Trong vùng nghiên cứu hệ tầng Đồng Giao phân bố trên một diện rất rộng khoảng 350km2 ở trung tâm vùng nghiên cứu, các thành tạo này hình thành một dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông
Trang 1CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN
6383-1
23/5/2007
HÀ NỘI, 2006
Trang 22
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN
-o0o -
Tác giả: KS Lê Văn Đức, KS Lê Thị Hà,
KS Bùi Quang Hạt, KS Lý Việt Hùng,
Thuộc Đề tài:" Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba
huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa" do TS Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm
Liên đoàn trưởng
TS Đào Mạnh Tiến
Chủ nhiệm chuyên đề
KS Bùi Quang Hạt
HÀ NỘI, 2006
Trang 33
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU - 7
Cơ sở pháp lý - 7
Nhiệm vụ - 7
CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU - 9
I.VÙNG PHONG THỔ - 9
1 Đặc điểm địa lý tự nhiên - 9
1.1 Vị trí địa lý - 9
1.2 Địa hình - 9
1.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối -10
1.4 Khí hậu -10
1.5 Động vật và thực vật -10
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội -11
2.1 Kinh tế, nhân văn -11
2.2 Các hoạt động kinh tế -11
3 Đặc điểm địa chất - khoáng sản -13
3.1 Đặc điểm địa chất -13
3.1.1 Địa tầng -13
3.1.2 Các thành tạo magma -18
3.1.3.Kiến tạo -21
3.2 Đặc điểm khoáng sản -23
3.2.1 Vàng -24
3.2.2 Chì - Kẽm -24
3.2.3 Đất hiếm -24
3.2.4 Vật liệu xây dựng -26
II VÙNG NÔNG SƠN -28
1 Đặc điểm địa lý tự nhiên -28
1.1 Vị trí địa lý, toạ độ -28
1.2 Địa hình, địa mạo -28
1.3 Khí hậu -28
1.4 Thuỷ văn -28
1.5 Động - thực vật -29
1.6 Ảnh hưởng của điều kiện địa lý tới môi trường -29
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội -29
2.1 Phân bố dân cư: -29
2.2 Giao thông -30
2 3 Các hoạt động kinh tế chủ yếu -30
2.3.1 Công nghiệp khai thác khoáng sản -30
2.3.2 Công nghiệp điện năng -31
2.3.3 Nông nghiệp -31
2.3.4 Tiểu thủ công nghiệp. -31
Trang 44
2.4 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã hội -31
3 Đặc điểm địa chất - khoáng sản vùng nghiên cứu -32
3.1 Đặc điểm địa chất -32
3.1.1 Địa tầng -32
3.1.2 Magma xâm nhập -34
3.1.3 Cấu trúc địa chất -35
3.2 Khoáng sản -36
3.2.1 Nhóm mỏ than đá chứa urani: -36
3.2.2 Nhóm mỏ urani: -37
3.2.3 Nhóm mỏ felspat: -39
3.2.4 Nhóm mỏ vật liệu xây dựng -39
3.3 Ảnh hưởng của đặc điểm địa chất - khoáng sản tới môi trường -41
3.3.1 Ảnh hưởng các đặc điểm địa chất tới môi trường -41
3.3.2 Ảnh hưởng của khoáng sản tới môi trường -41
III VÙNG HÀM TÂN -42
1 Vị trí địa lý, tọa độ và diện tích khảo sát -42
2 Đặc điểm địa lý tự nhiên -42
2 1 Địa hình -42
2.3 Khí hậu -44
2.4 Thổ nhưỡng -46
2.5 Động vật và thực vật -46
3 Đặc điểm dân cư, kinh tế xã hội -47
3.1 Dân cư -47
3.2 Giao thông -48
3.3 Khai thác thủy sản -49
3.4 Nông nghiệp -49
3.5 Nuôi trồng thủy sản -50
3.6 Công nghiệp -50
3.7 Sản xuất muối -52
3.8 Du lịch -52
3.9 Chất thải công nghiệp và sinh hoạt -53
4 Đặc điểm địa chất – khoáng sản -54
4.1 Đặc điểm địa chất -54
4.1.1 Địa tầng -54
4.1.2 Magma -59
4.1.3 Kiến tạo -60
4.2 Đặc điểm khoáng sản -61
4.2.1 Nhóm kim loại (Titan - Zircon) -61
4.2.2 Nhóm kim loại quí -63
4.2.3 Nhóm khoáng chất công nghiệp -64
4.2.4 Nhóm nguyên vật liệu xây dựng -64
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG VÙNG HÀM TÂN -68
I VÙNG PHONG THỔ -68
1 Đặcđiểm địa hóa môi trường nước -68
Trang 55
1.1.Đặc điểm môi trường địa hóa trong nước -68
1.2 Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước -68
1.3 Ô nhiễm môi trường -78
2 Đặc điểm địa hóa môi trường trong trầm tích -81
2.1 Đặc điểm môi trường địa hóa trong trầm tích -81
2.2 Đặc điểm địa hoá môi trường các nguyên tố trong trầm tích -81
a Nhóm nguyên tố không tập trung -82
b Nguyên tố tập trung -87
c Nguyên tố tập trung cao -88
2.3 Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi các kim loại -89
II VÙNG NÔNG SƠN -91
1 Đặc điểm địa hóa môi trường trong trầm tích -91
1.1 Đặc điểm môi trường địa hóa trong trầm tích -91
1 2 Đặc điểm địa hoá môi trường các nguyên tố trong trầm tích -92
a Nhóm nguyên tố không tập trung -92
b Nguyên tố tập trung -99
c Nguyên tố tập trung cao -99
2 Đặc điểm địa hóa môi trường các nguyên tố trong nước - 100
3 Ô nhiễm môi trường - 111
3.1 Ô nhiễm môi trường nước bởi các kim loại - 111
3.2 Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi các kim loại - 113
III VÙNG HÀM TÂN - 114
A.VÙNG LỤC ĐỊA - 114
1 Đặc điểm địa hóa môi trường nước - 114
1.1 Đặc điểm môi trường địa hóa trong nước - 114
1.2 Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước - 115
2 Đặc điểm địa hóa môi trường trầm tích - 120
2.1 Đặc điểm môi trường địa hoá trầm tích - 120
2.2 Đặc điểm địa hoá môi trường các nguyên tố trong trầm tích - 121
a Nhóm nguyên tố không tập trung - 121
b Nhóm nguyên tố tập trung - 126
c Nguyên tố tập trung cao - 127
3.Ô nhiễm môi trường - 127
3.1 Ô nhiễm môi trường nước bởi các kim loại - 127
3.2 Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi các kim loại - 130
B VÙNG BIỂN VEN BỜ - 131
1 Đặc điểm địa hóa môi trường trong nước biển - 131
1.1 Đặc điểm môi trường địa hóa trong nước biển - 131
1.2 Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước biển - 131
a Đặc điểm phân bố của các nguyên tố không tập trung - 132
b Đặc điểm phân bố của các nguyên tố tập trung - 136
c Đặc điểm phân bố của các nguyên tố tập trung mạnh - 137
d Đặc điểm các anion trong nước biển - 139
Trang 66
1.3 Ô nhiễm môi trường nước biển bởi các kim loại - 140
2 Đặc điểm địa hóa môi trường trong trầm tích biển - 143
2.1 Môi trường trầm tích - 143
2.2 Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong trầm tích - 144
a Đặc điểm phân bố của các nguyên tố không tập trung - 144
b Đặc điểm phân bố của các nguyên tố tập trung - 147
c Đặc điểm phân bố của các nguyên tố tập trung mạnh - 148
d Đặc điểm phân bố của các anion - 150
2.3 Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi các kim loại - 151
KẾT LUẬN - 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 156
Trang 77
MỞ ĐẦU
Trong công tác nghiên cứu môi trường thì nghiên cứu địa hoá môi trường chiếm một tỉ trọng đáng kể và được thực hiện tại nhiều thành phố, thị xã, vùng dân cư, các khu vực sản xuất và một số vùng mỏ Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu địa chất môi trường, địa chất tai biến đã được các ngành, các cấp quan tâm.Nhà nước đã đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trong cả nước
Nghiên cứu hiện trạng môi trường ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân cũng như ảnh hưởng môi trường phóng xạ đối với dân sinh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, xây dựng và qui hoạch phát triển dân sinh cho phù hợp
Cơ sở pháp lý
- Căn cứ vào Quyết định số 1771/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 28-9-2004 về việc phê duyệt các tổ chức, cá nhân trúng tuyển và chủ trì thực hiện các đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005
- Căn cứ vào Hợp đồng số10/2005/HĐ-ĐTĐL ngày 8/4/2005 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Liên đoàn Địa chất Biển về việc thực hiện nội dung khoa học và kinh phí của đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005
- Căn cứ vào Hợp đồng thuê khoán công việc số 81/HĐ-ĐTĐL-2005/10 ngày 23/8/2005 giữa Liên đoàn Địa chất Biển và Trung tâm Địa hoá và Môi trường Biển về việc xây dựng báo cáo chuyên đề địa hoá môi trường và lập sơ đồ địa hoá môi trường 3 vùng: Hàm Tân, Phong Thổ, Nông Sơn tỷ lệ 1/50.000
Dưới sự chỉ đạo của ông chủ nhiệm đề tài TS.Đào Mạnh Tiến - Liên đoàn trưởng Liên đoàn Địa chất Biển, Trung tâm Địa hoá Môi trường đã tiến hành xử lý kết quả phân tích và thành lập sơ đồ địa hoá môi trường ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân tỷ
lệ 1:50.000
Mục tiêu: có sơ đồ đặc điểm địa hoá môi trường ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn
và Hàm Tân tỷ lệ 1/50.000
Nhiệm vụ
- Nghiên cứu đặc điểm môi trường địa hoá: pH, Eh, trong trầm tích ba vùng
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước: B, Br, I, P, Cu, Mn, Cd,
Sb, Hg, đặc biệt là As, Pb, U, Th
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố các ion trao đổi hấp thụ trong trầm tích: As, Cd,
Hg, Sb, Cu, Zn, U, Th …và mối tương quan giữa đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước và ion trao đổi, hấp thụ trong trầm tích
- Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước, ion trao đổi hấp thụ trong trầm tích và đối chiếu với các tiêu chuẩn ô nhiễm, có thể đưa ra nhận xét về mức độ, vị trí có tiềm năng ô nhiễm nước và trầm tích
Sản phẩm giao nộp
1 Sơ đồ địa hoá môi trường trong nước ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân tỷ lệ 1:50.000
Trang 88
2 Sơ đồ địa hoá môi trường trong trầm tích ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân tỷ lệ 1:50.000
3 Báo cáo thuyết minh
4 Kết quả các loại mẫu phân tích
Thời gian thực hiện: theo kế hoạch: từ tháng 11 năm 2005đến tháng 6 năm 2006
Kinh phí thực hiện đề tài: 7.000.000 đồng
Trong quá trình xử lý kết quả viết báo cáo tổng kết tập thể tác giả chuyên đề đã nhận được sự chỉ đạo sát sao, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi của lãnh đạo
Bộ Khoa học Công nghệ, lãnh đạo Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, chủ nhiệm đề tài TS.Đào Mạnh Tiến và các bạn đồng nghiệp gần xa
Tập thể tác giác xin chân trọng cảm ơn những sự chỉ đạo và giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2006
TM TẬP THỂ TÁC GIẢ
Bùi Quang Hạt
Trang 99
CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI
TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU I.VÙNG PHONG THỔ
1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Vùng nghiên cứu thuộc các huyện Phong Thổ, Tam Đường và một phần của thị xã Lai Châu mới Phía Bắc vùng tiếp giáp với Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp với huyện Sìn Hồ, phía Đông giáp với huyện Bát Xát-tỉnh Lào Cai
Vùng được giới hạn bởi tọa độ:
Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần trùng với phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía Đông Nam địa hình thấp dần Địa hình bị bào mòn và phân cắt bởi hệ thống sông suối có phương Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia ra các mức địa hình như sau:
Địa hình núi cao trên 1500m: Phân bố ở phía Đông Bắc (sườn Tây Fan Si Pan) có nhiều vách đá hiểm trở
Trang 10Địa hình cao nguyên và karst: Phân bố ở nhiều vị trí trong phạm vi vùng nghiên cứu, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên đá vôi Lang Nhị Thang, Tà Phìn, Sìn Hồ và phía Tây Nam Phong Thổ
1.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối
Vùng nghiên cứu có 2 mạng lưới sông suối chính sau:
Hệ thống Tây Bắc - Đông Nam: thường trùng với các đứt gãy lớn với lòng rộng, ít thác ghềnh, thuyền và canô có thể đi lại được như Nậm Na, Nậm So, Nậm Mạ
Hệ thống Đông Bắc - Tây Nam và á vĩ tuyến: thường cắt phương cấu trúc địa chất, các suối này thường ngắn, lòng hẹp, dốc, lắm thác như Than Theo Ho, Nậm Se, Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban
Đặc điểm chung của hệ thống sông suối này là hẹp và dốc (độ dốc trung bình từ 30-500) có nhiều thác, tiết diện chung của lòng suối thường có dạng chữ “V” Lưu lượng dòng chảy thay đổi theo từng mùa rõ rệt (mùa khô lưu lượng nước ít, mùa mưa lưu lượng nước lớn, chảy xiết, tốc độ dòng chảy mạnh gây lũ quét, gây khó khăn cho công tác thực địa)
1.4 Khí hậu
Khu vực nghiên cứu có khí hậu đặc trưng của vùng núi cao, tuy nhiên vẫn mang đặc tính chung của khí hậu gió mùa chí tuyến Khí hậu vùng nghiên cứu có thể chia làm hai mùa rõ rệt:
Mùa khô: Từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau: nhiệt độ thấp trung bình 10-150Cnhiệt độ có khi xuống tới 1-20C, độ ẩm không khí thấp Nhiệt độ thấp nhất trong năm là vào tháng 12 và tháng Trong mùa khô thường xảy ra những hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối vào các tháng 1 và 2 (Sìn Hồ, vùng cao huyện Phong Thổ) Gió
và dông thường xảy ra vào những ngày nóng và khô (tháng 3 và 4), mưa đá xuất hiện vào cuối mùa khô
Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 9 , nhiệt độ trung bình 20-250C,nhiệt độ có khi lên tới trên 300C Tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến tháng
8 (chiếm 65-75% lượng mưa trong năm) Độ ẩm trung bình trên 80% Thường vào đầu mùa mưa, mưa to kèm gió lốc và thỉnh thoảng có mưa đá còn những trận mưa cuối mùa thường là mưa nhỏ nhưng kéo dài triền miên
1.5 Động vật và thực vật
Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát triển chủ yếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng núi đá vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ quý (lát, dổi, sa mu ) đến các loại cây thân đốt, leo
Trang 1111
Động vật tập trung khá nhiều loại từ các thú dữ như hổ, báo, gấu, cho đến các loại khác như hươu, nai, lợn rừng, khỉ, trăn chúng thường sống ớ các sườn núi cao, rừng rậm nhưng hiện nay do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và các loại gỗ quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm có số lượng giảm hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1 Kinh tế, nhân văn
Dân cư: Vùng nghiên cứu thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, dân cư thưa thớt,
mật độ dân cư phân bố không đồng đều, tập trung thành những bản nhỏ dọc các con suối, khe hẻm, thung lũng giữa núi Các điểm dân cư tập trung đông đúc là thị xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường
Dân cư vùng nghiên cứu gồm nhiều dân tộc chung sống như Lừ, H'mông, Cùi Chu, Dao, Dáy, Hà Nhì, Lô Lô, Mảng, Thái, Thổ, Nhắng, Kinh Mật độ dân số 69 người/km2
Trong những năm gần đây, hầu hết các xã trong huyện đều có trường cấp 1, phần lớn thanh niên trong vùng đã biết đọc, biết viết và nói tiếng phổ thông Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường đã có trường cấp 2, cấp 3 Trạm y tế đã được xây dựng phục vụ việc khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng nhưng số lượng còn ít Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường đã có điện lưới quốc gia, một số nơi có máy phát điện hoặc thuỷ điện nhỏ phục vụ sinh hoạt Nhờ có điện đời sống văn hoá ngày càng được nâng cao Tuy nhiên ở các bản làng xa xôi hẻo lánh người dân còn gặp nhiều khó khăn Đồng bào dân tộc ít người còn nhiều người mù chữ, tệ nạn, mê tín dị đoan còn phổ biến Nhìn chung trình độ dân trí và trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp hơn so với các địa phương khác trong cả nước
2.2 Các hoạt động kinh tế
Nông nghiệp: Trên 80% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
Diện tích lúa nương chiếm tỷ trọng lớn xấp xỉ 55% diện tích nông nghiệp, một năm trồng
1 vụ, ngoài ra còn trồng các loại nông sản phụ khác như ngô, sắn, đậu nhưng do diện tích đất trồng trọt hẹp nên kết quả thu hoạch không cao Nghề chăn nuôi trong vùng đang được chú ý Thị trấn Tam Đường đã có các nông trường, lâm trường quốc doanh (trồng chè, nuôi bò sữa)
Lâm nghiệp: Trong vùng đang triển khai chương trình giao đất lâm nghiệp để
trồng các loại cây lấy gỗ, gây lại các diện tích rừng đã bị khai thác và chặt phá
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong vùng nghiên cứu chưa phát triển mạnh
Ở thị trấn Phong Thổ có vài cơ sở sản xuất thủ công, chủ yếu là sản xuất và sửa chữa công cụ thô sơ phục vụ sản xuất nông nghiệp Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường có các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như chế biến lâm sản, xí nghiệp điện máy,
xí nghiệp cơ khí
Du lịch: Vùng nghiên cứu là một khu vực có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, giàu
tiềm năng du lịch Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục tập quán vẫn nguyên sơ có thể triển khai các tuyến du lịch sinh thái để đón du khách trong và ngoài nước
Trang 1212
Khai thác khoáng sản:
Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã được nhiều đơn vị khai thác quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên, tuyển quặng bằng phương pháp thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam Đường, Phong Thổ chờ chuyển đến các đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản
Khu mỏ Thèn Sin-Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh với các mạch vàng gốc có chứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ Những năm gần đây dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng gây ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng này Hiện nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự do này
Hoạt động khai thác khoáng sản (quặng fluorit, đất hiếm, vàng ) trong vùng thiếu quy hoạch đã làm thay đổi môi trường sinh thái và cân bằng tự nhiên: rừng đầu nguồn bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, hàng năm gây ra lũ ở vùng hạ nguồn của các dòng sông, đặc biệt ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong vùng
Giao thông: vùng nghiên cứu được nối với vùng khác của miền Bắc bởi các tuyến đường chính sau:
Hệ thống đường ôtô:
Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai - Sa Pa – Tam Đường (500km)
Hà Nội – Tuần Giáo – Lai Châu – Tam Đường (600km)
Hệ thống đường sắt :
Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai (từ Lào Cai đi ôtô đến Sa Pa – Tam Đường)
Hệ thống đường thuỷ: Sông Hồng đóng vai trò là tuyến giao thông nối liền khu vực miền núi Tây Bắc với miền xuôi
Ngoài các tuyến đường chính còn có các tuyến đường Phong Thổ-Dao San, Phong Thổ-Then Sin-Tam Đường, Phong Thổ-Mường So, dọc sông Nậm Na, Sìn
Hồ nhưng việc đi lại trong vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, đường mòn chật hẹp, khá dốc, di chuyển chủ yếu bằng ngựa hoặc đi bộ Về mùa mưa, đường trơn, lầy lội rất khó khăn trong việc đi lại Tuy nhiên từ các mỏ (Nậm Xe, Đông Pao) tới thị trấn, thị xã trong vùng việc đi lại dễ dàng hơn do được nối liền bởi đường đất, ôtô có thể đi lại được
Đường thuỷ có con sông Nậm Na chạy dọc phía Tây, sông Nậm Ma chạy dọc phía Đông vùng nghiên cứu
Còn nhiều xã chưa có đường ô tô xuống trung tâm xã Sự xuống cấp của hệ thống giao thông vận tải cùng với sự lạc hậu của mạng lưới thông tin bưu điện, bưu chính viễn thông, hệ thống cấp điện, cấp nước đang là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế của vùng nghiên cứu Tuy nhiên hiện nay một số tuyến đường giao thông quan trọng đã được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè - Bom Lót - Suối Lư
Tóm lại: đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng nghiên cứu tương đối
thuận lợi cho việc phát triển các ngành lâm nghiệp, du lịch.Tuy nhiên, điều kiện địa hình núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, đời sống kinh tế và văn hoá còn thấp sẽ ảnh
Trang 1313
hưởng không nhỏ đến công tác thực địa Hàng năm, tshời gian tổ chức khảo sát thực địa
thuận lợi nhất là vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 4)
3 Đặc điểm địa chất - khoáng sản
3.1 Đặc điểm địa chất
3.1.1 Địa tầng
Trên diện tích vùng nghiên cứu phân bố rộng rãi các thành tạo trầm tích phun trào với thành phần đa dạng được hình thành từ Proterozoi đến Kainozoi Chúng bao gồm các phân vị sau
GIỚI PROTEROZOI, THỐNG HẠ - TRUNG
1 Hệ tầng Suối Chiềng (PR sc 2 )
Nguyễn Xuân Bao (1969) đã xác lập và mô tả hệ tầng Suối Chiềng theo mặt cắt điển hình tại Suối Chiềng Hệ tầng phân bố ở Đông Nam vùng nghiên cứu tạo thành một dải hình thước thợ kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Thành phần mặt cắt và đặc điểm biến chất các đá của hệ tầng ít thay đổi theo đường phương và đồng đều trên diện tích phân bố Hệ tầng Suối Chiềng được chia làm 2 tập nhưng vùng nghiên cứu chỉ lộ ra
tập 2 (PRsc 2): thành phần của tập 2 gồm: đá phiến biotit-epidot-sphen, amphibolit-epidot, xen những lớp mỏng đá phiến felspat thạch anh mica và đá phiến hai mica
2 Hệ tầng Sinh Quyền (PR 1-2 sq).
Hệ tầng Sinh Quyền do Tạ Việt Dũng và những người khác xác lập năm 1963 Trong vùng nghiên cứu hệ tầng này lộ ra thành một dải liên tục ở phía Bắc-Đông Bắc vùng nghiên cứu có chiều dài khoảng 25km, chiều rộng khoảng 2-2,5km Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng là các đá xâm nhập thuộc phức hệ Ye Yen Sun và phía Tây Nam là đứt gẫy sâu Bản Lang - Nậm Xe (F11) Thành phần đất đá của hệ tầng được mô tả từ dưới lên như sau:
- Phần dưới gồm plagiogneis, amphibol-biotit; amphibolit, đá phiến thạch anh felspat mica, các đá bị ép, phân phiến, cấu tạo dải và dạng gneis, đôi chỗ có migmatit Các đá thuộc phần dưới của hệ tầng thường cắm về phía Tây Nam Chiều dày của phần dưới đạt tới 150m
- Phần giữa: là các đá gneis biotit, plagiogneis hai mica, đá phiến thạch anh felspat mica, xen các lớp mỏng amphibolit biotit Nhìn chung đá có màu xám, xám sáng, cấu tạo dải, dạng gneis, chúng cắm về phía Tây Nam, dốc 500-700, chiều dày đạt 450m
- Phần trên phân bố rải rác dọc theo bờ phải suối Nậm Xe và ở phía Đông Nam bản Nậm Xe gồm đá phiến mica, đá phiến sericit, đá vôi bị hoa hóa màu rất trắng, phân lớp dày, các lớp quarzit biotit màu xám nâu phân lớp mỏng từ một vài mm đến 5-10cm, ở phía Đông Nam Nậm Xe các lớp quarzit bị uốn nếp rất đẹp, chiều dày của phần trên tới 350m Tổng chiều dày của hệ tầng là 950m
GIỚI PALEOZOI
HỆ DEVON
HỆ DEVON THỐNG HẠ - TRUNG
3 Hệ tầng Bản Páp (D 1-2 bp)
Trang 1414
Hệ tầng Bản Páp do Nguyễn Xuân Bao và n.n.k xác lập (1969) Các thành tạo thuộc hệ tầng lộ ra ở hai khu vực phía Bắc và phía Tây vùng nghiên cứu (Đông Bắc-Đông Nam Bản Lang và phía Tây Nam bản Nậm Pập) Đặc điểm mặt cắt của hệ tầng được chia thành 2 tập:
- Tập 1: đá vôi hạt nhỏ màu xám đen phân lớp mỏng xen các lớp đá vôi silic, đá vôi chứa sét khi phong hoá có màu vàng nâu, dày 260m
- Tập 2: đá vôi kết tinh màu xám đến xám sáng, phân lớp dày kẹp giữa là lớp đá vôi silic màu xám đen Đá vôi màu xám đến xám sáng bị hoa hoá yếu, dày 200m
HỆ PERMI
HỆ PERMI THỐNG HẠ-TRUNG
Loạt Bản Diệt: các trầm tích Loạt Bản Diệt do Tô Văn Thụ xác lập và mô tả (1996) trên cơ sở hệ tầng cùng tên của Phan Cự Tiến (1977) với hai hệ tầng chuyển tiếp là hệ tầng Si Phay (P1-2sp) và hệ tầng Na Vang (P2nv)
- Đá phiến màu xám đen gồm vật chất hữu cơ xen ít đá phiến silic, bột kết, cát kết
và đá phiến sét có các vẩy nhỏ muscovit,
- Đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, cát kết đa khoáng
- Đá phiến sét vôi, sét vôi và thấu kính đá vôi
- Đá phiến sét màu đen xen bột kết
Chiều dày tập 1 đạt tới 490m
+ Tập 2:
- Đá phiến sét silic màu đen
- Đá phiến sét màu đen, xen ít bột kết màu xám đen
- Đá phiến sét silic phân lớp mỏng cấu tạo dải màu nâu, nâu xẫm Các tập đá này chuyển tiếp lên hệ tầng Na Vang Chiều dày tập 2 đạt tới 220m
Trang 1515
Hệ tầng Viên Nam do Phan Cự Tiến xác lập năm 1975
Các thành tạo phun trào mafic trong vùng tương đương với hệ tầng Viên Nam có tuổi Permi muộn –Trias sớm đã được Bùi Phú Mỹ phân chia (1978) Chúng phân bố rộng
ở trung tâm vùng nghiên cứu, từ bản Khoang Thèn, Vàng Pheo đến Van Hồ, Đông Phong thành một dải dài nằm theo phương Tây Bắc - Đông Nam và có đặc điểm cấu trúc giống nhau Thành phần mặt cắt tại đây gồm: đá bazan, bazan olivin, bazan hạnh nhân và andezitrachyt Chúng được chia làm hai phần:
- Phần dưới là bazan hạnh nhân, bazan olivin, và các lớp tuf của chúng
- Phần trên chủ yếu là bazan dạng khối màu xám đen, không thấy có cấu tạo hạnh nhân, mà phổ biến là cấu tạo định hướng và có kiến trúc porphyr Chiều dày tầng 1000m
HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC OLENEC
7 Hệ tầng Tân Lạc (T 1 otl)
Hệ tầng Tân Lạc do Phan Cự Tiến phân chia (1977) Các thành tạo thuộc hệ tầng phân bố ở trung tâm vùng nghiên cứu thành 3 dải kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam nằm ở các khu vực Đông Bắc huyện lỵ Phong Thổ, khu trung tâm cao nguyên Lang Nhị Thang và Đông Nam khu mỏ Đông Pao Các đá thuộc hệ tầng gắn liền với hệ tầng Đồng Giao Tại đây mặt cắt của hệ tầng lộ không đầy đủ, đặc biệt các lớp thuộc phần dưới của hệ tầng không quan sát được.Thành phần mặt cắt hệ tầng gồm:
- Dưới là đá phiến sét, bột kết chứa vôi màu xám xanh, vàng nhạt
- Trên là đá vôi xen kẽ với các đá phiến sét vôi màu xám, chúng chuyển tiếp lên đá vôi phân lớp dày của hệ tầng Đồng Giao Chiều dày hệ tầng 410m
HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC ANISI
8 Hệ tầng Đồng Giao (T 2 adg)
Các đá vôi, vôi sét thuộc hệ tầng Đồng Giao được Jmoniida A.I., Phạm Văn Quang mô tả (1965) Trong vùng nghiên cứu hệ tầng Đồng Giao phân bố trên một diện rất rộng (khoảng 350km2 ) ở trung tâm vùng nghiên cứu, các thành tạo này hình thành một dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam phủ trên toàn bộ diện tích của cao nguyên Lang Nhị Thang Thành phần mặt cắt đặc trưng của hệ tầng là các đá carbonat gồm 2 tập:
- Tập 1: đá vôi, đá sét vôi phân lớp mỏng, đôi chỗ là đá phiến carbonat, sericit và
đá vôi sét có màu xám đến xám đen, hạt mịn có chứa silic
- Tập 2: đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, màu xám đến xám sáng ít nhiều bị đolomit hóa ở mức độ khác nhau Tổng chiều dày của hệ tầng ở đây đạt 850m
HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC LADIN
9 Hệ tầng Mường Trai (T 2 lmt)
Hệ tầng Mường Trai do Trần Đăng Tuyết xác lập (1977) Hệ tầng phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu có dạng dải hẹp, kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam với chiều rộng khoảng 1km từ bản suối Thầu, Sữ Thàng, Thèn Thẩu đến bản Nà Sẳng Thành phần mặt cắt gồm: cát kết tuf, bột kết, đá sét vôi, đá phiến sét và
đá vôi Đặc điểm thạch học của hệ tầng ở mặt cắt bản Bầu Ban gồm:
- Phần dưới là đá phiến sét xen kẹp các lớp hoặc thấu kính đá vôi và các lớp mỏng cát kết, dày 350m-400m
Trang 1616
- Phần trên gồm: đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, chiều dày 300-460m
Hệ tầng Mường Trai phủ trực tiếp không chỉnh hợp trên hệ tầng Viên Nam (T1i
vn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các thể xâm
Thành phần gồm: đá phiến sét màu đen xen các lớp mỏng bột kết và cát kết hạt nhỏ màu xám có chứa các dạng Pelecpoda phổ biến ở Carni Hệ tầng Nậm Mu tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Suối Bàng và bị xuyên cắt bởi các thể magma phức hệ Pu Sam Cap, phức hệ Nậm Xe-Tam Đường
HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC NORI-RET
11 Hệ tầng Suối Bàng (T 3 n-rsb)
Do Dovjikov A.E và n.n.k xác lập (1965) Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối Bàng phân bố ở phía Tây Bắc và Đông Nam vùng Thành 2 dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Dải Tây Bắc thuộc phía Đông Bắc - Tây Nam bản Huổi Luông Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là đến bản Nậm Đích Mặt cắt của hệ tầng gồm hai tập:
- Tập 1: đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết Chiều dày quan sát được 260m
- Tập 2: được phân biệt với tập 1 do có sự gia tăng của cát kết trong thành phần mặt cắt Bao gồm: cát kết xen kẽ cát bột kết và đá phiến sét than màu xám đen
Hệ tầng Suối Bàng có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng Nậm Mu, hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Đồng Giao và bị các thể xâm nhập phức hệ Nậm Xe- Tam Đường, đá mạch minet phức hệ Pu Sam Cap xuyên cắt
HỆ CRETA THỐNG THƯỢNG
12 Hệ tầng Yên Châu (K2yc)
Hệ tầng Yên Châu do Nguyễn Xuân Bao và Từ Lê xác lập năm 1964 Hệ tầng phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu thành một dải rộng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng giáp với hệ tầng Đồng Giao Hệ tầng được chia thành 3 tập Thành phần thạch học gồm:
- Tập 1: cuội kết, sỏi kết đa khoáng, phân lớp dày đến dạng khối, thành phần chủ yếu là thạch anh, xen ít là cát kết dạng quarzit và phiến silic, chuyển lên trên là sạn kết, cát kết thạch anh màu xám vàng, chứa cuội hoặc những ổ hay thấu kính cuội kết đa khoáng màu xám vàng Trên cùng là cát kết hạt thô màu xám sáng phân lớp dày đến dạng khối, thường phân lớp xiên, thỉnh thoảng xen lớp mỏng cát bột kết màu xám, dày 500m
- Tập 2: bột kết màu nâu đỏ phân lớp trung bình đến dày, có các mạch ổ nhỏ thạch cao, xen kẽ với cát kết hạt vừa màu vàng nhạt, phân lớp trung bình, dày 380m
Trang 1717
- Tập 3: cuội dăm vôi, cuội kết vôi, hoặc cuội tảng kết vôi, thành phần chủ yếu là
đá vôi của hệ tầng Đồng Giao, một phần là cát kết dạng quarzit, xen trong cuội kết thỉnh thoảng gặp cát kết, sạn kết hạt thô màu đỏ nhạt, dày 400m
HỆ PALEOGEN
13 Hệ tầng Pu Tra (Ept)
Hệ tầng Pu Tra được Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao xác lập (1989), trên cơ sở quan sát mô tả của Bùi Phú Mỹ (1971) Các đá của hệ tầng lộ ra ở Đông Nam vùng nghiên cứu thành hai khối, thuộc khu vực bản Sin Câu, một khối nhỏ lộ ra
ở bản Thẳm.Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết
và tuf tảng có thành phần là đá phun trào trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr với chiều dày khoảng 350m
14 Trầm tích Pleistocen trung (aQ 1 2 )
Trầm tích Pleistocen trung (aQ12), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng khá rộng ở vùng bản Mường Mới Thành phần trầm tích từ dưới lên trên gồm: cuội, sỏi, cát, tảng, ít cát bột Thành phần đa khoáng, chiều dày 2-3m
15 Trầm tích Pleistocen thượng (aQ 1 3 )
Trầm tích Pleistocen thượng (aQ13), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng tương đối rộng ở vùng bản Mường Mới, Vàng Bâu, Thành phần trầm tích gồm: cuội, cát, tảng Thành phần đa khoáng, chiều dày 1-2m
TRẦM TÍCH PLEISTOCEN
16 Trầm tích Holocen, hạ-trung (aQ 2 1-2 )
Trầm tích Holocen, hạ-trung (aQ21-2), có nguồn gốc sông, phân bố thành các bậc thềm, thềm cao và phát triển nơi đoạn vách thung lũng mở rộng Như ở phía Tây Nam bản Mường Mới Thành phần trầm tích gồm:
- Các tích tụ dọc thung lũng suối đều thể hiện 2 phần: dưới là tuớng lòng sông, trên là tướng bãi bồi mịn hơn, mặt cắt thường có 2 phần:
+ Dưới là cuội sỏi, cát lẫn đá tảng, không gắn kết
+ Trên là cát sạn, sét màu xám vàng
17 Trầm tích Holocen thượng ( a,apQ 2 3 )
Trầm tích Holocen thượng (a,apQ23), có nguồn gốc sông, sông lũ phân bố thành các bãi bồi, thềm thấp và phát triển nơi đoạn thung lũng mở rộng, cát bồi trũng lòng chảo karst chiều rộng khoảng 500m và dài tới 2-3km Như ở thung lũng bản Vàng Bâu - Bản Hồng Ngài, bản Giang và dọc suối Nậm So Thành phần trầm tích gồm: cuội, tảng, sạn, cát, bột, sét màu xám vàng, chiều dày từ 1-5m
Trang 1818
3.1.2 Các thành tạo magma
Theo kết quả khảo sát nghiên cứu của các nhóm tờ bản đồ 1:50.000 (nhóm tờ Lào Cai và Phong Thổ) đã xác định được sự có mặt của 8 phức hệ magma có tuổi từ Paleozoi giữa đến Kainozoi Ngoài ra còn tồn tại một số thành tạo magma xâm nhập ở dạng đai mạch chưa xác định được thời gian thành tạo (bảngIII.)
Thành tạo xâm nhập Paleozoi giữa
Các thành tạo thuộc phức hệ phân bố thành một khối nhỏ ở ngọn Suối Nậm Che phía Đông Nam vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 8km2 (khối Chu Va) Thành phần chủ yếu là: granit kiềm, ít hơn là granosyenit kiềm, syenit kiềm và syenitodiorit
Thành tạo xâm nhập Creta
2 Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (Rp/Knt)
Phức hệ do Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Cự Tiến xác lập (1977) và được đề cập đến trong nhiều công trình của các tác giả khác (Đào Đình Thục 1980, )
Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa, chủ yếu là ryolit, porphyr
Phức hệ núi lửa Ngòi Thia phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu thành dải không liên tục, kéo dài khoảng 20 km từ Bắc Bình Lư đến Thân Thuộc theo phương Tây Bắc - Đông Nam với diện tích khoảng 18 km2 Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Mường Trai (T2lmt) bởi đứt gãy chính Bình Lư - Thân Thuộc Phía Đông Bắc
phức hệ có quan hệ không rõ ràng với granitoid á núi lửa của phức hệ Phu Sa Phìn (GP-
SyP/Kpp) và được vẽ quan hệ xuyên cắt giả định
Thành phần thạch học của phức hệ chủ yếu là ryolit porphyr, chiếm khoảng 95% diện tích phân bố Các đá còn lại chỉ chiếm khoảng 5% diện tích và gồm có: porphyr thạch anh, ryodacit, tuf ryolit Quan hệ giữa các đá trên mang tính phân dị
Phức hệ núi lửa Ngòi Thia trong vùng bao gồm ba tướng đá:
+ Tướng phun nổ: có diện phân bố hẹp (khoảng 2% diện tích) và chỉ gặp một
diện nhỏ ở khu vực Huổi Ke với thành phần là tuf của ryolit
+ Tướng phun trào: chiếm khoảng 70% diện tích và phân bố ở phía Tây Bắc của
dải đá, bao gồm các đá ryolit porphyr và ryodacit porphyr với lượng ban tinh trong đá chiếm 3-14%
+ Tướng á núi lửa: chiếm khoảng 28% diện tích và phân bố ở phía Đông Nam
của dải, bao gồm các đá ryolit porphyr và porphyr thạch anh với lượng ban tinh trong đá 18÷37% Các thành tạo này phần lớn tạo nên các thể lấp đầy khe nứt và trồi lên trên mặt dưới dạng các vòm nghiêng và nằm dọc theo đứt gãy Trong các đá này có chứa các nguyên tố phóng xạ như (K, U, Th)
Thành tạo xâm nhậpTriat
3 Phức hệ Ba Vì (Gb/T 1 bv)
Trong hệ tầng Viên Nam Phức hệ Ba Vì lộ ra thành sáu chỏm nhỏ phân bố với diện tích khoảng 0,3km2, ở gần trung tâm vùng nghiên cứu Thành phần gồm: gaborodiabas, gabro Trong các đá này hàm lượng các nguyên tố chứa phóng xạ thấp
4 Phức hệ Phu Sa Phìn (G p -Sy p /Kpp)
Trang 1919
Phức hệ Phu Sa Phìn được Izokh E.P (1965) phân chia bao gồm các đá xâm nhập
á núi lửa, các đá thuộc phức hệ núi lửa phân bố trong vùng nghiên cứu thuộc phần Tây Bắc của khối Nậm Khế - Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110 km2 Phía Tây Nam khối được vẽ giả định xuyên cắt các thành tạo núi lửa phức hệ Ngòi Thia (RP/Knt) Phía Đông Bắc khối có quan hệ kiến tạo với granitoid phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys) Trong
granit phức hệ Ye Yen Sun còn có chứa thể tù syenit porphyr phức hệ Phu Sa Phìn Bên trong khối có nhiều khối nhỏ và các thân dạng tường syenit kiềm, granosyenit kiềm của
phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent), granit biotit hạt nhỏ, đá mạch granit aplit
của phức hệ Ye Yen Sun Ngoài ra xung quanh khối còn có quan hệ kiến tạo với phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh), hệ tầng Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Viên Nam (T1vn), hệ tầng
Mường Trai (T2lmt) Thành phần thạch học của khối gồm: syenit porphyr, granosyenit
porphyr, syenit porphyr thạch anh, granit dạng porphyr, granit granophyr, granit felspat kiềm Một phần các đá của phức hệ kết tinh tương đối đều hạt, không có kiến trúc porphyr Quan hệ giữa các đá trong khối mang tính phân dị, chuyển tiếp từ syenit qua các
đá trung gian là syenit thạch anh và granosyenit đến granit felspat kiềm
Thành tạo xâm nhập Paleogen
5 Phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys)
Phức hệ Ye Yen Sun do Izokh E.P Thành lập (1965) các thành tạo thuộc phức hệ phân bố trên toàn bộ Đông Bắc vùng nghiên cứu đây là phần rìa Tây Nam của thể batonit rất lớn của sườn Đông dãy Fan Si Pan với diện tích thuộc vùng nghiên cứu khoảng 130km2 Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng (PRsc),
phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh), phức hệ Phu Sa Phìn (GP- SyP/Kpp) và quan hệ kiến
tạo với hệ tầng Na Vang (P2nv), hệ tầng Si Phay (P1-2sp), hệ tầng Viên Nam (T1 ivn), phức
hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent) Phía Đông Bắc phức hệ có quan hệ xuyên cắt với
hệ tầng Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Bản Páp (D1-2bp), phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh)
Trong khối Ye Yen Sun còn gặp các thể syenit kiềm, granit kiềm phức hệ Nậm Xe-Tam
Đường (aG-aSy/Ent)
Nhìn tổng thể trong khối nhận thấy ở trung tâm khối đá thường kết tinh hạt vừa, còn rìa khối đá kết tinh hạt nhỏ Các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và granit pegmatit xuyên căt các đá trong khối và hầu hết các thành tạo vây quanh Phức hệ Ye Yen Sun được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha1: granit biotit, granit biotit-amphibol và các đá lai tính granodiorit, granosyenit, syenit
- Pha 2: các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và granit pegmatit
6 Phức hệ Nậm Xe-Tam Đường (aG-aSy/Ent)
Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường do Izokh E.P phân chia (1965) Các thân xâm nhập của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường có kích thước nhỏ hơn 2 km2 phân bố chủ yếu ở nửa Đông Nam của vùng nghiên cứu (gồm 10 khối nhỏ với diện tích 10,5 km2) Chúng thường có dạng khối nhỏ hoặc đai mạch xuyên cắt các đá granitoid phức hệ Ye
Yen Sun (G/Eys), phức hệ Phu Sa Phìn (GP- SyP/Kpp) hoặc các trầm tích lục nguyên, lục
Trang 20Các thể xâm nhập nhỏ của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường phát triển dọc theo các đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và dọc các đứt gãy giữa các trầm tích Trias từ Tam Đường qua Bình Lư đến Thân Thuộc các thân xâm nhập kiềm phân bố trong các thung lũng kín hẹp
7 Phức hệ Pu Sam Cap (aSy p /Epc):
Phức hệ Pu Sam Cap do Izokh E.P thành lập năm 1965 Trong vùng nghiên cứu phức hệ Pu Sam Cap gồm các khối bản Suối Thầu, Tam Đường, Đông Pao và các đai mạch, thể tường minet với tổng diện tích phân bố khoảng 12,7 km2
Quan hệ giữa các khối với đá vây quanh như sau: khối Đông Pao xuyên cắt và gây hoa hoá đá vôi hệ tầng Đồng Giao (T2a đg), khối Tam Đường xuyên cắt và gây sừng hóa
các đá phiến sét và cát kết hệ tầng Suối Bàng (T3n-r sb) Các đá syenittoid của phức hệ Pu
Sam Cap luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf của chúng
Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây Bắc, vùng nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng bao gồm từ minet, shonkinit, syenit aplit đến bostonit Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức hệ
Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cap, phun trào của hệ tầng Pu Tra và các phân vị địa tầng tuổi Mesozoi từ Trias đến Creta có mặt trong vùng
Phức hệ Pu Sam Cap được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha 1 gồm 2 tướng:
+ Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr
+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh
- Pha 2: các đá mạch minet, shonkinit, syenit aplit và bostonit
Các thành tạo quặng đất hiếm phóng xạ có quan hệ mật thiết với phức hệ Pu Sam Cap, toàn bộ hệ thống mỏ Đông Pao nằm trên khối Bản Thẳm
8 Phức hệ Phong Thổ (aSy/Ept)
Phức hệ Phong Thổ được Bùi Minh Tâm và Tô Văn Thụ xác lập khi đo vẽ và thành lập nhóm tờ bản đồ Phong Thổ bao gồm các đai mạch minet, shonkinit, cocit Các mạch cacbonatit, đai cơ và xâm nhập dạng họng nhỏ có thành phần từ mafic – trung tính kiềm kali có thể tương ứng với kiểu lamproid thấp titan, cao nhôm kiểu Địa Trung Hải Phân bố rải rác trong hệ tầng Viên Nam, Si Phay và dọc theo suối Nậm So Chúng được phân chia thành hai nhóm chính:
- Nhóm lamproid : các đá mafic, trung tính cao magie và kali
- Nhóm cacbonatit
9 Thành tạo xâm nhập chưa rõ tuổi:
Ngoài những phức hệ nêu trên và những đai mạch đã xác định được tuổi, còn một
Trang 2121
số đá mạch xâm nhập chưa rõ tuổi như đai mạch lamprophyr (L) Diện phân bố chủ yếu ở gần trung tâm vùng nghiên cứu Các thể xâm nhập này thường có dạng khối nhỏ kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam thậm chí còn có hình dạng tựa như thấu kính chúng xuyên cắt các đá biến chất của hệ tầng Sinh Quyền và hệ tầng Viên Nam, đôi lúc chúng còn có quan hệ kiến tạo với một số phân vị khác Ranh giới giữa xâm nhập này và đá vây quanh không rõ ràng
3.1.3.Kiến tạo
Trên cơ sở tổng hợp tài liệu điều tra lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 của 2 nhóm
tờ Lào Cai và Phong Thổ liên quan đến diện tích vùng nghiên cứu có kết hợp với các tài liệu nghiên cứu cấu trúc khu vực của các nhà địa chất khác đã xác lập các đới kiến trúc và
hệ thống đứt gãy trong vùng Vùng nghiên cứu gồm hai đới kiến trúc Mỗi đới kiến trúc được cấu thành bởi các tổ hợp thạch kiến tạo (THTKT) Mỗi THTKT được hình thành trong bối cảnh kiến tạo riêng
1 Các đới kiến trúc
Vùng nghiên cứu thuộc miền kiến tạo Tây Bắc bao gồm một phần diện tích của 2 đới kiến trúc lớn là đới Fan Si Pan và đới Sông Đà Các đứt gãy sâu là ranh giới phân chia giữa hai đới Trong đó đới sụt lún Sông Đà được lấp đầy trầm tích lục nguyên và carbonat Đây là miền cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều hệ thống đứt gãy, uốn nếp, các thành tạo magma, kèm theo nhiều hoạt động tạo khoáng
- Đới kiến trúc Fan Si Pan: đới này phân bố ở Bắc- Đông Bắc vùng nghiên cứu
Đới phân cách với đới kiến trúc Sông Đà ở phía Tây Bắc bằng đứt gẫy sâu Bản Lang Nậm Xe (F11) kéo dài khoảng 25km và ở phía Đông Nam bằng đứt gãy sâu Bình Lư – Thân Thuộc (F12) với chiều dài ở vùng nghiên cứu khoảng 35km Đới kiến trúc này được cấu thành bởi các THTKT sau:
-+ THTKT Proterozoi sớm- giữa gồm các đá lục nguyên, phun trào mafic bị biến
chất tướng anmandin-tremonit thuộc hệ tầng Suối Chiềng (PRsc 2), hệ tầng Sinh Quyền (PR1-2 sq)
+ THTKT Paleozoi Giữa (PZ2) gồm các thành tạo granit phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh)
+ THTKT Mezozoi muộn Kainozoi bao gồm các thành tạo của phức hệ granitoid
Ye Yen Sun, Phu Sa Phìn, các thành tạo núi lửa của phức hệ Ngòi Thia
- Đới kiến trúc Sông Đà: đây là miền sụt lún được hình thành bởi các
Trang 2222
lục nguyên màu đỏ hệ tầng Suối Bàng (T3n-rsb), Yên Châu (K2yc), các phức hệ Phu Sa
Phìn (Gp-Syp/Kpp)
+THTKT Kainozoi (KZ) bao gồm các thành tạo phun trào và lục nguyên của các
hệ tầng Pu Tra (Ept) và các thành tạo bở rời Đệ tứ, các phức hệ xâm nhập Ye Yen Sun (G/Eys), Nậm Xe- Tam Đường (aG - aSy/Ent) và Pu Sam Cap (aSyp/Epc)
2 Cấu trúc nếp uốn
Trên các đới kiến trúc phát triển những cấu trúc nếp uốn Cơ sở cho việc xác lập các cấu trúc nếp uốn trên diện tích nghiên cứu là các phức hệ vật chất kiến trúc, sự khống chế trong không gian của các loại đứt gẫy Trong đó các đứt gẫy cấp II giữ vai trò quan trọng Những cấu trúc nếp uốn dạng tuyến kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam có các đối tượng cụ thể sau:
- Nếp uốn dạng đơn nghiêng
Nếp uốn Mu Sang: phân bố dạng tuyến, phương trục Tây Bắc-Đông Nam, nằm ở phần cánh phía Bắc của đới Sông Đà, phức hệ vật chất kiến trúc có mặt trong nếp uốn này là các thành tạo lục nguyên carbonat, thành tạo phun trào mafic Nói chung các đá đều có thế nằm đơn nghiêng về phía Tây Nam, góc dốc từ 500-600 Nếp uốn có diện tích khoảng 200-300km2, khống chế trong không gian bởi 2 đứt gẫy Bản Lang - Nậm Xe (F11)
ở phía Đông và đứt gẫy Mường So-Thèn Sin (F12) ở phía Tây, là các thể xâm nhập gnanitolit thuộc phức hệ Ye Yen Sun, Pu Sam Cap và phức hệ đai mạch Phong Thổ
- Phức nếp vồng Lang Nhị Thang:
Phân bố dạng tuyến phương trục Tây Bắc-Đông Nam, dài 35-40km, rộng 18km Ranh giới phía Đông Nam của nếp vồng là đứt gẫy kiến tạo Mu Sang (F32), ranh giới phía Tây Bắc, Tây Nam là đứt gẫy Nậm Mạ (F21), phức hệ vật chất kiến trúc được tạo lập bởi các trầm tích lục nguyên carbonat Đá phiến sét, tuf, đá vôi (hệ tầng Tân Lạc-Đồng Giao), đá phiến sét (hệ tầng Nậm Mu), đá phiến sét chứa than, cát bột kết (hệ tầng Suối Bàng); cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết màu nâu đỏ (hệ tầng Yên Châu) và các đai mạch, khối xâm nhập granitoid (Pu Sam Cap, Phong Thổ) có mặt trong nếp vồng thường
16-có thế nằm cắm về Tây Nam hoặc Đông Bắc, góc dốc 400-600, ở gần đứt gẫy độ dốc lên tới 700-800 Ở phức nếp vồng này đã xác lập được 3 nếp vồng và 1 nếp võng nhỏ như sau:
- Đứt gẫy Bản Lang-Nậm Xe (F11): phân bố dọc theo thung lũng giữa núi, kéo dài
từ Bản Lang đến Nậm Xe theo phương Tây Bắc-Đông Nam dài khoảng 25km, trong vùng nghiên cứu giữ vai trò là đường ranh giới giữa đới kiến trúc Fan Si Pan với đới kiến trúc
Trang 2323
Sông Đà Đứt gẫy này có lẽ được hình thành ngay sau khi hình thành phức hệ vật chất tuổi Proterozoi sớm- giữa (hệ tầng Sinh Quyền) Vào Paleogen sớm dọc theo đứt gẫy đã tiêm nhập các thể, khối granitoid phức hệ Ye Yen Sun Gắn với hoạt động của phức hệ gronitoid và trong phạm vi ảnh hưởng của đứt gẫy đã phân định được nhiều biểu hiện quặng hóa, đất hiếm, xạ, molybden, đồng, pyrit, chì, kẽm, vàng
- Đứt gẫy Bình Lư -Thân Thuộc (F21): phân bố theo dạng kéo dài từ bản Bình Lư đến bản Thân Thuộc theo phương Tây Bắc - Đông Nam dài khoảng 35km trong vùng nghiên cứu Đứt gãy này cũng là đường phân chia ranh giới giữa hai đới kiến trúc Fan Si Pan với đới kiến trúc Sông Đà, cắm nghiêng về phía Tây Nam với góc dốc 600-700, có lẽ được hình thành vào Proterozoi sớm- giữa (hệ tầng Sinh Quyền) Do đó đã tạo nên một số đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam) trong phạm vi ảnh hưởng của đứt gẫy đã phân định được nhiều biểu hiện quặng hóa, đất hiếm,
xạ, molybden, đồng, pyrit, chì, kẽm, vàng
- Đứt gẫy Nậm Mạ (F31): phát triển dọc khu vực suối Nậm Mạ kéo dài theo hướng Đông Nam (dọc thung lũng Nậm Mạ) dài khoảng 12 km lộ ra trong vùng nghiên cứu, phát triển như một đứt gẫy thuận, giữ vai trò là đường ranh giới phân chia đới kiến trúc Sông
Mã với đới kiến trúc Sông Đà, cắm nghiêng về phía Đông Bắc với góc dốc 600-700 Đứt gẫy được xác định có phương 300-400 và phương á kinh tuyến 150-200 Đứt gẫy có lẽ được hình thành và hoạt động rõ rệt trong Trias sớm tạo đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam) Đôi chỗ còn phát hiện được các di chỉ của một số họng núi lửa Vào Mesozoi muộn tái hoạt động theo cơ chế dồn ép tạo bồn trũng dọc theo sườn phía Đông, Đông Nam tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ các thành tạo lục nguyên chứa than (hệ tầng Suối Bàng) và phức hệ vật chất vụn thô màu nâu
đỏ (hệ tầng Yên Châu) Đứt gẫy này khống chế diện phân bố các thể granitoid và các đai mạch, dọc đứt gẫy đã khoanh định được nhiều diện tích có tiềm năng quặng hóa: đồng,
chì, kẽm, vàng
* Các đứt gẫy cấp II
Vùng nghiên cứu đã phân định được nhiều đứt gẫy có qui mô cấp II (F2), chúng là những đứt gẫy phân nhánh tựa vào các đứt gẫy cấp I (F1) và thường có độ dài từ 10-15km, có thể thuộc các phương khác nhau song chủ yếu là phương Tây Bắc-Đông Nam và á vĩ tuyến Với vai trò là đường ranh giới cho các cấu trúc uốn nếp địa phương bao gồm các đứt gẫy Nậm So-Thèn Sin (F12), Nam Mường So (F22), đứt gẫy Mu Sang (F32) v.v
Ngoài những đứt gẫy cấp I, cấp II đã được mô tả ở trên còn có các đứt gẫy nhỏ, nhánh Tất cả chúng đã góp phần làm phức tạp thêm cấu trúc chung của vùng nhưng mặt khác chúng là nhân tố quan trọng vào việc tạo khoáng của toàn vùng nghiên cứu
3.2 Đặc điểm khoáng sản
Trong vùng nghiên cứu có khá nhiều loại hình khoáng sản như: vàng, chì - kẽm, xạ
- đất hiếm (K, U, Th) và vật liệu xây dựng (đá vôi, cuội sỏi cát, sét gạch ngói) nước nóng, nước khoáng ( bảng III.2) Trong đó các loại khoáng sản chính gồm vàng chì kẽm, đất hiếm và vật liệu xây dựng
Trang 24ổ nhỏ và dạng mạch mỏng nhét đầy khe nứt Hàm lượng vàng biến thiên trong khoảng rộng (0,4-7,0g/T)
Ngoài vàng Tà Lèng trong vùng nghiên cứu còn một số vùng có biểu hiện khoáng sản vàng như ở Yên Thang, Thèn Sin, Suối Thầu và Đông Nam Sỉn Chải
- Vàng sa khoáng: có ở nhiều nơi nhưng qui mô nhỏ ít có ý nghĩa
3.2.2 Chì - Kẽm
Phát hiện ở nhiều nơi với đặc điểm quặng hóa khá đa dạng ở Si Phay chì kẽm đi cùng với vàng- bạc; ở bản Lang, bản Nậm Khan, Sin Chải chì kẽm đi cùng với đất hiếm, barit, fluorit… Phần lớn biểu hiện quặng chì kẽm phân bố trong đá vôi của hệ tầng Bản Páp, Đồng Giao và một ít trong đá lục nguyên có chứa các thấu kính carbonat của hệ tầng
Si Phay Hàm lượng quặng thay đổi trong khoảng rộng từ rất nghèo đến giàu Nói chung biểu hiện quặng chì kẽm cần được đầu tư nghiên cứu cùng với vàng bạc ở khu vực Si Phay và lấy kèm khi khai thác mỏ đất hiếm Bắc Nậm Xe
Thuộc xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
Quặng đất hiếm chứa kim loại phóng xạ phân bố chủ yếu nằm trong các đá phiến sét, đá phiến silic, đá vôi, đá hoa thuộc hệ tầng Si Phay (P1-2sp) và hệ tầng Na Vang
(P2nv) Trong đá carbonat thường có dạng ổ, túi, thấu kính với mức độ tập trung khác
nhau từ xâm tán thưa đến đặc sít Còn trong phiến sét, đá phiến silic thường có dạng mạch, mạng mạch xâm tán thưa Thành phần khoáng vật của quặng chủ yếu gồm: carbonat (60-80%) như calcit, parizit, basnezit, ít hơn là khoáng vật apatit, magnetit, barit, pyrit, galenit, biotit, microclin Hàm lưọng tổng ôxyt đất hiếm thay đổi từ vài phần ngàn đến 34%, trung bình đạt 4-6%TR2O3 Ngoài quặng gốc còn gặp quặng thứ sinh trong vỏ phong hoá với hàm lượng TR2O3 thay đổi từ 0,01%-28% trung bình là 4% Tổng tài nguyên dự báo: trữ lượng cấp B+C1=2,1 triệu tấn TR2O3 Tài nguyên dự báo:7 triệu tấn
TR2O3
Trang 25và cắm về phía Đông Bắc với góc thoải (10-300)
Mạch quặng kéo dài từ 200m-1000m và dày 2,5m thường bị phân nhánh phức tạp
và đôi khi thay đổi kích thước khá đột ngột Theo kết quả tìm kiếm đã khống chế được 4 thân quặng Dài từ 450m đến 1030m, chiều dày từ 0,2m đến 1,75m, thường dài từ 530m đến 800m và dày từ 0,2m đến 1,35m Quặng đất hiếm ở mỏ Nam Nậm Xe cũng thuộc loại nhóm nhẹ Thành phần khoáng vật của quặng tương đối đơn giản gồm chủ yếu là barit, parizit, ankerit, calcit, biotit ít pyrit, galenit, sphalerit, magnetit, fluorit và thạch anh Hàm lượng tổng oxit đất hiếm thay đổi từ 0,8 – 36,2%, trung bình 10,6% Ngoài những thân quặng kể trên, ở mỏ Nam Nậm Xe còn có một thể đá carbonat chứa quặng đất hiếm dưới dạng xâm tán với hàm lượng TR2O3 0,4-1% Trữ lượng B+C1= 199.168 tấn TR2O3 Tài nguyên dự báo: 3 triệu tấn TR2O3
+ Điểm biểu hiện quặng phóng xạ ở khu vực Thèn Sin – Tam Đường
Thuộc các xã Thèn Sin, Tà Lèng, Tam Đường, Sin Suối Hồ, Sùng Phài, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đã phát hiện được 113 điểm dị thường Trong đó đã nghiên cứu 18 điểm có hình dạng và qui mô các thân quặng dạng mạch nhỏ, đới mạch và mạng mạch Chúng phân bố theo đứt gẫy nhỏ hoặc đới cà nát, khe nứt Chúng nằm trong các đá hệ tầng Viên Nam (T1i vn), một phần trong hệ tầng Mường Trai (T2lmt)
+ Hàm lượng trung bình của thori: từ 0,01-0,02% ThO2 cao nhất từ 1,5-5% ThO2 đặc biệt có mẫu cao hơn
+ Hàm lượng trung bình của urani: 3% đến 2% U3O8, cao nhất là 2% U3O8
n10-+ Hàm lượng trung bình của đất hiếm: n10-1% tổng lượng TR2O3 có mẫu đạt hàm lượng 5-7% TR2O3
+ Mỏ Đông Pao
Thuộc xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đánh giá
đã xác định được 60 thân quặng đất hiếm - barit - fluorit có dạng mạch, dạng thấu kính và đới mạch phức tạp Quặng phân bố chủ yếu theo hệ thống khe nứt của đá syenit kiềm, syenit porphyr thuộc phức hệ Pu Sam Cap và số ít phân bố trong đá vôi hệ tầng Đồng Giao tại gần nơi tiếp xúc với syenit Các thân quặng được khống chế bởi hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và á vĩ tuyến
Tập hợp khoáng vật quặng ở Đông Pao gồm: fluorit, barit, batnhezit , đất hiếm do phong hoá, lantanit, monazit và xenotim Quặng cấu tạo khối tinh thể, dạng mạch ổ xâm tán dày và dạng đất bở rời Hàm lượng quặng gồm: đất hiếm TR2O3 = 0,3 – 12%; BaSO4
= 20 – 70%; CaF2 = 10 – 60% Quặng đất hiếm – barit – fluorit – uran – thori ở đây có nguồn gốc nhiệt dịch, hoặc nguồn gốc nhiệt dịch cacbonatit
Trang 2626
Trữ lượng quặng như sau: TR2O3 cấp C1+C2 = Trên 500 nghìn; Cấp P1+P2 = Trên
10 nghìn tấn; BaSO4 cấp C2= Trên 1 nghìn tấn; Cấp P1+P2 = Trên 65 nghìn tấn; TR2O3
cấp C2 = Trên 1 nghìn tấn; Cấp P1+P2 = Trên 32 nghìn tấn
+ Điểm quặng phóng xạ Sìn Chải
Thuộc xã Dao San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đã phát hiện 26 dị thường có 3 dị thường phóng xạ có dạng thấu kính với trục kéo dài theo
phương á vĩ tuyến Các dị thường này liên quan chặt chẽ với các đá mạch aplit, granit aplit Các đai mạch này xuyên cắt các đá trầm tích lục nguyên và các thấu kính carbonat của hệ tầng Si Phay (P1-2sp) Kết quả phân tích mẫu hoá xạ cho hàm lượng U3O8 =0,004-0,016%; TR2O3 =0,03-0,21%; ThO2 từ vết đến 0,036%
3.2.4 Vật liệu xây dựng
Trong vùng có rất nhiều loại đá được sử dụng làm vật liệu xây dựng với tiềm năng rất lớn: đá vôi dùng cho rải đường, đá ốp lát, xây nhà cửa, cầu cống như ở bản Giang, Kiều Sa Pin, Nậm Long; Đá vôi đolomit dùng cho xi măng thuộc hệ tầng Đồng Giao, Bản Páp, Na Vang Đá granit thuộc phức hệ Ye Yen Sun, đá bazan thuộc hệ tầng Viên Nam, được sử dụng làm đá ốp lát (điểm mỏ đá ốp lát granosyenit Bình Lư)
Ngoài ra trong vùng còn một số loại vật liệu xây dụng khác như:
+ Cuội, sỏi, cát (Mường So, Nậm Na): có quy mô nhỏ, chất lượng tốt, tiện lợi cho việc khai thác
+ Sét gạch ngói (Lang Nhị Thang, Nậm Na, Nậm Tầm, Mường So): có qui mô lớn, chất lượng tốt, tiện lợi cho việc khai thác
Bảng 1.2 Bảng tổng hợp các loại mỏ và điểm khoáng hoá
vùng Phong Thổ
STT Loại hình khoáng sản Nguồn gốc Vị trí địa lý Mỏ
lớn
Mỏ nhỏ
Biểu hiện khoáng sản
Ghi chú Vàng
1 1 Điểm Đông Nam Sìn
Chải Nhiệt dịch
22 0 38 ’ 44 ’
103 0 22 ’ 13 ’’ +
2 2 Điểm Đông Nam Bản Lang Nhiệt dịch 22103035’ 53’’ 0 21’57’’ +
3 3 Điểm Yên Thang Nhiệt dịch 221030 31’ 27’’ 0 19’25’’ +
4 4 Điểm Thèn Sin Nhiệt dịch 221030 27’25’’ 0 27’23’’ +
5 5 Điểm Suối Thầu Nhiệt dịch 221030 25’36’’ 0 30’38’’ +
Trang 2727
STT Loại hình khoáng sản Nguồn gốc Vị trí địa lý Mỏ
lớn
Mỏ nhỏ
Biểu hiện khoáng sản
Ghi chú
21 8 Điểm cát, cuội, sỏi Thẩm Pú Trầm tích 221030320 16’27’ 50’’ ’’ +
22 9 Điểm nước khoáng
Trang 2828
II VÙNG NÔNG SƠN
1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý, toạ độ
Diện tích nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ và đề xuất giải pháp phòng ngừa vùng Nông sơn (tỉnh Quảng Nam) có diện tích 580km2, thuộc các huyện: Đại Lộc, Quế Sơn, Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang được giới hạn bởi:
Toạ độ: 15o38’12” - 15o54’53” vĩ độ Bắc
107o33’04” -108o06’00” kinh độ Đông
1.2 Địa hình, địa mạo
Đây là vùng núi cao hiểm trở, địa hình phân cắt mạnh, độ cao tuyệt đối từ 600m đến 900m, các dãy núi chủ yếu kéo dài theo phương á kinh tuyến, với độ dốc sườn từ 20ođến 40o, có nơi đạt tới 60o Trong vùng gồm các loại đá: chủ yếu là các trầm tích lục nguyên, macma xâm phập bị phong hoá, bào mòn mạnh, nên thường gây ra hiện tượng sạt
lở làm ảnh hưởng tới giao thông sinh hoạt của nhân dân trong vùng
1.3 Khí hậu
Vùng Nông Sơn nói riêng và khu vực miền Trung Trung Bộ nói chung chịu ảnh hưởng của khí hậu miền núi ven biển nhiệt đới gió mùa và chia thành 2 mùa: mùa khô kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11
- Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,80,từ tháng 9 đến tháng 12 nhiệt độ từ
10 đến 15o, từ tháng 3 đến tháng 8 nhiệt độ trung bình khoảng 250 đến 27o,cao nhất 38o
- Độ ẩm trung bình trong năm khoảng 62% Những tháng mưa nhiều độ ẩm trung bình 89%, các tháng nắng ráo độ ẩm hạ xuống 34% Lượng mưa trung bình hàng năm
2208 mm Đặc biệt năm 1999 lượng mưa đạt tới 3900mm Các tháng 9, 10, 11 lượng mưa
từ 390÷1374mm, những tháng này thường gây lũ lụt, ách tắc giao thông, việc đi lại nghiên cứu địa chất gặp nhiều khó khăn Từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau, lượng mưa ít từ 0÷52mm; từ tháng 6 đến tháng 8 lượng mưa từ 160 ÷ 204mm Các tháng này nói chung ít mưa, thuận lợi cho công tác nghiên cứu địa chất
1.4 Thuỷ văn
Mạng lưới sông, suối vùng nghiên cứu khá dày, gồm các sông lớn như sông Côn,
sông Vu Gia, sông Vàng, sông Bung, sông Cái, sông A Vương, sông Thu Bồn Các dòng sông về mùa mưa nước sông dâng cao, lưu lượng nước rất lớn, thường gây ra ngập lụt, sạt lở; mùa khô dòng sông thu hẹp với nhiều thác ghềnh hiểm trở Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn trạm Hội Khách, đặt trên sông Cái, mực nước thấp nhất từ tháng 2 đến tháng 9
từ 843cm÷871cm, mực nước cao nhất từ tháng 10 đến tháng 1 từ 931cm÷1782cm, lưu lượng mưa hàng năm các sông như sau:
- Sông Bung: mùa khô 35m3/s, mùa mưa từ 350÷370m3/s
- Sông Cái: mùa khô 49m3/s, mùa mưa từ 400÷450m3/s
Hệ thống suối chủ yếu trong vùng có phương á kinh tuyến Trừ suối lớn nhất là suối Tamprang là nước chảy quanh năm, lưu lượng nước lớn, nhiều thác ghềnh, các suối nhánh thường là khe cạn, lòng suối sâu, nhiều bậc thác, dốc chỉ có nước vào mùa mưa
Trang 291.6 Ảnh hưởng của điều kiện địa lý tới môi trường
Vùng trũng Nông Sơn gồm 5 huyện miền núi Tồn tại nhiều loại hình mỏ mục đích
sử dụng, khai thác khác nhau, một số mỏ đang được tiến hành thăm dò và khai thác Đặc biệt đáng chú ý là những mỏ chứa chất phóng xạ urani như mỏ than Nông Sơn, Sườn Giữa, Ngọc Kinh và những mỏ phóng xạ urani như mỏ urani: Khe hoa – Khe Cao, Pà Rồng, An Điềm, Đông nam Bến Giằng …
Địa hình núi cao sườn dốc, phân cắt mạnh, độ cao thay đổi từ 100m đến 1050m, có
xu hướng cao dần về phía Tây Các dãy núi kéo dài theo phương vĩ tuyến, sườn núi dốc,
có khi đạt tới 60o Các thung lũng giữa núi là các cánh đồng xã Đại Hoà, Đại Minh, Đại Phong, Đại Tân, Đại Hồng, Đại Sơn, Đại Lãnh, đặc điểm địa hình, địa mạo đã nêu trên, cộng với thảm thực vật ngày càng thưa thớt, mức độ che phủ từ trung bình tới kém chủ yếu là đồi trọc và cây bụi vì nạn phá rừng ngày càng tràn lan trên diện rộng, riêng khí hậu vùng trũng Nông Sơn là khí hậu miền núi ven biển mùa khô kéo dài thường có gió Lào thổi qua gây nắng nóng, oi bức Mùa mưa thường ngắn hơn lượng mưa lớn đạt từ 2208mm/năm trở lên thường gây ra lũ lụt, sạt lở làm đẩy nhanh quá trình phong hóa nham thạch trong vùng
Như vậy, vấn đề ô nhiễm chất phóng xạ dưới tác động của tự nhiên các mỏ có chứa chất phóng xạ, và các mỏ phóng xạ trong các điều kiện địa hình, địa mạo, không khí, khí hậu, nước, và đã nêu trên là rất lớn Các chất phóng xạ sẽ bị rửa trôi hòa tan trong môi trường nước được vân chuyển đi xa, hoặc thẩm thấu theo các hệ thống khe nứt, đứt gẫy của đất đá làm ô nhiễm chất phóng xạ trong môi trường nước ngầm Hoặc bị khuếch tán vào môi trường không khí vì trong tự nhiên, quá trình phân rã của urani, thori và các sản phẩm con cháu của chúng, chủ yếu là trạng thái rắn, chỉ có 2 đồng vị dạng khí là radon (có chu kỳ bán huỷ 3,82 ngày) và thoron (có chu kỳ phân huỷ ngắn 54,5 giây), di chuyểntrong không khí tối đa 30cm Đáng chú ý nhất là khí radon, chu kỳ bán huỷ lâu hơn, hạt nhân này có thể di chuyển rất xa trong không khí Đặc biệt khi vào phổi chúng phân huỷ thành các đồng vị thể rắn, chúng được giữ lại trong phổi gây ra liều chiếu trong rất nguy hiểm Đồng thời các hạt nhân khác được khuyếch tán vào không khí dạng son khí đó là các hạt lửng lơ, khi con người hít thở sẽ kéo theo chúng vào phổi
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1 Phân bố dân cư:
Dân cư trong vùng tương đối thưa Người kinh chủ yếu tập trung ở thị trấn huyện dọc các đường giao thông, sông, suối lớn với nghề nghiệp chính là làm ruộng, buôn bán tạp hoá, nông lâm sản Người dân tộc như: Cà Tu, Tà Riềng sống chủ yếu ở vùng cao làm nghề phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản, trồng tỉa ngô, lúa, sắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm Phần lớn đã định canh, định cư song cuộc sống kinh tế - xã hội phát triển không
Trang 3030
đồng đều, đại bộ phận nhân dân còn khó khăn thiếu thốn về kinh tế, dân trí còn thấp
Hiện nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vùng cao dân tộc ít người, đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nên cuộc sống của nhân dân trong
vùng có phần khởi sắc Các huyện, xã đã có trường học, trạm y tế, nhà văn hoá, điện sinh hoạt tới từng hộ gia đình, tạo tiền đề phát triển kinh tế sau này cho đồng bào các dân tộc ít người
Bảng 1.3 Bảng thống kê diện tích và dân số trong vùng Nông Sơn
Toàn xã Trong diện tích nghiên cứu
Tà Bhing Nam Giang 2338 218,0 1439 134,2
Za Hung Tây Giang 1112 26,9 114 27,0
A Vương Tây Giang 1403 14,0 2320 23,1
Ma Cooih Tây Giang 1183 177,0 1215 181,8
Quế Trung Quế Sơn 9134 61,0 7343 49,0
2.2 Giao thông
Hiện tại mạng lưới giao thông đường bộ trong vùng đã phát triển hơn nhiều so với những năm thập niên 80 Đường xá được nâng cấp dần từng bước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đi lại của nhân dân, nhất là khi đường 14a, đường Hồ Chí Minh mới hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2004 đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế vùng Tuy
vậy, các đường liên thôn, liên xã chất lượng còn thấp, tới 70% là đường đất, nền đường
yếu, mặt đường chưa rải nhựa, hay bị sói lở do mưa lũ, nhiều khi bị ngập lụt khó đi lại
Phương tiện vận tải giao thông trong vùng chủ yếu là xe khách loại nhỏ và công nông
2 3 Các hoạt động kinh tế chủ yếu
2.3.1 Công nghiệp khai thác khoáng sản
Công nghiệp khai thác khoáng sản những năm qua được Đảng và Nhà nước quan
tâm, các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam nói chung và vùng Nông Sơn nói
riêng, ngày càng phát triển, trong đó là việc khai thác, vận chuyển và tiêu thụ khoáng sản: than Ngọc Kinh, Sườn Giữa, than Nông Sơn (moong Sơn Tuyền và Giáp Phủ) Sản lượng
Trang 3131
khai thác ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng Ngoài ra, trong khu vực nghiên cứu còn khai thác các loại đá làm vật liệu xây dựng, vật liệu làm gốm sứ, nước khoáng như khai thác đá vôi Lâm Tây, đá vôi A Sờ, đá vôi, đá hoa Thạnh Mỹ, felspat Lộc Quang, cát Vĩnh Phước - Đại Hồng, nước khoáng An Điềm
2.3.2 Công nghiệp điện năng
Nhà máy thuỷ điện An Điềm đã hoà mạng quốc gia năm 2005 Hiện nay đang khởi công xây dựng tiếp nhà máy thuỷ điện A Vương, nhà máy thuỷ điện Sông Bung, nhà máy nhiệt điện Nông Sơn Trong tương lai, công nghiệp điện năng vùng này sẽ mang lại nhiều tiềm năng kinh tế, xã hội
2.3.3 Nông nghiệp
Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, ngô, sắn năng xuất thấp, mấy năm gần đây các địa phương đã rất cố gắng đưa cây công nghiệp như: Dứa, keo, thông, bạch đàn vào sản xuất hàng hoá dần thay thế cho cây nông nghiệp ngắn ngày, tạo tiền đề kinh tế cho phát triển bền vững ổn định lâu dài
2.3.4 Tiểu thủ công nghiệp
Trong vùng chỉ có vài cơ sở nhỏ lẻ mây tre đan xuất khẩu song thực sự chưa phát triển mạnh mang tính chất hàng hoá trong khu vực
2.4 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã hội
Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế:
+ Công nghiệp khai thác than: đối với vùng Nông Sơn than đá là nguồn cung cấp nhiên liệu chất đốt chính, dùng cho sinh hoạt và sản xuất Vì vậy việc khai thác than ngày càng mở rộng tại mỏ than Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa Tuy nhiên, hoạt động khai thác này có nguy cơ tăng cao sự ô nhiễm môi trường phóng xạ trong khu vực lân cận Các thông số cần lưu ý:
+ Lượng bụi trong quá trình khai thác dao động từ 13÷ 87mg/m3, trong đó hàm lượng silic từ 16÷40%, còn hàm lượng chất độc hại CO2: 6,76%; NO2: 32,88%; CH4: 39,72% và S: 2,41÷7,22%
+ Cường độ bức xạ tự nhiên trong khu mỏ từ 0,40÷0,50µSv/h tại các điểm dị thường từ 400÷800µSv/h Nồng độ radon trong khu vực từ 70÷120 Bq/m3, trên moong khai thác từ 120 ÷ 300Bq/m3, gấp hai lần so với liều cho phép
Ngoài khai thác than, trong vùng còn khai thác nhiều khoáng sản khác như: đá vôi Lâm Tây, đá vôi A Sờ, đá hoa Thạch Mỹ Như vậy trong các công trường khai thác đá làm vật liệu xây dựng, lượng bụi thoát ra chủ yếu ở khâu nghiền đá rất cao, lượng khí độc như khí CO, SO2, NO2 đều quá tiêu chuẩn cho phép
Tóm lại: việc khai thác khoáng sản trong vùng nói chung và khai thác than nói riêng càng gia tăng, mức độ ô nhiễm càng cao, làm mất đất rừng hoặc đất canh tác, gây ra sạt lở và các tai biến địa chất khác Bụi, chất thải các loại độc hại trong đó có bụi,
chất thải phóng xạ là khá lớn sẽ tác động không ngừng tới môi trường đất, nước, không khí, phát tán đi xa gây ô nhiễm môi trường xung quanh
+ Công nghiệp điện năng: các công trình thuỷ điện A Vương, An Điềm, Sông Bung đã khởi công xây dựng trên vùng Nông Sơn tỉnh Quảng Nam Quá trình xây dựng
Trang 3232
đã đào đắp hàng triệu mét khối đất đá, nổ mìn, làm đường hàng chục km vào công trình phục vụ cho công tác thi công, qua các dị thường chứa chất phóng xạ, đó cũng là một
nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường phóng xạ
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng cây lương thực như lúa, ngô tập trung chủ yếu ở vùng thấp thuộc các cánh đồng xã Đại Hoà, Đại Minh, Đại Phong, Đại Tân, Đại Hồng, Đại Sơn, Đại Lãnh Các hoạt động này không gây ra ảnh hưởng ô nhiễm Đáng chú ý là hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp nhỏ lẻ của các đồng bào dân tộc thiểu số trên sườn đồi, tại các vùng mỏ phóng xạ như làm công trình thuỷ lợi nhỏ để sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực, trồng cây công nghiệp, cây lấy gỗ
Ảnh hưởng của hoạt động xã hội: việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt: trong vùng nghiên cứu nhân dân sử dụng bất kỳ nguồn nước nào mà mắt thường cảm thấy trong sạch như: nước sông, nước suối, giếng tự đào thậm chí các nguồn nước ngay tại các vùng mỏ
có chứa nguyên tố phóng xạ độc hại như khu mỏ phóng xạ: An Điềm, Khe hoa – Khe cao,
Pà lừa, Pà Rồng, Đông Nam Bến Giằng, mỏ than: Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa…
Do không hiểu được mức độ nguy hiểm của phóng xạ nên người dân sống tại các khu vực này vẫn sử dụng các nguồn nước tự nhiên không qua xử lý Trong mười năm trở lại đây, Nhà nước rất quan tâm đến trương trình nước sạch nông thôn và đã dầu tư xây nhiều trạm cấp nước loại vừa và nhỏ, song chỉ đáp ứng khoảng từ 30÷40% hộ gia đình
3 Đặc điểm địa chất - khoáng sản vùng nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa chất
3.1.1 Địa tầng
Theo kết quả đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Hội An - Đà Nẵng tỷ lệ 1:50.000 của Cát Nguyên Hùng (Liên đoàn bản đồ Địa chất Miền Nam) kết hợp với kết quả khảo sát thực địa năm 2005 của nhóm tác giả đề tài, vùng nghiên cứu có các phân vị địa tầng sau:
1 Giới Proterozoi muộn - loạt Thạch Mỹ
+ Hệ tầng Mỹ Hiệp (PR3mh): phân bố tại trung tâm vùng nguyên cứu, diện tích
khoảng 19,2 km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - plagiolas - biotit, đá phiến thạch anh - biotit - silimanit - granat, đá phiến thạch anh – muscovit - silimanit, thấu kính amphibolit, đá phiến amphibol
+ Hệ tầng Thành Mỹ (PR3tm): phân bố tại trung tâm vùng nghiên cứu với diện lộ
nhỏ khoảng 5,4km2, thành phần gồm: đá hoa màu xám trắng, sọc dải xen kẽ amphibolit lớp mỏng màu xám xẫm, xám đen hạt nhỏ và các lớp mỏng gneisbiotit
2 Giới Paleozoi - hệ Cambri - loạt A Vương
+ Hệ tầng A San (Єasn): phân bố ở phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc vùng nghiên
cứu, diện tích khoảng 144,18km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - biotit, đá phiến thạch anh – plagiolas - biotit, đá phiến thạch anh – felspat - biotit (mica) xen kẹp lớp mỏng quarzit, đá vôi vi hạt tái kết tinh mầu xám tối, xám sáng
+ Hệ tầng A Sờ (Єas): phân bố phía Tây Nam vùng nghiên cứu, diện lộ nhỏ, kéo
dài dạng dải khoảng 13,85km2 Thành phần gồm: đá hoa mầu xám trắng, xám tối, sọc dải, phiến thạch anh - sericit, thấu kính phiến amphibonlit
Trang 3333
3 Giới Paleozoi - hệ Ordovic-Silur - loạt Long Đại
Phân bố ở phía Tây Bắc vùng nghiên cứu diện lộ nhỏ khoảng 13,85km2:
+ Hệ tầng TRao (O-Str): phân bố ở góc Tây Bắc vùng nghiên cứu, diện tích
khoảng 30,16km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh- plagiolas - biotit, đá phiến thạch anh - felsfat- biotit có horblend, amphibolit, đá phiến amphibol
+ Hệ tầng Bol Atek (O-Sbat): phân bố ở góc Đông Bắc vùng nghiên cứu, diện tích
khoảng 1,15km2 Thành phần gồm: đá phiến thạch anh - sericit, đá phiến sericit (mica) - thạch anh, đá phiến thạch anh – plagiolas (felspal) - sericit (mica) xen kẹp đá phiến đen giàu vật chất hữu cơ
4 Giới Paleozoi- hệ Carbon-Permi-hệ tầng Ngũ Hành Sơn (C- Pnhs)
Phân bố thành khối nhỏ ở khu vực Hà Nha xã Đại Đồng, diện tích khoảng
2,02km2.Thành phần gồm: đá hoa màu xám trắng, vân dải, xám hồng, vàng, đen xen kẽ
đá phiến thạch anh – sericit, đá phiến sericit, quarzit
5 Giới Paleozoi- hệ Permi - hệ tầng Alin (Pal)
Phân bố diện nhỏ ở phía Tây – Tây Bắc, diện tích khoảng 24,43km2 Thành phần gồm: cuội kết đa khoáng, sạn kết, cát kết màu xám xanh xen kẹp các lớp bột kết xám nâu, tuf andesit, andesit
6 Giới Mesozoi - hệ Trias giữa - muộn, Loạt Nông Sơn
+ Hệ Trias giữa - hệ tầng Sông Bung (T2sb): Phân bố phía Nam - Tây Nam vùng
nghiên cứu, diện tích khoảng 254,0km2 Phần dưới gồm các đá: cuội kết đa khoáng mầu xám, xám tím, sét bột kết mầu xám, xám tím, xám xanh xen kẹp ryolit, cát bột kết chứa vôi Phần trên gồm các đá: cát kết, bột kết mầu xám sẫm, xám vàng, xen kẹp các lớp sạn kết, vôi silic, felsit-ryolit, ryolitporphyr, tyfryolit xám xanh, xám đen
+ Hệ Trias muộn - hệ tầng An Điềm (T3nađ): Phân bố kéo dài từ Tây sang Đông ở
phía Bắc và phía Nam vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 145,5km2 Thành phần chủ yếu gồm: Cuội sạn kết đa khoáng, cát kết, bột kết chứa dăm sạn thạch anh mầu nâu gụ
+ Hệ Trias muộn - hệ tầng Sườn Giữa (T3n–rsg): phân bố tại trung tâm vùng
nghiên cứu, diện tích khoảng 301,79km2 Thành phần gồm: cuội kết, sạn kết, cát kết ít khoáng màu trắng xám xen kẹp các lớp mỏng bột kết, sét kết màu xám đen, xám ghi và các lớp, thấu kính sét than
7 Giới Mesozoi - hệ Jura sớm - giữa - Loạt Thọ Lâm
+ Hệ Jura sớm - hệ tầng Bàn Cờ (J1bc): phân bố ở trung tâm và phía nam vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 168,26km2 Các đá có dạng nếp lõm hoàn chỉnh thành phần gồm sạn kết, cát kết màu xám trắng, xám vàng xen kẹp các lớp hoặc thấu kính cuội kết đa khoáng
+ Hệ Jura sớm - hệ tầng Khe Rèn (J1kr): phân bố diện tích nhỏ kéo dài khoảng 19,7km2, giữa hệ tầng Bàn Cờ và hệ tầng Hữu Chánh vùng nghiên cứu Thành phần gồm: Bột kết màu xám ghi, xám đen, xen các lớp cát kết mỏng hạt nhỏ
+ Hệ Jura giữa - hệ tầng Hữu Chánh (J2hc): phân bố ở phía Đông vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 86,36km2 Thành phần gồm: cát bột kết, bột kết đỏ gụ kẹp các tập cát kết hạt nhỏ màu xám xanh
Trang 3434
8 Giới Kainozoi
Phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn (ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu) với tổng diện tích khoảng 130,3km2 + Hệ Neogen - hệ tầng Ái Nghĩa Nam , trầm tích sông: phân bố ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 4,19km2 Thành phần: cuội kết, sạn kết, cát kết xen các lớp mỏng bột kết chứa hoá thạch thực vật
+ Thống Pleistoxen: phân bố trên diện rộng ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu, dọc 2 bờ sông Côn kéo dài từ An Điềm - Thanh Đại - Hoàng Phước và sông Vu Gia từ Ngọc Kinh - Hà Nha - Mỹ Đồng - Quảng Huế - Tam Hoà, chia ra các phụ thống sau:
- Phụ thống dưới (aQ12): trầm tích sông (thềm bậc III), thành phần gồm: cuội, sỏi gắn kết chắc bởi cát, bột, laterit
- Phụ thống dưới - hệ tầng sông Vàng (aQ12-31 sv), trầm tích sông (thềm bậc II)
thành phần gồm: cuội, sỏi gắn kết bởi cát bột, màu vàng đỏ
- Phụ thống dưới - hệ tầng La Châu (Q131 - mQ131 lc), Trầm tích biển (thềm 20
-30m), thành phần gồm: cuội, cát thạch anh lẫn bột sét màu vàng đỏ
- Phụ thống dưới - hệ tầng Đại Thạch (Q13v - aQ13v đt), trầm tích sông (thềm bậc I),
thành phần gồm: cuội, sỏi lẫn cát, bột, sét màu xám vàng, loang lổ
+ Thống Holoxen: Phân bố sát bờ sông Vu Gia, diện lộ khoảng 33,79km2 gồm các phụ thống sau:
- Phụ thống giữa Q21-2 - aQ21-2, trầm tích sông (bãi bồi cao), thành phần gồm: cuội, sỏi, cát bột, sét mầu xám vàng
- Phụ thống giữa Q22-2- aQ22-3, trầm tích sông (bãi bồi thấp), thành phần gồm: cát, sạn lẫn cuội, sỏi
- Phụ thống trên Q23- aQ231, trầm tích sông, thành phần gồm: cát, sạn lẫn bột sét, màu xám vàng
- Phụ thống trên Q23 - aQ23v, trầm tích lòng sông, thành phần: cuội, sỏi, cát, sạn
- Phụ thống trên Q23 - aQ23, trầm tích lòng sông và bãi bồi không phân chia, thành phần gồm: cuội, sỏi, cát bột, sét màu xám vàng
+ Hệ Đệ Tứ không phân chia (Q): Gồm các trầm tích hỗn hợp sông, sườn tích, lũ tích, tàn tích Tổng diện tích khoảng 18,71km2
- epQ: Eluvi - deluvi: cát sạn, bột, laterit
Phân bố thành khối nhỏ ở phía Bắc vùng nghiên cứu, diện lộ khoảng 0,175km2,
thành phần gồm: Gabronorit, gabrođiabas, gabrohorblendit
Trang 35- Tướng rìa: granitogneis hai mica, granosyenitogneis hai mica hạt nhỏ
- Pha đá mạch: granitaplit(a), pegmatoid, turmalin(b), thạch anh- turmalin(c)
4 Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (GDi/PZ 3 bq)
Phân bố ở phía TN vùng nghiên cứu, các đá của phức hệ được chia làm ba pha xâm nhập chính và pha đá mạch:
- Pha 1 (GDi/PZ3bq 1): diện tích khoảng 1,41km2, thành phần gồm: diorit, diorit thạch anh, gabrodiorit, gabroid
- Pha 2 (GDi/PZ3bq 2): diện tích khoảng 37,45km2, thành phần gồm: Granodiorit - biotit – horblend
- Pha 3 (GDi/PZ3bq 3): diện tích khoảng 2,57km2, thành phần gồm: Granit – biotit
có horblend, granosyenit – biotit có horblend hạt trung
- Pha mạch: granitaplit, pegmatoid, spesartit
- Pha 2 (G/K2bn 2): granit hai mica hạt nhỏ, granit alaskit
- Pha đá mạch: phân bố ở phía bắc trong các phức hệ Đại Lộc và hệ tầng A San, thành phần gồm: Granit aplit, pegmatoid turmalin, thạch anh - felspat – turmalin
3.1.3 Cấu trúc địa chất
1 Phân tầng cấu trúc
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện (đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ và đề xuất giải pháp phòng ngừa vùng Nông Sơn) năm 2005 đồng kết hợp thu thập sử lý các tài liệu cũ đã nêu tại chương 2 (lịch sử nghiên cứu điều tra địa chất môi trường) Kết quả cho thấy gồm 2 tầng cấu trúc: cấu trúc móng và cấu trúc phủ
+ Cấu trúc móng: được thành tạo từ trầm tích biến chất hệ tầng Thạch Mỹ có thành
phần chủ yếu: đá hoa xen kẹp các thấu kính amphibolit, gneisbiotit, phiến amphibolit và
hệ tầng Asan, Asờ gồm: phiến thạch anh – biotit, phiến thạch anh – felspat – biotit xen kẹp các thấu kính amfibol, đá hoa màu xám trắng, xám tối xen kẹp phiến thạch anh – sericit
+ Cấu trúc phủ: thành tạo từ các trầm tích lục nguyên hệ tầng An Điềm, S ông Bung, Sườn Giữa, Bàn Cờ, Khe Rèn, Hữu Chánh Trong đó, than và quặng hoá urani nằm trong các tầng trầm tích: Cuội sạn kết - cát, bột kết Chiều dầy từ 600 đến 2400m
Trang 3636
Các trầm tích bở rời Đệ tứ (Q), Phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn (ở phía đông bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía đông nam vùng nghiên cứu) Thanh phần gồm: Cuội, sạn, cát, bột, sét màu xám, vàng loang lổ
tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Thành Mỹ (PR3tm), hệ tầng Mỹ Hiệp (PR3mh)
- Nếp lõm: trong vùng nghiên cứu có các nếp lõm chính sau:
+ Nếp lõm An Điềm - Cà Liêng - Sườn Giữa - Thường Đức nằm ở phía Bắc của vùng nghiên cứu, kéo dài theo vĩ tuyến
+ Nếp lõm Mai Quy có qui mô nhỏ, phân bố ở phía nam vùng nghiên cứu
+ Nếp lõm Thọ Lâm phân bố ở phía đông của vùng nghiên cứu, kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam
Ngoài ra ở trung tâm vùng nghiên cứu có hệ thống địa hào, được giới hạn bởi hệ thống đứt gãy Tabhing - Thị trấn Thạnh Mỹ - Đại Sơn và kéo dài theo phương ĐB-TN
3 Các hệ thống đứt gẫy chính trong vùng Nông Sơn:
1 Hệ thống đứt gãy đông bắc - tây nam:
+ Hệ đứt gãy Zuôi - Ma Cooih - Cà Dăng: các đứt gãy gần song song với nhau kéo dài gần 20km, phát triển mạnh ở góc Đông Bắc vùng nghiên cứu thuộc các huyện Hiên, Nam Giang, Đông Giang Các đứt gẫy này một số nơi còn là ranh giới địa chất giữa phức hệ Đại Lộc và hệ tầng A San
+ Hệ đứt gãy TaBhing - Thị trấn Thạnh Mỹ - Đại Sơn: các đứt gẫy này phân bố ở trung tâm vùng nghiên cứu, có xu hướng gần song song với nhau kéo dài khoảng trên 20
km, cắt qua các khu mỏ than (An Điềm, Ngọc kinh, sườn Giữa) và khu mỏ urani (Pà Lừa, Pà Rồng) gây biến đổi, dịch chuyển cấu trúc thân quặng
+ Hệ đứt gãy Nông Sơn – Duy Phú: Các đứt gẫy này phân bố thưa, ở góc đông nam vùng nghiên cứu cắt qua mỏ than Nông Sơn
2 Hệ thống đứt gãy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam:
Phân bố hầu hết diện tích vùng ngyên cứu, nhưng thưa thớt, cắt gần vuông góc với hệ thống Đông Bắc - Tây Nam, Phân bố chủ yếu phía nam gần trung tâm vùng nghiên cứu
3.2 Khoáng sản
Theo tài liệu thu thập tại sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Nam và kết quả điều tra thực địa bổ sung năm 2005 của đề tài, khoáng sản trong vùng gồm một số nhóm mỏ chủ yếu sau: Than đá, urani, felspat, vật liệu xây dựng, nước khoáng… Dưới đây là đặc điểm các mỏ khoáng sản chủ yếu trong vùng
3.2.1 Nhóm mỏ than đá chứa urani:
1 Mỏ than Nông Sơn thuộc địa phận xã Quế Trung, huyện Quế Sơn
Trang 3737
Các trầm tích lục nguyên chứa than thuộc loạt Nông Sơn, tuổi Trias muộn Mỏ gồm
5 thân quặng có dạng vỉa và thấu kính, chiều dày từ 0,1 đến 47,6 m Tổng trữ lượng than thăm dò vùng Nông Sơn cấp C1 + C2 ước tính cho cả mỏ đạt xấp xỉ 13,1 triệu tấn, than Nông Sơn thuộc nhãn antraxit màu đen, cấu tạo khối, rắn chắc, đôi nơi dạng bột (cám)
2 Mỏ than đá Sườn Giữa xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc
Than Sườn Giữa nằm trong trầm tích lục nguyên thuộc hệ tầng Sườn Giữa, khu mỏ dài 5km, rộng 2,75km, diện tích gần 14 km2 Kết quả thăm dò đã phát hiện được 8 vỉa than, trong đó có giá trị công nghiệp là vỉa than 2 và vỉa than 6, Chiều dày vỉa lớn hơn 3,5m, trung bình 1,06 m, vỉa thoải, góc dốc 10-150.Vỉa than 2 và vỉa than 6 đạt chỉ tiêu công nghiệp, thuộc loại than antraxit Trữ lượng : C1+ C2 = 3142290 tấn
3 Mỏ Than Ngọc Kinh xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc
Than Ngọc Kinh nằm ở phía bắc nếp lõm Nông Sơn kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam, nằm trong trầm tích lục nguyên, hệ tầng Sườn Giữa, gồm cát kết, cuội kết, sét than và các vỉa than, mỏ gồm 3 vỉa than sau:
- Vỉa AB: Nằm ở phần thấp nhất trong mặt cắt, Trụ của vỉa là bột kết, cát kết xen nhau, vách là bột kết màu xám đen, rắn chắc Chiều dày vỉa thay đổi theo đường phương
và thay đổi lớn theo hướng dốc, chiều dày lớn nhất 3,61m, nhỏ nhất 1,5m, TB: 2,4m
- Vỉa C: Nằm ở phần giữa của mặt cắt, trụ vỉa là cát kết xen thấu kính bột kết, vách vỉa là lớp bột kết màu đen Chiều dày lớn nhất 3,53m, nhỏ nhất 0,95m, TB: 2,05m
- Vỉa D: Có 2 chùm đạt chiều dày công nghiệp, chùm dưới cách chùm trên 15m, trụ của vỉa là bột kết màu xám đen tiếp đến là chùm than chính, chiều dày vỉa thay đổi đáng kể theo hướng dốc, chiều dày từ 1÷5,18m, chùm trên nằm ở phần cao nhất của địa tầng Trụ vỉa là cát kết, bột kết xen kẽ nhau, sát vỉa là bột kết, đôi nơi là cát kết, trên cùng
là than Chiều dày ít thay đổi theo đường phương, lớn nhất là 1,23 m, nhỏ nhất 0,8m, trung bình 0,95m Than có màu đen, ánh mỡ đến bán kim, giòn Trữ lượng toàn mỏ đến
độ sâu 100m: C1 = 68286 tấn, C2 = 3803448 tấn, C1+ C2 = 3870734 tấn
3.2.2 Nhóm mỏ urani:
4 Mỏ urani Pà Lừa xã Tabhing, huyện Nam Giang
Các thân quặng urani công nghiệp nằm trong các lớp đá chứa quặng có thành phần thạch học đồng nhất, hàm lượng urani đạt giá trị công nghiệp.Trong khu mỏ Pà Lừa có các thân quặng sau:
Trong lớp đá chứa quặng số I có 2 thân quặng 1, 1-1: chiều dài thân quặng 200m, rộng từ vài chục cm đến 1÷2m, hàm lượng U3O8: 0,01÷0,57% và có 2 thấu kính 1a, 1b Trong lớp đá chứa quặng số II có 1 thân quặng số 2 và một số thân quặng nhỏ phân
bố trong phân hệ tầng An Điềm dưới, thân quặng kéo dài theo phương TB - ĐN khoảng 400m, gồm 2 thấu kính 1a và 2b Hàm lượng U3O8 thay đổi 0,066 - 0,1%, trung bình đạt 0,067% với chiều dày từ 1 đến 5m, trung bình 3,4m Thành phần hóa học quặng urani theo loại quặng (chưa phong hóa, bán phong hóa, phong hóa): U3O8 = 0,104÷0,06%, các khoáng vật urani nguyên sinh gồm: Nasturani, nasturani ngậm nước, coffinit
Quy mô trữ lượng: Thuộc loại mỏ trung bình, trữ lượng cấp C2 + P1 = 5,420 tấn, hàm lượng trung bình từ 0,0194% đến 0,1702%, cấp C2= 1,160 tấn U3O8 Trong đó hàm
Trang 38Đã xác định 3 tầng sản phẩm chứa quặng urani, trong đó tầng sản phẩm I và II phân
bố trong tập 1 và 3 hệ tầng An Điềm; tầng sản phẩm III phân bố trong tập 1 của hệ tầng Sườn Giữa Đã phát hiện 8 hệ lớp đá chứa quặng, trong đó có 6 hệ lớp đá chứa quặng phân bố trong tầng sản phẩm II, là tầng có triển vọng quặng urani quan trọng nhất Các lớp đá chứa quặng kéo dài từ 1,800÷2,500m, bề dày 0,6÷4,55m, các lớp đá này có hàm lượng trung bình lớn hơn 0,04% U3O8 Là các lớp 1, 4, 5, 5/3, 6, 6/1 phân bố ở Cà Liêng
và Sườn Giữa, có bề dày 0,6÷1,85m, dài 1,500÷2000m Thành phần khoáng vật quặng gồm: Nasturani, pyrit, mascasit, galenit và các khoáng vật sulpur khác Mỏ nhỏ, Cấp C2
đã xác định được 418,12 tấn cho các lớp 6, 6/3 cho khu Sườn Giữa, cấp C2 +P1 = 2.266,38 tấn U3O8
6 Mỏ urani Đông nam Bến Giằng: Thuộc xã Cà Dy, huyện Nam Giang; xã Quế Phước, huyện Quế Sơn
Trong khu mỏ Đông Nam Bến Giằng tồn tại 3 tập sản phẩm chứa quặng urani, phân
bố trong phân hệ tầng giữa hệ tầng An Điềm với 8 lớp đá chứa quặng có chiều dài thay đổi: 500÷1000m, chiều dày 0,6÷5,2m, trung bình 1,1÷1,9m Cường độ phóng xạ: 100µR/h ÷ 3000µR/h, quặng urani có dạng ổ, chuỗi thấu kính Đá chứa quặng là cát kết acko, cát kết grauvac felspat, độ hạt từ nhỏ đến trung bình
Khoáng vật urani gồm: NastUrani, coffinit, torbenit, uraninopan, hotfoUranilit,…
Đã xác định và phân chia làm 4 khu có mức độ triển vọng về urani: Bản Ngói, Khe Tiên, Khe Đôi, Quế Lâm, trong đó diện tích Bản Ngói (2km2) là triển vọng nhất Mỏ nhỏ, cấp
C2 + P1 = 1.834,8 tấn U3O8, trong đó cấp C2 = 97,5 tấn; cấp P1 = 1.437,3 tấn U3O8 (quặng loại I: 733,1 tấn, quặng loại II: 1.101,7 tấn); cấp P2 = 4.631 tấn
7 Mỏ urani Pà Rồng thuộc xã Tabhing, huyện Nam Giang:
Tham gia vào cấu trúc địa chất khu Pà Rồng chỉ có mặt các thành tạo trầm tích lục nguyên phân hệ tầng dưới - giữa hệ tầng An Điềm Đã khoanh định được 7 lớp đá chứa quặng nằm trong phân hệ tầng dưới, các lớp đá chứa quặng có bề dày thay đổi từ 0,8m đến 6,75m với hệ số biến thiên Vm<100%, thuộc loại tương đối ổn định Chiều dài theo đường phương thay đổi 350m÷2100m, độ sâu tồn tại đến 200m Cường độ phóng xạ: 80µR/h÷5000µR/h, hàm lượng U3O8: 0,005%÷1,34% Các lớp quặng urani có dạng ổ, thấu kính, chuỗi thấu kính và liên kết với nhau thành lớp, thành phần khoáng vật urani nguyên khai bao gồm: NastUrani và coffinit Thành phần hóa học của quặng urani (quặng chưa phong hóa, quặng bán phong hóa): U3O8: 0,055÷0,087%, ThO2 = 4,62÷6,61%
Mỏ nhỏ cấp C2+P1= 4.560,8 tấn, trong đó U3O8 cấp C2 đạt 1415,4 tấn (gồm 1398,8 tấn quặng loại I và 16,6 tấn quặng loại II), cấp P1= 3145,4 tấn U3O8 (với 2892,4 tấn quặng loại I và 253 tấn quặng loại II)
Hiện trạng định hướng tiếp theo: Mỏ có giá trị về urani, cần tiếp tục đầu tư thăm dò nâng cấp trữ lượng với những diện tích có triển vọng
8 Mỏ urani Khe Cao thuộc xã Đại Hồng, huyện, Đại Lộc
Trang 3945, 46, 47, 48, 49, 51, 76, 81, 85 Các thân có chiều dài từ 250÷1,800 m, rộng từ 10÷30
m Quy mô cấp C1+C2 = 1843 triệu tấn (C1 = 1023 triệu tấn; C2 = 820 ngàn tấn)
10 Mỏ felspat Lộc Quang thuộc xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc
Pegmatit trong đới nội và ngoại tiếp xúc của granit phức hệ Đại Lộc ở khu vực Lộc Quang Chiều dày mạch từ 1÷5m, có nơi đến 10m, chạy theo phương gần đông- tây, có 19 mạch quặng Thành phần chủ yếu %: felspat (40, có chỗ 60÷70), thạch anh (20÷25, có chỗ 50), muscovit (5÷7) Quặng có màu trắng sữa, trắng đục, kích thước các ban tinh 3 x
4 cm, có chỗ tới 6 x 15 cm, chất lượng tốt Trữ lượng cấp P1= 1620000 tấn
3.2.4 Nhóm mỏ vật liệu xây dựng
11 Mỏ đá vôi Lâm Tây thuộc xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc
Đá vôi lộ thành dải dài gần 3,5km, rộng khoảng 1,5 ÷ 2km, được chia thành 2 tập chủ yếu sau: Nằm dưới là tập đá vôi màu trắng, trắng phớt vàng hạt nhỏ đến lớn, phân lớp dày 30÷35cm, bị hoa hoá mạnh Diện phân bố rộng khoảng 500÷600m, dài khoảng 2,5km, tập trung ở khu vực làng Lâm Tây Nằm trên là tập đá vôi màu xám, xám xanh, xám đen hạt nhỏ-vừa, đôi chỗ thấy dạng dải mỏng Đá phân lớp dày 20÷30cm, chiều rộng
lộ không liên tục khoảng 500m, dài 1,5km, thế nằm của đá 3400 ∠ 700 P = 50 triệu tấn
12 Mỏ cát kết Thạch Bàn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên
Chủ yếu là cát kết, bột kết màu xám, xám ghi, nhiều tập đá phiến sét mỏng được xếp vào mặt cắt các hệ tầng Bàn Cờ, Hữu Chánh Cát kết phân bố trên các gò đồi thấp thoải ngay cạnh đường ô tô, đá có cấu tạo khối cứng, rắn chắc, phân lớp dày khoảng 1÷2m, đá ít nứt nẻ, đồng nhất Thành phần là cát kết hạt nhỏ màu xám ghi, xám xanh, đôi nơi có màu xám phớt tím Đá này dễ đẽo, chẻ thành khối 20 x 30cm Diện phân bố theo dõi được 2 ÷ 3km theo phương đông ĐB-TTN, dày khoảng 20m P = 6 triệu m3.
13 Mỏ đá vôi xi măng A Sờ thuộc xã Ma Cooih, huyện Hiên
Trang 4040
Đá vôi A Sờ nằm trong trầm tích biến chất thuộc mặt cắt hệ tầng Asan Đá vôi bị tái kết tinh mạnh, màu xám, xám trắng, có nơi bị hoa hoá mạnh Các thấu kính đá vôi phân lớp kéo dài khoảng 10÷12km, rộng 500÷700m, cấu trúc đơn nghiêng, khá ổn định: 330÷3400 ∠ 700
14 Mỏ đá hoa Thạnh Mỹ thuộc thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: Đá vôi Thạch Mỹ phân bố chủ yếu dọc theo đường 14, nằm trong mặt cắt hệ tầng Thạnh Mỹ Khu mỏ nằm trong diện tích 7km2, gồm 4 khối đá vôi lớn, dạng thấu kính, xen kẹp amphibolit Đá vôi màu xám trắng, xám đục bị hoa hoá mạnh, kết tinh dạng đường, hạt không đều, cấu tạo phân lớp từ trung bình đến dày, nhiều nơi dạng khối Thành phần thay đổi phức tạp, gồm 4 thấu kính, dài từ 1300÷1700m, rộng
từ 150÷300m, dày từ 0,5÷2m đến 25÷80m Quy mô trữ lượng: Mỏ lớn, Trữ lượng cấp
C2 = 260 triệu tấn, trong đó dùng cho xi măng là 98,309 triệu tấn
Mỏ sét nằm ở thung lũng cửa sông Khe Hoa đổ ra sông Cái, Thân quặng có dạng thấu kính, ở giữa thân quặng sét có chiều dày lớn nhất, gần tiếp xúc với đồi chiều dày thân giảm Thành phần sét theo chiều dày khá ổn định Mỏ nhỏ C1 + C2 = 2,97 triệu tấn
16 Mỏ sét xi măng An Điềm thuộc xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc
Sét phân bố trong khu vực đồng bằng phía nam sông Côn- thuộc vùng An Điềm trong trầm tích đệ tứ, trên diện tích 4km2 Sét phân bố trên 2 khu vực: Hoàng Phước và Mậu Lân, kéo dài khoảng 3km, rộng trung bình 400m Sét đặc trưng bởi màu nâu tím, nâu phớt lục, phớt vàng, độ dẻo tốt Mỏ nhỏ, trữ lượng cấp C1+C2 = 8,764 triệu tấn
17 Mỏ cát xây dựng Vĩnh Phước thuộc xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: Cát phân bố liên tục trên phạm vi có chiều dài gần 13km, gồm nhiều bãi bồi nối tiếp nhau, uốn lượn quanh co dọc theo thung lũng sông Thu Bồn với chiều rộng từ 2÷ km được mở rộng dần về phía hạ lưu Mỗi bãi bồi thường kéo dài từ 2÷3km, rộng 0,3km, trung bình 0,5 km Bề dày dải cát thay đổi từ 1÷3m, cỡ hạt phổ biến từ 0,5÷1mm Lượng cuội sỏi trong cát chiếm 10÷15% Thành phần cát sạn chủ yếu là thạch anh, felspat, ngoài ra còn có granat, amphibol Mỏ vừa P = 3 triệu m3
18 Mỏ Sạn - sỏi Từ Phú xã Quế Phước, huyện Quế Sơn
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: Thân quặng gồm các bãi cuội - sỏi nối tiếp nhau không liên tục, nằm ở bãi bồi thấp hai bên bờ sông Thu Bồn, có chiều dài 200÷300m, rộng từ 50÷100m, thuộc tướng lòng sông Các thân quặng đều lộ thiên, phân bố từ Từ Phú xuôi theo hai bờ sông đến tận An Hoà trên chiều dài hơn 10 km Cuội- sỏi có thành phần
đa khoáng, độ mài tròn, chọn lọc tốt, có đường kính từ 2÷4cm, chiếm tỷ lệ từ 50÷60%, còn lại là cát- sạn thạch anh; nhiều chỗ chúng nằm xếp lớp xiên chéo, nằm ngang Quy
mô trữ lượng: Mỏ vừa P2 = 2 triệu tấn
19 Sét gạch ngói Lộc Quý thuộc xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc
Đặc điểm địa chất và khoáng sản: Sét có nguồn gốc sông - biển, thuộc hệ tầng Đại Thạch, mỏ sét phân bố lộ thiên ngay từ trên mặt Sét có màu xám vàng, quánh, dẻo, lẫn limonit hạt nhỏ, vón cục màu đen, nâu đen Bề dày tầng sét đạt tới 4m Quy mô trữ lượng:
Mỏ lớn P = 20 triệu m3