốn nếp đã ghi nhận được sự có mặt của 4 hệ thống đứt gãy chính trên diện tích của vùng nghiên cứu

Trang 30

- Nhóm đứt gãy phương Đông Bắc-Tây Nam gồm đứt gãy: Phước Bửu - Tân Xuân - Tân Nghĩa và một số đứt gãy nhỏ ở các khu vực Tân Nghĩa Các đứt gãy này được xác định theo tài liệu địa vật lý, ảnh viễn thám Các kết quả nghiên cứu đặc điểm khe nứt gần đứt gãy có thể ghi nhận được hai pha hoạt động chính của các đứt gãy này: pha 1 vào Oligocen-Miocen (E3-N1): đứt gãy trượt thuận phải, mặt trượt cắm khoảng 60-70°về Đông Nam hoặc Tây Bắc; pha 2 vào Pliocen-Đệ tứ (N2-Q): đứt gãy trượt bằng trái với mặt trượt khá dốc hoặc cắm đứng

- Nhóm đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam gồm các đứt gãy Sông Dinh và đứt gãy Sông Phan Các đứt gãy này được xác định theo tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý, ảnh viễn thám và tài liệu khe nứt Kết quả nghiên cứu khe nứt dọc theo các đứt gãy này cho phép xác định rõ đây là các đứt gãy có 2 pha hoạt động: pha 1 vào Oligocen- Miocen (E3-N1): trượt thuận với mặt trượt cắm khoảng 60÷70° về phía Tây Nam; pha 2 trong giai đoạn Kainozoi muộn (Kz2): trượt bằng trái với mặt trượt thẳng đứng hoặc rất dốc

- Nhóm đứt gãy phương kinh tuyến gồm đứt gãy Núi Bể - Bình Châu và rất nhiều các đứt gãy nhỏ khác phân bố trong các diện lộ của đá móng trước Kainozoi ở khu vực Tân Nghĩa, Bình Ngãi Các đứt gãy này cũng được xác định theo các tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý, ảnh viễn thám và tài liệu khe nứt Kết quả nghiên cứu khe nứt cho phép xác định 2 loại đứt gãy Loại thứ nhất có 2 pha hoạt động: pha 1 có

lẽ vào Creta muộn (K2 ?) đứt gãy hoạt động với tính chất thuận; pha 2 vào Pliocen-Đệ

tứ (N2-Q) đứt gãy trượt bằng phải hoặc tách với mặt trượt cắm đứng Loại thứ 2 tuổi

cổ hơn (có lẽ vào cuối Jura), chỉ phân bố trong diện lộ của các trầm tích tuổi Jura sớm- giữa, chúng có mặt trượt khá thoải (45-70°) và thường cắm về phía Đông với kiểu trượt nghịch

- Nhóm đứt gãy phương vĩ tuyến được xác định chủ yếu theo các tài liệu địa chất, địa vật lý, ảnh máy bay và tài liệu khe nứt Chúng gồm một số đứt gãy qui mô nhỏ phân bố rải rác ở vùng: Tân Minh, Tân Nghĩa, núi Mây Tào Đây có lẽ là hệ thống đứt gãy rất trẻ, mới phát sinh và hoạt động trong giai đoạn Kainozoi muộn

1.4.2 Đặc điểm khoáng sản

1.4.2.1 Nhóm kim loại (Titan - Zircon)

1 Mỏ Hàm Tân

Các mỏ phân bố trên địa phận các xã Tân Hải (ấp Hiệp An) huyện Hàm Tân,

xã Tân Thành (xóm Chùm Găng), Tân Thuận (ấp Văn Kê) huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận Dọc theo ven bờ biển ilmenit và zircon tích tụ trong các trầm tích biển Holocen thượng (mQ23) và trầm tích gió Holocen thượng (vQ23) thành phần gồm cát thạch anh , phân bố thành các dải hẹp, kéo dài ven bờ biển từ mũi Kê Gà đến Hàm Tân gồm 3 thân quặng

Tọa độ địa lý: Từ 100 39' 15" đến 100 43' 30" vĩ độ Bắc

Từ 1070 47' 20" đến 1080 00' 00" kinh độ Đông

a- Thân quặng Bàu Dòi: nằm trong tầng cát vàng và xám Diện phân bố thân

quặng rộng từ 90m đến 480m, trung bình 330m, dài 5km, kéo dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam Chiều dày thân quặng không ổn định, thay đổi từ 0,5m đến 26,6m,

Trang 31

trung bình 3,7m Hàm lượng trung bình của ilmenit 57kg/m3, zircon là 9,8kg/m3 Trữ lượng tài nguyên dự báo cấp C2 là 280.000 tấn

b- Thân quặng Gò Đình: phân bố trong tầng cát vàng, lẫn ít cát xám trắng bở

rời, hạt nhỏ lẫn ít sạn Thân quặng kéo dài theo phương Đông-Tây khoảng 2,5-3,0km,

bề rộng từ 40m đến 360m, trung bình 210m, chiều dày thay đổi từ 0,5m đến 12,2m, trung bình 3,85m Hàm lượng trung bình của ilmenit 67kg/m3, zircon là 11,5kg/m3 Trữ lượng tài nguyên dự báo cấp C2 là 105.000 tấn quặng tổng

c- Thân quặng Chùm Găng: nằm trong tầng cát vàng, xám bở rời, hạt nhỏ

Thân quặng kéo dài theo hướng Đông -Tây khoảng 4,5km, bề rộng từ 40m đến 420m, trung bình 200m, bề dày từ 0,4m đến 20m, trung bình 4m Hàm lượng trung bình của ilmenit 68kg/m3, zircon là 10,5kg/m3 Trữ lượng tài nguyên dự báo cấp C2: 175.000 tấn quặng tổng

2 Điểm quặng Kê Gà

Toạ độ trung tâm: 10042’28” vĩ độ Bắc và 107058’67” kinh độ Đông

Điểm quặng Ti-Zr phân bố trên địa bàn xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, gồm một thân sa khoáng Ti-Zr phân bố khá liên tục trong trầm tích cát tuổi Holocen trên bãi triều cao và thấp ở phía Tây mũi Kê Gà Chiều dài ~ 2 km, chiều rộng trung bình ~ 100m, chiều dày trung bình ~ 1,5m Hàm lượng trung bình của khoáng vật quặng Ti-Zr trong thân sa khoáng ~ 20 kg/m3 Tài nguyên dự báo: 6.000 tấn quặng tổng

3 Điểm quặng Tam Tân

Tọa độ: 10042’38” vĩ độ Bắc và 107051’20” kinh độ Đông

Quặng Ti-Zr phân bố trong các cồn cát và đê cát có độ cao từ 3-5 m có nguồn gốc biển và biển gió tuổi Holocen và trên bãi triều cao đôi chỗ còn phát triển ra cả bãi triều thấp ở phía Đông Bắc Mũi Đỏ Chiều dài ~ 2 km, chiều rộng trung bình ~ 150m, chiều dày trung bình ~ 2,5m Hàm lượng trung bình của khoáng vật quặng Ti-

Zr trong thân sa khoáng ~ 15 kg/m3 Tài nguyên dự báo: 8.450 tấn quặng tổng

4 Điểm quặng Cam Bình

Tọa độ: 10038’06” vĩ độ Bắc và 107043’39” kinh độ Đông

Quặng Ti-Zr phân bố trong các cồn cát và đê cát có độ cao 20m có nguồn gốc biển và biển gió tuổi Holocen Chiều dài ~1 km, chiều rộng trung bình ~ 50m, chiều dày trung bình~ 3m Hàm lượng trung bình của khoáng vật quặng Ti - Zr trong thân

sa khoáng ~ 15 kg/m3 Tài nguyên dự báo: 2.250 tấn quặng tổng

5 Điểm quặng Sơn Mỹ

Tọa độ: 10037’33” vĩ độ Bắc và 107040’44” kinh độ Đông

Quặng Ti-Zr phân bố trong các cồn cát và đê cát có độ cao 5 - 9m có nguồn gốc biển và biển gió tuổi Holocen và trên bãi triều phía Nam Sơn Mỹ Chiều dài ~ 4

km, chiều rộng trung bình ~ 100m, chiều dày trung bình ~ 1,5m Hàm lượng trung bình của khoáng vật quặng Ti - Zr trong thân sa khoáng ~ 15 kg/m3 Tài nguyên dự báo: 9.000 tấn quặng tổng

6 Điểm quặng Hiệp Hòa (Hồ Lăng)

Trang 32

Tọa độ 10036’09” vĩ độ Bắc và 107038’18” kinh độ Đông

Quặng phân bố trong các cồn cát và đê cát có độ cao 7- 8m có nguồn gốc biển

và biển gió tuổi Holocen đôi chỗ phát triển ra cả bãi triều cao và thấp Chiều dài ~ 4

km, chiều rộng trung bình ~ 100m, chiều dày trung bình ~ 1 m Hàm lượng trung bình của khoáng vật quặng Ti - Zr trong thân sa khoáng ~ 15 kg/m3 Tài nguyên dự báo: 6.000 tấn quặng tổng

7 Điểm quặng Tân Thắng

Tọa độ: 10035’22” vĩ độ Bắc và 107036’36” kinh độ Đông

Phân bố trong các trầm tích tuổi Holocen và trên bãi triều phía Nam Sơn Mỹ Chiều dài ~1 km, chiều rộng trung bình ~ 100m, chiều dày trung bình ~ 1 m Hàm lượng trung bình của khoáng vật quặng Ti - Zr trong thân sa khoáng ~ 15 kg/m3 Tài nguyên dự báo: 1.500 tấn quặng tổng

1.4.2.2 Nhóm kim loại quí

a Vàng

+ Vàng sa khoáng

Biểu hiện vàng sa khoáng phân bố tập trung ở khu vực Tây Nam núi Bể, chúng

có mặt trong các tích tụ aluvi hiện đại (suối Đu Đủ, suối Tràm) và trong tích tụ deluvi-proluvi ven chân núi Bể Hàm lượng 1-5 hạt/10dm3 Nhìn chung, vàng sa khoáng có hàm lượng nghèo qui mô nhỏ hẹp, không có triển vọng công nghiệp

+ Vàng gốc

Điểm quặng vàng Tây Nam núi Bể (suối Đu Đủ)

Vị trí: sườn Tây Nam Núi Bể, thượng nguồn suối Đu Đủ, thuộc xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận

Tọa độ địa lý: 100 44' 25" vĩ độ Bắc, 1070 03' 08" kinh độ Đông

Điểm quặng do dân địa phương phát hiện tháng 10 năm 1994 và khai thác đến cuối năm 1994 thì ngừng Đầu năm 1995, Công ty Khoáng sản tỉnh Bình Thuận đã tìm kiếm chi tiết hóa, đánh giá triển vọng Kết quả đã phát hiện được 6 mạch thạch anh chứa khoáng hóa vàng phát triển dọc theo đứt gẫy phương Đông Bắc-Tây Nam nằm trong các đá pha 2 phức hệ Đèo Cả Trong đó có 1 mạch đạt hàm lượng công nghiệp (hàm lượng trung bình (g/t): Au 14,96; Ag 134,62) Tài nguyên dự báo thân quặng cấp P1 đạt 2,16kg vàng; 20,071kg bạc

Thiếc sa khoáng gặp khá phong phú trong các thung lũng sông Dinh, sông Giêng, Tân Minh Các tích tụ thiếc sa khoáng thường kéo dài hàng ngàn mét, rộng

Trang 33

vài chục mét, dày 0,5-2m hoặc các thân nhỏ hơn với kích thước 50 x 10 x 0,5m Hàm lượng casiterit thay đổi: 50-300g/m3, hoặc cao hơn như ở sông Dinh đạt 100-500g/m3

1.4.2.3 Nhóm khoáng chất công nghiệp

1 Cát thủy tinh xã Tân Thắng

Vị trí địa lý: 10038' 05" vĩ độ Bắc

107039'50" kinh độ Đông

Cát trắng nằm trong trầm tích nguồn gốc gió tuổi Holocen giữa Thân khoáng dài 1,9km, chiều rộng 375-875 m, bề dày trung bình 5m Cát lộ trên mặt, cao nhất 16m, thấp nhất: 7m Tài nguyên dự báo: cấp P1 đạt 4.138.278 tấn

2 Cát thủy tinh Hàm Tân

Vị trí địa lý: 10041' 50" vĩ độ Bắc

107043'50" kinh độ Đông

Tích tụ cát trắng nằm trong trầm tích nguồn gốc biển, tuổi Pleistocen muộn, Pleistocen giữa-muộn gồm 2 thân khoáng: thân khoáng I: nằm phía Tây Nam Hàm Tân, có chiều dài 1400m; chiều rộng 650m, bề dày 0,5m đến 2,6m Thân khoáng II:

phân bố ở trung tâm Hàm Tân có dạng bán nguyệt, đường kính 4,6km, dày trung bình 1,96m Tài nguyên dự báo: cấp P1 đạt 16.264.080 tấn

3 Cát thủy tinh Dinh Thầy

Vị trí địa lý: 10043' 30" vĩ độ Bắc

107040'35" kinh độ Đông

Tích tụ cát trắng nằm lộ thiên trên mặt, phủ trên cát vàng, tuổi Holocen giữa Thân khoáng có chiều dài 2,5km; chiều rộng 2km, bề dày 1-5,5m

Tài nguyên dự báo: cấp P1đạt 20.708.288 tấn

4 Cát thủy tinh Chùm Găng

Vị trí địa lý: 10043' 10" đến 10044' 00" vĩ độ Bắc

107055'30" đến 107056'30" kinh độ Đông

Mỏ cát trắng phân bố ở trung tâm Chùm Găng, lộ trên mặt thuộc trầm tích nguồn gốc biển tuổi Holocen giữa-muộn Thân khoáng dạng thấu kính, dài 5,5km; rộng 1,5km, bề dày 1,5m đến 7,5m

Tài nguyên dự báo: cấp P1đạt 22.855.790 tấn

1.4.2.4 Nhóm nguyên vật liệu xây dựng

Trang 34

Thân khoáng sét nằm trong trầm tích sông (aQIV3) Sét màu xám đen, dẻo, bề dày 1,2m Diện phân bố sét rộng khoảng 1,5km2 Thành phần hóa (%): Al2O3 23-37;

1-Fe2O3 3,35; SiO2 59-42; TiO2 0,81 Độ hạt (%): (>0,01mm) 76,20; (0,1-0,01mm) 20,15 Thành phần khoáng vật (%): kaolinit 30; hydromica 18; montmorilonit 15; clorit 7 Tài nguyên dự báo cấp P2 đạt 1,6 triệu m3, thuộc loại nhỏ

b.Cát xây dựng

1 Mỏ cát xây dựng Sông Dinh

Vị trí địa lý: 10045'28" đến 10048'40" vĩ độ Bắc

107039'35" đến 107045'25"kinh độ Đông

Mỏ thuộc địa phận xã Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Cát phân

bố trong trầm tích biển tuổi Pliocen và Pleistocen Diện phân bố khá rộng khoảng 12,5km2, bề dày dao động 2-2,5m Mỏ cát dân địa phương đang khai thác dùng trong xây dựng nhà cửa Tài nguyên dự báo: cấp P1 đạt 25.626.000m3

2 Điểm quặng cát xây dựng Tân Xuân

Tính chất cơ lý: đá andesit: dung trọng 2,67g/cm3, tỷ trọng 2,68g/cm3, cường độ kháng nén khi khô 1.005kg/cm2, khi bão hòa nước 870kg/cm2; đá granit porphyr: dung trọng 2,64g/cm3, tỷ trọng 2,67g/cm3, cường độ kháng nén khi khô 2.250kg/cm2, khi bão hòa nước 2.040 kg/cm2

Cường độ phóng xạ của granit porphyr 28-40µR/h, của đá andesit 25-37µR/h

Trang 35

Tài nguyên dự báo: sản lượng khai thác hàng năm không đáng kể (< 100.000

m3/năm) Tài nguyên dự báo cấp P1 cho toàn khu mỏ là 778,5 triệu métkhối Qui mô

thuộc loại mỏ lớn (mỏ chưa đánh giá đầy đủ)

2 Mỏ đá xây dựng Đông Núi Nhọn

Tọa độ: 10046’45” đến 10050’20” vĩ độ Bắc

107045’40” đến 107050’05” kinh độ Đông

Thân khoáng là đá granitoid phức hệ Đèo Cả Diện phân bố khoáng 10 km2, chênh lệch độ cao 200m Cường độ kháng nén khi khô 1.990 kg/cm2, khi bão hòa nước 1.873 kg/cm2 Qui mô thuộc loại mỏ lớn, tài nguyên dự báo cấp P2=500 triệu

m3

2 Mỏ đá xây dựng xã Tân Bình

Tọa độ:10044’05” vĩ độ Bắc

107045’00” kinh độ Đông

Thân khoáng là đá granit biotit hạt vừa,nhỏ, cấu tạo khối, thuộc phức hệ Đèo

Cả Diện phân bố rộng 500m, dài 1km, bề dày khai thác 30m Tính chất cơ lý: dung trọng 2.64 g/cm3; tỷ trọng 2.65g/cm3; cường độ kháng nén khi khô 1.680 kg/cm2, khi bão hòa nước 1.446 kg/cm2 Quy mô mỏ lớn Tài nguyên dự báo cấp P2=15 triệu m3

3 Mỏ đá xây dựng Sông Phan:

Tọa độ: 10049’40” vĩ độ Bắc

107045’00” kinh độ Đông

Thân khoáng là đá granit biotit hạt vừa,nhỏ, cấu tạo khối, thuộc phức hệ Đèo

Cả Diện phân bố rộng 0.5km2, bề dày khai thác 50m Tính chất cơ lý: dung trọng 2.62 g/cm3; tỷ trọng 2.63 g/cm3; cường độ kháng nén khi khô 1.513 kg/cm2, khi bão hòa nước 1.383 kg/cm2 Quy mô mỏ lớn, tài nguyên dự báo cấp P2 = 8 triệu m3

Tóm lại, vùng nghiên cứu khá phong phú về tài nguyên khoáng sản, đa dạng

về chủng loại như vàng, thiếc, ilmenit, zircon, cát thủy tinh, vật liệu xây dựng… và lớn về trữ lượng Trong đó, các loại khoáng sản có giá trị công nghiệp cao là ilmenit, zircon, cát thuỷ tinh, vật liệu xây dựng Ilmenit và zircon được tích tụ trong trầm tích Holocen thượng và tập trung trong các thân quặng Chùm Găng, Gò Đình (thuộc xã Tân Thành, Tân Thuận), một số thân quặng thuộc xã Tân Hải Cát thuỷ tinh tập trung nhiều ở Tân Thắng, La Gi, Tân Thành Khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản sẽ mang lại thu nhập lớn cho ngân sách, tạo điều kiện thúc đẩy ngành công nghiệp khai thác, chế biến phát triển Tuy nhiên, các hoạt động khai thác trái phép đang diễn ra rất phổ biến ở đây và là vấn đề nổi cộm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến môi trường Điển hình là tại các xã Tân Hải, Tân Thuận, Tân Bình với hình thức khai thác tuyển quặng nhanh bằng máng gỗ, máy xoắn ốc, nạo vét phần mặt bãi triều thấp do các tư nhân đứng ra thuê công nhân (ước tính 1 ngày khai thác được 5-7 tấn) Các hoạt động khai thác trái phép này đã gây nguy cơ phát tán các nguyên tố phóng xạ vào môi trường, phá hủy diện tích rừng phòng hộ ven biển (khoảng 6 ha rừng phòng

hộ ven biển xã Tân Bình), khoét sâu vào bờ biển làm bờ bị xói lở; khai thác nước ngọt để tuyển quặng làm sụt giảm mực nước ngầm tăng nhiễm mặn, biến đổi cảnh quan… Nhìn chung, các cơ sở khai thác – chế biến khoáng sản (được cấp phép) tại

Trang 36

vùng mỏ Hàm Tân chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái và hoàn trả mặt bằng sau khai thác Bên cạnh đó, trong các thân quặng titan

có chứa thành phần monzazit có tính chất phóng xạ nếu không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người và động vật quanh khu vực mỏ

1.4.3 Đặc điểm địa chất khoáng sản ảnh hưởng tới môi trường phóng xạ

Trong vùng nghiên cứu, các tài liệu đo phóng xạ đã có chủ yếu phục vụ cho công tác điều tra địa chất, tìm kiếm, đánh giá khoáng sản Công tác điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ hầu như chưa có một công trình cụ thể nào hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ Vì vậy các kết quả nêu ra ở đây chủ yếu dựa vào các tài liệu đã công bố trong công tác điều tra địa chất, khoáng sản (các số liệu đo gamma mặt đất)

1.4.3.1 Đặc điểm trường phóng xạ

1.1 Phần lục địa

Có thể chia phần lục địa vùng nghiên cứu ra các miền có cường độ phóng xạ như sau: miền có cường độ từ 0 đến 10µR/h; lớn hơn 10 đến 15µR/h; lớn hơn 15 đến 25µR/h; lớn hơn 25 đến 35µR/h; lớn hơn 35 đến 45µR/h; lớn hơn 45 đến 80µR/h và lớn hơn 80 µR/h

- Miền trường có cường độ phóng xạ thấp (nhỏ hơn 10µR/h) (bảng 1.7) phân

bố với diện tích nhỏ trên các đá bazan của hệ tầng Túc Trưng (βN2-QItt) ở phía Tây

vùng nghiên cứu (địa phận xã Tân Thắng); trên các đá andesit hệ tầng Nha Trang ở núi Nhọn (xã Tân Hà, Tân Nghĩa) và trên các thềm cát sạch (cát thủy tinh) ở độ cao

~10m có nguồn gốc biển tuổi Holocen trung khu vực Tân Thắng, Tây Bắc thị trấn La Gi

- Miền trường có cường độ phóng xạ lớn hơn 10 đến 15µR/h phân bố trên các thành tạo nguồn gốc hỗn hợp sông biển tuổi Holocen ở thung lũng sông Dinh, sông Phan

- Miền trường có cường độ phóng xạ lớn hơn 15 đến 25µR/h chiếm một khối lượng khá lớn trên diện tích nghiên cứu Liên quan với chúng gồm có nhiều đối tượng địa chất khác nhau, chủ yếu các trầm tích bở rời từ Neogen đến Đệ tứ có độ chọn lọc kém (nguồn gốc sông, sông biển, biển) ở khu vực Sơn Mỹ, Tân Thiện, Tân Hải; các trầm tích thuộc hệ tầng Trà Mỹ (J2a-bjtm) ở khu vực Tân Nghĩa, các đá thuộc pha 2

phức hệ Định Quán (GDi/J3-KIđq2) phân bố ở khu vực Tân Minh, các đá pha 2, pha 3

phức hệ Đèo Cả (khu vực chân núi Bể) và các đá hệ tầng Nha Trang (Knt) phân bố ở

Tên đá Nhỏ

nhất

Lớn nhất

Giá trị có tần xuất bắt gặp lớn

50 Granit sáng màu 36 64 60

Trang 37

Cường độ phóng xạ (µR/h)

TT Phức hệ Pha

Ký hiệu thành tạo địa chất

Tên đá Nhỏ

nhất

Lớn nhất

Giá trị có tần xuất bắt gặp lớn

1 G/Kđc1 Granit có biotit hornblend 22 34 32

24

34

30 Granit biotit dạng porphyr 24 52

(Nguồn: kết quả của đề án điều tra địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 nhóm tờ Hàm Tân - Côn Đảo)

- Miền trường có cường độ phóng xạ lớn hơn 25-35µR/h chiếm diện tích nhỏ ở

ven rìa các núi Bể, núi Mây Tào (xã Tân Thắng, Tân Minh) thuộc các đá pha 2 phức

hệ Định Quán (GDi/J3-KIđq2), các đá pha 1 phức hệ Đèo Cả (G/Kđc1), chúng thường

mang tính cục bộ tạo thành những khối nhỏ đến trung bình

- Miền trường có cường độ phóng xạ lớn hơn 35-45µR/h, là miền trường có

diện tích khá lớn, thường tạo thành những khối lớn hay cục bộ liên quan tới chúng là

các đá thuộc pha 2 phức hệ Đèo Cả (GSy/Kđc2) phân bố khá rộng rãi trong vùng (núi

Bể, núi Mây Tào, ); các đai mạch phức hệ Phan Rang và trên các thành tạo cát giàu

sa khoáng ilmenit ven biển vùng nghiên cứu Trong miền trường này thường xuất

hiện những dị thường có dạng kéo dài hay đẳng thước

- Miền trường có cường độ phóng xạ lớn hơn 45-80 µR/h, tạo thành những

khối nhỏ có dạng kéo dài hay dạng khối phân bố rải rác trong vùng, liên quan tới

chúng là các đá granit hạt nhỏ sáng màu, granit dạng pegmatit thuộc pha 3 phức hệ

Đèo Cả (G/Kđc3), các thành tạo trầm tích bở rời giàu sa khoáng nguồn gốc biển

Chúng phân bố chủ yếu ở Đông núi Nhọn (xã Tân Nghĩa), phía Bắc núi Bể (xã Tân

Minh) và dọc ven biển từ Kê Gà đến La Gi

- Miền trường có cường độ phóng xạ lớn hơn 80µR/h chiếm diện tích nhỏ ở

khu vực Tân Lập, dải ven biển khu vực nghiên cứu Liên quan đến chúng là các

khoáng hóa Th-U ở khu vực xã Tân Lập, mũi Kê Gà và các thân quặng ilmenit đang

khai thác ở khu vực Chùm Găng, Bàu Dòi, Mũi Đỏ Tại các khu vực đang khai thác

quặng imenit có nơi cường độ phóng xạ lên đến hàng nghìn µR/h

Từ kết quả trình bày trên cho thấy sự phân bố và thăng giáng trường phóng xạ

có liên quan mật thiết với các thành tạo địa chất có mặt trong vùng nghiên cứu Trong

đó liên quan tới các dị thường phóng xạ chủ yếu là các đai mạch granit aplit, felsit,

các đá granit pegmatit hạt nhỏ thuộc pha 3 phức hệ Đèo Cả (γKđc3), các điểm khoáng

hóa Th-U và các thành tạo giàu sa khoáng ilmenit - zircon

1.2 Vùng biển ven bờ

Trang 38

Theo kết quả tài liệu đo phổ gamma tỷ lệ 1/100.000, vùng biển ven bờ có suất liều tương đương không cao Dọc ven bờ có liều tương đương nằm trong khoảng 0,3-1mSv/năm thuộc các khu vực Chùm Găng, Mũi Đỏ, Tân Thắng Đây là những khu vực có triển vọng sa khoáng biển ilmenit, zircon, monazit, rutin…

Vùng có suất liều tương đương lớn hơn 1mSv/năm chỉ có một vài điểm nằm rải rác ở khu vực Hiệp Hoà và khu vực mũi Kê Gà Đây là khu vực có hàm lượng sa khoáng biển ilmenit, zircon, monazit, rutin…cao

Bảng 1.8 Cường độ phóng xạ đặc trưng các trầm tích và phun trào vùng Hàm Tân và lân cận

Cường độ phóng xạ (µR/h)

Số thứ

Ký hiệu thành tạo địa chất Tên đá Nhỏ nhất Lớn nhất xuất bắt gặp lớn Giá trị có tần

20

1 Trầm tích Đệ tứ

không phân chia Q Cát, bột-sét 6 1000 10

2 Phước Tân βQ1pht Bazan 18 22 20

14 Ryolit, dacit và tuf 18 34 20

6 Nha Trang Knt

Felsit 28 42 38

16 Cát kết 14 28

1.4.3.2 Các dị thường phóng xạ và quy luật phân bố

Qua tài liệu thu thập được, căn cứ vào đặc điểm, vị trí phân bố và nguồn gốc gây nên dị thường phóng xạ có thể phân ra 2 loại sau:

2.1 Dị thường phóng xạ liên quan tới các thành tạo trầm tích bở rời

Các dị thường này phân bố chủ yếu trên các vùng giàu sa khoáng ilmenit, zircon (vùng mỏ và ven rìa các khối garanit) Thành phần trầm tích chủ yếu là cát màu vàng nhạt, xám vàng, xám đen Giá trị cường độ dị thường dao động 70-75µR/h, một số điểm đột biến lên đến hàng trăm, hàng ngàn µR/h (các moong khai thác ở khu vực Bàu Dòi, Gò Đình) Kết quả phân tích kích hoạt neutron cho thấy hàm lượng thori trội hơn uran (xem bảng 1.9)

Bảng 1.9 Kết quả phân tích hoạt neutron các mẫu trầm tích

bở rời vùng Hàm Tân

Hàm lượng (ppm) ST

T

Số hiệu

mẫu

Kiểu thành

Trang 39

Các dị thường phóng xạ cũng như các điểm có cường độ phóng xạ đáng chú ý trong trầm tích bở rời liên quan mật thiết với các vành phân tán trọng sa monazit,

cyrtolit

2.2 Các dị thường phóng xạ liên quan tới các thành tạo magma

Trên cơ sở các tài liệu hiện có, vùng nghiên cứu gặp các điểm có cường độ phóng xạ đáng chú ý và các dị thường phóng xạ Nhìn chung, các dị thường phóng xạ

có cường độ 80-120µR/h, cao nhất đạt 150-170µR/h Đối tượng gây nên dị thường là

granit aplit, granit pegmatit, granit sáng màu hạt nhỏ thuộc phức hệ Đèo Cả (Kđc)

Dựa trên qui luật phân bố, chúng tôi chia ra hai dải dị thường:

a Dải dị thường Đông Bắc núi Bể: có dạng kéo dài theo phương Đông Tây Nam với diện tích khoảng 2×10km Các dị thường phóng xạ thường liên quan các đá pha 3 phức hệ Đèo Cả tạo thành những khối chỏm nhỏ, lộ không liên tục Cường độ phóng xạ của các dị thường ít biến đổi thường đạt 90-100µR/h Đối tượng gây nên dị thường là granit aplit, granit pegmatit với thành phần khoáng vật: thạch anh 36-38%, felspat kali 43-45%, plagioclas 17-18%, biotit 1% Ngoài ra, còn có mạch granit aplit xuyên cắt các đá pha 2 phức hệ Đèo Cả, cường độ phóng xạ thấp, ổn định đạt 60-70µR/h, dọc theo các khe nứt phát triển trong đá có phần cao hơn đạt 80-82µR/h Kết quả phân tích như sau (xem bảng 1.10)

Bắc-Bảng 1.10 Kết quả phân tích kích hoạt neutron

Hàm lượng (%) S

(Nguồn: kết quả của đề án điều tra địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 nhóm tờ Hàm Tân - Côn Đảo)

Nhìn chung, hàm lượng các nguyên tố xạ hiếm thấp, chỉ có hàm lượng Th lớn hơn trị số clark 1,5-3 lần Nếu lập tỷ số giữa U và Th cho thấy, hàm lượng Th lớn hơn

U từ 2 đến 20 lần, điều đó cho thấy bản chất gây nên dị thường xạ chủ yếu là Th Ngoài ra, trong dải dị thường này qua tính toán còn phát hiện hàng loạt các giá trị cường độ phóng xạ đáng chú ý liên quan quá trình kiềm hóa, pegmatit hóa trong các

đá pha 2 phức hệ Định Quán (GDi/J3-K1đq2) và phức hệ Đèo Cả

b Dải dị thường Đông Bắc núi Nhọn: là dải dị thường kéo dài hàng chục km với hàng loạt các dị thường liên quan với granit, granit pegmatit pha 3 Đèo Cả, phân

bố theo hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam Thành phần khoáng vật: thạch anh 32-35%, felspat kali 38-42%, plagiolas 22-25%, biotit 1-3% Đá phong hóa có màu nâu hoặc xám hồng nhạt Trong chúng phát triển nhiều ổ pegmatit có kích thước khác nhau Cường độ phóng xạ nhìn chung khá ổn định thường đạt 90-120µR/h, cá biệt 150-170µR/h được tập trung trong đá granit giàu pegmatit hoặc bị felspat hóa Chúng thường tạo thành những khối nhỏ, đẳng thước Ngoài ra, còn phát hiện dị thường xạ liên quan tới mạch felsit xuyên cắt đá trầm tích hệ tầng Trà Mỹ (J2a-bjtm),

cường độ phóng xạ đạt 68-72µR/h, cao nhất đạt 82µR/h Qua kết quả tính toán đã

Trang 40

phát hiện hàng loạt các giá trị có cường độ phóng xạ đáng chú ý trong các đá pha 2, pha 3 phức hệ Đèo Cả, đá felsit, granit porphyr của hệ tầng Nha Trang xuyên cắt các granitoit phức hệ Đèo Cả, các đá hệ tầng Trà Mỹ

Trên diện tích phân bố các dải dị thường có liên quan mật thiết với các vành phân tán trọng sa cyrtolit Kết quả phân tích kích hoạt neutron (xem bảng 1.11)

Bảng 1.11 Kết quả phân tích kích hoạt neutron

3 HC.2182

Granit hạt vừa- nhỏ 0,0004 0,0038 0,0089 0,0038 0,0036 0,001

(Nguồn: kết quả của đề án điều tra địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 nhóm tờ Hàm Tân - Côn Đảo)

Qua bảng trên cho thấy hàm lượng các nguyên tố nhìn chung thấp, chỉ có thori

là vượt 2-3 lần so với trị số Clack, tỷ số uran/thori cho thấy thori trội hơn uran 4 đến

14 lần, bản chất gây ra dị thường chủ yếu là do thori Kết quả phân tích mẫu giã đãi: orthit 2,4g/t; cyrtolit 2,97-9,3g/t; fluorit 0,5-19,14g/t; monazit 3,72g/t; thorit 0,07g/t

Qua kết quả trình bày trên, cho thấy các dị thường phóng xạ liên quan đến các thành tạo magma xâm nhập là các đá có phát triển pegmatit hay granit hạt nhỏ sáng màu thuộc pha 3 phức hệ Đèo Cả hay các đai mạch felsit thuộc hệ tầng Nha Trang

Ngày đăng: 11/05/2014, 17:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Xuân Bao và nnk -1981. Báo cáo kết quả đo vẽ và tìm kiếm khoáng sản Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đo vẽ và tìm kiếm khoáng sản Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000
Tác giả: Nguyễn Xuân Bao, nnk
Nhà XB: Lưu trữ Địa chất
Năm: 1981
1. Ngô Minh Ân-1994. Báo cáo khảo sát xạ ô tô miền Nam Việt Nam. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Xuân Bao và nnk-1995. Báo cáo công tác hiệu đính bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
4. Ngô Văn Bắc-1985. Bản đồ trọng sa và kim lượng bùn tỷ lệ 1:500.000 Nam Việt Nam. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN Khác
5. Nguyễn Biểu, Đào Mạnh Tiến và nnk, 2001. Báo cáo điều tra địa chất khoáng sản biển ven bờ Việt Nam từ 0-30m nước. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Biểu, Đào Mạnh Tiến, 2001. Báo cáo phân vùng và dự báo sa khoáng ven biển và biển ven bờ Việt Nam từ 0-30m nước, tỷ lệ 1/500.000. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Biển, Hà Nội Khác
7. Đào Thanh Bình, năm 1984, Tìm kiếm tỉ mỉ mỏ Ilmenit Chùm Găng, Thuận Hải. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
8. Đào Thanh Bình, năm 1988, Thăm dò sơ bộ mỏ sa khoáng Ilmenit - Zircon Hàm Tân, Thuận Hải. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Văn Cường và nnk – 2001. Báo cáo kết quả đo vẽ và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Hàm Tân - Côn Đảo tỷ lệ 1/50.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Kim Hoàn - 1985. Đặc điểm địa chất và triển vọng khoáng sản Titan sa khoáng ven biển Việt Nam, Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
11. Trương Công Hữu, năm 2000, Điều tra Địa chất bổ sung khu mỏ Ilmenit Gò Đình, Hàm Tân, Bình Thuận. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
12. Izokh. E.P, Dovjikov. A.E. –1981. Sơ đồ magma tổng quát của Việt Nam. Bản đồ địa chất, số 50, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Văn Lịch - 1986. Tổng hợp tài liệu phóng xạ mặt đất lãnh thổ Việt Nam tỷ lệ 1/500.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
14. Phạm Văn Năm -1994. Lập bản đồ tìm kiếm nước dưới đất vùng Hàm Tân - Bình Thuận. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
15. Trần Nghi và nnk -1996. Quy luật phân bố sa khoáng ven biển trong trầm tích Đệ tứ ở Việt Nam. Tổng Cục Địa chất, loạt A số 237, Hà Nội Khác
16. Nguyễn Hữu Nhân - 2003. Niên giám thống kê huyện Hàm Tân - Bình Thuận 2002. Lưu trữ Phòng Thống kê huyện Hàm Tân Khác
17. Lê Khánh Phồn, 1997. Nghiên cứu sự ô nhiễm môi trường trong khai thác và chế biến các mỏ quặng có chứa chất phóng xạ. Tạp chí Địa chất, loại A số 240, 5-6/1997, trang 28-32 Khác
18. Nguyễn Viết Thắm-1984. Báo cáo tìm kiếm đánh giá triển vọng cát trắng và sa khoáng dọc ven biển từ Hòn Gốm đến Vũng Tàu tỷ lệ 1:200.000. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN Khác
19. Nguyễn Đức Thắng-1989. Báo cáo kết quả đo vẽ bản đồ và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Bến Khế - Đồng Nai. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
20. Nguyễn Tài Thinh năm 1994, Thành lập bản đồ trường Phóng xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1:500.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống  kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1.1. Thống kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân (Trang 10)
Bảng 1.3. Hiện trạng đường giao thông đến trung tâm các xã, thị trấn  trong khu vực - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1.3. Hiện trạng đường giao thông đến trung tâm các xã, thị trấn trong khu vực (Trang 14)
Bảng 1.4. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha) - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1.4. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha) (Trang 17)
Bảng 1.6. Tính chất vật lý các đá  magma xâm nhập vùng Hàm Tân và lân cận  Phân vị địa chất - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1.6. Tính chất vật lý các đá magma xâm nhập vùng Hàm Tân và lân cận Phân vị địa chất (Trang 28)
Bảng 1.8. Cường độ phóng xạ đặc trưng các   trầm tích và phun trào vùng Hàm Tân và lân cận - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1.8. Cường độ phóng xạ đặc trưng các trầm tích và phun trào vùng Hàm Tân và lân cận (Trang 38)
Bảng 1.11. Kết quả phân tích kích hoạt neutron - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1.11. Kết quả phân tích kích hoạt neutron (Trang 40)
Bảng 1. Suất liều xạ chiếu trung bình toàn cầu từ nguồn phóng xạ tự nhiên  Liều xạ chiếu ngoài  Liều xạ chiếu - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 1. Suất liều xạ chiếu trung bình toàn cầu từ nguồn phóng xạ tự nhiên Liều xạ chiếu ngoài Liều xạ chiếu (Trang 46)
Hình 1. Các thành phần môi trường phóng xạ - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Hình 1. Các thành phần môi trường phóng xạ (Trang 48)
Bảng 3.  Khối lượng khảo sát thực địa ở  tỷ lệ 1/50.000 và tỷ lệ 1/10.000 vùng lục địa Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 3. Khối lượng khảo sát thực địa ở tỷ lệ 1/50.000 và tỷ lệ 1/10.000 vùng lục địa Hàm Tân (Trang 62)
Bảng 6. Khối lượng mẫu các loại - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 6. Khối lượng mẫu các loại (Trang 63)
Bảng 9: Giá trị sai số cho phép của các phương pháp đo địa vật lý  Sai số tương đối δ (%)  TT Phương pháp đo  Đơn vị - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 9 Giá trị sai số cho phép của các phương pháp đo địa vật lý Sai số tương đối δ (%) TT Phương pháp đo Đơn vị (Trang 65)
Bảng 3.5. Các giá trị đặc trưng trường  phóng xạ trong nước vùng Hàm Tân (n=20 mẫu) - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 3.5. Các giá trị đặc trưng trường phóng xạ trong nước vùng Hàm Tân (n=20 mẫu) (Trang 77)
Bảng 3.6.  Ma trận tương quan giữa các thông số  phóng xạ trong nước vùng Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 3.6. Ma trận tương quan giữa các thông số phóng xạ trong nước vùng Hàm Tân (Trang 78)
Bảng 3.11. Phân loại đối tượng tiếp xúc với phóng xạ  Giá trị trung bình/năm  Đối - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 3.11. Phân loại đối tượng tiếp xúc với phóng xạ Giá trị trung bình/năm Đối (Trang 84)
Bảng 3.13. Hoạt độ giới hạn trong không khí, nước và thực phẩm  Xâm nhập theo đường tiêu hóa  Xâm nhập theo đường hô - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v
Bảng 3.13. Hoạt độ giới hạn trong không khí, nước và thực phẩm Xâm nhập theo đường tiêu hóa Xâm nhập theo đường hô (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm