1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000

112 561 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - Tỷ lệ 1-50.000
Tác giả TS. Đào Văn Thịnh, KS. Lê Văn Học, KS. Nguyễn Trọng Phương, KS. Nguyễn Thái Hà, nnk.
Người hướng dẫn TS. Đào Mạnh Tiến
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất Hà Nội
Chuyên ngành Địa chất, Địa chất môi trường
Thể loại Báo cáo chuyên đề địa chất
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trầm tích hiện đại đới ven biển làm suy thoái cảnh quan và tài nguyên,…Mặt khác, do cấu trúc địa chất phức tạp, các yếu tố khí tượng-thuỷ văn, các đặc điểm địa hình- địa mạo chi phối nên

Trang 1

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN -

BÁO CÁO CHUY£N §Ề

§ỊA CHẤT TAI BIẾN BA VÙNG : PHONG THỔ,

Trang 2

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN -

Tác giả: TS Đào Văn Thịnh

KS Lê Văn Học

KS Nguyễn Trọng Phương

KS Nguyễn Thái Hà và nnk Chủ nhiệm chuyên đề: TS Đào Văn Thịnh

BÁO CÁO CHUY£N §Ề

§ỊA CHẤT TAI BIẾN BA VÙNG : PHONG THỔ,

NÔNG S¥N, HÀM T¢N

TỶ LỆ: 1/50.000

Thuộc Đề tài “ Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện

Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)

và đề xuất giải pháp phòng ngừa” do TS Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHÂT BIỂN

TS Đào Mạnh Tiến TS Đào Văn Thịnh

Hà Nội, 2006

Trang 3

A.I.1.2 Địa hình, địa mạo 8

A.I.1.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối 9

A.I.1.4 Khí hậu 9

A.I.1.5 Động vật và thực vật 9

A.I.1.6 Kinh tế, nhân văn 10

A.I.1.7 Các hoạt động kinh tế 10

A.I.2.1 Các thành tạo địa chất 11

B.I.1.6 Kinh tế, nhân văn 16

B.I.2.1 Các thành tạo địa chất 18

C.I.1 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN KINH TẾ NHÂN VĂN 23

C.I.1.2 Địa hình, địa mạo 23

C.I.1.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối 24

C.I.1.4 Khí hậu 24

C.I.1.5 Động vật và thực vật 26

C.I.1.6 Kinh tế, nhân văn 26

C.I.2.1 Các thành tạo địa chất 33

Trang 4

CHƯƠNG II: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT TAI BIẾN 39

II.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TAI BIẾN ĐỊA CHẤT 40

TRÊN THẾ GIỚI

II.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TAI BIẾN ĐỊA CHẤT Ở VIỆT NAM 41

II.3.1 Tình hình nghiên cứu ĐCTB ở Việt Nam nói chung và vùng Tây 41

Bắc nói riêng

II.3.2 Tình hình nghiên cứu ĐCTB chính khu vực Miền Trung 43

II.3.2 Tình hình nghiên cứu ĐCTB vùng ven biển, biển ven bờ Hàm 47

Tân – Bình Thuận

TAI BIẾN ĐỊA CHẤT CHỦ YẾU

IV.5.1 Vùng Nông Sơn 67

IV.6 TBĐC DO TRƯỜNG BỨC XẠ PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN 75

LIÊN QUAN ĐẾN KHOÁNG SẢN PHÓNG XẠ

Trang 5

IV.7.2 Vùng Nông Sơn 82

V.6 PHÂN VÙNG MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ 95

V.9 PHÂN VÙNG MỨC ĐỘ NGUY CƠ XẢY RA 100

TAI BIẾN ĐỊA CHẤT

Trang 6

VI.2 CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ 102

VI.2 1 Đối với tai biến động đất, đứt gãy hoạt động 102

VI.2 2 Đối với tai biến trượt lở 103

VI.2 3 Đối với tai biến lũ quét 104

VI.2.4 Đối với tai biến xói lở, bồi tụ, biến đổi luồng lạch và nhiễm 106

mặn vùng Hàm Tân

VI.2 4 Đối với tai biến do bức xạ phóng xạ tự nhiên 106

VI.2 5 Đối với tai biến địa hoá sinh thái 107

VI.3.1 Giải pháp trữ nước động, phân tán, kéo dài đường đi của nước 107

trong đất trước khi ra biển

VI.3.2 Giải pháp sử dụng vật liệu địa kỹ thuật làm giảm nhẹ xói lở, 107

trượt lở đồi núi

VI.3.3 Giải pháp trồng cỏ Vetiver hạn chế cát bay, cát chảy, xói lở 108

bờ sông

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 109

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Cơ sở pháp lý

- Căn cứ Quyết định số 1771/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 9 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công nhận các đơn vị trúng thầu Đề tài độc lập cấp Nhà nước, trong đó Liên đoàn Địa chất biển là đơn vị trúng thầu Đề tài

“Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa” do

TS Đào Mạnh Tiến làm Chủ nhiệm

- Căn cứ vào “Thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”

đã được phê duyệt của Đề tài nêu trên

- Căn cứ theo Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 10/2005/HĐ-ĐTĐL ngày 8 tháng 4 năm 2005 về việc thực hiện Đề tài “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa”, mã số: ĐTĐL-2005/10 giữa Liên đoàn Địa chất biển và Bộ Khoa học và Công nghệ; Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

- Căn cứ Hợp đồng thuê khoán công việc số 87/HĐ-ĐTĐL-2005/10 ngày 23 tháng 8 năm 2005 giữa Chủ nhiệm Đề tài: “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa”; Lãnh đạo Liên đoàn Địa chất biển với tác giả về việc: “Xây dựng báo cáo chuyên đề địa chất tai biến ba vùng Hàm Tân,

Phong Thổ, Nông Sơn và lập Sơ đồ địa chất tai biến ba vùng nói trên tỷ lệ 1/50.000 ”

2 Tính cấp thiết của chuyên đề

Trong những năm gần đây, thiên tai đã và đang xảy ra rộng khắp và liên tục trên nhiều vùng của nước ta, đặc biệt là vùng núi Tây Bắc và các tỉnh ven biển Miền Trung với nhiều nguyên nhân khác nhau Đó là các nguyên nhân địa chất nội sinh, địa chất ngoại sinh, các biến đổi khí hậu toàn cầu, cộng thêm các tác động ngày càng gia tăng của con người vào thiên nhiên, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về người, của cải vật chất, cơ sở hạ tầng và môi trường sinh thái Tai biến địa chất và những thiệt hại do chúng gây ra luôn chiếm phần lớn các loại thiên tai Riêng vùng ven biển Hàm Tân bao gồm vùng đất liền ven biển và giải biển ven bờ 0-10m nước có những nét đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên (thuộc đới tương tác đất liền-biển) về tài nguyên môi trường cũng như vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế Đây là khu vực có nguồn tài nguyên phong phú về rừng (động vật và thực vật), đất ngập nước, nguồn lợi thuỷ sản,

đa dạng sinh học cao,…cũng như mhiều loại hình khoáng sản: ilmenit, vàng (vàng sa khoáng và vàng gốc), thiếc, cát thuỷ tinh, vật liệu xây dựng,…Chính vì lẽ đó, khu vực Hàm Tân đã được con người khai thác và sử dụng từ lâu, cường độ khai thác ngày càng tăng, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây Không thể phủ nhận những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhưng những hoạt động phát triển không hợp lý

đã và đang gây sức ép lớn đến môi trường khu vực

Các hoạt động khai thác rừng (gần như cạn kiệt về gỗ quý), chế biến thuỷ sản, khai thác các vùng đất ngập nước, khai thác khoáng sản ven biển với cường độ ngày càng tăng đã làm ô nhiễm môi trường, làm biến động đường bờ và quy luật phân bố

Trang 8

trầm tích hiện đại đới ven biển làm suy thoái cảnh quan và tài nguyên,…Mặt khác, do cấu trúc địa chất phức tạp, các yếu tố khí tượng-thuỷ văn, các đặc điểm địa hình- địa mạo chi phối nên khu vực nghiên cứu xuất hiện nhiều loại tai biến địa chất cũng như tác động dẫn xuất của chúng như nứt-sụt đất, lũ lụt, lũ quét, trượt sạt lở (tập trung ở Phong Thổ, Nông Sơn), xói mòn, nhiễm mặn, xói lở bờ biển, bồi tụ cảng và luồng lạch, ô nhiễm môi trường nước, không khí và trầm tích biển (chủ yếu ở ven biển Hàm Tân),…

Tuy đã có một số kết quả về điều tra địa chất, địa mạo, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, thuỷ triều, sóng và dòng chảy cũng như địa chất môi trường…nhưng các khu vực Phong Thổ, Nông Sơn, Hàm Tân chưa được nghiên cứu chi tiết về địa chất tai biến, chưa có quy mô rộng khắp mà giới hạn trong một số vùng kinh tế trọng điểm Điều này cùng với các nguyên nhân khác đã hạn chế hiệu quả công tác phongd chống tai biến, sử dụng, bảo vệ, quản lý tài nguyên môi trường khu vực

Trước yêu cầu bức thiết của công tác phòng chống tai biến để có cơ sở khoa học định hướng, tiến hành một chương trình nghiên cứu, đánh giá, dự báo và đề xuất các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu hậu quả tai biến địa chất, sử dụng khôn khéo các nguồn tài nguyên, sử dụng bền vững, lãnh thổ nhằm hướng tới sự phát triển bền vững

cần thiết phải tiến hành nghiên cứu địa chất tai biến của vùng nghiên cứu Nghiên cứu này còn đáp ứng yêu cầu của việc hòa nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế trong

lĩnh vực nghiên cứu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và khối lượng chính

a Mục tiêu

Có đặc điểm các tai biến địa chất nhằm phục vụ cho việc hoạch định chính sách chung sống và giảm thiểu tai biến tiến tới quản lý các tai biến trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

đá, động đất, núi lửa, ô nhiễm nước, không khí và trầm tích,

- Đánh giá mức độ bị tổn thương của môi trường và cộng đồng do tai biến;

- Nghiên cứu cơ chế hoạt động, xuất hiện và dự báo một số tai biến địa chất;

- Đề xuất phương pháp giảm thiểu tai biến địa chất, phương hướng quy hoạch phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu địa chất tai biến;

- Xây dựng sơ đồ địa chất tai biến vùng Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân, tỷ lệ 1: 50.000, viết báo cáo thuyết minh

- Góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu tai biến địa chất vùng nghiên cứu, phục vụ cho việc giảm thiểu tai biến, quản lý môi trường, tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, quy hoạch phát triển bền vững

c Khối lượng chính:

- Thu thập tổng hợp các dạng tài liệu liên quan đã có trong vùng nghiên cứu

- Phân tích, xử lý các tài liệu nêu trên

Trang 9

- Đo đạc bổ sung một số phương pháp phóng xạ môi trường

4 Sản phẩm giao nộp và thời gian thực hiện

a Sản phẩm giao nộp

- Sơ đồ địa chất tai biến vùng Phong Thổ, tỷ lệ 1/50.000

- Sơ đồ địa chất tai biến vùng Nông Sơn, tỷ lệ 1/50.000

- Sơ đồ địa chất tai biến vùng Hàm Tân, tỷ lệ 1/50.000

- Báo cáo chuyên đề tai biến địa chất ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân

b Thời gian thực hiện

Từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 06 năm 2006

Sau thời gian thực hiện, các nhiệm vụ trên đã được hoàn thành và được thể hiện trong báo cáo tổng kết này Cơ sở để viết báo cáo là: kết quả khảo sát, nghiên cứu thực địa tại khu vực Phong Thổ; Nông Sơn và Hàm Tân; kết quả xử lý các loại mẫu phân tích, các số liệu, tài liệu về đặc điểm kinh tế xã hội, khả năng phòng tránh thiên tai của

cư dân trong vùng; các tài liệu lưu trữ và công bố cũng như kết quả của các đề tài liên quan tới địa chất tai biến trong khu vực nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, hoàn thành báo cáo, tập thể tác giả luôn nhận được

sự chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi của các đồng chí lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, nhân dân trong vùng nghiên cứu…sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong Liên đoàn Địa chất biển, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, Liên đoàn Địa chất Xạ-Hiếm,…Nhân dịp này tập thể tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó

Trang 10

CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TAI BIẾN ĐỊA CHẤT

Tai biến địa chất là các điều kiện, hiện tượng, quá trình địa chất vận hành trong môi trường địa chất gây hại đến môi trường, tài nguyên, tính mạng, tài sản và tinh thần của con người cũng như đến sức khỏe của cộng đồng Nguyên nhân gây ra tai biến địa chất chính là các quá trình hoạt động địa chất vận hành trong môi trường Nhưng hậu quả do tai biến địa chất gây ra ngoài sự chi phối của các quá trình địa chất còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như mức độ nhạy cảm với tai biến địa chất và khả năng chống chịu tai biến của các thành tạo địa chất Bên cạnh đó còn có các yếu tố “phi địa chất” khác cũng tham gia tác động đến hậu quả do tai biến gây ra Đây chính là trình

độ dân trí và tiềm lực kinh tế của người dân sống trong vùng tai biến, công tác tổ chức phòng chống tai biến hay gọi chung là khả năng phòng chống tai biến của cộng đồng dân cư trong vùng chịu ảnh hưởng của tai biến

A VÙNG PHONG THỔ

A.I.1 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN KINH TẾ NHÂN VĂN

I.1.1 Vị trí địa lý

Vùng nghiên cứu thuộc các huyện Phong Thổ, Tam Đường và một phần của thị

xã Lai Châu mới Phía Bắc vùng tiếp giáp với Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp với huyện Sìn Hồ, phía Đông giáp với huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai

A.I.1.2 Địa hình, địa mạo

Vùng nghiên cứu nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 đới kiến tạo (đới nâng Fan Si Pan và đới sụt lún sông Đà) Vùng có độ cao tuyệt đối từ 300 – 2500m, đa phần

có độ dốc lớn trên 500 đây là vùng núi cao hiểm trở nhất Việt Nam Vùng núi khu vực nghiên cứu bị phân cắt rất mạnh, các đường phân thuỷ hẹp, hiện tượng sạt lở xảy ra nhiều Nhìn chung ở các miền núi cao độ phân cắt địa hình rất lớn từ 200-1000m Địa hình núi phân bố trên diện tích các đá magma phức hệ Ye Yen Sun, Nậm Xe, Tam Đường, Pu Sam Cap… và thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Sinh Quyền…

Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần trùng với phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía Đông Nam địa hình thấp dần Địa hình bị bào mòn và phân cắt bởi hệ thống sông suối

có phương Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia ra các mức địa hình như sau:

Địa hình núi cao trên 1500m: Phân bố ở phía Đông Bắc (sườn Tây Fan Si Pan)

Trang 11

A.I.1.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối

Vùng nghiên cứu có 2 mạng lưới sông suối chính sau:

Hệ thống Tây Bắc - Đông Nam: thường trùng với các đứt gãy lớn với lòng rộng, ít thác ghềnh, thuyền và canô có thể đi lại được như Nậm Na, Nậm So, Nậm Mạ

Hệ thống Đông Bắc - Tây Nam và á vĩ tuyến: thường cắt phương cấu trúc địa chất, các suối này thường ngắn, lòng hẹp, dốc, lắm thác như Than Theo Ho, Nậm Se, Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban

Đặc điểm chung của hệ thống sông suối này là hẹp và dốc (độ dốc trung bình từ 30-500) có nhiều thác, tiết diện chung của lòng suối thường có dạng chữ “V” Lưu lượng dòng chảy thay đổi theo từng mùa rõ rệt (mùa khô lưu lượng nước ít, mùa mưa lưu lượng nước lớn, chảy xiết, tốc độ dòng chảy mạnh gây lũ quét, gây khó khăn cho công tác thực địa)

A.I.1.4 Khí hậu

Khu vực nghiên cứu có khí hậu đặc trưng của vùng núi cao, tuy nhiên vẫn mang đặc tính chung của khí hậu gió mùa chí tuyến Khí hậu vùng nghiên cứu có thể chia làm hai mùa rõ rệt:

Mùa khô: Từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau: nhiệt độ thấp trung bình 10-150Cnhiệt độ có khi xuống tới 1-20C, độ ẩm không khí thấp Nhiệt độ thấp nhất trong năm là vào tháng 12 và tháng 1 Trong mùa khô thường xảy ra những hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối vào các tháng 1 và 2 (Sìn Hồ, vùng cao huyện Phong Thổ) Gió và dông thường xảy ra vào những ngày nóng và khô (tháng 3 và 4), mưa đá xuất hiện vào cuối mùa khô

Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 9 , nhiệt độ trung bình 20-250C,nhiệt độ có khi lên tới trên 300C Tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 (chiếm 65-75% lượng mưa trong năm) Độ ẩm trung bình trên 80% Thường vào đầu mùa mưa, mưa to kèm gió lốc và thỉnh thoảng có mưa đá còn những trận mưa cuối mùa thường là mưa nhỏ nhưng kéo dài triền miên

A.I.1.5 Động vật và thực vật

Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát triển chủ yếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng núi đá vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ quý (lát, dổi, sa mu ) đến các loại cây thân đốt, leo

Động vật tập trung khá nhiều loại từ các thú dữ như hổ, báo, gấu, cho đến các loại khác như hươu, nai, lợn rừng, khỉ, trăn chúng thường sống ớ các sườn núi cao, rừng rậm nhưng hiện nay do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và các loại gỗ quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm có số lượng giảm hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác

A.I.1.6 Kinh tế, nhân văn

Dân cư: Vùng nghiên cứu thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, dân cư thưa thớt,

mật độ dân cư phân bố không đồng đều, tập trung thành những bản nhỏ dọc các con suối, khe hẻm, thung lũng giữa núi Các điểm dân cư tập trung đông đúc là thị xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường

Trang 12

Dân cư vùng nghiên cứu gồm nhiều dân tộc chung sống như Lừ, H'mông, Cùi Chu, Dao, Dáy, Hà Nhì, Lô Lô, Mảng, Thái, Thổ, Nhắng, Kinh Mật độ dân số 69 người/km2

Trong những năm gần đây, hầu hết các xã trong huyện đều có trường cấp 1, phần lớn thanh niên trong vùng đã biết đọc, biết viết và nói tiếng phổ thông Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường đã có trường cấp 2, cấp 3 Trạm y tế đã được xây dựng phục vụ việc khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng nhưng số lượng còn ít Ở thị

xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường đã có điện lưới quốc gia, một số nơi có máy phát điện hoặc thuỷ điện nhỏ phục vụ sinh hoạt Nhờ có điện đời sống văn hoá ngày càng được nâng cao Tuy nhiên ở các bản làng xa xôi hẻo lánh người dân còn gặp nhiều khó khăn Đồng bào dân tộc ít người còn nhiều người mù chữ, tệ nạn, mê tín dị đoan còn phổ biến Nhìn chung trình độ dân trí và trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp hơn so với các địa phương khác trong cả nước

A.I.1.7 Các hoạt động kinh tế

Nông nghiệp: Trên 80% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông

nghiệp Diện tích lúa nương chiếm tỷ trọng lớn xấp xỉ 55% diện tích nông nghiệp, một năm trồng 1 vụ, ngoài ra còn trồng các loại nông sản phụ khác như ngô, sắn, đậu nhưng do diện tích đất trồng trọt hẹp nên kết quả thu hoạch không cao Nghề chăn nuôi trong vùng đang được chú ý Thị trấn Tam Đường đã có các nông trường, lâm trường quốc doanh (trồng chè, nuôi bò sữa)

Lâm nghiệp: Trong vùng đang triển khai chương trình giao đất lâm nghiệp để

trồng các loại cây lấy gỗ, gây lại các diện tích rừng đã bị khai thác và chặt phá

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong vùng nghiên cứu chưa phát triển mạnh Ở thị trấn Phong Thổ có vài cơ sở sản xuất thủ công, chủ yếu là sản xuất và sửa chữa công cụ thô sơ phục vụ sản xuất nông nghiệp Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường có các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như chế biến lâm sản, xí nghiệp điện máy, xí nghiệp cơ khí

Du lịch: Vùng nghiên cứu là một khu vực có phong cảnh thiên nhiên hữu tình,

giàu tiềm năng du lịch Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục tập quán vẫn nguyên sơ có thể triển khai các tuyến du lịch sinh thái để đón du khách trong và ngoài nước

Khai thác khoáng sản:

Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã được nhiều đơn vị khai thác quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên, tuyển quặng bằng phương pháp thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam Đường, Phong Thổ chờ chuyển đến các đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản

Khu mỏ Thèn Sin -Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh với các mạch vàng gốc có chứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ Những năm gần đây dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng gây ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng này Hiện nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự

do này

Trang 13

Hoạt động khai thác khoáng sản (quặng fluorit, đất hiếm, vàng ) trong vùng thiếu quy hoạch đã làm thay đổi môi trường sinh thái và cân bằng tự nhiên: rừng đầu nguồn bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, hàng năm gây ra lũ ở vùng hạ nguồn của các dòng sông, đặc biệt ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong vùng

Giao thông:

Vùng nghiên cứu được nối với vùng khác của miền Bắc bởi các tuyến đường chính sau:

Hệ thống đường ôtô:

Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai - Sa Pa – Tam Đường (500km)

Hà Nội – Tuần Giáo – Lai Châu – Tam Đường (600km)

Hệ thống đường sắt :

Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai (từ Lào Cai đi ôtô đến Sa Pa – Tam Đường)

Hệ thống đường thuỷ: Sông Hồng đóng vai trò là tuyến giao thông nối liền khu vực miền núi Tây Bắc với miền xuôi

Ngoài các tuyến đường chính còn có các tuyến đường Phong Thổ-Dao San, Phong Thổ-Then Sin-Tam Đường, Phong Thổ-Mường So, dọc sông Nậm

Na, Sìn Hồ nhưng việc đi lại trong vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, đường mòn chật hẹp, khá dốc, di chuyển chủ yếu bằng ngựa hoặc đi bộ Về mùa mưa, đường trơn, lầy lội rất khó khăn trong việc đi lại Tuy nhiên từ các mỏ (Nậm Xe, Đông Pao) tới thị trấn, thị xã trong vùng việc đi lại dễ dàng hơn do được nối liền bởi đường đất, ôtô có thể đi lại được

Đường thuỷ có con sông Nậm Na chạy dọc phía Tây, sông Nậm Ma chạy dọc phía Đông vùng nghiên cứu

Còn nhiều xã chưa có đường ô tô xuống trung tâm xã Sự xuống cấp của hệ thống giao thông vận tải cùng với sự lạc hậu của mạng lưới thông tin bưu điện, bưu chính viễn thông, hệ thống cấp điện, cấp nước đang là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế của vùng nghiên cứu Tuy nhiên hiện nay một số tuyến đường giao thông quan trọng đã được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè

- Bom Lót - Suối Lư

A.I.2 CÁC YẾU TỐ ĐỊA CHẤT

A.I.2.1 Các thành tạo địa chất

Theo thành phần thạch học chiếm ưu thế, vùng nghiên cứu có 8 nhóm đá chính, bao gồm:

- Trầm tích Pleistocen thượng (aQ13), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng tương đối rộng ở vùng bản Mường Mới, Vàng Bâu Thành phần trầm tích gồm: cuội, cát, tảng Thành phần đa khoáng, chiều dày 1-2m

Trang 14

- Trầm tích Holocen hạ-trung (aQ21-2), có nguồn gốc sông, phân bố thành các bậc thềm, thềm cao và phát triển nơi đoạn vách thung lũng mở rộng, như phía Tây Nam bản Mường Mới Thành phần trầm tích gồm: các tích tụ dọc thung lũng sông suối đều thể hiện 2 phần: dưới là tuớng lòng sông, trên là tướng bãi bồi mịn hơn, mặt cắt thường có 2 phần:

+ Dưới là cuội sỏi, cát lẫn đá tảng, không gắn kết

+ Trên là cát sạn, sét màu xám vàng

Chiều dày 6-8m

- Trầm tích Holocen thượng (a,apQ 2 3 ), có nguồn gốc sông, sông lũ phân bố

thành các bãi bồi, thềm thấp và phát triển nơi đoạn thung lũng mở rộng, các bồn trũng lòng chảo karst chiều rộng khoảng 500m và dài tới 2-3km Như ở thung lũng bản Vàng Bâu - Bản Hồng Ngài, bản Giang và dọc suối Nậm So Thành phần trầm tích gồm: cuội, tảng, sạn, cát, bột, sét màu xám vàng, chiều dày từ 1-5m [12]

A.I.2.1.2 Nhóm đá trầm tích lục nguyên

Thuộc nhóm đá này có các phân vị địa tầng sau:

- Hệ tầng Nậm Mu (T3cnm): Trên diện tích vùng nghiên cứu hệ tầng Nậm Mu

phân bố thành hai dải ở Tây Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu Dải thứ nhất phân bố

ở phía Đông Bắc thị trấn Phong Thổ (mới), dải thứ hai nằm ở phía Đông Nam mỏ Đông Pao Thành phần gồm: đá phiến sét màu đen xen các lớp mỏng bột kết và cát kết hạt nhỏ màu xám có chứa các dạng Pelecpoda phổ biến ở Carni Chiều dày quan sát được 600-700m Hệ tầng Nậm Mu tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Suối Bàng và bị xuyên cắt bởi các thể magma phức hệ Pu Sam Cap, phức hệ Nậm Xe - Tam Đường

- Hệ tầng Suối Bàng (T3n-rsb): Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối Bàng

phân bố thành hai dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Dải Tây Bắc thuộc phía Đông Bắc - Tây Nam bản Huổi Luông Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là đến bản Nậm Đích Mặt cắt của hệ tầng gồm hai tập:

+ Tập 1: đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết Chiều dày quan sát được 260m

+ Tập 2: được phân biệt với tập 1 do có sự gia tăng của cát kết trong thành phần mặt cắt Bao gồm: cát kết xen kẽ cát bột kết và đá phiến sét than màu xám đen

Chiều dày tập 2 là 300m

Hệ tầng Suối Bàng có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng Nậm Mu, hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Đồng Giao và bị các thể xâm nhập phức hệ Nậm Xe- Tam Đường, đá mạch minet phức hệ Pu Sam Cap xuyên cắt

Chiều dày của hệ tầng là 560m

- Hệ tầng Yên Châu (K2yc): phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu thành một

dải rộng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Hệ tầng được chia thành 3 tập Thành phần thạch học gồm:

+ Tập 1: cuội kết, sỏi kết đa khoáng, phân lớp dày đến dạng khối, thành phần chủ yếu là thạch anh, xen ít là cát kết dạng quarzit và phiến silic, chuyển lên trên là sạn kết, cát kết thạch anh màu xám vàng, chứa cuội hoặc những ổ hay thấu kính cuội kết

đa khoáng màu xám vàng Trên cùng là cát kết hạt thô màu xám sáng phân lớp dày đến

Trang 15

dạng khối, thường phân lớp xiên, thỉnh thoảng xen lớp mỏng cát bột kết màu xám, dày 500m

+ Tập 2: bột kết màu nâu đỏ phân lớp trung bình đến dày, có các mạch ổ nhỏ thạch cao, xen kẽ với cát kết hạt vừa màu vàng nhạt, phân lớp trung bình, dày 380m

+ Tập 3: cuội dăm vôi, cuội kết vôi, hoặc cuội tảng kết vôi, thành phần chủ yếu

là đá vôi của hệ tầng Đồng Giao, một phần là cát kết dạng quarzit, xen trong cuội kết thỉnh thoảng gặp cát kết, sạn kết hạt thô màu đỏ nhạt, dày 400m Chiều dày của hệ tầng khoảng 1280m [12]

A.I.2.1 3 Nhóm đá trầm tích lục nguyên - carbonat

Thuộc nhóm đá này có các phân vị địa tầng sau:

- Hệ tầng Tân Lạc (T1otl): phân bố ở trung tâm vùng nghiên cứu thành 3 dải

kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam nằm ở các khu vực Đông Bắc huyện lỵ Phong Thổ, khu trung tâm cao nguyên Lang Nhị Thang và Đông Nam khu mỏ Đông Pao Thành phần mặt cắt hệ tầng gồm:

+ Phần dưới là đá phiến sét, bột kết chứa vôi màu xám xanh, vàng nhạt

+ Phần trên là đá vôi xen kẽ với các đá phiến sét vôi màu xám, chúng chuyển tiếp lên đá vôi phân lớp dày của hệ tầng Đồng Giao

Chiều dày hệ tầng 410m

- Hệ tầng Mường Trai (T2 lmt): phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu

có dạng dải hẹp, kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam với chiều rộng khoảng một km từ bản suối Thầu, Sữ Thàng, Thèn Thẩu đến bản Nà Sẳng Thành phần mặt cắt gồm: cát kết tuf, bột kết, đá sét vôi, đá phiến sét và đá vôi Đặc điểm thạch học của hệ tầng ở mặt cắt bản Bầu Ban gồm:

+ Phần dưới là đá phiến sét xen kẹp các lớp hoặc thấu kính đá vôi và các lớp mỏng cát kết, dày 350m-400m

+ Phần trên gồm: đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, chiều dày 300-460m

Hệ tầng Mường Trai phủ trực tiếp không chỉnh hợp trên hệ tầng Viên Nam (T1ivn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các

thể xâm nhập nhỏ phức hệ Pu Sam Cap

Chiều dày của hệ tầng 400m - 450m

A.I.2.1.4 Nhóm đá trầm tích carbonat

Nhóm đá này có phân vị địa tầng sau:

Hệ tầng Đồng Giao (T2ađg): phân bố trên diện rộng (khoảng 350km2) ở trung tâm vùng nghiên cứu, thành dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, phủ trên toàn bộ diện tích của cao nguyên Lang Nhị Thang Thành phần mặt cắt của hệ tầng gồm 2 tập:

+ Tập 1: đá vôi, đá sét vôi phân lớp mỏng, đôi chỗ là đá phiến carbonat, sericit và đá vôi sét có màu xám đến xám đen, hạt mịn có chứa silic

+ Tập 2: đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, màu xám đến xám sáng ít nhiều

bị đolomit hóa ở mức độ khác nhau Tổng chiều dày của hệ tầng ở đây đạt 850m [12]

A.I.2.1 5 Nhóm đá phun trào axit

Thuộc nhóm đá này có Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (Rp/Knt)

Trang 16

Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa Thành phần thạch học của phức hệ chủ yếu là ryolit porphyr, chiếm khoảng 95% diện tích phân bố Các

đá còn lại chỉ chiếm khoảng 5% diện tích và gồm có: porphyr thạch anh, ryodacit, tuf ryolit Quan hệ giữa các đá trên mang tính phân dị

Phức hệ núi lửa Ngòi Thia trong vùng bao gồm ba tướng đá:

*Tướng phun nổ: có diện phân bố hẹp (khoảng 2% diện tích) và chỉ gặp một

diện nhỏ ở khu vực Huổi Ke với thành phần là tuf của ryolit

*Tướng phun trào: chiếm khoảng 70% diện tích và phân bố ở phía Tây Bắc của

dải đá, bao gồm các đá ryolit porphyr và ryodacit porphyr với lượng ban tinh trong đá chiếm 3-14%

*Tướng á núi lửa: chiếm khoảng 28% diện tích và phân bố ở phía Đông Nam

của dải, bao gồm các đá ryolit porphyr và porphyr thạch anh với lượng ban tinh trong

đá 18÷37% Các thành tạo này phần lớn tạo nên các thể lấp đầy khe nứt và trồi lên trên mặt dưới dạng các vòm nghiêng và nằm dọc theo đứt gãy Trong các đá này có chứa các nguyên tố phóng xạ (K, U, Th) [12]

A.I.2.1 6 Nhóm đá phun trào mafic

Thuộc nhóm đá này có Hệ tầng Viên Nam (T1 ivn): phân bố ở trung tâm vùng

nghiên cứu, từ bản Khoang Thèn, Vàng Pheo đến Van Hồ, Đông Phong thành một dải dài nằm theo phương Tây Bắc - Đông Nam Thành phần mặt cắt tại đây gồm: đá bazan, bazan olivin, bazan hạnh nhân và andezitrachyt Chúng được chia làm hai phần:

- Phần dưới là bazan hạnh nhân, bazan olivin, và các lớp tuf của chúng

- Phần trên chủ yếu là bazan dạng khối màu xám đen, không thấy có cấu tạo hạnh nhân, mà phổ biến là cấu tạo định hướng và có kiến trúc porphyr Chiều dày 1000m [12]

A.I.2.1 7 Nhóm đá phun trào và xâm nhập kiềm

Nhóm đá này có các đơn vị địa chất sau:

- Hệ tầng Pu Tra (Ept) Các đá của hệ tầng lộ ra ở Đông Nam vùng nghiên

cứu thành hai khối ở bản Sin Câu và bản Thẳm Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết và tuf tảng có thành phần là đá phun trào trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr với chiều dày khoảng 350m

- Phức hệ Pu Sam Cap (aSyp/Epc):

Trong vùng nghiên cứu phức hệ Pu Sam Cap gồm các khối bản Suối Thầu, Tam Đường, Đông Pao và các đai mạch, thể tường minet với tổng diện tích phân bố khoảng 12,7 km2

Quan hệ giữa các khối với đá vây quanh như sau: khối Đông Pao xuyên cắt và gây hoa hoá đá vôi hệ tầng Đồng Giáo (T2a đg), khối Tam Đường xuyên cắt và gây

sừng hóa các đá phiến sét và cát kết hệ tầng Suối Bàng (T3n-r sb) Các đá syenittoid

của phức hệ Pu Sam Cap luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf của chúng Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây Bắc, vùng nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng bao gồm từ minet, shonkinit, syenit aplit đến bostonit Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức

Trang 17

hệ Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cap, phun trào của hệ tầng

Pu Tra và các phân vị địa tầng tuổi Mesozoi từ Trias đến Creta có mặt trong vùng Phức hệ Pu Sam Cap được hình thành bởi hai pha xâm nhập:

- Pha 1 gồm 2 tướng:

+ Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr

+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh

- Pha 2: các đá mạch minet, shonkinit, syenit aplit và bostonit

Các thành tạo quặng đất hiếm phóng xạ có quan hệ mật thiết với phức hệ Pu Sam Cap, toàn bộ hệ thống mỏ Đông Pao nằm trên khối Bản Thẳm [12]

A.I.2.1 8 Nhóm đá xâm nhập axit

Nhóm đá này có các phức hệ sau:g

- Phức hệ Phu Sa Phìn (Gp-Syp/Kpp): phân bố ở Tây Bắc của khối Nậm

Khế - phía Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110 km2 Thành phần thạch học của khối gồm: syenit porphyr, granosyenit porphyr, syenit porphyr thạch anh, granit dạng porphyr, granit granophyr, granit felspat kiềm Một phần các đá của phức hệ kết tinh tương đối đều hạt, không có kiến trúc porphyr Quan hệ giữa các đá trong khối mang tính phân dị, chuyển tiếp từ syenit qua các đá trung gian là syenit thạch anh và granosyenit đến granit felspat kiềm

- Phức hệ Nậm Xe-Tam Đường (aG-aSy/Ent) Các thể xâm nhập nhỏ của

phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường phát triển dọc theo các đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và dọc các đứt gãy giữa các trầm tích Trias từ Tam Đường qua Bình Lư đến Thân Thuộc các thân xâm nhập kiềm phân bố trong các thung lũng kín hẹp Thành phần thạch học của các thể xâm nhập thường khác nhau, thay đổi

từ syenit kiềm, granosyenit kiềm đến granit kiềm Có lẽ là do quá trình phân dị kết tinh các hợp phần thạch anh và felspat phân bố không đồng đều đã hình thành các loại đá khác nhau trong một không gian hẹp [12]

A.I.2.2 Kiến tạo

Vùng nghiên cứu thuộc miền kiến tạo Tây Bắc bao gồm một phần diện tích của

2 đới kiến trúc lớn là đới Fan Si Pan và đới Sông Đà Các đứt gãy sâu là ranh giới

phân chia giữa hai đới Trong đó đới sụt lún Sông Đà được lấp đầy trầm tích lục nguyên và carbonat Đây là miền cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều hệ thống đứt gãy, uốn nếp, các thành tạo magma, kèm theo nhiều hoạt động tạo khoáng

B.I.1.2 Địa hình, địa mạo

Đây là vùng núi cao hiểm trở, địa hình phân cắt mạnh, độ cao tuyệt đối từ 600m đến 900m, các dãy núi chủ yếu kéo dài theo phương á kinh tuyến, với độ dốc sườn từ 20o đến 40o, có nơi đạt tới 60o Cấu thành nên các thành tạo địa hình chủ yếu

là các đá trầm tích lục nguyên, magma xâm nhập, chúng thường bị phong hoá bào mòn

Trang 18

mạnh, nên thường gây ra các hiện tượng trượt lở, ảnh hưởng dến các hoạt đông giao thông đi lại trong vùng

B.I.1.3 Khí hậu

Vùng Nông Sơn nói riêng và khu vực miền Trung Trung Bộ nói chung chịu ảnh hưởng của khí hậu miền núi ven biển nhiệt đới gió mùa và chia thành 2 mùa: mùa khô kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11

- Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,80,từ tháng 9 đến tháng 12 nhiệt độ

từ 10 đến 15o, từ tháng 3 đến tháng 8 nhiệt độ trung bình khoảng 250 đến 27o,cao nhất

38o

- Độ ẩm trung bình trong năm khoảng 62% Những tháng mưa nhiều độ ẩm trung bình 89%, các tháng nắng ráo độ ẩm hạ xuống 34% Lượng mưa trung bình hàng năm 2208 mm Đặc biệt năm 1999 lượng mưa đạt tới 3900mm Các tháng 9, 10, 11 lượng mưa từ 390 ÷ 1374mm, những tháng này thường gây lũ lụt, ách tắc giao thông, việc đi lại nghiên cứu địa chất gặp nhiều khó khăn Từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau, lượng mưa ít từ 0 ÷ 52mm; từ tháng 6 đến tháng 8 lượng mưa từ 160 ÷ 204mm Các tháng này nói chung ít mưa, thuận lợi cho công tác nghiên cứu địa chất

B.I.1.4 Đặc điểm thuỷ văn và mạng lưới sông suối

Mạng lưới sông suối vùng nghiên cứu khá dày, gồm các sông lớn như sông

Côn, sông Vu Gia, sông Vàng, sông Bung, sông Cái, sông A Vương, sông Thu Bồn Các dòng sông về mùa mưa nước sông dâng cao, lưu lượng nước rất lớn, thường gây

ra ngập lụt, sạt lở; mùa khô dòng sông thu hẹp với nhiều thác ghềnh hiểm trở Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn trạm Hội Khách, đặt trên sông Cái, mực nước thấp nhất từ tháng 2 đến tháng 9 từ 843cm ÷ 871cm, mực nước cao nhất từ tháng 10 đến tháng 1 từ 931cm ÷ 1782cm, lưu lượng mưa hàng năm các sông như sau:

- Sông Bung: mùa khô 35m3/s, mùa mưa từ 350 ÷ 370m3/s

- Sông Cái: mùa khô 49m3/s, mùa mưa từ 400 ÷ 450m3/s

Hệ thống suối chủ yếu trong vùng có phương á kinh tuyến Trừ suối lớn nhất là suối Tamprang là nước chảy quanh năm, lưu lượng nước lớn, nhiều thác ghềnh, các suối nhánh thường là khe cạn, lòng suối sâu, nhiều bậc thác, rất dốc chỉ có nước vào mùa mưa

B.I.1.5 Động - thực vật

- Động vật: Phong phú nhiều loài quý hiếm như: Báo, gấu, lợn rừng, hươu, nai, hoẵng, sơn dương, trĩ, gà lôi …Tuy nhiên chúng đã và đang bị săn bắn là cho ngày một cạn kiệt

- Thực vật: Đa dạng nhiều loại cây gỗ quý có giá trị kinh tế cao như: Lim, chò chỉ, lát, gụ …Song hiện tại phần lớn rừng Quảng Nam đều bị khai thác bừa bãi, trái phép Phần lớn diện tích rừng nguyên sinh bị chặt phá Diện tích rừng còn lại hoặc

thưa thớt hoặc chủ yếu những cây lúp xúp, thấp bé [ảnh 1.1]

B.I.1.6 Kinh tế nhân văn

B.I.1.6.1 Phân bố dân cư

Dân cư trong vùng tương đối thưa (bảng 1.1) Người Kinh chủ yếu tập trung ở thị trấn huyện dọc các đường giao thông, sông, suối lớn với nghề nghiệp chính là làm ruộng, buôn bán tạp hoá, nông lâm sản Người dân tộc như: Cà Tu, Tà Riềng sống chủ

Trang 19

yếu ở vùng cao làm nghề phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản, trồng tỉa ngô, lúa, sắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm Phần lớn đã định canh, định cư song cuộc sống kinh tế

- xã hội phát triển không đồng đều, đại bộ phận nhân dân còn khó khăn thiếu thốn về kinh tế, dân trí còn thấp Hiện nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vùng cao dân tộc ít người, đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nên cuộc sống của nhân dân trong vùng có phần khởi sắc Các huyện, xã đã có trường học, trạm

y tế, nhà văn hoá, điện sinh hoạt tới từng hộ gia đình, tạo tiền đề phát triển kinh tế sau này cho đồng bào các dân tộc ít người thuộc các tỉnh khu vực miền trung nói riêng và

cả nước nói chung

Ảnh 1.1: Lớp phủ thực vật khu Sườn Giữa [10]

Bảng 1.1: Bảng thống kê diện tích và dân số trong vùng Nông Sơn

Xã Huyện

Đại Sơn Đại Lộc 27770 98,0 25173 88,8 Đại Hồng Đại Lộc 11291 49,0 11842 51,4 Đại Lãnh Đại Lộc 15955 128,0 14900 119,5 Đại Quang Đại Lộc 11668 31,0 12374 32,9 Đại Thạnh Đại Lộc 54940 51,0 62637 58,1 Đại Đồng Đại Lộc 10808 45,6 9476 40,0 Đại Chánh Đại Lộc 6943 63,0 5698 51,7

Cà Dy Nam Giang 2064 196,0 1288 122,3

Thành Mỹ Nam Giang 4787 175,0 5677 207,5

Tà Bhing Nam Giang 2338 218,0 1439 134,2

A Vương Tây Giang 1403 14,0 2320 23,1

Trang 20

Ma Cooih Tây Giang 1183 177,0 1215 181,8 Quế Lộc Quế Sơn 8525 50,0 1406 8,2 Quế Trung Quế Sơn 9134 61,0 7343 49,0

B.I.1.6.2 Giao thông

Hiện tại mạng lưới giao thông đường bộ trong vùng đã phát triển hơn nhiều so với những năm thập niên 80 Đường xá được nâng cấp dần từng bước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đi lại của nhân dân, nhất là khi đường 14a, đường Hồ Chí Minh mới hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2004 đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế vùng Tuy vậy, các đường liên thôn, liên xã chất lượng còn thấp, tới 70% là đường đất, nền đường yếu, mặt đường chưa rải nhựa, hay bị sói lở do mưa lũ, nhiều khi bị ngập lụt khó đi lại Phương tiện vận tải giao thông trong vùng chủ yếu là xe khách loại nhỏ và công nông tự tạo

B.I.1.6.3 Các hoạt động kinh tế chủ yếu

1 Công nghiệp khai thác khoáng sản

Những năm qua được Đảng và Nhà nước quan tâm, các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam nói chung và vùng Nông Sơn nói riêng, ngày càng phát triển, trong đó là việc khai thác, vận chuyển và tiêu thụ khoáng sản: Than Ngọc Kinh, Sườn Giữa, than Nông Sơn (moong Sơn Tuyền và Giáp Phủ) Sản lượng khai thác ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng Ngoài ra, trong khu vực nghiên cứu còn khai thác các loại đá làm vật liệu xây dựng, vật liệu làm gốm

sứ, nước khoáng.….như khai thác đá vôi Lâm Tây, đá vôi A Sờ, đá hoa Thạch Mỹ, felspat Lộc Quang, cát Vĩnh Phước - Đại Hồng, nước khoáng An Điềm

2 Công nghiệp điện năng

Nhà máy thuỷ điện An Điềm đã hoà mạng quốc gia năm 2005 Hiện nay đang khởi công xây dựng tiếp nhà máy thuỷ điện A Vương, nhà máy thuỷ điện Sông Bung, nhà máy nhiệt điện Nông Sơn Trong tương lai, công nghiệp điện năng vùng này sẽ

mang lại nhiều tiềm năng kinh tế, xã hội

3 Nông nghiệp

Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, ngô, sắn năng xuất thấp, mấy năm gần đây các địa phương đã rất cố gắng đưa cây công nghiệp như: Dứa, keo, thông, bạch đàn vào sản xuất hàng hoá dần thay thế cho cây nông nghiệp ngắn ngày, tạo tiền đề kinh tế cho phát triển bền vững ổn định lâu dài

4 Tiểu thủ công nghiệp

Trong vùng chỉ có vài cơ sở nhỏ lẻ mây tre đan xuất khẩu song thực sự chưa phát triển mạnh mang tính chất hàng hoá trong khu vực

B.I.2 CÁC YẾU TỐ §ỊA CHẤT

Các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến tai biến địa chất của khu vực được xét đến là

vị trí kiến tạo trên bình đồ kiến tạo khu vực, các tầng cấu trúc, các hệ thống đứt gãy và các thành tạo địa chất

Trang 21

B.I.2.1 Các thành tạo địa chất

Dựa vào đặc điểm địa chất công trình, tính chất cơ lý của đất đá,… khả năng chống chịu tai biến, có thể chia các thành tạo địa chất làm hai lớp: lớp có liên kết cứng (đá cứng) và lớp không có liên kết (đất đá bở rời) Trong mỗi lớp lại gồm các nhóm đất đá thành tạo trong những điều kiện kiến tạo, cổ địa lý giống nhau và được thể hiện trên bản vẽ bằng các yếu tố thạch học chính của chúng

B.I.2.1.1 Lớp đất đá bở rời

Thuộc lớp này là các thành tạo Đệ tứ phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn (ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu) với tổng diện tích khoảng 130,3km2 Suất liều chiếu bức xạ gamma 15 ÷ 24µR/h

Nhóm 1: Trầm tích có nguồn gốc sông và bãi bồi tuổi Pleistocen:

Phân bố trên diện rộng ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu, dọc 2 bờ sông Côn kéo dài từ An Điềm - Thanh Đại - Hoàng Phước và sông Vu Gia từ Ngọc Kinh - Hà Nha - Mỹ Đồng - Quảng Huế - Tam Hoà Tổng diện tích các trầm tích khoảng 73,7km2 và được chia ra các đơn vị sau:

- Trầm tích sông (thềm bậc III), tuổi Pleistocen trung (aQ12): thành phần gồm: cuội, sỏi gắn kết chắc bởi cát, bột, laterit

- Trầm tích sông (thềm bậc II), tuổi Pleistocen trung – thượng phần sớm, hệ

tầng Sông Vàng (aQ12-3a sv), thành phần gồm: cuội, sỏi gắn kết bởi cát bột, màu vàng

đỏ

- Trầm tích sông (thềm bậc I), tuổi Pleistocen thượng phần muộn, hệ tầng

Đại Thạch (aQ13b đt), thành phần gồm: cuội, sỏi lẫn cát, bột, sét màu xám vàng, loang

lổ

Nhóm 2: Trầm tích có nguồn gốc sông và bãi bồi tuổi Holocen:

Phân bố sát bờ sông Vu Gia, diện lộ khoảng 33,79km2 gồm các đơn vị sau:

- Trầm tích sông (bãi bồi cao), tuổi Holocen sớm - giữa (aQ21-2), thành phần gồm: cuội, sỏi, cát bột, sét mầu xám vàng

- Trầm tích sông (bãi bồi thấp), tuổi Holocen giữa – muộn (aQ22-3), thành phần gồm: cát, sạn lẫn cuội, sỏi

- Trầm tích sông, tuổi Holocen muộn ( aQ23a), thành phần gồm: Cát, sạn lẫn bột sét, màu xám vàng

- Trầm tích lòng sông, tuổi Holocen muộn (aQ23b), thành phần gồm: cuội, sỏi, cát, sạn

- Trầm tích lòng sông và bãi bồi không phân chia (aQ23), thành phần gồm: cuội, sỏi, cát bột, sét màu xám vàng

Nhóm 3: Trầm tích có nguồn gốc biển tuổi Pleistocen:

Trầm tích biển (thềm 20 -30m), tuổi Pleistocen thượng phần sớm, hệ tầng La

Châu (mQ13a lc): thành phần gồm: Cuội, cát thạch anh lẫn bột sét màu vàng đỏ

Nhóm 3: Trầm tích Đệ tứ không phân chia: Gồm các trầm tích hỗn hợp sông,

sườn tích, lũ tích, tàn tích Tổng diện tích khoảng 18,71km2: epQ: Eluvi - deluvi: cát sạn, bột, laterit; dqQ: Sườn tích - lũ tích: tảng, cuội lẫn cát, bột; adpQ: Trầm tích sông

- sườn tích - lũ tích: cuội, sỏi lẫn cát, bột

Trang 22

B.I.2.1 2 Lớp đá cứng

Thuộc lớp này có sáu nhóm sau:

Nhóm 1: Trầm tích lục nguyên và lục nguyên phun trào:

- Hệ Trias giữa - hệ tầng Sông Bung (T2sb): Phân bố phía Nam - Tây Nam vùng

nghiên cứu, diện tích khoảng 254,0km2 Phần dưới gồm các đá: cuội kết đa khoáng mầu xám, xám tím, sét bột kết mầu xám, xám tím, xám xanh xen kẹp ryolit, cát bột kết chứa vôi, suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h Phần trên gồm các đá: cát kết, bột kết mầu xám sẫm, xám vàng, xen kẹp các lớp sạn kết, vôi silic, felsit-ryolit, ryolitporphyr, tyfryolit xám xanh, xám đen

- Hệ Trias muộn - hệ tầng An Điềm (T3nađ): Phân bố kéo dài từ Tây sang

Đông ở phía Bắc và phía Nam vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 145,5km2 Thành phần chủ yếu gồm: Cuội sạn kết đa khoáng, cát kết, bột kết chứa dăm sạn thạch anh mầu nâu gụ Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 23µR/h

- Hệ Trias muộn - hệ tầng Sườn Giữa (T3n–rsg): Phân bố tại trung tâm vùng

nghiên cứu, diện tích khoảng 301,79km2 Thành phần gồm: Cuội kết, sạn kết, cát kết ít khoáng màu trắng xám xen kẹp các lớp mỏng bột kết, sét kết màu xám đen, xám ghi

và các lớp, thấu kính sét than Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 28µR/h

- Hệ Jura sớm - hệ tầng Bàn Cờ (J1bc): Phân bố ở trung tâm và phía Nam vùng

nghiên cứu, diện tích khoảng 168,26km2 Các đá có dạng nếp lõm hoàn chỉnh Thành phần gồm sạn kết, cát kết màu xám trắng, xám vàng xen kẹp các lớp hoặc thấu kính cuội kết đa khoáng Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 21µR/h

- Hệ Jura sớm - hệ tầng Khe Rèn (J1kr): Phân bố diện tích nhỏ kéo dài khoảng

19,7km2, giữa hệ tầng Bàn Cờ và hệ tầng Hữu Chánh vùng nghiên cứu Thành phần gồm: Bột kết màu xám ghi, xám đen, xen các lớp cát kết mỏng hạt nhỏ Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h

- Hệ Jura giữa - hệ tầng Hữu Chánh (J2hc): Phân bố ở phía Đông vùng nghiên

cứu, diện tích khoảng 86,36km2 Thành phần gồm: Cát bột kết, bột kết đỏ gụ kẹp các tập cát kết hạt nhỏ màu xám xanh Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 17µR/h

- Hệ Neogen - hệ tầng Ái Nghĩa (Nan) , trầm tích sông: Phân bố ở phía Đông

Bắc vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 4,19km2 Thành phần: Cuội kết, sạn kết, cát kết xen các lớp mỏng bột kết chứa hoá thạch thực vật

- Hệ tầng Alin (Pal) Phân bố diện nhỏ ở phía Tây – Tây Bắc vùng nghiên cứu,

diện tích khoảng 24,43km2 Thành phần gồm: Cuội kết đa khoáng, sạn kết, cát kết màu xám xanh xen kẹp các lớp bột kết xám nâu, tuf andesit, andesit Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h

Nhóm 2: Trầm tích carbonat:

Hệ tầng Ngũ Hành Sơn (C- Pnhs) Phân bố thành khối nhỏ ở khu vực Hà Nha xã Đại Đồng, diện tích khoảng 2,02km2.Thành phần gồm: Đá hoa màu xám trắng, vân dải, xám hồng, vàng, đen xen kẽ đá phiến thạch anh – sericit, đá phiến sericit, quarzit Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 19µR/h

Nhóm 3: Magma mafic, siêu mafic:

Trang 23

- Phức hệ Hiên (Pk/PZ1hn) Diện tích khoảng 0,1km2, thành phần gồm: pyroxenit có plagioclas, gabronorit horblendit, gabropyroxenit có olivin

- Phức hệ Bol Kol (Gb/PZ1bk) Phân bố thành khối nhỏ ở phía Bắc vùng nghiên

cứu, diện lộ khoảng 0,175km2, thành phần gồm: Gabronorit, gabrodiabas, gabrohorblendit

Nhóm 4: Magma axit – trung tính:

- Phức hệ Đại Lộc (Gb/Sđl ) Phân bố ở phía Bắc vùng nghiên cứu với diện tích

khoảng 179,6 km2, suất liều tương đương bức xạ từ 2 ÷ 16,4 µR/h Các đá của phức hệ được chia làm hai pha: Pha chính gồm: Tướng trung tâm thành phần gồm granitogneis, granosyenitogneis, biotit có muscovit, ban tinh dạng mắt lớn đến cực lớn; Tướng rìa: Granitogneis hai mica, granosyenitogneis hai mica hạt nhỏ Pha đá mạch: Granitaplit(a), pegmatoid, turmalin(b), thạch anh - turmalin(c)

- Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (GDi/PZ3bq) Phân bố ở phía tây nam vùng

nghiên cứu, suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 17µR/h Các đá của phức

hệ được chia làm ba pha xâm nhập chính và pha đá mạch: Pha 1 (GDi/PZ3bq 1): Diện tích khoảng 1,41km2, thành phần gồm: Diorit, diorit thạch anh, gabrodiorit, gabroid Pha 2 (GDi/PZ3bq 2): Diện tích khoảng 37,45km2, thành phần gồm: Granodiorit - biotit – horblend Pha 3 (GDi/PZ3bq 3): Diện tích khoảng 2,57km2, thành phần gồm: Granit – biotit có horblend, granosyenit – biotit có horblend hạt trung Pha mạch: Granitaplit, pegmatoid, spesartit

- Phức hệ Bà Nà (G/K2bn) Phân bố ở phía bắc vùng nghiên cứu, diện lộ nhỏ

khoảng 5,74 km2 Các đá của phức hệ chia thành hai pha xâm nhập chính và pha đá mạch Pha 1 (G/K2bn 1): Gồm các đá granit biotit, granit hai mica, granosyenit biotit

có muscovit hạt lớn Pha 2 (G/K2bn 2): Granit hai mica hạt nhỏ, granit alaskit Pha đá mạch: Phân bố ở phía Bắc trong các phức hệ Đại Lộc và hệ tầng A San, thành phần

gồm: Granit aplit, pegmatoid turmalin, thạch anh - felspat – turmalin

Nhóm 5: Đá biến chất:

- Hệ tầng Mỹ Hiệp (PR3mh): Phân bố tại trung tâm vùng nguyên cứu, diện tích

khoảng 19,2 km2 Thành phần gồm: Đá phiến thạch anh - plagioclas - biotit, đá phiến thạch anh - biotit - silimanit - granat, đá phiến thạch anh – muscovit - silimanit, thấu kính amphibolit, đá phiến amphibol Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 12µR/h

- Hệ tầng Thành Mỹ (PR3tm): Phân bố tại trung tâm vùng nghiên cứu với diện

lộ nhỏ khoảng 5,4km2, thành phần gồm: Đá hoa màu xám trắng, sọc dải xen kẽ amphibolit lớp mỏng màu xám xẫm, xám đen hạt nhỏ và các lớp mỏng gneisbiotit Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 11µR/h

- Hệ tầng A San (Єasn): Phân bố ở phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc vùng nghiên

cứu, diện tích khoảng 144,18km2 Thành phần gồm: Đá phiến thạch anh - biotit, đá phiến thạch anh – plagioclas - biotit, đá phiến thạch anh – felspat - biotit (mica) xen kẹp lớp mỏng quarzit, đá vôi vi hạt tái kết tinh mầu xám tối, xám sáng Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h

- Hệ tầng A Sờ (Єas): Phân bố phía Tây Nam vùng nghiên cứu, diện lộ nhỏ,

kéo dài dạng dải khoảng 13,85km2 Thành phần gồm: Đá hoa mầu xám trắng, xám tối,

Trang 24

sọc dải, phiến thạch anh - sericit, thấu kính phiến amphibolit Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 17µR/h

- Hệ tầng Trao (O-Str): Phân bố ở góc Tây Bắc vùng nghiên cứu, diện tích

khoảng 30,16km2 Thành phần gồm: Đá phiến thạch anh- plagioclas - biotit, đá phiến thạch anh – felspat - biotit có horblend, amphibolit, đá phiến amphibol

- Hệ tầng Bol Atek (O-Sbat): Phân bố ở góc Đông Bắc vùng nghiên cứu, diện

tích khoảng 1,15km2 Thành phần gồm: Đá phiến thạch anh - sericit, đá phiến sericit (mica) - thạch anh, đá phiến thạch anh – plagioclas (felspat) - sericit (mica) xen kẹp đá phiến đen giàu vật chất hữu cơ

B I.2.2 Kiến tạo

B.I.2.1.1 Cấu trúc địa chất

1 Phân tầng cấu trúc

Vùng nghiên cứu có hai tầng cấu trúc: Cấu trúc móng và cấu trúc phủ

- Cấu trúc móng: Được thành tạo từ trầm tích biến chất hệ tầng Thạch Mỹ có

thành phần chủ yếu là: đá hoa xen kẹp các thấu kính amphibolit, gneisbiotit, phiến amphibolit và hệ tầng Asan, Asờ gồm: Phiến thạch anh – biotit, phiến thạch anh – felspat – biotit xen kẹp các thấu kính amfibol, đá hoa màu xám trắng, xám tối xen kẹp phiến thạch anh – sericit

- Cấu trúc phủ: Thành tạo từ các trầm tích lục nguyên hệ tầng An Điềm, Sông Bung, Sườn Giữa, Bàn Cờ, Khe Rèn, Hữu Chánh Trong đó, than và quặng hoá urani nằm trong các tầng trầm tích: cuội sạn kết - cát, bột kết Chiều dầy từ 600 đến 2400m

Các thành tạo trầm tích bở rời hệ Đệ tứ (Q), Phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn (ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu) Thanh phần gồm: Cuội, sạn, cát, bột, sét màu xám, vàng loang lổ

- Nếp lõm: Trong vùng nghiên cứu có các nếp lõm chính sau:

+ Nếp lõm An Điềm - Cà Liêng - Sườn Giữa - Thường Đức nằm ở phía Bắc của vùng nghiên cứu, kéo dài theo vĩ tuyến

+ Nếp lõm Mai Quy có qui mô nhỏ, phân bố ở phía Nam vùng nghiên cứu + Nếp lõm Thọ Lâm phân bố ở phía Đông của vùng nghiên cứu, kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam

Ngoài ra ở trung tâm vùng nghiên cứu có hệ thống địa hào, được giới hạn bởi hệ thống đứt gãy Tabhing - Thị trấn Thành Mỹ - Đại Sơn và kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam

B.I.2.2.2 Các hệ thống đứt gãy chính

1 Hệ thống đứt gãy Đông Bắc -Tây Nam:

Trang 25

- Hệ đứt gãy Zuôi - Ma Cooih - Cà Dăng Các đứt gãy gần song song với nhau

kéo dài gần 20km, phát triển mạnh ở góc Đông Bắc vùng nghiên cứu thuộc các huyện Hiên, Nam Giang, Đông Giang Các đứt gẫy này một số nơi còn là ranh giới địa chất giữa phức hệ Đại Lộc và hệ tầng A San

- Hệ đứt gãy TaBhing - Thị trấn Thành Mỹ - Đại Sơn Các đứt gẫy này phân bố

ở trung tâm vùng nghiên cứu, có xu hướng gần song song với nhau kéo dài khoảng trên 20 km, cắt qua các khu mỏ than (An Điềm, Ngọc kinh, Sườn Giữa) và khu mỏ urani (Pà Lừa, Pà Rồng) gây biến đổi, dịch chuyển cấu trúc thân quặng

- Hệ đứt gãy Nông Sơn – Duy Phú Các đứt gẫy này phân bố thưa, ở góc Đông Nam vùng nghiên cứu, cắt qua mỏ than Nông Sơn

2 Hệ thống đứt gãy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam:

Phân bố hầu hết diện tích vùng ngyên cứu, nhưng thưa thớt, cắt gần vuông góc với hệ thống Đông Bắc - Tây Nam, Phân bố chủ yếu phía Nam gần trung tâm vùng nghiên cứu

Các vùng tiếp giáp: Phía Bắc giáp huyện Tánh Linh, Bình Thuận; phía Đông giáp huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận); phía Tây giáp huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa -Vũng Tàu), huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) và phía Nam giáp Biển Đông [12]

Diện tích nghiên cứu 1051km2 trong đó phần đất liền là 951km2 và phần biển ven bờ là 100km2

Các yếu tố địa lý tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến các tai biến địa chất Chúng quy định sự xuất hiện các loại hình tai biến địa chất, cường độ và tần suất cũng như phạm vi ảnh hưởng của tai biến địa chất Dựa vào nguồn gốc phát sinh có thể chia chúng ra thành hai nhóm là nhóm các yếu tố nội sinh và nhóm các yếu tố ngoại sinh

C.I.1.2 Địa hình, địa mạo

Trong diện tích nghiên cứu có các dạng địa hình đồi núi thấp, địa hình đồng bằng ven biển và địa hình đáy biển ven bờ

- Địa hình đồi núi thấp: phân bố ở phía Bắc bao gồm: núi Bể, núi Mây Tào, núi

Nhọn, núi Giang Co, núi Lồ Ô Đây là các núi sót trên đồng bằng ven biển Đặc điểm của địa hình núi là sườn cong lồi, dốc, nhưng phát triển cân xứng, hầu hết chúng đều phát triển các đá magma xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả, Định Quán, riêng ở núi Nhọn lộ các đá phun trào hệ tầng Nha Trang Các núi sót đều có độ cao tương đối lớn, dao động từ 400 đến 600m, với các đỉnh núi Bể cao 874m, núi Nhọn cao 569m Trên các sườn núi đá gốc lộ tốt, nhưng việc đi lại khó khăn vì khá dốc

- Địa hình đồng bằng ven biển: kéo dài dọc ven biển vùng nghiên cứu Độ cao

dao động 50÷100m ở ven chân núi, 1÷5m ở ven bờ biển, độ phân cắt sâu nhỏ Cấu thành đồng bằng là các trầm tích biển, sông-biển tuổi Đệ tứ Chúng phủ lên trên các

Trang 26

thành tạo Mesozoi Nhìn chung móng Kainozoi đều cao hơn mực nước biển Vì vậy, dọc theo suối hoặc trên các đồi sót nhiều nơi lộ đá gốc Địa hình đồng bằng nghiêng thoải ra phía biển Phần tiếp giáp với biển phát triển hệ thống các dải cồn, đụn cát, các vũng, đầm lầy, lạch triều

- Địa hình đáy biển: đáy biển vùng nghiên cứu nhìn chung tương đối thoải, độ

dốc nhỏ, riêng khu vực xung quanh mũi Kê Gà, mũi Núi Nham và Hòn Bà có địa hình khá dốc

Đường bờ biển khu vực nghiên cứu phần lớn có hướng Đông Bắc-Tây Nam, được cấu thành bởi các trầm tích bở rời và có xu hướng xói lở với tốc độ khác nhau, các khu vực được cấu thành bởi đá gốc cứng chắc (mũi Kê Gà, Hòn Bà ) đường bờ

ổn định, ít biến động

C.1.1.3 Đặc điểm mạng lưới sông suối

Vùng nghiên cứu có mạng lưới sông suối khá phát triển, phân bố tương đối đều với hai hệ thống sông chính: sông Dinh và sông Phan

Sông Dinh bắt nguồn từ phía Tây Bắc núi Chứa Chan (Đồng Nai), núi Mây Tào, núi Bể chạy qua địa phận huyện Hàm Tân và đổ ra cửa biển La Gi Sông Dinh là

sự qui tụ các suối Gia Ui, suối Lớn với chiều dài ~35km Diện tích lưu vực rộng khoảng 80km2 Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc theo mùa

Sông Phan bắt nguồn từ núi Nhọn, núi Tà Kou (huyện Hàm Thuận Nam) Dòng chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, đổ ra cửa biển Tân Hiệp Sông Phan là sự hợp thành của các suối Nước, suối Sao với chiều dài khoảng 22km, diện tích lưu vực rộng 360km2 Lưu lượng dòng chảy nhỏ

Ngoài ra còn một số suối nhỏ: suối Cô Kiều, suối Đá, suối Giao, suối Trạm có lưu lượng nước nhỏ

C.1.1.4 Khí hậu

Khí hậu vùng nghiên cứu có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (bảng 1.2)

Chế độ nhiệt: vùng nghiên cứu có nhiệt độ trung bình hàng năm 26÷27°C, biên

độ nhiệt 3,5°C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa không nhiều Tổng nhiệt độ trung bình trong mùa khô đạt 4.653°C; trong mùa mưa đạt 4.862°C Tháng nóng nhất là tháng 6 (trung bình 28,7°C) Tổng giờ nắng trung bình hàng năm đạt 2.873 giờ

Chế độ mưa: trong vùng có lượng mưa không lớn, trung bình hàng năm

1.583,3mm Số ngày mưa trung bình trong năm đạt 80,9 ngày Lượng mưa giữa hai mùa có sự chênh lêch nhau rất lớn Tổng lượng mưa trung bình trong mùa mưa

1.471,2mm, trong mùa khô trung bình 112,2mm Vì vậy, về mùa khô thường thiếu

nước sinh hoạt và phục vụ cho việc phát triển kinh tế của nhân dân trong vùng; nước trong các sông suối thường cạn kiệt, nên việc khảo sát thực địa vào thời gian này lại thuận lợi

Độ ẩm và bốc hơi: chỉ số ẩm ướt trung bình trong vùng hàng năm 1,63 (mùa

mưa 3,87, mùa khô 0,19); nghĩa là vào mùa mưa lượng mưa gấp 3,87 lần lượng bốc hơi, mùa khô lượng mưa bằng 0,19 lần lượng bốc hơi

Trang 27

Chế độ gió: trong vùng có 2 mùa gió là mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông

Bắc Mùa gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Hướng gió chủ yếu từ hướng Tây Nam Tốc độ trung bình 1,5÷2,2m/s, tốc độ gió lớn nhất 14÷20m/s Mùa gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Hướng chủ yếu là từ hướng Đông, Đông Bắc Tốc độ trung bình 2÷2,9m/s, tốc độ gió lớn nhất 12÷18m/s

Chế độ thủy triều: Vùng biển khu vực Hàm Tân, thuỷ triều có tính chất bán

nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng quan trắc thấy hai lần nước lên và hai lần nước xuống nhưng không đều về biên độ và thời gian Độ cao mực nước triều cường có thể đạt 2,0-3,5 m

Bảng 1.2 Thống kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân [4]

Nhiệt độ (0C) Tốc độ gió (m/s)Tháng

Thấp

nhất

Cao nhất

Trung bình

Lượng mưa trung bình (mm)

Số ngày mưa trung bình

Độ ẩm tương đối trung bình (%)

Lượng bốc hơi trung bình (mm

Số giờ nắng trung bình

Trung bình

Lớn nhất

bình

các

tháng

23.0 30.8 26.3 84.0 2.1

Sóng biển: Trong khu vực nghiên cứu, các đặc trưng của sóng thay đổi theo hai

mùa Tuy nhiên, các đặc trưng của sóng và các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau

Có thể chia sóng biển trong vùng nghiên cứu thành 3 thời kỳ trong năm như sau:

- Từ tháng 1 đến tháng 4, sóng biển có hướng thịnh hành là Đông Bắc - Đông,

độ cao trung bình khoảng 0,9-1,0 mét

- Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng sóng thịnh hành là Tây - Tây Nam, độ cao trung bình khoảng 1,0-1,1 mét

- Từ tháng 10 đến tháng 12, hướng sóng thịnh hành là Đông - Bắc, độ cao sóng trung bình xấp xỉ 1,2 mét

Độ cao sóng cực đại thường đo được vào lúc thời tiết xấu, cực đại trung bình trong năm là 3,5 mét Trong bão, độ cao sóng có thể đạt tới 7-8m, thậm chí 10-12m Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu cũng ít chịu ảnh hưởng của bão so với các vùng biển

Trang 28

khác Địa hình đường bờ và đáy biển thường bị thay đổi trong thời gian thời tiết xấu, bão to và gió lớn

Chế độ dòng chảy: Vào mùa Đông dòng chảy có hướng Tây Nam chảy dọc

theo đường bờ biển, với tốc độ khá lớn (có thể tới 50cm/s) Về mùa hạ, do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam dòng có hướng Bắc-Đông Bắc với tốc độ dưới 25cm/s

Chế độ bão: trong vùng nghiên cứu bão thường xảy ra vào tháng 9 đến tháng 11

và nhiều nhất vào tháng 11

C.1.1.5 Động vật và thực vật

Rừng hiện nay chiếm diện tích nhỏ, phát triển trên địa hình núi, diện tích rừng

tự nhiên đến nay còn khoảng 17659 ha và 14670 ha rừng trồng các loại Trong khi đó diện tích đồi núi là 50275 ha tập trung chủ yếu ở phía Bắc vùng Thảm thực vật chủ yếu gồm những loại cây mọc tái sinh, các loại gỗ quí đã bị khai thác cạn kiệt chỉ còn lại các loại như: cây dầu, bằng lăng, tre, cọ, buông v.v

Do diện tích rừng ngày càng thu hẹp, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm không còn hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác Trên diện tích đất liền hiện nay chỉ gặp: lợn rừng, cầy hương, chồn, sóc, gà rừng Động vật nuôi có trâu, bò,

C.I.1.6 Kinh tế nhân văn

C.I.1.6.1.Giao thông Mạng lưới giao thông trong vùng công tác khá thuận lợi

và đa dạng gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy

Đường bộ tương đối phát triển và phân bố đều trên toàn vùng.Toàn bộ các xã, thị trấn trong khu vực đã có đường ô tô đến trung tâm (bảng 1.3; 1.4) Đường quốc lộ

IA chạy qua phần phía Bắc của vùng với chiều dài khoảng 28km Từ tuyến đường này nối liền với các đường giao thông liên tỉnh như đường số 708, 709, 710 có thể đi đến các huyện, tỉnh lân cận vùng công tác Các tuyến đường chính trong huyện đã được nhựa hóa Đường giao thông nối liền các xã trong vùng cũng khá phát triển, nên việc

đi lại trong vùng khá dễ dàng và thuận lợi Riêng vùng Núi Bể, giao thông kém phát triển, dân cư thưa thớt, nên việc khảo sát thực địa gặp nhiều khó khăn Một trong những vấn đề rất cần thiết là nhựa hoá, bê tông hóa các đường liên thôn mặc dầu trong những năm qua đều có đầu tư nhưng cũng chưa nhiều và không đồng đều

Đường sắt chạy song song với quốc lộ IA (chiều dài chạy qua vùng công tác khoảng 17km), việc vận chuyển mẫu, thiết bị ra Hà Nội bằng đường sắt phải ga Mương Mán (cách xa trung tâm huyện Hàm Tân khoảng 80km)

Giao thông đường biển khá phát triển với các cảng La Gi, Cửa Cạn thuận lợi cho tàu bè nhỏ ra vào lấy hàng và trú đậu (ảnh 1.2)

Ảnh 1.2: Tàu thuyền neo đậu ở cửa La Gi

Trang 29

Bảng 1.3: Hiện trạng đường giao thông đến trung tâm xã, thị trấn trong khu vực

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hàm Tân, 1999, 2002; Niên giám thống kê huyện Hàm Thuận Nam,

2000; Niên giám thống kê Tp Phan Thiết, 1997, 2001

Bảng 1 4: Hiện trạng giao thông của các xã ven biển khu vực nghiên cứu

1 Xã Tân Thiện Số km đường quốc lộ 0 7.5 7.5

Số km tỉnh lộ 10 5 5 Số km đường đất ô tô đi được 7 6.5 15

Số km đường đất ô tô đi được 15 20 22 6 Xã Tân Thắng

2 Xã Tân Hải Số km đường quốc lộ 12 12 12

Số km tỉnh lộ 4.5 4.5 4.5 Số km đường đất ô tô đi được 17 17 17

Số km đường đất ô tô đi được 12 17.8 23.3 8 Xã Tân Thành

Số cảng cá 0 0 1 Số km đường đất ô tô đi được 3.2

Nguồn: Kết quả điều tra kinh tế - xã hội khu vực ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm 2004

Với mạng lưới giao thông bộ và thủy như vậy, khu vực nghiên cứu có điều kiện

thuận lợi để trao đổi hàng hóa cũng như sơ tán dân cư trong trường hợp khẩn cấp khi

có tai biến xẩy ra Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống giao thông này cũng gây ảnh

hưởng không nhỏ tới chất lượng môi trường Các tàu thuyền đánh cá khi tập trung về

cảng để tẩy rửa, xả thải dầu cặn đã làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước và

Trang 30

trầm tích trong phạm vi khu vực cảng như cảng La Gi Trên bãi biển và trầm tích đáy

có rất nhiều các loại rác thải khác nhau từ hoạt động khai thác thủy sản, không khí bị ô nhiễm mùi nặng nề Đặc biệt là ô nhiễm dầu do hoạt động cung cấp và xả thải dầu cặn

từ tàu thuyền

C.I.1.6 2 Nông nghiệp Hoạt động nông nghiệp trong vùng chủ yếu là nghề

trồng lúa, cây ăn trái, cây công nghiệp (điều, hồ tiêu, cà phê ) Ở nông thôn phát triển

mô hình V.A.C (kinh tế vườn, ao, chuồng) nên đời sống vật chất của nhân dân làm nông nghiệp trong vùng khá ổn định Tổng giá trị sán xuất nông nghiệp toàn huyện năm 2002 đạt 308.619 triệu đồng trong đó trồng trọt chiếm 70%, chăn nuôi 24%, dịch

vụ nông nghiệp 6%

C.I.1.6.3 Nuôi trồng thủy sản Với điều kiện thuận lợi: ngư trường rộng lớn,

cảng cá lớn La Gi với hàng ngàn ghe thuyền và cả các tàu lớn có công suất đến 600CV nên đây là nơi cung cấp hải sản biển cho thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và các vùng lân cận, theo số liệu thống kê năm 2002 riêng huyện Hàm Tân đã khai thác 37.584 tấn thuỷ sản các loại, với 1200 tàu thuyền, tổng công suất lên tới 61.600 CV

Đó là chưa kể tới các hoạt động của các tàu thuyền của các nơi khác đến khu vực hoạt động, thông thương và trung chuyển hàng hoá

Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực phát triển mạnh trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt là hoạt động nuôi tôm Diện tích nuôi tôm huyện Hàm Tân khoảng 243 hecta (năm 2003), tập trung ở các xã Tân Hải, Tân Bình, Tân Thắng Hình thức nuôi là cả nuôi đầm và nuôi lồng với quy mô từ nuôi thâm canh

tới bán thâm canh và quảng canh (bảng 1.5)

Bảng 1.5 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha)

Nguồn: Kết quả điều tra kinh tế - xã hội khu vực khu vực ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm năm 2004

Như vậy, tiềm năng nuôi trồng thủy sản của khu vực là rất lớn và đang được đẩy mạnh khai thác lợi thế này Tuy nhiên, cho đến nay thì việc điều tra cơ bản, quy hoạch các vùng đất ngập nước ven biển vẫn chưa được tiến hành Do đó, dẫn đến tình trạng nuôi trồng tự phát, khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên này, đặc biệt là trong năm

2001 đã gây tác hại không nhỏ cho môi trường Đáng lo ngại nhất là việc tự chặt phá rừng ngập mặn, đưa các ruộng lúa vào nuôi tôm tại nhiều vùng ven biển và tùy tiện khai thác nguồn nước ngầm để nuôi đã làm tăng khả năng bồi tụ, biến động luông lạch, xói lở bờ biển và tăng nguy cơ nhiễm mặn nước ngầm của khu vực Điều đáng lưu ý đối với môi trường là nuôi tôm theo hình thức công nghiệp nhưng khâu xử lý chất thải còn chưa được coi trọng Hầu hết nước thải từ quá trình nuôi ở tại các đầm này đều

Trang 31

được đổ thẳng ra biển mà không qua bất kể một quá trình kiểm tra cũng như xử lý nào trước khi đổ thải Khi nạo vét đầm thì các loại chất thải đáy đầm được đổ ngay tại bờ biển cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường và phá hủy cảnh quan dải bờ biển của khu vực này (ảnh 1.3) Khu vực bờ biển Tân Hải, Tân Bình, La Gi tồn tại rất nhiều các đầm nuôi trên cát đã bỏ hoang Các đầm bỏ hoang này làm cường hoá nhiễm mặn và phèn hoá đất trong khu vực Mặt khác, chúng còn làm mất quỹ đất, gây mất mỹ quan

và gây ô nhiễm môi trường

Ảnh 1.3: Chất thải đổ bừa bãi trên bờ biển ở Tân Thuận

Tuy nhiên, quá trình phát triển ngành hải sản của khu vực vẫn còn một số bất cập Trong khai thác sản lượng đạt khá, nhưng số lượng tàu thuyền đánh bắt gần bờ vẫn chiếm tỷ trọng lớn Việc bảo quản sản phẩm sau khi đánh bắt chưa tốt nên ảnh hưởng đến chất lượng chế biến, xuất khẩu Tình trạng sử dụng chất nổ và các hình thức khai thác nguy hại như giã cào, vây rút chì… còn phổ biến Trong đó, đặc biệt phải kể đến hoạt động đánh bắt cá bằng hóa chất và chất nổ vẫn tiếp tục tái diễn đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng môi trường của khu vực Với sự tập trung một số lượng lớn tàu thuyền tại các cảng cá cộng với ý thức của ngư dân về bảo vệ môi trường còn chưa được nâng cao, các quy phạm và chế tài xử lý vi phạm còn nhiều bất cập đã gây áp lực lớn đễn chất lượng môi trường tại các cảng này Trong phạm vi khu vực cảng, môi trường nước và trầm tích bị ô nhiễm chất hữu cơ và rác thải sinh hoạt nghiêm trọng Hoạt động cung cấp xăng dầu cũng như xả thải dầu cặn của tàu thuyền

đã biến chúng thành nguồn gây ô nhiễm PCBs và kim loại nặng đối với môi trường nước và trầm tích của vùng Các khu vực ô nhiễm điển hình là cảng La Gi

C.I.1.6.4 Công nghiệp Chủ yếu là các ngành như công nghiệp khai thác, chế

biến, Ngoài ra ở thị trấn La Gi còn có các trạm sửa chữa cơ khí nhỏ gia công các nông cụ sản xuất nông nghiệp, phương tiện vận tải, đáp ứng kịp thời cho việc phát triển kinh tế của địa phương Bên cạnh các cơ sở sửa chữa và đóng tàu thuyền phục vụ cho việc đánh bắt cá, huyện Hàm Tân còn có các xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, các xí nghiệp chế biến thực phẩm đông lạnh Công nghiệp khai khoáng đang phát triển (khai thác đá xây dựng ở mỏ Tân Hà, mỏ Núi Le, mỏ Hòn Vung; cát xây dựng ở mỏ Tân Thắng, mỏ Sông Dinh Đặc biệt mỏ Ilmenit Hàm Tân đang được khai thác và hàng năm đã thu được hàng triệu USD Nhà máy khoáng sản của Công ty Liên doanh khoáng sản quốc tế Hải Tinh (Việt Nam - Trung Quốc) tại xã Tân Hải đã được hoàn tất vào tháng 11 năm 2004 nay đã đi vào sản xuất với vốn đầu tư giai đoạn 1 là 2 triệu USD, hàng năm chế biến 5.000 tấn zircon, 1.000 tấn rutin chất lượng cao, doanh thu dự kiến đạt 5 triệu USD/năm; giai đoạn hai vốn đầu tư tăng lên 10 triệu USD và giai đoạn 3 là 50 triệu USD để tiến tới thành lập các nhà máy sản xuất sứ cao cấp, gạch

Trang 32

chịu lửa, que hàn cao cấp Cùng với việc thành lập liên doanh trên là việc mở rộng quy

mô và sản lượng khai thác mỏ Hàm Tân

Theo số liệu thống kê năm 2002 tại huyện Hàm Tân có 1172 cơ sở sản suất công nghiệp ngoài Quốc doanh, thu hút khoảng 3797 người lao động Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các cơ sở này trong toàn huyện đạt trên 92 tỉ đồng [14]

C.I.1.6.5 Chặt phá rừng phòng hộ Theo kết quả kiểm kê rừng những năm gần

đây cho thấy diện tích rừng của vùng nghiên cứu ngày một giảm, đặc biệt là rừng tự nhiên (bảng 1.6) Rừng bị phá trái phép để làm nương rẫy, nuôi tôm (ảnh 1.4)bởi người dân sinh sống ven rừng và dân di cư tự do Tình trạng vi phạm lâm luật, khai thác trái phép gỗ củi xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là tại các khu vực giáp ranh và trong khu vực bảo tồn, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ

Ảnh hưởng của nạn phá rừng đối với lũ lụt đã và đang được tranh luận trên khắp thế giới Theo Cơ quan Nông Lương của Liên Hiêp Quốc (FAO), mức độ phá rừng cao nhất xảy ra ở Châu Á, từ 9.5% trong thập niên 1960 đến 11% trong thập niên

1980 Cũng như nhiều nơi khác trong nước, rừng ở các tỉnh miền Trung đang bị tàn phá một cách nghiêm trọng Các nghiên cứu và điều tra ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi khác trên thế giới đã chứng minh rằng nguyên nhân hàng đầu của lũ lụt là có quá nhiều mưa xảy ra trong một thời gian ngắn, và việc phá rừng có thể ảnh hưởng quan trọng đối với lũ lụt trong các lưu vực hạn hẹp như ở miền Trung Cây cối có khả năng giữ nước cũng như giảm thiểu việc đất đai sụt lở Lượng nước lũ ở một vùng có nhiều cây cối sẽ ít hơn lượng nước lũ từ một vùng trơ trọi Vì thế nạn phá rừng có thể gia tăng mực nước ở các vùng hạ lưu

Nạn hạn hán và lũ lụt thường xuyên xẩy ra trong khu vực gây nhiều thiệt hại về người và của trong thời gian gần đây bắt nguồn từ những nguyên nhân này Độ che phủ của rừng giảm dẫn đến tăng khả năng xói mòn, suy thoái đất và làm tăng khối

lượng vật liệu trầm tích gây bồi lấp các vùng cửa sông

Trang 33

Nguồn: Niên giám thống kê Huyện Hàm tân năm 1999, 2002 và Kết quả điều tra kinh tế - xã hội khu vực ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm 2004

C.I.1.6.6 Hoạt động du lịch Vùng nghiên cứu có nhiều danh lam thắng cảnh,

di tích lịch sử, những kiến trúc cổ, các lễ hội truyền thống, các kho tàng văn hoá - nghệ thuật dân gian Đây là điểm đến của khách du lịch đến tham quan, thưởng ngoạn Đặc biệt tại đây có các bãi cát trắng mịn, nắng ấm, nước xanh trong quanh năm hấp dẫn du khách đến đây tắm biển Trong giai đoạn hiện nay, ngành du lịch khu vực đang phát triển rất mạnh và được nhận định là ngành kinh tế mũi nhọn Các điểm du lịch ở đây đều có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, nằm ở vị trí thuận lợi không cách quá xa các trung tâm đô thị lớn Hoạt động du lịch phát triển mạnh ở khu vực Đồi Dương, Cam Bình, Dinh Thầy Thím, Kê Gà và hiện nay tại khu vực Phò Trì – Sơn Mỹ (xã Tân Thắng) hoạt động này bắt đầu được khai thác

Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích kinh tế – xã hội mà hoạt động này mang lại thì các vấn đề môi trường khác cũng đang nảy sinh Nước biển tại các bãi tắm đang có chiều hướng suy giảm chất lượng Hoạt động khai thác nguồn nước ngầm tầng nông ven biển để phục vụ du lịch được đẩy mạnh nhưng ý thức bảo vệ chúng còn kém đã góp phần làm suy giảm chất lượng, cạn kiệt nguồn nước ngầm này và làm suy thoái đất Các chất thải từ hoạt động du lịch vẫn chưa được thu gom tập trung để xử lý mà cho chảy tràn, tự ngấm vào đất hoặc vứt thải trên bãi biển Nhưng so với các ngành kinh tế khác, hướng phát triển du lịch sinh thái của khu vực là phù hợp hơn cả nhằm nâng cao tiềm lực kinh tế của địa phương nhưng lại đi đôi với bảo vệ môi trường

C.I.1.6.7 Khai thác khoáng sản Vùng nghiên cứu có nhiều tích tụ về khoáng

sản và đa dạng về chủng loại như vàng, thiếc, titan, thori-uran, cát thủy tinh, sét gạch ngói, nước khoáng, vật liệu xây dựng… Trong đó, đáng kể nhất và có giá trị công

nghiệp là nước khoáng, titan, cát thủy tinh và vật liệu xây dựng Mỏ ilmenit Bàu Dòi

thuộc địa phận xã Tân Hải và Tân Bình có trữ lượng 5.870.000m3 hiện đang được

Trang 34

công ty Lidisaco khai thác với công suất 23.000m3/năm Mỏ cát thủy tinh ở khu vực Dinh Thầy thuộc địa phận các xã Tân Hải và Sơn Mỹ có trữ lượng cấp P: 63.948.000 tấn, hàm lượng SiO2 là 97,5 – 99,15%, hiện đang được nhân dân khai thác để làm cát đệm cho đúc gang Mỏ than bùn tại xã Tân Thiện có trữ lượng 700.000 tấn đang được khai thác Sét gạch ngói tập trung tại xã Tân Nghĩa, Tân Thắng, hiện đang có 21 cơ sở khai thác, công suất 26.000 tấn/năm Cát xây dựng được khai thác chủ yếu từ lòng sông Dinh - nằm trên các xã Tân Thiện, Tân Xuân, sản lượng khai thác 36.000m3/năm

và lòng sông Phan - nằm trên các xã Tân Lập, Tân Thuận, sản lượng khai thác 13.000m3/năm

Vấn đề nổi cộm nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến môi trường trong khai thác khoáng sản ở ven biển miền Trung nói chung và ven biển Hàm Tân nói riêng

là tình trạng khai thác titan trái phép ven biển Theo như giấy phép được cấp thì Công

ty Khai thác Khoáng sản 6 (Lidisaco) thuộc Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam được phép khai thác trên diện tích 16,22ha ven biển thuộc khu vực Bàu Dòi – xã Tân Hải (huyện Hàm Tân) Tuy nhiên, công ty này đã khai thác trái phép trên diện tích 6ha thuộc tiểu khu 393 rừng phòng hộ ven biển xã Tân Bình Hoạt động này đã làm dậy nên làn sóng khai thác titan trái phép ven biển Điển hình nhất là các xã Tân Hải, Tân Thuận, Tân Thành Hoạt động khai thác chủ yếu là do các tư nhân đứng ra thuê nhân công với hình thức lấy nhanh quặng tuyển bằng máng gỗ, máy xoắn ốc, nạo vét phần mặt bãi triều thấp (ước tính 1 ngày khai thác được 5-7 tấn) (ảnh 1.5) Hoạt động khai thác titan trái phép này đã phá hủy diện tích rừng phòng hộ ven biển, khoét sâu vào bờ biển làm bờ bị xói lở, khai thác nước ngọt để tuyển quặng làm sụt giảm mực nước ngầm Nhìn chung, các cơ sở khai thác - chế biến khoáng sản này vẫn chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái và hoàn trả mặt bằng sau khai thác Đặc biệt là các cơ sở khai thác sa khoáng khi hoạt động đã gây sạt lở, biến đổi cảnh quan, ô nhiễm bụi và nhiễm mặn do sử dụng nước biển để tuyển quặng, thảm thực vật và cảnh quan bị suy thoái nghiêm trọng Điển hình là khai thác sa khoáng ở

mỏ Bàu Dòi, Chùm Găng, khai thác đá ở Tàzôn Đuôi quặng titan chưa được xử lý có thành phần monazit cao, tăng liều chiếu xạ gây ảnh hưởng tới người và động vật khu vực ven biển… Mặt khác, khai thác sa khoáng; ilmenit và zircon, monazit đi kèm đã làm giảm đáng kể cường độ phóng xạ của các thành tạo cát chứa quặng, tạo điều kiện cho phát triển du lịch, biển sau khai thác quặng (ví dụ vùng Chùm Găng - Bàu Dòi)

Ảnh 1.5: Khai thác ilmenit trái phép trên bãi biển xã Tân Hải

C.I.1.6.8 Chất thải công nghiệp và sinh hoạt Theo báo cáo hiện trạng môi

trường tỉnh Bình Thuận năm 2001 thì nước thải của một số cơ sở đều có dấu hiệu vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước thải của các cơ sở chế biến hải sản có chỉ tiêu BOD vượt 8 – 17 lần, COD vượt 6,7 – 11,4 lần, TSS vượt 2,8 – 3,9 lần, nitơ tổng vượt 1,5 –

Trang 35

3,8 lần tiêu chuẩn cho phép Nước thải cơ sở chế biến bột mỳ có pH rất thấp, chỉ tiêu BOD vượt 140 lần, COD vượt 144 lần, TSS vượt 6,9 lần tiêu chuẩn cho phép Nước thải của các nhà máy nước đá có hàm lượng NaCl là 295 mg/l, dầu mỡ là 9,72 mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép đến 9,72 lần [14] Hiện tại, theo đánh giá của Sở Khoa học Môi trường Bình Thuận thì lượng rác thải này mới chỉ được thu gom khoảng 70 % [14] Số còn lại nhân dân tự đổ xuống sông, biển… gây mất vệ sinh và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường Như vậy, cường độ hoạt động nhân sinh trong khu vực tương đối cao đã gây những tác động không nhỏ đến sự phân bố, quy mô, cường độ và tần suất của tai biến Theo mức độ ảnh hưởng của chúng tới đặc trưng của tai biến thì

có thể sắp xếp theo xu hướng giảm dần tác động như sau: chặt phá rừng phòng hộ, chất thải công nghiệp và sinh hoạt, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản, sản xuất

và chế biến muối, hoạt động du lịch và cuối cùng là giao thông Qua quá trình khảo sát

đã phát hiện thấy cả ba loại hình hoạt động nhân sinh (khai thác khoáng sản, nuôi trồng thuỷ sản và du lịch) đã và đang gây ảnh hưởng đến môi trường Từ đó, tạo các tiền đề cho xung đột môi trường giữa chúng phát triển gây cản trở sự phát triển của nhau Khai thác khoáng sản gây ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm như khu vực Chùm Găng, khi hoạt động khai thác phát triển đã làm cho các đầm tôm ở bên cạnh bị mất mùa ba vụ liên tiếp, buộc phải ngừng nuôi Hoạt động khai thác ilmenit trái phép ở Tân Hải đã dẫn đến sạt lở bờ biển, phá huỷ bờ bao của các đầm tôm Khi báo cáo với chính quyến xã mà không có kết quả buộc các chủ đầm tôm phải tự trông coi bờ biển thuộc khu vực của mình, không cho dân vào khai thác Theo quy hoạch thì sau khi hoạt động khai thác ilmenit kết thúc sẽ được chuyển sang phát triển du lịch Nhưng hiện tại, hoạt động khai thác ilmenit ở khu vực Chùm Găng đã kết thúc nhưng vẫn chưa được tiến hành san lấp mặt bằng, trồng cây xanh bồi hoàn môi trường Dọc theo khu vực nuôi tôm rất phổ biến hiện tượng đổ thải bùn từ nạo vét đáy đầm ra bờ biển gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan cũng như các đầm tôm bị bỏ hoang là nguồn gây ô nhiễm và tập trung rác thải ở Tân Hải Hoạt động đánh bắt thuỷ sản với

sự tập trung số lượng lớn tàu thuyền ở La Gi làm suy thoái môi trường, tác động xấu tới hoạt động du lịch

C.I.2 CÁC YẾU TỐ ĐỊA CHẤT

Các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến tai biến địa chất của khu vực được xét đến là

vị trí kiến tạo trên bình đồ kiến tạo khu vực, các tầng cấu trúc, các hệ thống đứt gãy và các thành tạo địa chất

C.I.2.1 Các thành tạo địa chất

Dựa vào đặc điểm địa chất công trình [8], tính chất cơ lý của đất đá [12],… khả năng chống chịu tai biến, có thể chia các thành tạo địa chất làm hai lớp: lớp có liên kết cứng (đá cứng) và lớp không có liên kết (đất đá bở rời) Trong mỗi lớp lại gồm các nhóm đất đá thành tạo trong những điều kiện kiến tạo, cổ địa lý giống nhau và được thể hiện trên bản vẽ bằng các yếu tố thạch học chính của chúng

C.I.2.1.1 Lớp đất đá bở rời: Thuộc lớp này có sáu nhóm sau:

Nhóm 1: Trầm tích có nguồn gốc sông, gồm 3 phân vị địa tầng:

- Trầm tích sông Hệ tầng Tuy Phong (aQ11-2tp) Gặp trong các lỗ khoan máy

vùng Tân Thắng, đồi 82 (xã Sơn Mỹ) Thành phần chủ yếu là cát, sạn, bột-sét loang lổ, nén chặt, chứa sa khoáng saphir, ít ilmenit, zircon Chiều dày 1-2m

Trang 36

- Trầm tích sông bãi bồi cao (aQ22-3) Diện phát triển rất hạn chế, tạo thành các dải hẹp (rộng vài chục mét đến vài trăm mét) rải rác dọc sông Dinh, sông Phan Thành phần đa dạng từ sạn sỏi đến bột sét màu xám, xám vàng Chiều dày 1-5m

- Trầm tích sông (aQ23) Phân bố dọc theo các sông, suối trong vùng (sông Phan, sông Dinh, suối Chùa, suối Cô Kiều ) Thành phần đa dạng từ cuội, sạn, sỏi đến cát, cát bột, sét Chiều dày 1,5-3m

Nhóm 2: Trầm tích có nguồn gốc biển, gồm 6 phân vị địa tầng:

- Hệ tầng Mũi Né (mQ12mn) Hệ tầng Mũi Né có thành phần chủ yếu là cát pha

bột sét, cát sét pha bột sét lẫn sạn Chiều dày 1÷2m đến 21,6m, tăng dần về phía biển Chúng thường bị phủ hoặc bị chôn vùi, chỉ lộ thành chỏm nhỏ ở Sơn Mỹ, Đông Nam núi Đất, Tân Hải, Tân Thuận

- Trầm tích biển (mQ12-3) Các trầm tích này phát triển khá rộng rãi trên các đồng bằng tích tụ cao 40÷60m, ôm quanh núi Bể, núi Nhọn và rải rác trong huyện Hàm Tân Thành phần là cát thach anh hạt thô đến mịn, màu xám, xám trắng đến vàng-tướng ven bờ; cát bột màu xám trắng-tướng vũng vịnh, dày 1÷10 mét Trầm tích

biển, tướng bar cát Hệ tầng Phan Thiết (mQ12-3pt) Trong vùng nghiên cứu, các trầm

tích của hệ tầng được tạo thành một dải không liên tục phương Đông Bắc-Tây Nam từ núi Đất, Tân Thiện, đồi 82 đến Tân Thắng Thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt nhỏ đến vừa xen cát pha bột, màu thay đổi từ trắng đến vàng, đỏ, màu đỏ là phổ biến, đặc trưng Phần dưới của hệ tầng thường tập trung sa khoáng hơn phần trên Mẫu đãi lấy ở phần dưới (số hiệu HC1061/2a) tại mặt cắt đồi 82 (xã Sơn Mỹ - Hàm Tân) cho kết quả: ilmenit 20.558,7g/T, zircon 4.124g/T, saphir 128 hạt/10dm3 Chiều dày của hệ tầng 10÷90m

- Trầm tích biển (mQ13) Diện phân bố rất rộng, tạo nên các đồng bằng tích tụ cao 35÷45m ở Tân Thắng, Sơn Mỹ Trầm tích hầu hết là cát thạch anh chọn lọc tốt, màu xám, xám đốm vàng đốm nâu, xám trắng, trắng, có độ chọn lọc tốt Chiều dày 1,5-11m

- Trầm tích biển (mQ22) Trầm tích nguồn gốc biển tạo nên các dải đồng bằng cao trung bình 10÷20m, phân bố ở Tân Thiện, Sơn Mỹ, Tân Thắng, Thành phần hầu hết là cát thạch anh, chọn lọc tốt, màu xám, trắng xám, xám trắng, đốm vàng, nâu Chiều dày dao động 4÷12m

- Trầm tích biển (mQ22-3) Trầm tích biển tuổi Holocen giữa-muộn tạo thành các dải đồng bằng cao 2÷10m chạy song song hoặc gần song song với đường bờ hiện tại ở Sơn Mỹ, Tân Thiện, La Gi, Tân Hải, Chùm Găng Thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt trung màu xám sáng, vàng nhạt chứa sa khoáng ilmenit, zircon Cường độ phóng xạ các thành tạo này từ vài chục µR/h đến hàng trăm µR/h (các thân quặng ilmenit) Bề dày trung bình 3÷8m có thể tới 10÷15m

- Trầm tích biển (mQ23) Trầm tích biển tuổi Holocen muộn phát triển dọc theo

bờ biển hiện đại ra đến độ sâu 10-15m nước, trực tiếp chịu tác động của sóng, thủy triều và các dòng bồi tích dọc bờ Thành phần là cát thạch anh chứa vụn vỏ sò, chọn lọc tốt có chứa sa khoáng ilmenit vì vậy cường độ phóng xạ các thành tạo này khá cao,

có thể đạt tới vài trăm µR/h Chiều dày 2-10m

Nhóm 3: Trầm tích có nguồn gốc sông - biển, gồm 3 phân vị địa tầng

Trang 37

- Trầm tích sông-biển (amQ21-2) Trầm tích sông-biển phân bố ở gần cửa sông Phan, sông Dinh, suối Đu Đủ Thành phần thường gặp là cát-bột ở phần dưới, bột-cát, bột sét màu xám, xám đen đến vàng nâu nhạt ở phần trên Chúng tạo đồng bằng cao 20÷30m, với phần trên là sét bột mịn dẻo dùng làm sét gạch ngói

- Trầm tích sông-biển (amQ22-3) Trầm tích sông-biển phân bố các khu vực gần cửa sông hiện đại (sông Phan, sông Dinh ), trầm tích là cát bột xám nâu Chiều dày

>0,5m

- Trầm tích sông-biển (amQ23) Trầm tích sông-biển tuổi Holocen muộn phân

bố ở vùng cửa sông Phan, sông Dinh nơi tiếp giáp giữa hạ lưu sông với bờ biển hiện đại Thành phần cát thạch anh màu xám, cát-bột màu xám đen, đen nâu, sét-bột, hoặc sét-bột, cát màu xám đen, đen nâu, chứa mùn xác thực vật Bề dày ≥0,5m

Nhóm 4: Trầm tích có nguồn gốc biển - đầm lầy, gồm 3 phân vị địa tầng

- Trầm tích biển-đầm lầy(bmQ22) Trầm tích biển-đầm lầy lộ dọc theo thung lũng nhỏ hẹp ở khu vực Tân Thắng, được thành tạo liên quan với quá trình biển tiến Holocen giữa Thành phần chủ yếu là bột sét pha cát màu xám đen giàu mùn hữu cơ, vụn thực vật màu đen Chiều dày 1-2m

- Trầm tích biển-đầm lầy (bmQ22-3) Trầm tích biển đầm lầy phân bố trong các dải thấp trũng ở Sơn Mỹ, Tân Hải, Bề mặt địa hình hiện tại còn bị lầy thụt, trên đó có các di tích thực vật ngập mặn Tích tụ cát, sét, giàu vật chất hữu cơ, màu xám đen đến đen Chiều dày 0,5-4m

- Trầm tích biển đầm lầy (bmQ23) Được xếp vào trầm tích trầm tích biển-đầm lầy (mbQ23) là các tích tụ dạng lấp đầy các lạch triều hiện đại chạy gần sát ven biển ởSơn Mỹ đến Tân Hải và Chùm Găng Thành phần trầm tích gồm cát bột sét hoặc sét bột cát, sét bột chứa, lẫn mùn xác thực vật màu xám đen, xám nâu, phân hủy kém Bề dày 1-3m

Nhóm 5: Trầm tích có nguồn gốc gió , gồm 3 phân vị địa tầng

- Trầm tích gió (vQ22) Các bar cát Holocen giữa phân bố ở Sơn Mỹ, Tân Thắng, các dải cồn cát được tạo nên bởi gió, các dải này có bề rộng một vài trăm mét đến 1km, dài vài trăm mét đến 3km Thành phần cát thạch anh màu xám, xám trắng, trắng, trắng đốm vàng, thành phần đơn khoáng, khá sạch, có thể tạo thành các mỏ cát thủy tinh (Tân Thắng) Chiều dày 1÷2m đến 10m

- Trầm tích nguồn gốc gió (vQ22-3) Trầm tích gió tuổi Holocen giữa muộn tạo thành các dải cồn nổi cao vài mét đến 10÷50m trên các đồng bằng tích tụ ở Sơn Mỹ, Tân Hải, Kê Gà Thành phần chủ yếu là cát thạch anh, chọn lọc tốt màu xám trắng đến

xám vàng, vàng nhạt Chiều dày thay đổi 5-60m

- Trầm tích nguồn gốc gió (vQ23) Trầm tích gió tuổi Holocen muộn tạo thành các dãy cồn cát cao từ 10÷30 đến 50m, rộng 100÷200m dến 1km, dài vài km đến 10km dọc theo bờ biển hiện đại, ở trong đất liền Thành phần cát thạch anh màu xám, xám trắng đến vàng hạt trung đến mịn, chọn lọc tốt Dày một vài mét đến 30m Các thành tạo này có khả năng tích tụ sa khoáng ilmenit với hàm lượng cao, tạo ra các thân

sa khoáng dọc ven biển (mỏ Hàm Tân, các điểm quặng Cam Bình, Sơn Mỹ ) Cường

độ phóng xạ dao động từ vài chục µR/h đến hàng trăm µR/h (các thân quặng ilmenit)

Nhóm 6: Trầm tích Đệ tứ không phân chia

Trang 38

- Trầm tích deluvi-proluvi (dpQ).Deluvi-proluvi (trầm tích sườn và lũ tích) tạo

thành các dải rìa chân các khối núi lớn: núi Mây Tào, núi Bể, núi Nhọn Thành phần: tảng, dăm, sạn, cát, cát-bột hỗn độn chọn lọc mài tròn kém Dày 1,5÷4m

C.I.2.1.2 Lớp đá cứng: Thuộc lớp này có sáu nhóm sau:

Nhóm 1: Trầm tích có nguồn gốc biển, sông-biển

Trầm tích Pliocen nguồn gốc biển, Hệ tầng Suối Tầm Bó (N2stb) Phân bố rộng

rãi ở vùng Tân Thắng, Tân Hải, Sơn Mỹ, Hiệp Hòa, núi Bể với diện lộ 100km2 Hệ tầng có 2 tập: Tập 1 gồm các trầm tích hạt thô được thành tạo trong môi trường sông

và sông-biển Tập 2 trầm tích hạt mịn chứa nhiếu sét màu đen, giàu di tích hữu cơ, có chứa than nâu Bề dày đạt 14,5m-24,1m

Nhóm 2: Trầm tích lục nguyên

Hệ tầng Trà Mỹ (J 2 a-bjtm) Các trầm tích của hệ tầng phân bố khu vực xã Tân

Nghĩa, Núi Nhọn với diện lộ khoảng vài chục km2 Thành phần chủ yếu là cát kết dạng arkos Đá có cấu tạo phân phiến, cấu tạo khối Chiều dày khoảng 350m

Nhóm 3: Trầm tích lục nguyên –Carbonat

Hệ tầng Đắc Krong (J1s-t đk?) Các trầm tích lục nguyên của hệ tầng phân bố ở

núi Đất, xã Tân Hải diện lộ tổng cộng khoảng 4km2 Dày 8÷20m Thành phần chủ yếu

là sét vôi màu đen, sét kết, bột kết màu xám đen; xen các lớp sét vôi mỏng Khoáng sản liên quan: Sét vôi của hệ tầng là một khoáng sản có thể dùng để cải tạo đất chua

trong sản xuất nông nghiệp

Nhóm 4: Magma xâm nhập mafic: Gabro diabas, diabas thuộc phức hệ Cù

Mông và trầm tích phun trào mafic: Bazal olivin thuộc các phức hệ Túc Trưng, Phước Tân

- Phức hệ Cù Mông (Ga/K 2 -Ecm) Các đá thuộc phức hệ Cù Mông trong vùng

nghiên cứu có khối lượng rất ít Các đai cơ mạch sẫm màu đang xếp vào phức hệ Cù Mông thường có qui mô nhỏ, với bề rộng từ 1÷3m đến 20÷30m Thường có mặt các nhóm đá từ diabaz, gabrodiabaz, gabrodiorit đến diorit porphyrit Kết quả đo tham số vật lý của các thành tạo này cho thấy chúng thường có hoạt tính xạ thường có giá trị thấp từ 3 đến 11ppm

- Hệ tầng Túc Trưng (βN2-Q11tt) Các thành tạo phun trào bazan hệ tầng Túc

Trưng trong phạm vi nghiên cứu gặp lộ ở phía Tây Hàm Tân Thành phần thạch học chủ yếu là bazan olivin, bazan olivin pyroxen, bazan olivin pyroxen plagioclas, với diện lộ vài chục km2 Bề dày dao động lớn từ 1,7 đến 28m Kết quả đo xạ đường bộ cho thấy các đá bazan hệ tầng Túc Trưng có hoạt tính phóng xạ 6÷10µR/h Kết quả đo tham số vật lý cho thấy các thành tạo bazan olivin, bazan olivin pyroxen cấu tạo đặc sít

và bọt, thường có hoạt tính xạ thấp, khoảng 5ppm

- Hệ tầng Phước Tân (βQ13pht) Trầm tích phun trào bazan lộ diện hẹp ở mũi

Núi Nham Thành phần thạch học gồm bazan olivin nghèo ban tinh, bazan plagioclas cấu tạo đặc xít và lỗ hổng màu xám đen Dày 10-25m Hoạt độ phóng xạ các đá của hệ tầng thấp, trung bình khoảng 7ppm

Nhóm 5: Magma axit-trung tính: granit, granit syenit, granit porphyr,… thuộc

các phức hệ Định Quán, Đèo Cả, …

Trang 39

- Phức hệ Định Quán (DiGa/J 3 -K 1 đq) Các đá thuộc phức hệ Định Quán phân

bố chủ yếu dọc theo suối Gia Ôi, suối Cát và sông Dinh bao gồm 2 pha xâm nhập và pha đá mạch Trong đó pha 1 đặc trưng là diorit, gabrodiorit; pha 2 là tonalit, granodiorit; pha đá mạch có aplit, spersatit Hoạt tính xạ của các thành tạo này thay đổi

từ 6 đến 24ppm trong đó các đá granodiorit có hoạt tính xạ cao nhất

- Phức hệ Đèo Cả (G/Kđc) Đây là các thành tạo phổ biến trong vùng nghiên

cứu, tập trung lớn nhất ở núi Bể, núi Nhọn, mũi Kê Gà Dọc ven biển cũng gặp các thành tạo này lộ rải rác với diện tích nhỏ Thành phần gồm 3 pha chính và 1 pha đá mạch Pha 1 thường có qui mô hạn chế, có mặt chủ yếu tại khối núi Bể, với thành phần đặc trưng gồm monzodiorit, diorit, monzogranodiorit, monzonit Pha 2 chiếm khối lượng chủ yếu có mặt tại hầu hết các khối, với thành phần đặc trưng gồm: granit biotit hạt trung, granit biotit có hornblend Pha 3 chiếm một khối lượng lớn với thành phần chủ yếu là granit biotit hạt nhỏ, ít granit granophyr, granit aplit, granit pegmatit Hoạt tính phóng xạ: các đá pha 1 có hoạt tính xạ 14÷30ppm; pha 2 khoảng 13÷32ppm, pha 3 khoảng 13÷45ppm

- Phức hệ Phan Rang (G/K 2 -Epr) Phức hệ Phan Rang chủ yếu là các thành tạo

đá mạch có khối lượng không lớn, thành phần chủ yếu là felsit porphyr, riolit porphyr, granit granophyr Gặp chủ yếu ở bắc Núi Bể, tạo thành đới gồm nhiều mạch qui mô khác nhau từ 3÷5m đến 100÷400m Kết quả đo xác định các tham số vật lý cho thấy các đá mạch phức hệ Phan Rang thường có hoạt tính xạ thấp hơn so với các phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả, thường đạt trong khoảng 9÷18ppm

- Hệ tầng Nha Trang (Knt) Hệ tầng Nha Trang phân bố ở núi Nhọn, núi Tía

Khô, Hòn Bà với diện lộ vài chục km2 Thành phần thạch học gồm: ryolit porphyr, felsit porphyr, dacit porphyr, andesit porphyr, andesitodacit porphyr, tuf vụn núi lửa Các đá có bề dày rất thay đổi ở các vùng khác nhau 250m – 600m Kết quả đo xạ đường bộ cho thấy các đá của hệ tầng có hoạt tính phóng xạ dao động 20÷40 µR/h; trong đó ryolit porphyr và felsit porphyr thường có cường độ 34÷40µR/h cao hơn so với các thành tạo andesit porphyrit và tuf của chúng Hoạt độ phóng xạ các đá dao

động trong khoảng 7-12ppm

C.I.2.2 Kiến tạo

C.I.2.2.1 Vị trí kiến tạo

Trên bản đồ kiến tạo miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 [2] Vùng nghiên cứu thuộc Đông Nam đới cấu trúc Đà Lạt Đới này là một khối vỏ lục địa tiền Cambri bị sụt lún trong Jura giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi muộn - Kainozoi sớm Vào Kainozoi muộn, khu vực Hàm Tân và dải ven bờ rìa Nam - Đông Nam của lục địa bị nâng vòm khối tảng do kiến tạo ép trồi Đông Dương với sự phát triển của các thành tạo phun trào bazan

C.I.2.2.2 Cấu trúc địa chất

Vùng nghiên cứu nằm trong đới cấu trúc Đà Lạt và được chia thành 2 tầng cấu

trúc như sau:

- Tầng cấu trúc Mesozoi: Tham gia vào tầng cấu trúc này bao gồm các đá magma của phức hệ Định Quán, Đèo Cả, Phan Rang, Cù Mông và các trầm tích lục nguyên hệ tầng Đắc Krong, Trà Mỹ, các trầm tích phun trào của hệ tầng Nha Trang

Trang 40

- Tầng cấu trúc Kainozoi muộn (Neogen - Đệ tứ): Tham gia vào tầng cấu trúc này chủ yếu là các trầm tích lục nguyên gắn kết yếu đến bở rời gồm: cát kết, cuội sạn kết, bột, sét với thành phần đa khoáng được thành tạo trong mối tương quan giữa hoạt động tân kiến tạo và sự dao động của mực nước Biển Đông trong giai đoạn từ Neogen đến nay Ngoài ra còn có các thành tạo phun trào bazan được thành tạo trong giai đoạn Neogen muộn - Pleistocen sớm (hệ tầng Túc Trưng), giai đoạn Pleistocen muộn (hệ tầng Phước Tân) Tầng cấu trúc này trong khu vực nghiên cứu có bề dày không lớn dao động trong khoảng vài trăm mét.Theo các tài liệu hiện có đặc biệt là tài liệu địa vật lý trọng lực cho thấy độ sâu của bề mặt môhô trong khu vực là 32 - 33km, bề mặt conrad là 15 - 16km, bề mặt móng kết tinh là 2,5 - 3,5km [2]

C.I.2.2 3 Các hệ thống đứt gãy chính

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về địa chất [12], địa mạo, địa vật lý, ảnh vệ tinh, photolineament, khe nứt, uốn nếp cho thấy vùng nghiên cứu có mặt của 4 hệ thống đứt gãy chính như sau:

- Nhóm đứt gãy phương Đông Bắc-Tây Nam gồm đứt gãy: Phước Bửu - Tân Xuân - Tân Nghĩa và một số đứt gãy nhỏ ở các khu vực Tân Nghĩa Các đứt gãy này được xác định theo tài liệu địa vật lý, ảnh viễn thám Các kết quả nghiên cứu đặc điểm khe nứt gần đứt gãy có thể ghi nhận được hai pha hoạt động chính của các đứt gãy này: Pha 1 vào Oligocen-Miocen (E3-N1): đứt gãy trượt thuận phải, mặt trượt cắm khoảng 60÷70°về Đông Nam hoặc Tây Bắc; pha 2 vào Pliocen-Đệ tứ (N2-Q): đứt gãy trượt bằng trái với mặt trượt khá dốc hoặc cắm đứng

- Nhóm đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam gồm các đứt gãy: Sông Dinh và đứt gãy Sông Phan Các đứt gãy này được xác định theo tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý, ảnh viễn thám và tài liệu khe nứt Kết quả nghiên cứu khe nứt dọc theo các đứt gãy này cho phép xác định rõ đây là các đứt gãy có 2 pha hoạt động: pha 1 vào Oligocen- Miocen (E3-N1): trượt thuận với mặt trượt cắm khoảng 60÷70° về phía Tây Nam; pha 2 trong giai đoạn Kainozoi muộn (KZ2): trượt bằng trái với mặt trượt thẳng đứng hoặc rất dốc

- Nhóm đứt gãy phương kinh tuyến gồm đứt gãy: Núi Bể - Bình Châu và rất nhiều các đứt gãy nhỏ khác phân bố trong các diện lộ của đá móng trước Kainozoi ở khu vực Tân Nghĩa, Bình Ngãi Các đứt gãy này cũng được xác định theo các tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý, ảnh viễn thám và tài liệu khe nứt Kết quả nghiên cứu khe nứt cho phép xác định 2 loại đứt gãy Loại thứ nhất có 2 pha hoạt động: pha 1 có lẽ vào Creta muộn (K2 ?) đứt gãy hoạt động với tính chất thuận; pha 2 vào Pliocen-Đệ tứ (N2-Q) đứt gãy trượt bằng phải hoặc tách với mặt trượt cắm đứng Loại thứ 2 tuổi cổ hơn (có lẽ vào cuối Jura), chỉ phân bố trong diện lộ của các trầm tích tuổi Jura sớm- giữa, chúng có mặt trượt khá thoải (45÷70°) và thường cắm về phía đông với kiểu trượt nghịch

- Nhóm đứt gãy phương vĩ tuyến được xác định chủ yếu theo các tài liệu địa chất, địa vật lý, ảnh máy bay và tài liệu khe nứt Chúng gồm một số đứt gãy qui mô nhỏ phân bố rải rác ở vùng: Tân Minh, Tân Nghĩa, núi Mây Tào Đây có lẽ là hệ

thống đứt gãy rất trẻ, mới phát sinh và hoạt động trong giai đoạn Kainozoi muộn

Ngày đăng: 11/05/2014, 17:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng thống kê diện tích và dân số trong vùng Nông Sơn  Toàn xã Trong diện tích nghiên cứu Xã Huyện - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 1.1 Bảng thống kê diện tích và dân số trong vùng Nông Sơn Toàn xã Trong diện tích nghiên cứu Xã Huyện (Trang 19)
Bảng 1.2. Thống  kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân [4]. - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 1.2. Thống kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân [4] (Trang 27)
Bảng 1.3: Hiện trạng đường giao thông đến trung tâm xã, thị trấn trong khu vực - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 1.3 Hiện trạng đường giao thông đến trung tâm xã, thị trấn trong khu vực (Trang 29)
Bảng 1.5. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha)  Đơn vị hành chính  1996  1997  2003 - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 1.5. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha) Đơn vị hành chính 1996 1997 2003 (Trang 30)
Bảng 1.6: Biến động diện tích rừng các xã trong khu vực nghiên cứu - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 1.6 Biến động diện tích rừng các xã trong khu vực nghiên cứu (Trang 32)
Bảng 4.3.   Một số nguyên nhân gây trượt lở  Các nguyên nhân địa chất - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 4.3. Một số nguyên nhân gây trượt lở Các nguyên nhân địa chất (Trang 64)
Bảng 4.5. Lưu lượng lũ lớn nhất (Q max ) thời kỳ quan trắc các trạm thủy văn - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 4.5. Lưu lượng lũ lớn nhất (Q max ) thời kỳ quan trắc các trạm thủy văn (Trang 67)
Bảng 4.7: Biến động diện tích đất canh tác huyện Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 4.7 Biến động diện tích đất canh tác huyện Hàm Tân (Trang 75)
Bảng 5.2: Lượng vận chuyển bùn cát dọc bờ do sóng biển - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 5.2 Lượng vận chuyển bùn cát dọc bờ do sóng biển (Trang 95)
Bảng 5.2: Diện tích vùng không an toàn phóng xạ, dân số   và những bệnh thường gặp trong vùng - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 5.2 Diện tích vùng không an toàn phóng xạ, dân số và những bệnh thường gặp trong vùng (Trang 97)
Bảng 5.3. Diện tích vùng không an toàn và vùng kiểm soát phóng xạ,   dân số và những bệnh thường gặp trong vùng Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000
Bảng 5.3. Diện tích vùng không an toàn và vùng kiểm soát phóng xạ, dân số và những bệnh thường gặp trong vùng Hàm Tân (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w